Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp
chuongxedap:
CHIẾN DỊCH TÂY BẮC
(Tiến công, từ ngày 14 tháng 10 đến ngày 10 tháng 12 năm 1952)
Quân địch ở Tây Bắc được tổ chức thành khu tự trị Tây Bắc, gọi tắt là ZANO. gồm tám tiểu đoàn, trong đó có năm tiểu đoàn ngụy Thái và ba tiểu đoàn cơ động người Phi. Ngoài ra, có 40 đại đội ngụy Thái làm nhiệm vụ chiếm đóng, 11 khẩu pháo. Địch bố trí thành bốn phân khu: phân khu Nghĩa Lộ; phân khu Sông Đà; phân khu Sơn La và phân khu Lai Châu. Ngoài ra còn có các tiểu khu Tuần Giáo, Thuận Châu, Phù Yên. Địch đóng 400 cứ điểm, phần lớn là trung đội, có 40 cứ điểm đại đội. Riêng một vị trí Nghĩa Lộ, Mộc Châu, một nơi có một tiểu đoàn.
Năm 1952, khu Tây Bắc do trung tá Tơ-răng-ca (Tranca) chỉ huy, chúng ra sức củng cố vùng chiến lược quan trọng này, nhằm uy hiếp khống chế bên sườn, sau lưng và cắt liên lạc của ta giữa căn cứ Việt Bắc với Khu 3, che chở cho chúng ở Thượng Lào.
Toàn khu địch bố trí lực lượng như sau: phân khu Nghĩa Lộ: 1 tiểu đoàn Thái (1e BAT), tám đại đội độc lập, hai khẩu pháo; phân khu Lai Châu: một tiểu đoàn Thái khố xanh (BGT), 14 đại đội độc lập, năm khẩu pháo; phân khu Sông Đà: một tiểu đoàn Thái (2e BAT), bảy đại đội độc lập, một khẩu pháo; phân khu Sơn La: một tiểu đoàn Thái (3e BAT), 14 đại đội độc lập, ba khẩu pháo; tiểu khu độc lập Tuần Giáo (ĐAZANO.); một tiểu đoàn ngụy. Ngoài ra còn có ba tiểu đoàn cơ động, gồm toàn lính Âu - Phi đóng ở Lai Châu (2/2RTA, 5e và 17e Tabor).
Công sự ở Nghĩa Lộ - Gia Hội, Cửa Nhì, Phong Thổ đã được cải tiến, có hầm ngầm, lô cốt xi-măng cốt thép. Còn các vị trí khác đều xây dựng theo kiểu cũ. Phần lớn, các vị trí đều đóng trên điểm cao, tiếp tế bằng máy bay, hàng ngày địch phải xuống chân núi lấy nước, vì vậy dễ bị bao vây khống chế. Việc tiếp tế và tiếp viện cho toàn khu và phân khu chủ yếu dựa vào không quân với khả năng tối đa 48 tấn một ngày và một tiểu đoàn dù. Việc tiếp tế giữa phân khu và cứ điểm chủ yếu bằng sức người và ngựa thồ.
Về phía ta, từ cuối chiến dịch Hoà Bình (tháng 2 năm 1952), Bộ Chính trị đã có ý định mở chiến dịch trên hướng Tây Bắc. Ngày 17 tháng 7 năm 1952, Trung ương Đảng ta quyết định thành lập khu Tây Bắc, gồm bốn tỉnh: Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, rộng 44.300km2, dân số 440.000 người. Tây Bắc là một vùng rừng núi trùng điệp, nhiều dãy núi cao hơn 1000 mét. Đây là một vị trí chiến lược quan trọng đối với cách mạng ở Đông Dương.
Tháng 9 năm 1952, dựa vào so sánh thế lực giữa ta và địch trên chiến trường, căn cứ vào đề nghị của Tổng Quân uỷ và Bộ Tổng tham mưu, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở Chiến dịch Tây Bắc nhằm mục đích: “Tiêu diệt sinh lực địch - Tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc - giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc”1; và cử đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh chiến dịch, đồng chí Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng, đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm chính trị, đồng chí Trần Đăng Ninh làm Chủ nhiệm cung cấp.
