Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp

<< < (11/21) > >>

macbupda:
Tiếp: Sơ đồ chiến dịch Bến Cát 2

chuongxedap:

CHIẾN DỊCH LONG CHÂU HÀ 2
(Tiến công, từ ngày 10 tháng 2 đến ngày 13 tháng 3 năm 1951)


Đầu năm 1951, ở miền Nam, tướng Săng-xông (Chanson), sau khi thay thế Đờ La-tua (De Latour), tiếp tục công cuộc bình định. Với chủ trương tăng cường quân ngụy, đóng thêm đồn bốt và tháp canh, chia cắt chiến trường Nam Bộ, địch đã lấn chiếm, củng cố và khống chế được những vùng đông dân, có nhiều tín đồ đạo giáo, đồng thời lập những đơn vị cơ động ứng chiến để tăng cường các cuộc càn quét. Chúng thành lập 2 tiểu đoàn cơ động: tiểu đoàn 1BMEO phụ trách các tỉnh lưu vực sông Tiền Giang và tiểu đoàn 2BMEO phụ trách các tỉnh lưu vực sông Hậu Giang.

Sau khi thực hiện bình định lấn chiếm tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, địch huy động nhiều tiểu đoàn càn quét vùng sáu xã thuộc Châu Thành, Cần Thơ và ba huyện Long Mỹ, Giồng Riềng, Châu Thành tỉnh Rạch Giá cũ. Ở Hà Tiên và Rạch Giá, địch đóng lại đồn bốt ở Giồng Riềng, Tri Tôn và Sóc Xoài (mỗi đồn một trung đội); đồng thời chúng nhảy dù xuống vùng Mo So, vào hang núi lấy máy móc, súng đạn của công binh xưởng 18 Long Châu Hà, phá của ta một kho lương thực chứa 4.250 giạ lúa.

Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh Nam Bộ chủ trương: “Chủ động kiềm chế địch trên chiến trường Nam Bộ... Nắm vững phương châm chiến lược du kích chiến là chính, học tập đánh vận động chiến, đẩy mạnh vận động chiến tiến tới”1. Theo chỉ thị của Bộ Tư lệnh Nam Bộ, đầu năm 1951, Khu 9 mở chiến dịch “phá nguy”. Trọng điểm của chiến dịch là Long Châu Hà. Các tỉnh khác phối hợp bằng cách kìm chân địch tại chỗ và tăng cường hoạt động vào vùng có dân cư đông, Bộ tư lệnh Khu 9 thành lập Ban chỉ huy chiến dịch gồm: Võ Quang Anh làm Chỉ huy trưởng; Nguyễn Văn Thuận - Chính trị viên, Hoàng Thế Thiện - Chỉ huy phó kiêm Trưởng ban chính trị.

Lực lượng tham gia chiến dịch gồm: trung đoàn Tây Đô (ba tiểu đoàn), hai đại đội tỉnh Long Châu Hà, đội biệt động Hoà Hảo 304 của Huỳnh Văn Trí, các trung đội du kích tập trung huyện.

Mục đích chiến dịch là giải phóng nhân dân, giành lại nguồn dự trữ người và của vùng Hoà Hảo, Cao Đài, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, gây cơ sở, mở rộng vùng căn cứ của ta, tạo thế chủ động phá âm mưu chia cắt của địch, mở rộng hành lang nối liền Khu 9 và Khu 8.

Phương châm chiến dịch lấy vũ trang tuyên truyền làm chính, kết hợp tác chiến với phá hoại, tiêu hao sinh lực địch.

Chiến dịch diễn ra trong ba đợt.

Đợt 1: Chiến dịch mở màn ngày 10 tháng 2 năm 1951. Tại mặt trận chính huyện Châu Thành, tiểu đoàn 404 tiến công Phú Nhuận, Vĩnh Thạnh, đánh đại đội Hoà Hảo đến giải toả, tiểu đoàn 402, 406 đánh đồn Phú Hoà, Vĩnh Hạnh 1, Vĩnh Hạnh 2. Địch dựa vào công sự kiên cố chống trả quyết liệt. Ta chưa có kinh nghiệm đánh công kiên, lại bị máy bay địch bắn phá, thả bom liên tục, nên không chiếm được đồn. Sáng 12 tháng 2, địch tập trung 30 xe Jeep, 40 xe cam nhông chở quân vào giải toả, bọn lính trong đồn Vĩnh Hạnh 2 rút chạy. Đến 15 giờ ngày 12, ta chiếm đồn, thu nhiều vũ khí, đạn dược và chủ động kết thúc đợt 1.

