Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp
chuongxedap:
7 giờ 30 phút ngày 3 tháng 10, hai tiểu đoàn 154 và 166 thuộc trung đoàn 209 vận động đánh quân dù hành quân từ Gia Hội đến tiếp viện cho Nghĩa Lộ, cách Gia Hội tám ki-lô-mét và đang vận động đánh vào sau lưng ta. Sau một giờ chiến đấu, địch bị cắt làm hai bộ phận. Bộ phận đi đầu khoảng một đại đội cơ bản bị diệt, số còn lại chạy về Gia Hội bị đại đội 612, đại đội 606 truy kích diệt 40 tên. Ngày 4 tháng 10, Xa-lăng ném tiếp tiểu đoàn 2 dù (2e BEP) xuống Gia Hội. Đêm đó trung đoàn 141 tiến công Nghĩa Lộ lần thứ hai, nhưng không thành công. Kết quả hai trận ta đánh ở Nghĩa Lộ (đêm 2 và 4 tháng 10), ta đã diệt 150 tên địch, bắt 19 tên. Ta hy sinh 118 người, bị thương 200 người1.
Cũng đêm 4 tháng 10, tiểu đoàn 564 trung đoàn 165, tiến công Cửa Nhì. Khi chiếm lĩnh đồi 602, bị phi cơ địch oanh tạc và hai lần chúng cho quân ra đánh chiếm lại, nhưng đều bị quân ta đánh lui, diệt chín tên, bắn bị thương 12 tên khác. Ngày 5 tháng 10, địch đổ tiểu đoàn 10 dù (10e BPCP) xuống Nghĩa Lộ và điều tiểu đoàn 2 dù và tiểu đoàn 8 dù tiến về phía Khâu Vác. Ngày 6 tháng 10, tiểu đoàn 154 phục kích cánh quân của tiểu đoàn 8 dù ở bản Văn Tông. Khi chúng lọt vào trận địa, sau 10 phút nổ súng, địch bỏ chạy, ta truy kích đến đồi 869 gặp hai trung đội địch, ta chiến đấu đến 2 giờ sáng, diệt và bắt 26 tên. Cũng trong thời gian đó, cánh quân của tiểu đoàn 2 dù tiến đến Nậm Mười, bị tiểu đoàn 130 của ta nổ súng chặn đánh. Sau năm đợt xung phong, địch yếu thế phải bỏ chạy. Ta truy kích đến 4 giờ ngày 7 tháng 10 thì rút quân. Kết quả toàn trận, địch chết 60 tên; ta hy sinh 15 người, bị thương 62 người.
Trên hướng thứ yếu Phong Thổ, từ đêm 29 tháng 9 đến ngày 10 tháng 10; trung đoàn 148 cùng bộ đội địa phương Lào Cai bao vây, tiến công các đồn Yên Na (4 tháng 10), diệt 113 địch, thu 12 súng các loại và 20 tấn quân trang quân dụng. Ngày 9 tháng 10, tiểu đoàn 930 tiến công Than Thuộc, Pác Tà. Sau 30 phút chiến đấu địch bỏ chạy. Tiểu đoàn 910 tiến công Than Uyên, không kết quả. Sau 10 ngày chiến đấu liên tục, lực lượng ta cũng bị tiêu hao nhiều (287 người hy sinh, 702 người bị thương, 22 người mất tích), lương thực chỉ còn có hai ngày. Ngày 10 tháng 10, Bộ chỉ huy chiến dịch nhận định thời cơ đánh địch đã hết và ra lệnh kết thúc chiến dịch.
Mặc dù vậy, từ ngày 11 tháng 10 đến 31 tháng 10, bộ đội ta vẫn tổ chức phục kích quân viện của địch trên các trục đường Nậm Bon, Niêng Sang; tiến công diệt cứ điểm Pu Sam Cáp, Khang Tiêu, Phòng Tô. Các đơn vị tiến hành ba trận đánh gặp địch (tao ngộ), diệt ba đơn vị cơ động Âu - Phi gồm một đại đội công binh (1e CIE) ở Niêng Sang, một đại đội thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn 2 lê dương (2/2e REI) ở Nậm Bon và một đại đội thuộc trung đoàn 17 Ta-bo ở khu vực Lan Nhì Tháng. Đồng thời với hoạt động của chủ lực, bộ đội địa phương cùng với dân quân du kích hoạt động đẩy mạnh chiến tranh du kích.
Trong Chiến dịch Lý Thường Kiệt, hầu hết các đơn vị bộ đội địa phương và dân quân du kích trên địa bàn đã được huy động. Hướng Văn Chấn, Trấn Yên có ba đại đội 97, 87 và 86. Than Uyên hai đại đội 96, 85. Đại đội 85 đánh năm trận đều thắng lợi. Đại đội 96 đánh trận phục kích trên đường Tạ Hoà gây khó khăn cho địch tiếp viện sang Mường Than, dọn đường cho trung đoàn 148 hoạt động. Các đại đội tích cực làm nhiệm vụ phục vụ chủ lực tác chiến. Tại Than Uyên, hai đại đội 96 và 85 phối hợp chặt chẽ với chủ lực tiến công địch, bức chúng rút khỏi đồn Minh Lương (Văn Bàn) bắt 82 tên, thu toàn bộ vũ khí. Ở Lào Cai, bộ đội địa phương đã hợp đồng chặt chẽ với chủ lực tiến công địch, giải phóng huyện Phong Thổ.
Kết quả toàn chiến dịch, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.258 tên (trong đó có 255 tên bị bắt); thu trên 300 súng các loại gồm 20 trung liên, một đại liên, 76 tiểu liên, năm súng cối, 229 súng trường, 28 súng ngắn; và 20 tấn quân lương, 11 tấn đạn dược. Riêng hướng chính ta tiêu diệt 476 tên địch, bắt 42 tên. Ta hy sinh 287 người, bị thương 702 người, mất tích 22 người2. Từ khi nổ súng (29 tháng 9 đến 31 tháng 10), ta đã đánh 16 trận công đồn, sáu trận phục kích, ba trận tao ngộ, hai trận đánh quân địch nhảy dù, hai trận truy kích. Ta đã đánh bại tám tiểu đoàn đồn trú và cơ động ứng chiến (hai tiểu đoàn Thái, ba tiểu đoàn Âu - Phi: Ta-bo, Ma-rốc, An-giê-ri và ba tiểu đoàn dù). Qua 29 trận đánh trên các hướng, ta đã diệt chín đại đội địch, diệt sáu cứ điểm Than Thuộc, Hua Tà, Ca Vịnh, Bản Tu, Tan Man, Pa Pé, bức rút tám vị trí Thượng Bằng La, Đồng Bò, Đèo Pho, Khe Tùa, Cốc Báng, Cửa Nhì, Khang Tiêu, Sài Lương.
Chiến dịch đã giải phóng một vùng rộng lớn từ Quang Huy lên Ca Vịnh, Ba Khe, Sài Lương và từ Phong Tô qua Bình Lư tới Than Uyên. Chiến dịch đạt được các yêu cầu đặt ra, làm thay đổi cục diện ở Tây Bắc, góp phần vào thắng lợi chung của chiến cuộc Đông Xuân 1951-1952.