Để đảm bảo việc tổ chức và thực hành chiến dịch Tây Bắc giành thắng lợi, từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 9 năm 1952, Tổng Quân uỷ và Bộ Tổng tư lệnh đã tổ chức hội nghị trao nhiệm vụ cho các đơn vị tham gia Chiến dịch Tây Bắc. Bảy trung đoàn chủ lực thuộc các đại đoàn 308, 312, 316 cùng với binh chủng phối thuộc có nhiệm vụ tiêu diệt phân khu Nghĩa Lộ, mở màn chiến dịch. Tiểu đoàn 910 của Tây Bắc luồn sâu vào vùng địch hậu ở Quỳnh Nhai, có nhiệm vụ củng cố và mở rộng cơ sở chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương. Trung đoàn 176 Đại đoàn 316 ở lại Phú Thọ phòng ngừa quân địch đánh ra. Trung đoàn bộ binh 148, trung đoàn công binh 151, sáu đại đội pháo binh 75 mm và ba đại đội súng cối sẵn sàng chiến đấu. Một tiểu đoàn và 10 đại đội địa phương của các tỉnh: Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai cùng dân quân du kích khu Tây Bắc được huy động ở mức cao nhất phối hợp chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Tổng quân số của hai hướng lên tới 36.000 người.
Ngày 19 tháng 9 năm 1952, Tổng cục Chính trị ra chỉ thị “Về công tác chính trị Chiến dịch Thu Đông 1952”, nêu rõ những công việc cụ thể để thực hiện nhiệm vụ công tác chính trị trong Chiến dịch Tây Bắc như sau:
“A- Động viên sâu rộng, nhiều lần và kế tiếp để làm cho thấm nhuần quyết tâm từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, làm cho ai nấy đều hăng hái, phấn khởi, tích cực hoàn thành nhiệm vụ của mình.
B- Bảo đảm cung cấp kịp thời, tìm đủ mọi cách tăng cường công tác cung cấp, hết sức giúp đỡ động viên ngành cung cấp, làm cho bộ đội luôn luôn được khoẻ mạnh để củng cố sức chiến đấu...
C- Bảo đảm chiến thuật được hoàn thành, kết hợp với kỹ thuật...
D- Bảo đảm chấp hành chính sách dân tộc thiểu số của Trung ương và kiên quyết thi hành tám điều mệnh lệnh của Hồ Chủ tịch (tức là giữ vững kỷ luật quần chúng)...
E- Hoàn thành công tác ngụy vận, làm đúng chính sách tù, hàng binh để mở đường tốt đẹp cho công việc tranh thủ nhân dân...
F- Tăng cường công tác chính sách đối với dân công...
G- Nâng cao tinh thần thương yêu nhau ngoài mặt trận, giải quyết chu đáo công tác thương binh...”2.
Phương châm hoạt động của ta “về chiến dịch là đánh dài ngày, đánh liên tục, tiến từng bước chắc, đồng thời sẵn sàng nắm thời cơ thuận lợi để phát triển nhanh chóng. Về chiến thuật là vây điểm, diệt viện; diệt viện, phá điểm”3.
Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, Tổng quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh đã đề ra hai phương án tác chiến làm cơ sở cho việc chuẩn bị chiến dịch.
Phương án một, lấy phân khu Nghĩa Lộ làm hướng tiến công chủ yếu, tập trung binh lực tiêu diệt địch ở Nghĩa Lộ trước, đồng thời cho một bộ phận lực lượng chiến dịch vào hoạt động ở Phù Yên, Quỳnh Nhai, phát động nhân dân đấu tranh. Sau đó đưa Đại đoàn 308 về bảo vệ hậu phương. Đại đoàn 312, Đại đoàn 316, trung đoàn 148 tiếp tục tiến công giải phóng Sơn La.