Đợt 2: Diễn ra trong 2 ngày 19 và 20 tháng 2, tiểu đoàn 404 tiến công đồn Vĩnh Trạch, tiểu đoàn 402 và 406 chặn đánh 300 quân Pháp và hai đại đội Hoà Hảo đến giải toả. Địch sử dụng máy bay, tàu chiến yểm trợ cho các đại đội cơ động Hoà Hảo, Ba Cụt, Năm Lửa. Quân ta chặn đánh địch ở Ba Đầm, đánh tan một đại đội Hoà Hảo, Năm Lửa, diệt một trung đội, bắt một trung đội. Tiểu đoàn 404 tập kích đại đội 71 địch ở Cái Chiên, diệt một số tên, buộc chúng phải chạy về Long Xuyên. Mặt trận phối hợp ở Định Mỹ, Ba Thê, Núi Sập, Tri Tôn, công tác vũ trang tuyên truyền đạt kết quả tốt.

Đợt 3: Chiến dịch, diễn ra từ ngày 11 đến ngày 13 tháng 3, ta tiến hành vũ trang tuyên truyền trên địa bàn chiến dịch, trọng điểm là vùng Châu Phú A và đồng bào Khơ-me ở bắc Tri Tôn và huyện Châu Thành.

Kết quả toàn chiến dịch, ta diệt 300 tên địch, phá hủy bốn lô cốt và nhiều tháp canh; thu 21 súng (có hai đại liên). Trong quá trình chiến dịch, bộ đội đã giúp địa phương tổ chức huấn luyện gần 100 dân quân du kích ở Đinh Mỹ, Phú Hoà, Mỹ Thới và Vĩnh Thành Trung, thành lập chính quyền ở hai xã Đức Mỹ, Vĩnh Thành Trung.
   


Chiến dịch Long Châu Hà 2 đã giành được thắng lợi có ý nghĩa quan trọng, góp phần đánh bại một bước âm mưu bình định gấp rút và phản công quyết liệt của địch ở Long Châu Hà, thúc đẩy công tác vũ trang tuyên truyền, mở ra thời kỳ mới, tiến sâu vào vùng sau lưng địch, tổ chức các đội dân quân nội ứng, vận động tuyên truyền đồng bào theo đạo Hoà Hảo ngày một hiểu rõ chính sách của kháng chiến và thấy rõ âm mưu thâm độc của giặc Pháp và tay sai.

Chiến dịch Long Châu Hà 2 tuy kết quả về quân sự không lớn, nhưng Khu 9 đã kết hợp được với vũ trang tuyên truyền, gây ảnh hưởng tốt đối với phong trào đấu tranh chính trị trong vùng sau lưng địch, tạo điều kiện cho địa phương xây dựng chính quyền cơ sở và phát triển dân quân du kích. Song chiến dịch còn những hạn chế như không tiêu diệt được cứ điểm then chốt, chưa đánh được nhiều quân viện nên không gây tác động lớn đối với địch và chưa đẩy mạnh được phong trào quần chúng trong địa bàn chiến dịch.
_____________________________________
1.Nghị quyết quân sự của Bộ tư lệnh Nam Bộ năm 1951. Trích theo “Quân khu 9 - 30 năm kháng chiến”, Nxb QĐND, H, 1996, tr. 168.

chuongxedap:

CHIẾN DỊCH HOÀNG HOA THÁM1
(Tiến công, từ ngày 23 tháng 3 đến ngày 7 tháng 4 năm 1951)


Trong quá trình đối phó với cuộc tiến công của ta trên hướng Trung du (Chiến dịch Trần Hưng Đạo), lo sợ nguy cơ ta đánh lớn ở đồng bằng, địch đã ráo riết tăng cường lực lượng cho Bắc bộ. Ngày 14 tháng 2 năm 1951, Đờ Lát về Pháp xin cứu viện và chính phủ Cơi (Queuille) buộc phải quyết định rút 15.000 quân từ châu Phi sang tăng viện cho Bắc bộ. Tính đến tháng 3 năm 1951, Đờ Lát đã tăng viện cho Bắc bộ 29 tiểu đoàn bộ binh và dù, một trung đoàn cơ giới, bốn tiểu đoàn pháo binh, đưa quân số ở đây lên 80 tiểu đoàn và 60 đại đội. Về lực lượng cơ động, địch đã xây dựng được bảy binh đoàn hoàn chỉnh và 17 tiểu đoàn độc lập. Với chủ trương “cân bằng lực lượng với đối phương” hầu hết lực lượng dự bị chiến lược của Pháp, kể cả lực lượng đặt ở Trung bộ và Nam bộ đều được tập trung ra Bắc.