Nhưng chiến dịch cũng bộc lộ những khuyết điểm chính là: công tác chuẩn bị thiếu chặt chẽ, không giữ được bí mật nên sớm bị địch phát hiện được ý định. Chúng đã cho rút lực lượng đóng tại các vị trí ngoại vi về tăng cường để giữ Nghĩa Lộ (một tiểu đoàn). Việc điều hành chiến dịch giao hoàn toàn cho Đại đoàn 312 đảm nhiệm. Đại đoàn chưa quen điều hành nên gặp khó khăn, lúng túng. Các cơ quan cấp trên chưa thấy hết khó khăn của đại đoàn, do đó việc giúp đỡ của Bộ Tổng tham mưu cho đại đoàn còn ít. Về nguyên nhân khuyết điểm, đồng chí Lê Trọng Tấn, Tư lệnh đại đoàn cho rằng: “việc di chuyển bộ đội quá chậm, nên địch đã biết và chuẩn bị đối phó. Từ Yên Bái vào Nghĩa Lộ, ta mất năm ngày hành quân vất vả, nhưng địch tăng cường quân dù từ Hà Nội lên chỉ mất một giờ! Tây Bắc là địa hình rừng núi, nhưng trong thực tế, bộ đội ta đánh nhau với quân dù trên đồng ruộng ban ngày như ở chiến dịch Trung Du, có pháo binh và không quân yểm trợ, chúng vẫn gây cho ta nhiều khó khăn thiệt hại. Ở địa bàn này tiếp tế cho bộ đội bằng quang gánh của dân công trên hàng trăm ki-lô-mét vẫn là vấn đề nan giải. Trước khi mở chiến dịch đại đoàn chưa nhìn thấy hết những khó khăn này”3.
Mặc dù vậy, Đại đoàn 312 đã có bước tiến mới, các đơn vị có thêm kinh nghiệm về chỉ huy và tác chiến chính quy trên chiến trường rừng núi, đánh địch đổ bộ đường không, đảm bảo hậu cần trên địa bàn hiểm trở tiếp tế khó khăn, cách xa hậu phương, kinh nghiệm về nghệ thuật chỉ đạo mặt trận vùng sau lưng địch, phối hợp chặt chẽ giữa chiến tranh du kích và chính quy, trong chiến dịch tiến công địch ở miền rừng núi.
Tháng 12 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 312, khen ngợi thành tích trong Chiến dịch Lý Thường Kiệt và căn dặn cán bộ chiến sỹ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm để lập nhiều chiến công hơn nữa. Người viết: “Bác vui lòng vì kết quả khá... Nhất là vì các chú tiến bộ khá. Tinh thần chiến đấu cao. Ý thức dân vận khá. Đối với chiến lợi phẩm, giữ vững kỷ luật. Kỹ thuật khá tiến bộ”4.
_______________________________________
1.Hồ sơ 466, trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng.
2.Hồ sơ 412, Những chiến dịch lớn ở Bắc Bộ, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng.
3.Hồ sơ 412, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng.
4.Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.6, Nxb Chính trị quốc gia, H. 1995, tr.364.
chuongxedap:
CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH
(Tiến công, từ ngày 10 tháng 12 năm 1951 đến ngày 25 tháng 2 năm 1952)
Tháng 11 năm 1951, thực dân Pháp tập trung lực lượng lớn đánh chiếm Hoà Bình, nhằm mục đích mở rộng khu chiếm đóng, tăng cường phòng ngự phía tây nam đồng bằng Bắc Bộ, ngăn chặn đường liên lạc vận chuyển của ta giữa Việt Bắc với Liên khu 3. Địch đã chọn một chiến trường mà chúng có chủ định trước, buộc ta phải tham chiến sớm để tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực, phá sự chuẩn bị tiến công thu đông của ta. Chúng cố giành lấy một thắng lợi về chính trị, quân sự để ổn định tinh thần ngụy quân, ngụy quyền, xây dựng “xứ Mường tự trị”, làm yên lòng chính phủ Pháp.
Do tính chất quan trọng của chiến trường Hoà Bình, nên Pháp đã cử tướng Xa-lăng, phó tổng tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương trực tiếp chỉ huy cuộc hành quân này.
Ngày 10 tháng 11 năm 1951, 12 tiểu đoàn bộ binh và năm cụm pháo binh của Pháp bất ngờ chiếm Chợ Bến, cắt đường di chuyển của bộ đội ta từ Việt Bắc xuống đồng bằng. Ngày 14 tháng 11, với binh lực 20 tiểu đoàn bộ binh (của các GM1, 2, 3, 4, 7), bảy tiểu đoàn pháo binh, một tiểu đoàn thiết giáp và hai đại đội xe tăng. Địch tiến quân theo bốn cánh, hình thành hai gọng kìm từ phía Sơn Tây - Trung Hà xuống và từ Xuân Mai lên thị xã Hoà Bình. Cánh thứ nhất do trung tá Béc-ki-nhi (Berquiny) chỉ huy, có ba tiểu đoàn dù, sáng 14 tháng 11, chúng nhảy dù chiếm thị xã Hoà Bình. Cánh thứ hai do thiếu tướng Lơ Bơ-lăng (Leblane) chỉ huy, có hai binh đoàn cơ động số 4 và 7, ba tiểu đoàn pháo binh 105mm, một đại đội xe tăng, từ khu vực thị xã Sơn Tây chia làm hai mũi tiến theo đường số 87 và đường số 89, đánh chiếm Đan Thê, Đá Chông, Chẹ. Cánh thứ ba do đại tá Cơ-lê-măng (Clément) chỉ huy có binh đoàn cơ động số 2 và một tiểu đoàn pháo binh 105mm từ thị xã Sơn Tây đánh chiếm núi Ba Vì. Cánh thứ tư do đại tá Đô-đơ-li-ê (Dodelier) chỉ huy, có hai trung đoàn cơ động số 1 và 3, một đại đội xe tăng và hai tiểu đoàn pháo binh 105mm, từ Xuân Mai đánh chiếm đường số 6 và thị xã Hoà Bình, lực lượng dự bị gồm một tiểu đoàn dù, một tiểu đoàn pháo binh 105mm, một đại đội xe tăng tập kết ở Hà Nội. Trong hai ngày 14 và 15 tháng 11, địch đã chiếm được Hoà Bình, đường số 6, sông Đà và Ba Vì. Sau khi chiếm được các mục tiêu trên, địch tổ chức phòng ngự thành hai phân khu (ngoài phân khu Chợ Bến), với ý đồ chiếm đóng lâu dài. Phân khu sông Đà và Ba Vì (khu bắc), do đại tá Đô-đơ-li-ê chỉ huy, sở chỉ huy đặt tại Đan Thê. Phân khu Hoà Bình và đường số 6 (khu nam), do đại tá Cơ-lê-măng chỉ huy, sở chỉ huy đặt tại thị xã Hoà Bình.
Tổ chức phòng ngự của địch gồm 28 cứ điểm lớn, nhỏ, kiến trúc theo kiểu dã chiến. Mỗi cứ điểm có từ một đến hai đại đội bộ binh chiếm giữ, những nơi quan trọng như Pheo, Đồng Bến, Ao Trạch, Chẹ, Đá Chông thường có ba đại đội bộ binh, được tăng cường một trung đội xe tăng và một đại đội pháo.
Ngày 15 tháng 11, Tổng Quân uỷ họp. Bộ Tổng tham mưu đề nghị mở chiến dịch Hoà Bình vì địch mới đánh ra, chưa kịp củng cố phòng ngự. Hoà Bình là vùng rừng núi, dễ bao vây, chia cắt địch, cơ động lực lượng thuận lợi, bí mật.