Phương án hai, tập trung Đại đoàn 312, Đại đoàn 308, trung đoàn 148, tiêu diệt phân khu Nghĩa Lộ; Đại đoàn 316 tiêu diệt tiểu khu Phù Yên, đồng thời cho một tiểu đoàn của trung đoàn 176, một tiểu đoàn của trung đoàn 148 vào Yên Châu, Mai Sơn, Mường La phát động quần chúng đấu tranh, quấy rối hậu phương địch, chuẩn bị cho tiến công Sơn La. Giải quyết xong Nghĩa Lộ, Đại đoàn 308 về bảo vệ hậu phương, các lực lượng còn lại tiếp tục tiến đánh Sơn La.
____________________________________
1. Báo cáo kế hoạch tác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiệm của các chiến dịch lớn, Bộ Tổng tham mưu Xb, 1963, t. 2, tr. 140.
2. Lịch sử công tác Đảng - công tác chính trị chiến dịch (1945-1975), Nxb QĐND, H. 1998, tr.136.
3. Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch, t.4, tr.240.
chuongxedap:
Sau một thời gian chuẩn bị, để bảo đảm chắc thắng, Bộ chỉ huy chiến dịch xác định quyết tâm cuối cùng như sau: Tập trung binh lực tiêu diệt địch ở phân khu Nghĩa Lộ, đồng thời tiêu diệt tiểu khu Phù Yên, giải phóng hai nơi trên, phát triển thắng lợi, quét sạch địch tới sát bờ sông Đà, tạo điều kiện để tiến công Sơn La, sau đó nhanh chóng tiến quân vào Sơn La.
Công tác đảm bảo hậu cần, gạo ở hướng chính trong đợt 1 là 1.195 tấn cho bộ đội và 142 tấn cho dân công. Hướng phụ là 104 tấn cho bộ đội và 43 tấn cho dân công1. Dân công đi theo bộ đội là 4.300 người; dân công vận chuyển khác là 27.750 người2. Đợt 2 và 3 là 3.400 tấn (không kể số gạo dân công ăn trên dọc đường). Hai tỉnh Phú Thọ, Yên Bái huy động 450 chiếc thuyền, phà đưa 30.000 bộ đội, dân công cùng với binh khí kỹ thuật qua sông.
Về kế hoạch chiến dịch, ta dự kiến chia làm ba đợt. Đợt 1, tiêu diệt phân khu Nghĩa Lộ và tiểu khu Phù Yên, đồng thời cho một bộ phận chủ lực thâm nhập vùng Quỳnh Nhai, phối hợp với bộ đội địa phương kiềm chế địch. Đợt 2, nhanh chóng đánh Sơn La, kết hợp với việc cắt đường số 41 và hoạt động ở vùng sau lưng địch để cô lập Sơn La. Đợt 3, tiến công Sơn La.
Sở chỉ huy chiến dịch khi bộ đội tập kết và triển khai lực lượng, đặt tại Mậu A, khi nổ súng, đặt tại Khe Lóng trên đường 13, gần Ca Vịnh.
Ngày 14 tháng 10 năm 1952, Chiến dịch Tây Bắc mở màn. Trên hướng chủ yếu, trung đoàn 174 tiến công Ca Vịnh, nhưng do vây không chặt, địch đã chạy hết. Trung đoàn 141 đánh Sài Lương, do nắm địch không chắc, khi đánh vào mới biết địch đã đi nơi khác. Cùng ngày, ở phía sau, trung đoàn 98 tiêu diệt vị trí Gia Phù.
Ngày 15 tháng 10, Đờ Li-na-rét (De Linaris), Tư lệnh quân Pháp ở Bắc Bộ điều tiểu đoàn lê dương lên Nà Sản để bảo vệ Sơn La. Trong ngày Ti-ri-ông chỉ huy phân khu Nghĩa Lộ đưa đại đội Ta-bo về phía Khâu Vác thăm dò lực lượng ta. Một đơn vị của Đại đoàn 312 đã tiêu diệt gọn đại đội này ở Nậm Mười.