Việc xây dựng tuyến công sự mới, một công trình lớn trong kế hoạch Đờ Lát cũng được gấp rút triển khai. Riêng ở Trung du trong tháng 1 và 2 năm 1951, địch đã chuyển hàng nghìn tấn xi măng, sắt thép, gạch gỗ đến Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc và sử dụng nhiều tiểu đoàn lê dương để xây dựng các vị trí boong ke. Chỉ sau một thời gian ngắn, hàng loạt vị trí bằng bê tông cốt thép kiểu mới đã ra đời.

Để thực hiện chủ trương chiến lược phòng ngự, Đờ Lát chia Bắc bộ thành ba chiến trường (Đồng Bằng, Đông Bắc và Tây Bắc) và cử tướng Đờ Li-na-rét làm tư lệnh Bắc bộ.

Tại chiến trường Đông Bắc, địch tiếp tục tăng cường lực lượng, tập trung khoảng 3.000 quân chiếm giữ trên 15 vị trí quan trọng. Tuyến phòng thủ đường 18, từ Bãi Thảo đến Uông Bí dài 50 ki-lô-mét, thuộc chiến trường Đông Bắc, là tuyến bảo vệ vòng ngoài cho Hải Phòng, Hải Dương và đường chiến lược số 5. Tuyến phòng thủ này gồm ba phân khu: phân khu Núi Đèo, phân khu Quảng Yên và phân khu Phả Lại. Cho đến khi ta mở chiến dịch, tổng số lực lượng địch ở khu vực đường 18 là 11 tiểu đoàn (kể cả GM7 đứng chân ở Phả Lại) và hai đại đội pháo 105mm (tám khẩu) đặt ở Đông Triều.

Về phía ta, đầu năm 1951, chủ trương chiến lược của Đảng vẫn là liên tục tiến công tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng từng vùng đất đai, làm thay đổi cục diện chiến trường. Trong đó nhiệm vụ quân sự là đánh dần Trung du, củng cố căn cứ địa chính, chọc thủng hành lang đông - tây, phát triển du kích đến cao độ sau lưng địch, phá kế hoạch chiếm đóng đồng bằng Bắc bộ của chúng. Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch ở hướng đông bắc (đường số 13 và đường số 17) và ngày 30 tháng 1 năm 1951, chỉ định Đảng uỷ chiến dịch gồm: Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Chu Văn Tấn, Hoàng Văn Thái, Trần Hữu Dực. Đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Bí thư kiêm Chỉ huy trưởng chiến dịch2.

Ngày 9 và 10 tháng 2, Đảng uỷ chiến dịch họp lần đầu tại Điềm Mạc, Định Hoá. Ngày 20 tháng 2, họp lần thứ hai để phân tích, quyết định phương án tác chiến. Qua xem xét tình hình chung và đánh giá cụ thể từng hướng Đảng uỷ nhận thấy: “So với các nơi khác, đường số 18 tuy có gặp khó khăn là chiến trường xa, nghèo, dân cư thưa thớt, nhưng thuận lợi là địch tương đối yếu và bị bất ngờ, địa hình dễ hơn”3. Ta quyết định lấy đường 18 làm hướng chính của chiến dịch, còn Vĩnh Yên và Liên khu 3 là hai hướng phụ. Phương án này đã được Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua.

Sau khi có quyết định của trên (ngày 26 tháng 2 năm 1951), Bộ Tổng tư lệnh ra mệnh lệnh mở chiến dịch đường 18 mang bí danh Chiến dịch Hoàng Hoa Thám, nhằm mục đích tiêu diệt sinh lực địch và phát triển du kích chiến tranh, coi tiêu diệt sinh lực địch là mục đích rất cơ bản và phát triển du kích chiến tranh là nhiệm vụ rất quan trọng.