Ngày 18 tháng 11 năm 1951, Trung ương Đảng và Tổng Quân uỷ nhận định “Đó là một cơ hội hiếm có cho ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Đánh ra Hoà Bình địch phải phân tán lực lượng cơ động, lực lượng tinh nhuệ trên một mặt trận rộng lớn, núi rừng hiểm trở, địa hình đột xuất, công sự chưa vững chắc. Mặt khác vì phải tập trung phần lớn quân cơ động ra Hoà Bình nên lực lượng địch ở đồng bằng bị dàn mỏng, các vùng từ hữu ngạn, tả ngạn Liên khu 3 đến Trung Du đều tương đối sơ hở hơn trước”1. Căn cứ vào nhận định trên, Trung ương chủ trương mở một cuộc tiến công lớn đánh địch trên cả hai mặt trận: tập trung chủ lực ở hướng chính là Hoà Bình và mạnh bạo đưa một bộ phận chủ lực vào hoạt động trong địch hậu đồng bằng Bắc Bộ nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực, tiến tới phá tan kế hoạch chiếm đóng Hoà Bình của chúng, đẩy mạnh chiến tranh du kích trọng tâm là đồng bằng Bắc Bộ. Bộ Chính trị quyết định, tổ chức Bộ chỉ huy chiến dịch do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh, đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm chính trị, đồng chí Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng và thành lập Đảng uỷ chiến dịch do đồng chí Võ Nguyên Giáp phụ trách bí thư, đồng chí Nguyễn Chí Thanh phó bí thư.
Ngày 20 tháng 11, Bộ Tổng tư lệnh ra mệnh lệnh tác chiến cho các đại đoàn: Đại đoàn 320 đánh địch từ thị xã Hoà Bình đến Trung Hà và hai bên tả, hữu sông Đà, Đại đoàn 316 được phối thuộc trung đoàn 246, phối hợp với bộ đội địa phương hoạt động ở Bắc Giang, Bắc Ninh. Trung đoàn 98 thâm nhập vào vùng địch hậu Bắc Ninh. Trung đoàn 174 đánh từ một đến hai vị trí ở tuyến ngoài. Trung đoàn 176 bố trí giữ mặt Lạng Sơn. Đại đoàn 308 sẵn sàng chiến đấu. Sau khi có chỉ thị của Trung ương, Bộ Tổng tham mưu cụ thể hoá thêm nhiệm vụ tác chiến của một số đại đoàn. Đại đoàn 304 đánh địch ở phía nam Hoà Bình, tiêu diệt một số điểm cao, cắt đường vận chuyển của địch trên đường số 6 để phối hợp với các đại đoàn 308, 312 hoạt động trên tuyến sông Đà và vùng thị xã Hoà Bình. Đại đoàn 320 đưa đại bộ phận vào vùng địch hậu ở đồng bằng.
Ngày 30 tháng 11, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tới sở chỉ huy tiền phương ở Đồng Lương, thuộc huyện Cẩm Khê, bên bờ sông Thao để chỉ huy chiến dịch.
Ngày 2 tháng 12 năm 1951, Tổng Quân uỷ - Bộ Tổng tư lệnh tổ chức hội nghị cán bộ phổ biến nhiệm vụ và kế hoạch tác chiến chiến dịch. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thay mặt Tổng quân uỷ - Bộ Tổng tư lệnh, Đảng uỷ và Bộ chỉ huy Chiến dịch đã báo cáo trước hội nghị “Chủ trương tác chiến trên mặt trận sông Đà”.
Về chủ trương và phương châm tác chiến nêu rõ: “Tập trung lực lượng tiêu diệt Tu Vũ và Núi Chẹ, đồng thời tranh thủ đánh viện trên sông, trên bộ và bên hữu ngạn, núi Chẹ và hữu ngạn thì địch có thể bất ngờ, ít nhất cũng giúp cho việc tiêu diệt Tu Vũ được thuận lợi hơn...”.
Về công tác chính trị trong chiến dịch: Quán triệt chủ trương của Trung ương Đảng và Tổng Quân uỷ - Bộ Tổng tư lệnh, ngay từ 19 tháng 11 năm 1951, cơ quan chính trị chiến dịch đã ra chỉ thị gửi toàn mặt trận “Tuyên truyền về cuộc hành binh của địch ở Hoà Bình” và triển khai hoạt động mọi mặt công tác chính trị trong chiến dịch về chuẩn bị bộ đội, chuẩn bị dân công, phối hợp tác chiến với dân vận, địch vận”…2.
Địa bàn chiến dịch diễn ra trên khu vực từ Xuân Mai đến thị xã Hoà Bình, dài 50 ki-lô-mét và từ Trung Hòa đến thị xã Hoà Bình, dài khoảng 60 ki-lô-mét. Đây là khu vực địa hình rừng núi sát với đồng bằng, có hai dãy núi cao, dãy Ba Vì 1.287m và dãy Viên Nam cao 1.029m. Phía đông Ba Vì có nhiều đồi núi trống trải, phía tây Ba Vì là rừng núi kín đáo. Có ba trục đường lớn, cơ giới hoạt động được là đường số 89, đường số 87 và đường số 6 là đường giao thông chính, ven đường có nhiều núi rừng xen kẽ đồi gianh. Sông Đà rộng và sâu nước chảy mạnh (rộng 400 - 500 m, sâu 5 - 8m), các tàu nhỏ của địch đi lại được, nhưng dễ bị ta phục kích.
Ý định của Bộ chỉ huy chiến dịch là kiên quyết tập trung binh lực hoả lực đột phá khu phòng ngự sông Đà, đánh một trận mở màn quyết định, tiêu diệt bộ phận sinh lực địch, mở đường giao thông vận chuyển chiến dịch, đồng thời tạo thế phát triển thuận lợi cho chiến dịch. Đợt đầu tiên nhằm đánh tiêu diệt cụm cứ điểm Tu Vũ, núi Chẹ, nằm trong tuyến phòng thủ phân khu sông Đà của địch và là hướng chủ yếu của chiến dịch.
Quân ta thực hiện phương châm đánh điểm diệt viện, kết hợp chặt chẽ đánh công kiên với đánh phục kích giao thông, tiêu diệt quân viện trên sông, trên bộ, vận dụng linh hoạt chiến thuật đánh vận động, tiêu diệt từng bộ phận quân địch đi càn quét sục sạo, buộc chúng phải co vào các vị trí dã chiến, đánh tiêu diệt quân nhảy dù hoặc quân ứng cứu giải toả.
Tư tưởng chỉ đạo tác chiến chiến dịch là tích cực, chủ động, tạo thời cơ, nắm thời cơ, tranh thủ thời gian, lợi dụng sơ hở của địch, đánh địch trên những khu vực đã chuẩn bị sẵn, buộc địch phải tác chiến theo ý định của ta. Đánh hiệp đồng binh chủng, lấy đánh tập trung từng tiểu đoàn, trung đoàn bộ binh trở lên được tăng cường binh khí kỹ thuật và một số binh chủng chuyên môn khác làm chính, kết hợp với những trận đánh nhỏ có hiệu suất cao, thực hiện tiêu diệt gọn quân địch, bắt tù binh thu nhiều vũ khí. Đánh liên tục ngày đêm, đánh giữa các đợt, đánh quân địch đang triển khai đội hình, đánh địch đang vận động, đánh địch co cụm trong cứ điểm. Kiên quyết chia cắt địch ra từng bộ phận mà diệt, kết hợp chặt chẽ đánh giao thông trên bộ, trên sông, diệt xe cơ giới diệt quân nhảy dù, diệt pháo binh và máy bay một cánh rộng rãi.