Ngày 16 tháng 10, quân địch ở các vị trí Thượng Bằng La, Ba Khe và một loạt vị trí nhỏ xung quanh những cứ điểm bị diệt tự động bỏ đồn rút chạy. Địch vội ném tiểu đoàn dù 6 (6e BPC) xuống Tú Lệ. Ngày 17, hai trung đoàn của Đại đoàn 308, lợi dụng sương mù, từ 9 giờ sáng, đã có mặt trên những quả đồi đối diện với Pú Chạng. Trung đoàn 88 chờ trời tối tiến vào vị trí Nghĩa Lộ Phố, ở cuối thị trấn do 400 tên địch chiếm giữ. Trung đoàn 36 đã bao vây đồn Cửa Nhì. 14 giờ 30 phút, súng cối 120mm của ta bắn vào trận địa pháo 105mm ở Nghĩa Lộ Phố, tạo điều kiện cho các mũi xung kích của tiểu đoàn 102 tiếp cận cứ điểm Pú Chạng. Máy bay địch đến bắn phá, yểm trợ. Các chiến sĩ phòng không của ta bắn rơi hai máy bay. Xung kích ta mở cửa đột phá, đại đội chủ công 267 lọt vào đồn, thọc sâu chia cắt quân địch. Sau ba giờ chiến đấu, quân ta làm chủ cứ điểm Pú Chạng, bắt 177 tên địch trong đó có viên quan tư chỉ huy phân khu.
Do chiếm lĩnh chậm, 3 giờ 5 phút ngày 18 tháng 10, trung đoàn 88 mới tiến công Nghĩa Lộ Phố. Sau 2 giờ 20 phút chiến đấu, ta đã chiếm được cứ điểm, loại khỏi vòng chiến đấu 280 tên (diệt 45 tên, bắt 235 tên). Trận Pú Chạng - Nghĩa Lộ, ta đã diệt gọn tiểu đoàn Thái số 1, đập tan phòng tuyến vòng ngoài của địch.
Trước áp lực của Đại đoàn 312 ở hướng tây bắc, quân địch ở Gia Hội bỏ đồn rút về Tú Lệ, cùng với tiểu đoàn dù 6 tháo chạy về phía sông Đà. Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy chiến dịch điều trung đoàn 165 tiến công Tú Lệ và truy kích địch đến đèo Cao Phạ, diệt và bắt gần 400 tên.
Trên hướng thứ yếu, đêm 14 tháng 10, trung đoàn 98 tiến công tiêu diệt cứ điểm Nha Phù, và đêm 17 tháng 10, tiêu diệt sở chỉ huy tiểu khu Phù Yên ở Bản Mo. Địch ở Vạn Yên rút chạy sang hữu ngạn sông Đà.
Ở hướng phối hợp, phía nam Lai Châu, ngày 14 tháng 10, tiểu đoàn 910 trung đoàn 148 đánh đại đội 5 của tiểu đoàn Thái, chúng phải rút chạy khỏi Quỳnh Nhai. Ngày 23, tiểu đoàn 542 trung đoàn 165 diệt một đại đội của tiểu đoàn Ta-bo 17 của địch ở Pắc Ná, số còn lại chạy sang bên kia sông Đà.
Sau 10 ngày chiến đấu, ta đã diệt 500 tên, bắt trên 1.000 tên, giải phóng một vùng đất quan trọng từ hữu ngạn sông Hồng đến tả ngạn sông Đà, từ Vạn Yên đến Quỳnh Nhai, rộng 10.000km2. Ngày 23 tháng 10, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định kết thúc đợt 1 và di chuyển sở chỉ huy từ Khe Lóng về Gia Phù, gần Tạ Khoa, trên vùng đất vừa giải phóng.
Sau đợt 1, địch vội vã tăng cường thêm cho Tây Bắc tám tiểu đoàn mới là hai tiểu đoàn dù (6e BPC, 1e BEP), hai tiểu đoàn lê dương (3/1 REI và 3/5 REI), hai tiểu đoàn Phi (31 RTM và 27 BMTS), hai tiểu đoàn ngụy (55e BVN và 58 BCL). Cộng với tám tiểu đoàn còn lại, đưa quân số địch ở Tây Bắc lên 16 tiểu đoàn và 32 đại đội.