Để đạt mục đích chiến dịch, trên hướng đường số 18, quyết tâm của Bộ chỉ huy chiến dịch là sử dụng Đại đoàn 308, Đại đoàn 312, trung đoàn 98, trung đoàn 174, bốn đại đội pháo binh, hai tiểu đoàn công binh, phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiến công tiêu diệt địch trong khu vực từ Uông Bí đến Bãi Thảo. Tổng số lực lượng trên hướng chính là 25.719 người.

Trên các hướng phối hợp, Đại đoàn 304 ở Vĩnh Phúc, Đại đoàn 320 ở Hà Đông, Hà Nam phối hợp cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích tiến công thu hút kìm chân địch (tổng số lực lượng trên hướng phối hợp là 14.281 người). Ngoài ra, trung đoàn 176 hoạt động ở hướng Lục Ngạn, Bắc Giang bảo vệ hậu phương chiến dịch.

Phương châm chiến dịch là “đánh điểm diệt viện… trọng đánh viện hơn diệt điểm, nhưng trong điều kiện thuận lợi hay cần thiết, cũng có thể trọng diệt điểm”4.

Về công tác chính trị Đảng uỷ và Bộ chỉ huy chiến dịch xác định cần chú trọng: “Động viên và đặt kế hoạch cho đảng viên, cho cựu binh, cho cán bộ cũ lãnh đạo, dìu dắt anh em chiến sĩ, anh em tân binh, các cán bộ đồng cấp mới được đề bạt, làm cho ý chí của toàn quân được thống nhất, tinh thần toàn quân được phát huy.

Tăng cường công tác chính trị trong bộ đội cung cấp, đặc biệt đối với anh em dân công. Không những phải đề cao tinh thần của họ mà để gây ảnh hưởng chính trị đối với đồng bào trong các địa phương quê quán của họ.

Cần có kế hoạch bảo đảm việc tuyên truyền: nhanh chóng, sâu và rộng, sắc bén, đối phó cho kỳ được lối tuyên truyền lừa gạt của địch”5.

Về công tác bảo đảm hậu cần: Nhu cầu vật chất dự kiến, hướng chính: gạo 784 tấn, vũ khí 150 tấn, thuốc điều trị cho hai nghìn thương binh. Dân công thường trực 17.900 người và dân công từng đợt 20 nghìn người. Hướng phối hợp Vĩnh Phúc: gạo 384 tấn, vũ khí 63 tấn. Toàn chiến dịch phải huy động 50.000 dân công 1.263 tấn lương thực, 156 tấn đạn dược6.
__________________________________
1.Còn gọi là Chiến dịch Đường 18.
2.Theo Lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Pháp. Nxb QĐND, H.1991. tr.449.
3.Báo cáo kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn. Bộ Tổng tham mưu xb.1963. t.1. tr.188
4.Sđd - tr.176.
5.Báo cáo kế hoạch tác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, Bộ Tổng tham mưu xb, 1963, t. 2, tr.15-16.
6.Kết quả trong chiến dịch, cả ở vùng tự do và vùng địch còn tạm chiếm ta đã huy động hơn 2.200 tấn lương thực, 1.000 con trâu, bò, lợn. Hơn 110.000 lượt người đi dân công quy thành 1.288.000 ngày công phục vụ chiến dịch.

chuongxedap:

Bộ máy hậu cần chiến dịch Trung Du được duy trì để bảo đảm cho chiến dịch đường số 18. Ban đại diện cung cấp tỉnh Vĩnh Phúc được giao nhiệm vụ trực tiếp bảo đảm cho Đại đoàn 304 chiến đấu trên hướng này.

Địa bàn tác chiến ở xa hậu phương, lại bị dãy núi Yên Tử chia cắt. Lực lượng hậu cần trên hướng chính phải triển khai thành ba tuyến. Tuyến sau gồm các tổng kho và bệnh viện hậu phương ở khu vực bắc Bắc Giang (Cầu Gồ, Phổng, Mẹt...). Trung tuyến gồm các kho và bệnh viện mặt trận triển khai ở bắc dãy núi Yên Tử (Mai Siu, Hố Lao). Hoả tuyến là các kho nhẹ (đạn, gạo) và các đội điều trị chiến dịch ở nam dãy núi Yên Tử, trực tiếp bảo đảm cho các đại đoàn chiến đấu.