Thời gian tác chiến chiến dịch có thể kéo dài từ hai đến ba tháng, chia thành nhiều đợt chiến đấu, trên nhiều khu vực với những yêu cầu cụ thể khác nhau. Các đợt tác chiến sau tùy kết quả của đợt trước mà triển khai đánh tiếp. Phải kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ tác chiến đợt 1, mở thông cửa cho hướng phát triển đợt sau của chiến dịch.
Theo kế hoạch tác chiến chiến dịch, Bộ chỉ huy chiến dịch sử dụng Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312 đánh địch trên hướng chủ yếu của chiến dịch, tiêu diệt sinh lực địch và phá vỡ tuyến phòng ngự sông Đà.
_________________________________________
1.Hồ sơ 514, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng.
2.Báo cáo kế hoạch tác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiệm của các chiến dịch lớn, Bộ Tổng tham mưu Xb. 1963, t. 2, tr.27.
chuongxedap:
Nhiệm vụ cụ thể như sau: Đại đoàn 308 (thiếu trung đoàn 102) ở bên tả ngạn sông Đà có nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, đánh quân viện trên sông Đà từ Tu Vũ đến thị xã Hoà Bình; Đại đoàn 312 ở bên hữu ngạn sông Đà, có nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm Chẹ, đánh viện trên đường bộ từ Sơn Tây đi Đá Chông và từ Đá Chông đến Chẹ. Đại đoàn 304 ở hướng thứ yếu của chiến dịch làm nhiệm vụ kiềm chế mọi hoạt động của địch ở thị xã Hoà Bình và đánh địch trên đường số 6. Trung đoàn 102 của Đại đoàn 308 làm dự bị chiến dịch được bố trí ở khu vực Cổ Tuyết, nam thị xã Phú Thọ, có nhiệm vụ phối hợp chặt chẽ cùng lực lượng vũ trang địa phương Phú Thọ sẵn sàng đánh địch càn quét ra các vùng tự do Hạc Trì, Lâm Thao, Hưng Hoá, đường số 2.
Về đảm bảo hậu cần1, để nhanh chóng huy động được nhân lực vật lực, bảo đảm cho tác chiến trên các hướng theo quyết tâm chiến dịch, Tổng Quân uỷ quyết định thành lập hai Ban cung cấp tiền phương ở bắc và nam Hoà Bình. Ban cung cấp tiền phương mặt trận bắc Hoà Bình có nhiệm vụ bảo đảm cho Đại đoàn 308, Đại đoàn 312 và Đại đoàn công pháo 351 cùng các lực lượng vũ trang địa phương. Ban cung cấp tiền phương mặt trận nam Hoà Bình có nhiệm vụ bảo đảm cho Đại đoàn 304, Đại đoàn 320. Thời kỳ đầu ở mặt trận Hoà Bình, ta đã chuẩn bị được 820 tấn gạo2 và có 20 nghìn dân công phục vụ chiến dịch. Công tác quân y, đã chuẩn bị đủ thuốc cứu chữa cho 4.000 thương binh.
Trong quá trình tổ chức chuẩn bị, các đơn vị đã chú ý như động viên giáo dục chính trị, quán triệt phương châm chiến dịch, thảo luận kế hoạch tác chiến... để bộ đội được chuẩn bị kỹ càng về mọi mặt trước khi bước vào chiến đấu.
Ngày 10 tháng 12 năm 1951, đợt 1 chiến dịch Hoà Bình bắt đầu. Trên hướng chủ yếu, trung đoàn 209 Đại đoàn 312 vận động đến Ninh Mít, phối hợp với hai tiểu đoàn địa phương chặn đánh tiểu đoàn dù (GM4) càn quét ở làng Chúc phía nam Ba Vì, diệt hai đại đội địch, số còn lại bỏ chạy về Chẹ. Sáng 11 tháng 12, tiểu đoàn địch càn vào khu vực Gốc Bộp, điểm cao 306, bị quân ta chặn đánh diệt hai đại đội, bộ phận phía sau lùi lại Yên Lệ. Trên đường số 87, hai tiểu đoàn địa phương đánh vận động phục kích diệt hai đại đội bộ binh và một trung đội cơ giới địch ở Trung Thượng - Hạm Giá.
Cùng ngày 10 tháng 12, trung đoàn 88 Đại đoàn 308 được tăng cường một tiểu đoàn của trung đoàn 36 và tám khẩu sơn pháo 75mm, cùng một đại đội súng phòng không 12,7mm tiến công cứ điểm Tu Vũ, một cứ điểm phòng ngự then chốt của phân khu sông Đà. Cứ điểm này do tiểu đoàn Ma-rốc số 1 và một đại đội thuộc tiểu đoàn ngụy Mường số 6 với xe tăng, xe thiết giáp chốt giữ. Cứ điểm được cấu trúc kiên cố, chia làm ba khu, xung quanh được phát quang rộng 100 mét và những lớp rào, bãi mìn rộng 24 mét. Khu C tách khỏi khu A và B bằng ngòi Lát, do một đại đội địch chiếm giữ, có một lô cốt lớn và bảy ụ chiến đấu. Khu A có một đại đội bộ binh, sáu ụ chiến đấu bao quanh một lô cốt lớn, được trang bị hoả lực mạnh (trọng liên 12,7mm, ĐKZ57mm, cối 81mm). Khu B có sở chỉ huy tiểu đoàn và hai đại đội bộ binh được trang bị ĐKZ 57mm, pháo 37mm, có một lô cốt lớn và nhiều ụ chiến đấu. Tu Vũ còn được sự yểm trợ của 19 khẩu pháo từ Đá Chông, Chẹ, Thủ Pháp.
8 giờ tối ngày 10, toàn trung đoàn từ dãy Yên Lãng chia làm ba mũi tiến xuống chiếm lĩnh trận địa tiến công. Tiểu đoàn 29 (có sở chỉ huy trung đoàn đi cùng) triển khai chiếm lĩnh phía đông khu B. Tiểu đoàn 23 chiếm lĩnh phía bắc khu A, tiểu đoàn 322 chiếm lĩnh đông nam khu C. Trong quá trình bộ đội tiến vào chiếm lĩnh thì bị địch phát hiện. Các loại hoả lực trong cứ điểm bắn ra ngăn chặn, pháo từ các vị trí Chẹ, Đá Chông, Thủ Pháp tạo thành một vành đai lửa bao quanh cứ điểm. Mặc cho pháo địch bắn dữ dội, các cánh quân của ta vẫn tìm mọi cánh tiếp cận cứ điểm. Đại đội chủ công Tô Văn, lợi dụng khoảng ngừng giữa những loạt pháo, nhanh chóng tiếp cận hàng rào khu A. Các đơn vị khác đều bị pháo địch chặn lại. Riêng tiểu đoàn 322 trung đoàn 88 ở mũi diện kịp nổ súng đúng giờ quy định chiếm được khu C. 2 giờ sáng 11, ba khẩu pháo của ta cùng phát hoả bắn sập ba lô cốt. Tất cả các loại súng bộ binh tập trung bắn vào khu A, xung kích nối tiếp nhau xông lên dùng bộc phá đánh tan hàng rào dây thép gai, bãi mìn và xung phong. Tại khu B, đại đội 23, tiểu đoàn 23 đã dùng kìm kéo bí mật cắt rào, tiến vào đồn địch diệt sáu ụ súng. Quân địch hoàn toàn bất ngờ, chúng cho rằng trong năm giờ qua, 29 khẩu pháo với 5.000 quả pháo yểm trợ Tu Vũ, đã nghiền nát những đơn vị xung kích. Nhưng quân ta vẫn xuất hiện giữa cứ điểm chiếm sở chỉ huy, số địch sống sót bỏ chạy ra phía bờ sông. 5 giờ sáng quân ta hoàn toàn làm chủ Tu Vũ3. Trận Tu Vũ là một trong những trận đánh xuất sắc của chiến dịch Hoà Bình, làm rung chuyển tuyến phòng thủ sông Đà của địch.