Ngày 5 tháng 11, Đờ Li-na-rét mở cuộc hành quân Lo-ren (Loraine), đánh lên Phú Thọ nhằm phá hậu phương ta, kéo chủ lực ta về hướng này. Địch đã huy động 13 tiểu đoàn bộ binh của các binh đoàn cơ động số 1, 2, 3, 4, 5 và ba tiểu đoàn dù, hai hải đoàn xung kích, bốn tiểu đoàn pháo binh, hai tiểu đoàn cơ giới, bảy đại đội công binh.
Ta đã bố trí ở Phú Thọ trung đoàn 176, một tiểu đoàn của trung đoàn 246 cùng với bộ đội địa phương có nhiệm vụ ngăn chặn quân địch. Bộ chỉ huy quyết định điều thêm trung đoàn 36 về Phú Thọ đánh địch. Mục tiêu và kế hoạch đợt 2 chiến dịch vẫn không thay đổi.
Ngày 7 tháng 11, trung đoàn 165 ở hướng thọc sâu nổ súng đánh Quỳnh Nhai. Địch tưởng đây là hướng chính, lập tức điều lên Lai Châu hai tiểu đoàn, đồng thời tăng viện cho Nà Sản hai tiểu đoàn.
Trên hướng chủ yếu (nam Sơn La), đêm 17 tháng 11, trung đoàn 209 tiêu diệt vị trí Bản Hoa. Đêm 18, trung đoàn 141 tiêu diệt vị trí Ba Lay. Với hai trận đánh, Đại đoàn 312 đã tiêu diệt gọn tiểu đoàn 3 Ma-rốc và một đại đội ngụy. Đêm 19 tháng 11, hai trung đoàn 174 và 198 phối hợp đánh Mộc Châu. Giờ đầu, các mũi tiến công ở hướng chủ yếu đột phá không thành công. Nhưng mũi thứ yếu chiếm được hai vị trí tiền tiêu, phát huy hỏa lực yểm hộ cho các hướng phát triển. Sau 2 giờ 15 phút chiến đấu, quân địch đầu hàng, tên tiểu đoàn trưởng Vanh-xăng (Vineent) bị bắt sống. Mộc Châu bị diệt. Địch ở các vị trí Chiềng Pan, Sông Con, Tạ Say, Sa Piệt, Tạ Khoa vội vã rút chạy, đường 6 được khai thông.
Ngày 18 tháng 11, địch rút Sơn La trung đoàn 165 tiếp quản Sơn La, truy quét bắt gần 500 tên tàn binh địch và trên 100 nhân viên ngụy quyền.
Trên hướng phối hợp, Ban chỉ huy mặt trận Y133, điều tiểu đoàn 910 và 542 bất ngờ tập kích Điện Biên Phủ. Địch chạy tan vào rừng, ta tổ chức lùng sục kết hợp với địch vận, bắt 726 tên, hầu hết thuộc tiểu đoàn Lào (58 BCL), thu 600 súng các loại.
______________________________________
1. Tổng kết Chiến dịch Tây Bắc, ta huy động 11.750 tấn gạo (tiêu thụ hết 9.890 tấn gạo, 164 tấn muối, 328 tấn thịt, 82 tấn thực phẩm khác).
2. Tổng kết Chiến dịch Tây Bắc, ta huy động 200.000 dân công bằng bảy triệu ngày công. Lượng vật chất bảo đảm cho chiến dịch khoảng 9.000 tấn lương thực thực phẩm, 120 tấn vũ khí, đạn dược và dụng cụ thuốc men cần thiết để cứu chữa cho khoảng 5.000 thương binh.