Ngày 18 và 19 tháng 3, Đảng uỷ chiến dịch họp tại sở chỉ huy mới ở Bãi Đán, Mai Siu. Trong hội nghị này, hai phương án tác chiến đã được cân nhắc. Phương án một là đánh điểm nhỏ (Lán Tháp, Lọc Nước, Máng Nước, Sống Trâu), đồng thời sẵn sàng đánh viện từ Quảng Yên, Uông Bí lên. Phương án này có lợi là bảo đảm chắc thắng, nhưng địch chỉ ứng cứu nhỏ. Phương án hai là đánh các vị trí lớn hơn (Uông Bí, Bí Chợ, Tràng Bạch, Mạo Khê), đồng thời sẵn sàng đánh viện từ Phả Lại, Quảng Yên lên. Theo phương án này, địch có thể tiếp viện nhanh hơn, lớn hơn, nhưng trận đầu của ta không bảo đảm chắc thắng. Sau khi cân nhắc, do chưa nắm chắc tình hình địch ở Uông Bí, Bí Chợ, Bộ Tổng tư lệnh quyết định đánh theo phương án một. Đồng thời tiếp tục theo dõi sát tình hình địch, nếu điều kiện có lợi thì chuyển sang phương án hai. Do đó, dự kiến chiến dịch chia làm hai đợt. Đợt 1, tập trung lực lượng tiêu diệt bốn cứ điểm nhỏ bắc Uông Bí và triển khai lực lượng sẵn sàng đánh viện từ Quảng Yên, Uông Bí lên. Đợt 2, căn cứ diễn biến và kết quả đợt 1 để quyết định mục tiêu và cách đánh.

Ngày 21 tháng 3, Chỉ huy sở chiến dịch dời vào chân núi Yên Tử để tiện chỉ huy tác chiến. Ngày 23 tháng 3, khi bộ đội đã chuẩn bị sẵn sàng để nổ súng, đồng chí Chỉ huy trưởng chiến dịch đã điện báo cáo tình hình về Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau đó hạ lệnh cho toàn mặt trận bước vào công kích.

Đêm 23 tháng 3, mở màn chiến dịch, các tiểu đoàn 23, 322 của trung đoàn 88, Đại đoàn 308 tiến công tiêu diệt ba vị trí Lọc Nước, Đập Nước, Sống Trâu. Tiểu đoàn 23 tiến công bốt Lọc Nước do một trung đội địch chiếm đóng, gặp nhiều khó khăn, bộ đội bị thương vong lớn (45 đồng chí hy sinh, 125 đồng chí bị thương). Tiểu đoàn 322 diệt hai vị trí Đập Nước và Sống Trâu, không có chiến sĩ nào bị thương vong. Cũng trong đêm 23, trung đoàn 174 của Đại đoàn 316, cùng một liên đội pháo đánh vị trí Lán Tháp diệt 14 tên, bắt 11 tên, thu 22 súng các loại.

Toàn bộ những bốt bảo vệ hệ thống dẫn nước ngọt từ Vàng Danh về Hải Phòng đều bị tiêu diệt. Ta hy vọng nguồn nước ngọt duy nhất bị đe đoạ sẽ buộc quân ứng chiến của địch phải kéo tới. Hai trung đoàn 36, trung đoàn 102, bố trí đánh viện từ Uông Bí lên Lán Tháp, Đại đoàn 312 ở Trại Cao, Trung Lương, Linh Trung, đón đánh địch từ Đông Triều lên, nhưng địch chỉ hoạt động thăm dò và tăng cường lực lượng cho các vị trí có thể bị uy hiếp.