Sáng 11 tháng 12 địch cố mở thông tuyến sông Đà. Một đoàn ca nô từ phía Trung Hà tiến lên, bị tiểu đoàn 84 trung đoàn 36 phục ở Đoan Hạ, bắn chìm một chiếc, bắn bị thương hai chiếc, số còn lại chạy về Trung Hà. Chiều 11 tháng 12, một đoàn ca nô khác từ thị xã Hoà Bình xuống, bị tiểu đoàn 6 trung đoàn 141 phục ở Lạc Song, bắn chìm một chiếc, bắt 15 tù binh. Tuyến cơ động trên sông Đà của địch bị cắt đứt.
Ngày 13 tháng 12, tại phía bắc thị xã Hoà Bình, địch đi sục sạo đến xóm Mới, gặp tiểu đoàn 16 trung đoàn 141 chặn đánh diệt một trung đội, địch phải rút về thị xã. Ngày 14 tháng 12, địch rút binh đoàn cơ động số 4 về Trung Hà, kết thúc cuộc càn quét vùng Ba Vì.
Trên hướng đường số 6, đầu tháng 12, Đại đoàn 304 đã tới nam đường 6. Ngày 12, trung đoàn 66 của đại đoàn phục kích trên quãng đường từ Cầu Dụ đến Hang Đá, cách Hoà Bình 15 ki-lô-mét về phía đông bắc. Khu vực này địch đã phát quang hai bên đường, vì vậy bộ đội phải giấu quân cách đường 500 mét, chỉ có các bộ phận cảnh giới, chặn đầu, khoá đuôi là bố trí tương đối gần đường. 11 giờ 45 phút, 30 xe địch phủ bạt kín từ Xuân Mai lên, cùng lúc bốn xe chở đầy lính từ Hoà Bình xuống đón. Chờ cho đoàn xe lọt vào trận địa, bộ đội ta nổ súng tiêu diệt bọn đi đầu và cuối đoàn xe. Toàn bộ đoàn xe bị chặn lại ở khu vực Cầu Dụ. Dưới sự chi viện của hỏa lực, bộ đội ta vận động đánh thẳng vào đoàn xe. Sau 20 phút chiến đấu, 34 chiếc xe và toàn bộ quân địch trên xe bị tiêu diệt.
Ngày 13 tháng 12, tiểu đoàn 352 trung đoàn 9 được một trung đội địa phương Hoà Bình phối hợp chiến đấu thực hiện trận phục kích ở làng Giang Mỗ, đoạn từ Hoà Bình đi Chợ Bờ, cách thị xã Hoà Bình khoảng 10 ki-lô-mét. Tiểu đoàn bố trí trận địa phục kích trong phạm vi hơn một ki-lô-mét. 10 giờ 30 phút, đoàn xe chở một đại đội Âu - Phi lọt vào trận địa. Ta dùng ĐKZ và đại liên bắn mạnh vào đoàn xe tạo điều kiện cho các đại đội xung phong. Sau 30 phút chiến đấu, năm xe GMC và xe tăng bị phá huỷ, hơn một đại đội Âu-Phi bị diệt và bị bắt. Trong trận này, tiểu đội trưởng Cù Chính Lan đã dũng cảm mưu trí, tiếp cận dùng lựu đạn diệt xe tăng địch, mở đầu cách đánh xe tăng bằng lựu đạn của bộ đội ta.
Ngày 15 tháng 12, địch đưa hai đại đội vào xóm Bãi Bể (Cao Phong) sục sạo, phá kho tàng. Chờ khi địch rút về, tiểu đoàn Đinh Công Niết chặn đánh tại xóm Mán - điểm cao 585, diệt và bắt trên 100 tên.
Đợt 1 chiến dịch kết thúc ngày 26 tháng 12. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 23 đại đội chủ lực địch, phần lớn là lính Âu-Phi, bắn chìm bảy ca nô, tàu, xuồng; bắn bị thương hai chiếc khác trên sông Đà, uy hiếp mạnh đường số 6, cắt đứt tuyến sông Đà.
Phối hợp với Hoà Bình, ở mặt trận địch hậu, Đại đoàn 320, Đại đoàn 316 đã phối hợp cùng các lực lượng vũ trang địa phương tiến công địch rộng khắp, giành thắng lợi lớn, nhất là ở Bắc Ninh và Phát Diệm. Địch phải điều quân ở Hoà Bình về đối phó. Khi bị quân ta uy hiếp mạnh ở Hoà Bình, địch buộc phải bỏ dở cuộc càn ở Bắc Ninh, lại điều quân về ứng cứu cho khu vực sông Đà, Ba Vì.
Sau đợt 1, sở chỉ huy chiến địch chuyển từ Đồng Lương về xóm Giớn, Tân Lập, tây Tu Vũ 7 ki-lô-mét. Mở đầu đợt 2, đêm 29 tháng 12, trung đoàn 141, Đại đoàn 312 bí mật tập kích địch ở các điểm cao 600, 165 và 400 (Ba Vì), diệt gần 100 địch, bắt 96 tên (có 35 lính lê dương). Quân ta hy sinh 16 người, bị thương 60 người. Ngày hôm sau (30 tháng 12), địch điều các binh đoàn cơ động số 1 và số 3 cùng một tiểu đoàn dù lên chiếm lại điểm cao 600. Chúng còn đưa binh đoàn cơ động số 4 từ Đá Chông càn vào điểm cao 149; đưa binh đoàn cơ động số 1 càn vào phía bắc Ba Vì. Do tình hình địch thay đổi, ta lại bố trí lực lượng quá xa đường nên không đánh được địch.
Trên đường số 6, đêm 30 tháng 12, trung đoàn 9 Đại đoàn 304 tiến công vị trí Hàm Voi, tiểu đoàn 418 diệt được hai phần ba lực lượng địch trong đồn. Ta bị thương vong trên 100 đồng chí do tổ chức kiềm chế pháo địch chưa tốt. Cũng trong thời gian này, mặt trận sau lưng địch ở đồng bằng Bắc Bộ hoạt động mạnh, rộng khắp, thu được thắng lợi to lớn, tiêu diệt, bức rút nhiều đồn bốt, phát triển, mở rộng nhiều khu căn cứ liên hoàn. Cũng đêm 30, trên đường 21, trung đoàn 57 Đại đoàn 304 tiêu diệt vị trí Đồi Mồi. Đến đây Bộ Tổng tư lệnh quyết định kết thúc đợt 2 chiến dịch.
_________________________________________
1.Kết quả trong 78 ngày đêm bảo đảm cho chiến dịch các Ban cung cấp mặt trận đã tiếp tế cho bộ đội 6.475 tấn lương thực, thực phẩm, 280 tấn đạn, cứu chữa 6.390 thương binh.