3. Mặt trận Y13 thành lập ngày 24 tháng 10 năm 1952, do Bằng Giang làm Tư lệnh. Mệnh lệnh số 33 (20 tháng 10). Tài liệu chỉ đạo chiến dịch. t.4, tr.342.
chuongxedap:
Tại mặt trận Trung Du, ngày 17 tháng 11 năm 1952, một đoàn xe của GM4 về tới Chân Mộng trên đường số 2 lọt vào trận địa phục kích của ta, bị trung đoàn 36 tiêu diệt và bắt trên 400 tên địch, phá huỷ 44 xe cơ giới. Trong những ngày tiếp sau, các trung đoàn 36, 74 cùng lực lượng vũ trang địa phương đánh mạnh, địch tổn thất lớn và phải rút khỏi Việt Trì, kết thúc cuộc hành quân Lo-ren. Trong gần một tháng quân dân Phú Thọ đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.884 tên địch, trong đó bắt 173 tên, có 100 lính Âu - Phi, phá huỷ 60 xe cơ giới, thu nhiều vũ khí.
Ngày 25 tháng 11, đợt 2 chiến dịch kết thúc, sở chỉ huy chiến dịch chuyển về phía tây Tạ Khoa, trên đường đi Cò Nòi. Trong đợt 2 chiến dịch, ta đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, diệt và bắt trên 3.000 địch, trong đó có ba tiểu đoàn bị diệt gọn (3/1 RTM, 55e BVN, 58 BLC), giải phóng tỉnh Sơn La (trừ Nà Sản), với diện tích tổng cộng là 17.700km2.
Cuối tháng 11 năm 1952, tại Tây Bắc, toàn bộ quân địch đã dồn về Nà Sản và thị xã Lai Châu. Tổng số quân địch ở Nà Sản có tám tiểu đoàn bộ binh và dù, một tiểu đoàn pháo, tám đại đội độc lập, một đại đội công binh. Trong số này có bốn tiểu đoàn lê dương (1e, 2e BEP, 3/3 REI, 3/5 REI), hai tiểu đoàn Bắc Phi (2/1 RTA, 2/6 RTM của GM1), và hai tiểu đoàn ngụy mới được khôi phục (2e và 3e BGT). Chúng tổ chức thành một tập đoàn cứ điểm gồm 24 điểm tựa đại đội và bốn điểm tựa trung đội trên các điểm cao, ở giữa có sân bay, trận địa pháo và sở chỉ huy. Nà Sản đã trở thành cụm phòng ngự tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của địch lúc này ở Tây Bắc.
Về phía ta, lực lượng lúc này còn 36 đại đội, tương đương với lực lượng địch. Trên cơ sở đó, Bộ chỉ huy quyết định triển khai đợt 3 chiến dịch. Mục tiêu là tập trung toàn bộ lực lượng tiến công quân địch ở Nà Sản. Phương châm tác chiến là: Đánh chỗ yếu trước, chỗ mạnh sau, bao vây toàn diện, công kích có trọng điểm, đánh ngoại vi trước, tranh thủ mở một mặt rồi đánh vào tung thâm.
Đêm 30 tháng 11, trung đoàn 102 cùng trung đoàn 88 của Đại đoàn 308 tiến công Pú Hồng (điểm cao 753). Sau 1 giờ 45 phút chiến đấu, ta diệt bốn trung đội của GM1 đóng tại đây, bắt sống viên quan ba chỉ huy. Cùng đêm, tiểu đoàn 115 của trung đoàn 165 Đại đoàn 312 tiến công vị trí Bản Hời. Sau hơn một giờ chiến đấu, ta diệt một đại đội địch. Nhưng hôm sau, dưới sự yểm trợ của máy bay và đại bác, địch mở nhiều đợt xung phong đánh chiếm lại vị trí này. Đêm 1 tháng 12, trung đoàn 174, cùng một bộ phận của trung đoàn 88 đánh Nà Sản không thành công. Trung đoàn 209 đánh Bản Vây cũng không kết quả. Trời sáng địch dùng máy bay oanh tạc và bắn trên 5.000 quả đạn pháo để cứu nguy cho các cứ điểm.