Đêm 25 tháng 3, trung đoàn 98 diệt vị trí Chấp Khê. Chờ ba ngày, địch không ra, Bộ chỉ huy chiến dịch đánh tiếp những cứ điểm lớn trên đường 18 xung quanh Uông Bí. Đêm 27 tháng 3, trung đoàn 102 Đại đoàn 308, được tăng cường hai liên đội pháo tổ chức bốn mũi tiến công Bí Chợ, một vị trí mạnh nằm cạnh đường 18, có khoảng 150 tên, chủ yếu là lính Âu - Phi. Ngay từ loạt pháo đầu, ta đã bắn trúng nhà chỉ huy, phá hủy đài thông tin. Xung kích nhanh chóng dùng bộc phá đánh vỡ bức tường trình 60cm và xung phong. Đồn Bí Chợ hoàn toàn bị diệt sau 45 phút, pháo địch không kịp chi viện. Trong trận này địch chết 120 tên, bị bắt 50 lính Âu - Phi; ta thu ba súng 12,7mm. một súng 81mm, ba súng cối 61mm, 10 tiểu liên, 25 súng trường, một vô tuyến điện. Ta hy sinh 30 chiến sĩ, bị thương 185 người. Cũng trong thời gian này, trung đoàn 36 diệt vị trí Phán Huệ. Bên phía Đại đoàn 312, trung đoàn 141 được một liên đội pháo chi viện, đánh vị trí Tràng Bạch, diệt 73 tên địch, bắt năm tên, thu một súng cối 81mm, một súng 12,7 mm. chín tiểu liên và một số súng trường.

Mất Bí Chợ, địch ở Uông Bí lâm vào thế cô lập và bị uy hiếp. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định đánh thẳng vào thị trấn Uông Bí, nằm trên đường 18 giữa khu mỏ Tràng Bạch, Bí Chợ, Vàng Danh. Ta đang chuẩn bị tiến công Uông Bí, thì chiều ngày 28 tháng 3, địch ở vị trí này rút chạy về Quảng Yên. Đây là điều bất ngờ đối với ta.

Do chưa thấy quân viện của địch, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định tiêu diệt Mạo Khê, vị trí then chốt trên con đường tiến về Đông Triều và ra đường số 5, nhằm buộc địch phải sử dụng quân ứng viện. Khu vực Mạo Khê, địch có hai cứ điểm đại đội: Mạo Khê Mỏ và Mạo Khê Phố, nằm cách nhau 2 ki-lô-mét, trên địa hình có đồi thấp xen kẽ với ruộng nước. Trung đoàn 209 được giao nhiệm vụ đánh Mạo Khê Mỏ, trung đoàn 36 đánh Mạo Khê Phố dưới sự chỉ huy chung của Đại đoàn 312.

Tối 29 tháng 3, địch tăng cường cho Mạo Khê Phố tiểu đoàn 6 dù thuộc địa (6eBPC), đưa số quân ở đây từ 150 lên trên 700 tên. Bộ chỉ huy quyết định ngừng đánh Mạo Khê Phố, nhưng mệnh lệnh không tới kịp trung đoàn 36 trước giờ nổ súng. Trung đoàn 209 đánh Mạo Khê Mỏ, đã tiêu diệt già nửa quân đồn trú, còn khoảng 30 tên rút vào lô cốt cố thủ. Trời gần sáng, pháo địch từ tàu chiến và Đông Triều bắn về gây nhiều thiệt hại, quân ta phải rút ra 500 mét làm công sự và bao vây địch.


Đêm 30 tháng 3, trung đoàn 36 sau khi đột nhập vào Mạo Khê Phố thấy quân địch rất đông, có cả xe tăng và xe bọc thép, đã chiến đấu với chúng trong từng căn nhà từ 1 giờ 30 đến 4 giờ, diệt hơn 200 tên địch, phá bảy xe. Ta bị thương vong nhiều (hy sinh 46 đồng chí, bị thương 209 và mất tích 14 đồng chí). Do lực lượng địch ở Mạo Khê Phố đã thay đổi, nên đến sáng 31 tháng 3, trung đoàn 36 phải lui quân mà không dứt điểm được vị trí này.

Bộ chỉ huy chiến dịch nhận thấy các vị trí còn lại trên đường 18 đã được địch tăng cường, quyết định kết thúc đợt 1 chiến dịch.

Trong đợt 1, ta đã giải phóng được 30 ki-lô-mét trên tuyến Mạo Khê Phố - Biều Nghi. Nhưng do viện binh địch không ra, nên ta không có cơ hội diệt viện binh địch. Hoạt động phổ biến trong giai đoạn này là đánh điểm, nên chủ lực ta cũng bị tiêu hao nhiều.