2.Số lượng gạo thực tiêu thụ sau này là 3.244 tấn.
3.Kết quả, trận này ta diệt 158 tên, bắt sống 12 tên, phá hủy một xe tăng, hai xe thiết giáp, năm khẩu pháo, thu một badôca, một ĐKZ, tám đại liên cùng nhiều vũ khí đạn dược. Ta hy sinh 152 đồng chí, bị thương 490 đồng chí, (chủ yếu do pháo địch).
chuongxedap:
Bước vào đợt 3, đêm 7 tháng 1 năm 1952, trung đoàn 102, Đại đoàn 308 tiến công cứ điểm Pheo. Địch có một tiểu đoàn bộ binh, một đại đội pháo, một trung đội xe tăng, tổ chức cứ điểm thành ba vị trí trên ba mỏm đồi gần nhau. Đúng giờ nổ súng, pháo ta bắn theo kế hoạch, trong lúc đó bộ binh chưa chiếm xong các mục tiêu. Các mũi đột phá đều gặp khó khăn. Sau khi mở cửa xong đều bị pháo và xe tăng địch bắn ngăn chặn, ta không phát triển được. Trận đánh không thành công. Cùng đêm, trung đoàn 66 Đại đoàn 304 tiến công vị trí Đầm Huống. Vì đánh giá địch không đúng, nên khi đột phá không có hoả lực mạnh để yểm hộ, mở cửa xong bị pháo và xe tăng địch ngăn chặn, không phát triển được vào tung thâm, quân ta bị thương và hy sinh hàng trăm người.
Trong khi hai trung đoàn 102 và 66 đánh các vị trí Pheo, Đầm Huống, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định sử dụng trung đoàn 36 Đại đoàn 308 hoạt động trên hướng phối hợp tại thị xã Hoà Bình. Tối ngày 7, đại đội 41 của tiểu đoàn 84 bí mật tiếp cận trận địa pháo địch ở khu Kiểm Lâm nằm sâu trong thị xã. Cùng thời gian này, các đại đội 61, 62 của tiểu đoàn 80 đã áp sát hai vị trí Đồi Cháy và Đồi Dè, các đại đội 42 và 43 của tiểu đoàn 84 cũng áp sát vị trí Khuỷu và Rậm nằm dọc con đường rút ra của những chiến sĩ tập kích pháo. 12 giờ 30 phút, sau tiếng bộc phá mở rào, các chiến sĩ của đại đội 41 nhanh chóng nhét thủ pháo vào nòng pháo, phá hoàn toàn bốn khẩu 105 mm nằm trong trận địa. Nghe tiếng nổ phát ra từ trận địa pháo, tất cả các đơn vị xung kích đồng loạt nổ súng. Sau gần một giờ chiến đấu, hai tiểu đoàn của trung đoàn 36 đã tiêu diệt gọn bốn vị trí: Đồi Cháy, Đồi Dè, Khuỷu, Rậm và một trận địa pháo địch.
Bị ta đánh mạnh trên đường số 6 và thị xã Hoà Bình, ngày 8 và 9 tháng 1, Xa-lăng gấp rút đưa toàn bộ lực lượng trên tuyến sông Đà về thị xã Hoà Bình và đường số 6 để chuẩn bị cho cuộc rút lui. Quân ta tiếp tục bao vây thị xã và các vị trí địch trên đường số 6.
Ngày 27 tháng 1, Tổng Quân uỷ họp, nhận định: “Theo thế chung thì muốn hay không muốn, địch cũng phải rút khỏi Hoà Bình”. Căn cứ vào ý định của Tổng Quân uỷ, Bộ Tổng Tham mưu xây dựng kế hoạch đánh địch rút chạy. Đại đoàn 308 (thiếu trung đoàn 102) được phối thuộc trung đoàn 209 Đại đoàn 312 phụ trách khu vực từ thị xã Hoà Bình tới Ao Trạch. Đại đoàn 312 được phối thuộc trung đoàn 102, phụ trách đoạn từ Pheo tới Ao Trạch. Đại đoàn 304 phụ trách đoạn từ Ao Trạch tới Xuân Mai và đưa một trung đoàn vào chuẩn bị hoạt động ở vùng Chợ Cháy, Xuân Mai, Mai Lĩnh.
Đêm 16 tháng 2, trung đoàn 141 Đại đoàn 312 tiến công đồi Chung Minh, do hai đại đội địch chiếm đóng. Các mũi nhanh chóng mở cửa mở phát triển đánh chiếm được nửa đồi. Nhưng do không nắm chắc địch, quân ta bị thương vong nhiều, phải rút ra ngoài, không hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt vị trí này.
17 giờ ngày 22 tháng 2, năm tiểu đoàn địch ở thị xã Hoà Bình tổ chức vượt sông Đà. Trung đoàn 36 ở bắc thị xã được lệnh đánh địch, nhưng do pháo địch bắn chặn, mãi tới sáng mới đến thị xã. Đại bộ phận quân địch đã qua sông, chỉ còn tiểu đoàn 2 dù (2e BEP) và tiểu đoàn 3 thuộc bán lữ đoàn lê dương thứ 13 (3/13e DBLE) đang được máy bay và đại bác bảo vệ chặt chẽ, tiếp tục qua sông. Trung đoàn 36 kiên quyết tiến công, pháo ta ở bến Ngọc đồng loạt bắn vào đội hình địch ở cả hai bên bờ sông Đà. Một chiếc ca nô bị bắn chìm, một số xe cơ giới bị phá huỷ, nhưng tới trưa quân Pháp vẫn qua sông. Buổi chiều, trung đoàn 209 tiến công vị trí Pheo, khi GM1 đang rút khỏi đây. Máy bay địch nối nhau trút bom và bắn vào quân ta, bảo vệ cho binh lính tháo chạy về phía đoàn xe trên đường 6. Trận địa phòng không 12,7 mm của ta bắn rơi tại chỗ một chiếc máy bay Hen-cát.
Ngày 24 tháng 2, địch ở Ao Trạch tiếp tục rút về Đồng Bãi. Trên quãng đường này, trung đoàn 9 Đại đoàn 304 xuất kích kịp thời, chặn đánh một bộ phận, diệt gần hai đại đội địch. Trung đoàn 57 Đại đoàn 304, dùng hoả lực bắn đuổi theo diệt thêm hàng chục tên.
Ngày 25 tháng 2, quân địch tiếp tục rút khỏi Đồng Bãi về Xuân Mai. Nhìn chung, địch tổ chức rút quân chặt chẽ, dùng tới 30 nghìn viên đạn pháo để yểm trợ cho cuộc rút quân. Trong ba ngày đánh địch rút lui, ta tiêu diệt sáu đại đội địch, phá huỷ 23 xe quân sự, thu trên 100 tấn đạn dược và quân trang, quân dụng. Ngày 25 tháng 2, Tổng Quân uỷ quyết định kết thúc chiến dịch.
Qua hai tháng rưỡi chiến đấu liên tục, ta đã phá kế hoạch chiếm đóng Hoà Bình của địch, giải phóng khu vực Hoà Bình, sông Đà với diện tích trên 1.000 km2 nghìn dân. Tại mặt trận Hoà Bình, ta diệt 6.012 tên địch, thu 24 khẩu pháo các loại, 788 súng, 98 máy vô tuyến điện, phá huỷ 12 khẩu pháo, bắn rơi chín máy bay, bắn chìm và bắn cháy 17 ca nô, tàu, xuồng, phá huỷ 246 xe quân sự.