Ngày 2 tháng 12, địch thả dù tăng cường thêm cho Nà Sản hai tiểu đoàn, quyết giữ tập đoàn cứ điểm này. Qua bốn trận đánh trên, Bộ chỉ huy chiến dịch nhận thấy ta chưa đủ khả năng tiêu diệt cụm cứ điểm Nà Sản. Đây là những cứ điểm nằm trong hệ thống cấu trúc chặt chẽ của một tập đoàn cứ điểm. Ta cần có thời gian nghiên cứu kỹ về kiểu phòng ngự mới của địch, nên ngày 10 tháng 12 năm 1952, Bộ chỉ huy đã quyết định kết thúc chiến dịch.
Kết quả toàn chiến dịch, tuy đánh tập đoàn cứ điểm Nà Sản không thành công, nhưng ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 6.029 tên địch (diệt 1.005 tên), diệt gọn bốn tiểu đoàn và 28 đại đội địch. Giải phóng một vùng rộng lớn ở địa bàn chiến lược quan trọng (khoảng 30.000km2 với 250.000 dân). Ta thương vong gần 6.000 người. Hội nghị sơ kết chiến dịch được tổ chức ngay tại sở chỉ huy tiền phương gần Tạ Khoa đã nhận định: “chiến dịch Thu Đông 1952 đã thành công ngoài mức dự kiến”.
Về ý nghĩa Chiến dịch Tây Bắc, ngày 10 tháng 12 năm 1952, trong hội nghị cán bộ các đơn vị dự chiến dịch, thay mặt Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh kiêm Chỉ huy trưởng chiến dịch đánh giá: “Thu đông 1952 là thu đông chiến thắng Tây Bắc. Nếu nhìn rộng ra toàn chiến trường Bắc Bộ thì đó là thắng lợi lớn của ta trên con đường tiếp tục giành thế chủ động... Thắng lợi đó đã rèn luyện nhiều cho bộ đội ta về kỹ thuật, củng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, củng cố và mở rộng khối đoàn kết toàn dân, tăng cường lực lượng kháng chiến của nhân dân, nâng cao lòng tin tưởng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đối với Đảng và Hồ Chủ tịch…”1. Chiến dịch Tây Bắc đã mở ra một thế chiến lược mới rất thuận lợi cho ta. Vùng giải phóng đã nối liền Tây Bắc với Việt Bắc và với Thượng Lào.
Về nghệ thuật chiến dịch, trong Chiến dịch Tây Bắc, ta đã vận dụng cách đánh khác với cách đánh của Chiến dịch Biên Giới và Chiến dịch Hoà Bình. Ta đã tập trung lực lượng tổ chức tiến công liên tục, đột phá tiêu diệt từng khu vực phòng ngự gồm nhiều cứ điểm tiểu đoàn, đại đội của địch có công sự vững chắc như ở Nghĩa Lộ, Quang Huy, Mộc Châu, đồng thời dành một lực lượng khác làm nhiệm vụ ngăn chặn, đón lõng để tiêu diệt quân địch chi viện hoặc rút lui. Ta đã kết hợp cả hai mặt đánh đồn và diệt viện, làm địch bị động đối phó. Chiến dịch đã phát triển nhanh chóng vào Tuần Giáo, Sơn La, Điện Biên Phủ và chỉ trong một thời gian ngắn, đại bộ phận hệ thống phòng ngự của địch ở Tây Bắc đã bị đập vỡ.
Nét phát triển nổi bật của nghệ thuật Chiến dịch Tây Bắc là sự chỉ đạo hình thành hoàn chỉnh hai hướng chủ yếu và thứ yếu của chiến dịch. Đó là sự phối hợp giữa hướng tiến công phía trước (nổi bật là hai trận đánh lớn Nghĩa Lộ và Mộc Châu), phá vỡ hệ thống phòng ngự chiều sâu của địch từ hữu ngạn sông Thao đến hữu ngạn sông Đà. Với những cách đánh hiểm, vu hồi, luồn sâu, chia cắt, nghi binh chiến dịch, ta đã giải phóng một vùng rộng lớn phía nam Lai Châu.