Cũng trong thời gian đó, ở hướng phối hợp, Đại đoàn 320 tiến công Cồn Trọ, Ngô Khê, Thanh Than (Hà Đông - Hà Nam); Đại đoàn 304 tiến công một số mục tiêu ở Vĩnh Phúc, đã ghìm chân, thu hút địch, không cho chúng ứng cứu cho nhau.

Ngày 1 tháng 4, địch tăng cường cho Đông Triều hai tiểu đoàn và điều một phần GM4 từ Lục Nam xuống Phả Lại. Qua xem xét tình hình, Bộ chỉ huy quyết định mở đợt 2 chiến dịch. Ta tiếp tục đánh một loạt vị trí do các đại đội địch chiếm đóng. Nhưng mục tiêu được chọn lần này đều nằm trên đường 17. Đêm 4 tháng 4, bộ đội ta đồng loạt nổ súng. Trung đoàn 88 đánh Bãi Thảo, ta chiếm được hai đồi, địch cố thủ ở hai đồi còn lại. Quân ta tiến công quyết liệt, diệt gần 100 tên, địch quyết giữ. Đến 4 giờ 30 phút ngày 5 tháng 4, ta rút quân vì trời sắp sáng, lại thương vong nhiều (hy sinh 50 đồng chí, bị thương hàng trăm chiến sĩ). Trung đoàn 209 đánh Hoàng Gián, chiếm được hai phần ba đồn, diệt gần 50 tên địch. Ta hy sinh năm chiến sĩ, bị thương 34 người. Trung đoàn 98 đánh Hà Chiêu, diệt 13 tên địch. Ta hy sinh 13 đồng chí, bị thương 69 đồng chí. Trung đoàn 102 đánh Bến Tắm cũng không thành công, do tổ chức thiếu chu đáo, nên nổ súng chậm, trời sáng, buộc phải rút.

“Thất bại của các trận đánh không phải do quân đồn trú của địch có công sự phòng ngự vững chắc hoặc kiên quyết đối phó, mà chỉ vì chúng đã dựng lên một hàng rào lửa bằng đại bác quanh cứ điểm, ngăn những đợt xung phong của ta”1.
____________________________________
1.Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biện Phủ, Nxb QĐND, H- 1999.

chuongxedap:

Trên các hướng phối hợp, nhân lúc quân Pháp phải đối phó với chủ lực ta ở khu vục đường 18, trung đoàn 42 và bộ đội địa phương, dân quân du kích các tỉnh Tả ngạn đã khôi phục được nhiều cơ sở, mở lại được nhiều khu du kích ở Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình. Nổi bật là huyện Vĩnh Bảo đã phá được 70 phần trăm số ban tề. Trong đợt hoạt động phối hợp với Chiến dịch Hoàng Hoa Thám, trung đoàn 42 và bộ đội địa phương, dân quân du kích Tả ngạn đã diệt sáu vị trí do quân chính quy địch đóng giữ, 22 đồn hương dõng và bao vây, bức rút bốn vị trí khác.

Tại Liên khu 3, ở hướng Sơn Tây, Đại đoàn 320 đã diệt một loạt vị trí Phú Ô, Cầu Trò, Ngô Tế, Đan Thê... và đánh địch trên đường Bương Cấn đi Liệp Tuyết, diệt nhiều địch, thu vũ khí.

Tại Vĩnh Yên, Phúc Yên, các trung đoàn 9 và 66 thuộc Đại đoàn 304 phân tán đánh nhỏ và áp dụng chiến thuật công kiên tiến công một số vị trí lẻ. Trong các trận đánh, bộ đội ta chưa thực hiện được đánh tiêu diệt gọn và nhìn chung các trung đoàn hoạt động chưa đủ mạnh nên ít có tác dụng nghi binh, kiềm chế lực lượng cơ động của địch theo kế hoạch của Bộ Tổng tư lệnh. Lực lượng vũ trang Vĩnh Phúc, nhân cơ hội chủ lực về hoạt động đã đánh 60 trận, thu nhiều kết quả.

Sau bốn trận đánh điểm không đạt kết quả trên hướng chính, ta thương vong nhiều, bộ đội mệt mỏi, nên ngày 7 tháng 4, Bộ chỉ huy quyết định kết thúc chiến dịch.