Mặt trận địch hậu (Trung Du, Liên khu 3), ta loại khỏi vòng chiến đấu 15.237 tên địch, thu 6.126 súng các loại, giải phóng 4.000 km2 với hơn một triệu dân. Tổn thất chung của địch là 21.249 tên (14.030 tên chết).
Chiến dịch Hoà Bình kết thúc thắng lợi. Cuộc chiến đấu của quân dân ta trên chiến trường Trung Du, Liên khu 3, mặt trận phối hợp quan trọng của chiến dịch Hoà Bình, đã đạt được hiệu quả to lớn. “Thắng lợi to lớn của ta ở mặt sau lưng địch làm thay đổi tình thế đồng bằng Bắc Bộ, đã có ý nghĩa quyết định thắng lợi của toàn bộ Chiến dịch Hoà Bình”1.
Tổn thất của chủ lực ta ở hướng chính và hướng phụ là 11.193 người (có 2.692 đồng chí hy sinh)2.
Ta đã đánh bại âm mưu đánh chiếm vùng tự do của địch, phá ý đồ giành lại quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ và phá tan âm mưu thâm độc chia rẽ đồng bào Mường của chúng.
Với thất bại ở chiến dịch Hoà Bình, chính phía Pháp cũng phải công nhận rằng: “Chúng ta đã bị thiệt hại nặng nề về chiến lược, không thu được một kết quả quyết định nào. Chiến dịch Hoà Bình đã giam chân các binh đoàn chủ lực cơ động tinh nhuệ của ta ở xa đồng bằng trong một thời gian dài. Do đó đã tạo thế lợi cho đối phương đưa các binh đoàn chủ lực lọt vào đồng bằng hoạt động. Đối phương đã giành được thắng lợi quan trọng”3.
Về ý nghĩa chiến thắng Hoà Bình, Nhật lệnh của Đại tướng Tổng tư lệnh nêu rõ: “Chiến dịch này là chiến dịch lớn nhất từ trước tới nay, ta đã phối hợp nội ngoại tuyến hết sức chặt chẽ. Ta phối hợp chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích trên một quy mô rộng lớn... Thắng lợi của Chiến dịch Hoà Bình là thắng lợi quân sự, chính trị và kinh tế. Nó đánh bại âm mưu cố gắng giành lại quyền chủ động của Đờ Lát đờ Tát-xi-nhi”.
Trong Chiến dịch Hoà Bình, nghệ thuật chiến dịch đã giải quyết thành công nhiều vấn đề mới và rất phức tạp, chủ yếu là giải quyết sự hiệp đồng giữa các lực lượng và các hình thức hoạt động, nhằm tạo nên thế mạnh tổng hợp của chiến dịch, hình thành thế bao vây chia cắt để tiêu diệt địch và đánh bại hoàn toàn âm mưu của chúng. Đây là bước phát triển mới rất quan trọng về nghệ thuật chiến dịch của ta. Sự phát triển ấy rất sinh động, sáng tạo và độc đáo. Sự thành công của nghệ thuật trong chiến dịch Hoà Bình là ở chỗ nhận định đánh giá tình hình địch, ta đúng; xây dựng quyết tâm vững chắc, kết hợp mọi hoạt động của các lực lượng giữa hai mặt trận Hoà Bình và mặt trận vùng sau lưng địch một cách chặt chẽ; bố trí sử dụng lực lượng chính xác, chỉ huy xử lí các tình huống tài tình.
Bước phát triển mới về nghệ thuật chiến dịch trong Đông Xuân 1951 - 1952 là ta đã nhạy bén với diễn biến thực tế chiến trường, kiên quyết chuyển ngay loại hình chiến dịch từ phản công sang tiến công; đồng thời tổ chức phối hợp chặt chẽ giữa chiến dịch tiến công Hoà Bình (chính diện) với mặt trận sau lưng địch (hậu địch) ở Trung Du và đồng bằng Bắc Bộ, làm cho hệ thống kìm kẹp của địch tan vỡ từng mảng lớn.
Ta đã có chủ trương đúng và vận dụng tốt hai phương châm tác chiến chiến dịch: “đánh điểm diệt viện” và “liên tục chiến đấu”. Đó là hai điểm đặc sắc của cách đánh chiến dịch, nghệ thuật chiến dịch và cũng là một trong những nguyên nhân rất quan trọng trực tiếp quyết định thắng lợi của Chiến dịch Hoà Bình.
Ngày 25 tháng 2 năm 1952, nhân dịp giải phóng tỉnh Hoà Bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi Bộ chỉ huy chiến dịch và các chiến sĩ mặt trận Hoà Bình, dân công phục vụ và đồng bào địa phương. Bức thư có đoạn: “So với những thắng lợi trước, thắng lợi lần này là khá to. Thắng lợi lần này đã đánh dấu một bước tiến bộ mới của bộ đội ta, và đã làm cho địch phải thất bại nhục nhã trong âm mưu củng cố phòng ngự chuyển lên tiến công, nhưng bộ đội phải luôn luôn cố gắng thi đua giết giặc lập công và ra sức học tập chỉnh huấn, đồng bào phải ra sức thi đua tăng gia sản xuất hơn nữa để tranh lấy thắng lợi to hơn nữa”4.
Ngày 12 tháng 4 năm 1952, hội nghị tổng kết Chiến dịch Hoà Bình được tiến hành. Hội nghị khẳng định: về vận dụng chiến thuật, ta đã thực hiện đúng nguyên tắc tập trung ưu thế về binh lực, thực hiện bao vây, chia cắt tiêu diệt địch. Tập trung binh lực ở một điểm để đánh ngã địch đồng thời bố trí lực lượng hai đến ba mặt để bao vây tiêu diệt địch.
Đánh gần để hạn chế chỗ mạnh của địch về hoả lực pháo binh và máy bay và lợi dụng chỗ yếu của địch về tinh thần. Do đó, trong đánh công kiên phải chiếm lĩnh trận địa và đột phá tiền duyên bí mật nhanh chóng để có thời gian và đủ lực lượng đánh tung thâm.
Ta đã có sáng tạo trong chiến thuật, như ở hướng chính, ngoài đánh công kiên và vận động như các chiến dịch trước đây, lần này ta phát triển nhiều cách đánh mới như: đánh địch vận chuyển trên sông, dùng lực lượng ít nhưng tinh nhuệ, tập kích tiêu diệt các điểm cao và trận địa pháo địch. Ở hướng phối hợp, đã phát triển đánh điểm diệt viện, tiến công và nổi dậy của quần chúng. Đặc biệt nổi lên cách đánh tập kích sâu vào lòng địch như trận Phát Diệm (Ninh Bình).
Chiến dịch Hoà Bình là một biểu hiện tập trung của nghệ thuật chiến tranh toàn dân trong kháng chiến chống Pháp. Bằng ba thứ quân đồng loạt tiến công liên tục chiến đấu trong chiến dịch dài ngày trên một chiến trường rộng lớn đã chứng tỏ khả năng phối hợp nhịp nhàng, lối đánh muôn màu, muôn vẻ của chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích đã làm thất bại đòn tiến công chiến lược của địch.
_______________________________________
1.Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb QĐND, H, 1974, t.1, tr.459.