Kết quả toàn chiến dịch ta diệt 2.521 tên địch, bắt 580 tên, 39 tên ra hàng, thu 413 súng các loại, phá huỷ 49 xe quân sự. Riêng hướng chính, địch bị diệt 840 tên, bị thương 350 tên, bị bắt 119 tên, bị phá huỷ 10 xe quân sự, ta thu gần 300 súng các loại, hạ bốn tháp canh và 14 vị trí từ trung đội trở lên, tiêu hao tám vị trí với lực lượng trên một đại đội, bức rút ba vị trí khác.

Thiệt hại của ta trên hướng chính là 2.262 người (hy sinh 495 người, bị thương 1.673 người, mất tích 94 người). Tỷ lệ thiệt hại ở hướng chính: địch 1 ta 21; toàn chiến dịch là: địch 1 ta 1.



Về ý nghĩa chiến dịch. Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: Trong chiến dịch này, ta đã tiêu diệt được một bộ phận sinh lực địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích, gây được ảnh hưởng chính trị và học tập được nhiều kinh nghiệm quý báu về tác chiến với binh lực lớn ở một chiến trường xa và đánh vào một vùng trung tâm của địch. Tuy nhiên “ta đã không hoàn thành nhiệm vụ thật đầy đủ, địch thiệt hại nhưng ta bị tiêu hao”2.

Về chiến thuật, ta đã vận dụng hai hình thức đánh công kiên và đánh vận động. Đánh công kiên đã chú trọng cả hai mặt điểm và diện. Điểm là hướng chính đột phá, đã tập trung ưu thế binh hoả lực. Diện là hướng phụ, có hai đến ba hướng đột phá. Lực lượng đánh ở hướng chính và hướng phụ đều tổ chức thành hai đến ba đội. Mỗi đội gồm bốn tổ (tổ bộc phá, thang ván; tổ hoả lực; tổ xung kích 1 và 2). Trong đánh vận động ta đã giấu quân bí mật, xuất kích bí mật và nhanh chóng. Nhưng ta đã không hoàn thành được nhiệm vụ và chỉ tiêu kế hoạch đề ra3.

Thiếu sót nổi bật trong chỉ đạo, chỉ huy tác chiến chiến dịch là không nắm vững tình hình địch cả trong quá trình chuẩn bị cũng như thực hành chiến đấu từng đợt, cho nên cấp chiến dịch xử trí nhiều tình huống không chính xác. Cấp chiến đấu, ngoài khuyết điểm không chủ động trong công tác nắm địch cụ thể ở mỗi mục tiêu tiến công, còn không nắm vững tình hình phát triển của bộ đội trong quá trình diễn biến chiến đấu, nên mệnh lệnh không chính xác, không dứt điểm nhiều mục tiêu, hạn chế khả năng kéo viện binh địch ra và làm tăng thêm thương vong của ta. Việc quán triệt phương châm đánh điểm diệt viện cũng không đầy đủ nên bộ đội không có nhiều cơ hội diệt viện binh địch. Mặt khác, địch nhất định không tung những binh đoàn cơ động vào khu vực này để tránh một cuộc đụng độ ở vùng rừng núi, kiên nhẫn chờ quân ta cạn lương thực rút lui. Song, “nguyên nhân chính là ở trong sự chuẩn bị chiến trường thiếu sót, là ở trong sự chấp hành mệnh lệnh của cán bộ có khuyết điểm”4.

Giữa tháng 4 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh nghe đồng chí Võ Nguyên Giáp báo cáo về kết quả, những khó khăn, những hạn chế của Chiến dịch Hoàng Hoa Thám và chuẩn bị tự phê bình. Người căn dặn: “Tự phê bình là cần, nhưng tự phê bình phải tăng cường đoàn kết, rút ra được bài học kinh nghiệm, xây dựng được lòng tin vào chiến dịch sau”5.
_________________________________
1.Lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), Nxb QĐND H. 1991, tr.463.)
2.Báo cáo kế hoạch tác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, Bộ Tổng tham mưu Xb. 1963, t.1, tr.192.
3.Chỉ diệt được hai tiểu đoàn địch, so với năm tiểu đoàn nêu lên trong kế hoạch.
4.Báo cáo kế hoạch tác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, Bộ Tổng tham mưu Xb 1963, t. 1, tr.205.
5.Hồ Chí Minh, biên niên tiểu sử tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, H. 1995, tr.44.

Navigation

[0] Message Index

[#] Next page

[*] Previous page