2.Lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954), Nxb QĐND H.1991 tr. 556.
3.Theo “Đông Dương hấp hối” hồi ký của Na-va.
4.Hồ Chí Minh, biên niên tiểu sử, t.5, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1995, tr.186.
chuongxedap:
CHIẾN DỊCH QUẢNG NAM
(Tiến công, từ ngày 15 tháng 7 đến ngày 26 tháng 9 năm 1952)
Giữa năm 1952, ở miền Trung, bộ chỉ huy Pháp quyết định rút quân từ miền Bắc, miền Nam tăng cường cho miền Trung để đề phòng các cuộc tiến công của ta vào mùa khô. Địch đã đưa lực lượng ở miền Trung lên 12 tiểu đoàn bộ binh, một trung đoàn xe lội nước, tám đại đội pháo binh, 12 máy bay chiến đấu, chín máy bay B26 và một hạm đội gồm năm tàu hộ tống cùng nhiều tàu vận tải để mở các cuộc hành binh quy mô lớn.
Tại Quảng Nam - Đà Nẵng địch có 6.000 quân gồm: một tiểu đoàn lính Âu - Phi, một tiểu đoàn quân lê dương và quân ngụy, một tiểu đoàn hỗn hợp (một đại đội cơ giới một đại đội pháo, một đại đội cơ động), cùng số quân đóng tại 63 cứ điểm và trên 100 tháp canh trong tỉnh.
Mùa hè 1952, địch đã mở nhiều cuộc càn quét quy mô từ hai tiểu đoàn trở lên vào địa bàn tỉnh Quang Nam, củng cố lực lượng và bình định vùng chúng tạm kiểm soát, đồng thời mở rộng ra vùng du kích và vùng tự do.
Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh Liên khu 5 điều trung đoàn 803 chủ lực liên khu ra Quảng Nam, phối hợp cùng lực lượng vũ trang tỉnh mở chiến dịch Hè Thu. Mục đích chiến dịch là: “Tranh lại vùng du kích, và phá thế uy hiếp của địch, tác chiến tiêu diệt địch, bồi dưỡng lực lượng ta, phối hợp với chiến trường Bình Trị Thiên”1. Bộ chỉ huy chiến dịch gồm Tư lệnh Nguyễn Bá Phát, Chính uỷ Bùi San, Phó tư lệnh Phan Hàm. Tham gia chiến dịch có trung đoàn chủ lực 803 và lực lượng vũ trang tỉnh.
Đêm 15 tháng 7; mở màn đợt 1, trung đoàn 803 tiến công tiêu diệt vị trí Xuân Đài, khu hành chính Phú Ký và một số tháp canh. Ngày 16 tháng 7, địch từ Phú Bổn tăng viện lên, chiếm lại các vị trí đã mất nhưng ta không đánh được.
Đêm 17 tháng 7, ta tiến công tiêu diệt đồn Vân Ly. Hôm sau địch cũng tăng viện chiếm lại. Tiếp đó, địch tập trung lực lượng mở đợt càn lớn ở Gò Nổi. Ta đánh địch càn quét, tiêu hao một số nhưng ta cũng bị thương vong nhiều.
Sáng 18 tháng 7, trên 2000 quân Âu - Phi cùng 40 xe bọc thép lội nước tiến vào Gò Nổi. Tiểu đoàn 39 đã cùng lực lượng địa phương bám trụ địa bàn đánh lui hàng chục đợt tiến công, diệt 200 tên, bắn cháy năm xe bọc thép. Sau đó, trung đoàn 803 để lại một bộ phận kết hợp với địa phương tiếp tục đánh địch càn quét vào Gò Nổi, lực lượng còn lại phân tán về các huyện Điện Bàn, Hoà Vang, Duy Xuyên, Đại Lộc, hỗ trợ cho phong trào chiến tranh du kích.
Đêm 19 tháng 8, mở đầu đợt 2, trung đoàn 803 tiến công tiêu diệt cứ điểm Tuy Loan. Chỉ sau 30 phút chiến đấu, quân ta hoàn toàn làm chủ trận địa, diệt một đại đội Âu - Phi và một khẩu đội pháo 105 mm. Cùng lúc quân ta tiến công khu hành chính Kỷ Lam, diệt tháp canh Thượng Đức, làm vỡ hệ thống cứ điểm địch ở vùng Điện Bàn và tây Hoà Vang, hỗ trợ cho lực lượng địa phương quét tề ngụy, giành quyền làm chủ. Khu du kích và căn cứ du kích của ta mở rộng đến sát bờ nam sông Cẩm Lệ.
Sang đợt 3, liên tiếp trong các đêm 16, 17, 18 tháng 9, trung đoàn 803 tổ chức tiến công diệt cứ điểm Bà Dụ, Thượng Phước, Lê Sơn. Hàng trăm du kích vùng tự do đã được điều đến cùng bộ đội chủ lực tham gia chiến đấu uy hiếp cứ điểm Giao Thuỷ và tiêu diệt đoàn xe tiếp tế từ Ai Nghĩa đi Giao Thuỷ.
Bằng những trận tiến công liên tục và đấu tranh bền bỉ, quân dân Quảng Nam còn tiến sâu vào vùng địch kiểm soát diệt tháp canh, phá các đồn bốt như núi Chiêng, Cẩm Toại. Đêm 26 tháng 9, ta tiến công tiêu diệt đồn Dốc Nhất trên đèo Hải Vân, kết thúc chiến dịch.
Kết quả toàn chiến dịch, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.200 tên địch, san bằng bảy cứ điểm, năm tháp canh, phá vỡ hệ thống bảo vệ vòng ngoài căn cứ liên hiệp Đà Nẵng của địch. Vùng du kích bắc Quảng Nam được mở rộng đến sát ngoại ô thành phố Đà Nẵng và Hội An.
Do vận dụng cánh đánh thích hợp, sáng tạo, chiến dịch Quảng Nam đã đạt được mục đích đề ra, góp phần làm cho thế trận chiến trường Khu 5 chuyển biến rõ rệt. Nhiều khu du kích và căn cứ du kích trong vùng tạm chiếm được củng cố và mở rộng, tạo thành thế liên hoàn giữa vùng du kích và vùng tự do. Đặc biệt là khu vực Gò Nổi, một trọng điểm chiêu hồi bình định của địch từ lâu, nay đã trở thành căn cứ du kích của ta.
Trải qua hai tháng chiến đấu, điểm nổi lên trong nghệ thuật chiến dịch ở chiến trường Quảng Nam là sự vận dụng linh hoạt phương châm kết hợp giữa tiến công tiêu diệt cứ điểm địch với triển khai lực lượng đánh địch càn quét. Kết hợp giữa tiến công địch ở phía trước với đưa bộ đội tuồn sâu vào phía sau lưng địch, buộc chúng phải phân tán lực lượng đối phó trên nhiều hướng. Kết hợp giữa đòn tiến công chủ lực với phong trào chiến tranh du kích phát triển. Chiến dịch còn kết hợp giữa tiến công quân sự với phát động quần chúng diệt tề, trừ gian, mở rộng vùng làm chủ, tạo cơ sở vững chắc cả thế và lực, đưa cuộc kháng chiến trên địa bàn tỉnh tiếp tục tiến lên.
____________________________________
1.Quảng Nam Đà Nẵng 30 năm chiến đấu và chiến thắng, t.1. Nxb QĐND, H.1985 tr.189.
Navigation
[0] Message Index
[#] Next page
[*] Previous page