Trong chiến dịch, bộ đội ta đã thực hiện tốt phương châm “đánh điểm diệt viện” đối với quân chiếm đóng của địch trên chiến trường rừng núi. Ta đã diệt được cứ điểm do một tiểu đoàn tăng cường của địch chiếm giữ; đánh vận động diệt một tiểu đoàn địch rút chạy. Đây là bước trưởng thành mới của bộ đội ta.
Về cách đánh công kiên, ta đã tập trung tuyệt đối ưu thế binh lực hoả lực. Ở điểm, ta tập trung từ hai phần ba đến ba phần tư lực lượng. Ở diện, cũng tập trung ưu thế hơn địch. Các vấn đề khác như bao vây, chiếm lĩnh trận địa, đột phá tiền duyên, chiến đấu tung thâm, củng cố giữ vững trận địa, rút lui, hợp đồng giữa bộ binh và pháo binh, cũng như kiềm chế pháo binh địch... cũng được vận dụng hợp lý.
Tuy còn những hạn chế, nhưng chiến dịch này vẫn giành được thắng lợi to lớn. Vì vậy, ngày 29 tháng 1 năm 1953, trong hội nghị tổng kết Chiến dịch Tây Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngợi: “Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác bằng lòng các chú, lần này chưa phải hoàn toàn, nhưng hơn mọi lần trước”2.
______________________________________
1. Báo cáo kế hoạch tác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiệm của các chiến dịch lớn, Bộ Tổng tham mưu, Xb. 1963, t. 2, tr.217.
2. Hồ sơ 579, trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng.
chuongxedap:
CHIẾN DỊCH AN KHÊ
(Tiến công, từ ngày 13 đến ngày 28 tháng 1 năm 1953)
Trên địa bàn Liên khu 5, do hạn hán kéo dài, nhiều địa phương mất mùa, nạn đói đe dọa, bộ đội gặp khó khăn về bảo đảm hậu cần, nên vào thời gian chiến trường chính Bắc Bộ mở Chiến dịch Tây Bắc (tháng 10 đến tháng 12 năm 1952), Liên khu không mở được đợt hoạt động phối hợp. Mãi những ngày cuối năm 1952, Bộ tư lệnh Liên khu mới quyết định mở Chiến dịch An Khê nhằm tiêu diệt sinh lực định, đẩy mạnh chiến tranh du kích phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ.
Khu vực phòng ngự của địch ở An Khê là hệ thống cứ điểm nằm trong khu vực từ đèo An Khê tới thị trấn An Khê thuộc huyện An Khê, tỉnh Gia Lai. Hệ thống cứ điểm này khống chế đoạn hiểm trở của đường 19 nối Quy Nhơn với Plây-cu và là một vòng cung ngăn chặn lực lượng của ta từ vùng du kích sông Ba tiến về phía tây. Các cứ điểm của địch trong khu vực này đều chiếm giữ các vị trí có giá trị. Vòng ngoài là các cứ điểm Kon Lía, Tú Thuỷ, Cửu An, Thượng An và Tháp Canh Eo Gió. Mỗi một cứ điểm vòng ngoài địch bố trí một đại đội sơn chiến, có công sự vững chắc và hỏa lực khá mạnh. Tú Thuỷ là cứ điểm trung tâm trong các cứ điểm vòng ngoài, nên địch xây dựng lô cốt kiên cố, có hàng rào và tổ chức ba tầng hoả lực để ngăn chặn ta từ xa. Tại các cứ điểm Tú Thuỷ, Cửu An, Thượng An, địch còn bố trí mỗi cứ điểm một khẩu pháo để phối hợp với trận địa pháo ở An Khê chi viện cho các cứ điểm khi bị tiến công.
Tháng 12 năm 1952, Bộ chỉ huy chiến dịch An Khê được thành lập, Bộ Tư lệnh Liên Khu 5 trực tiếp chỉ huy chiến dịch. Đồng chí Nguyễn Chánh, Chính uỷ kiêm Tư lệnh Liên khu trực tiếp làm Tư lệnh chiến dịch. Theo quyết định của Liên khu, lực lượng tham gia chiến dịch gồm: trung đoàn 108 (ba tiểu đoàn: 19, 79, 50), trung đoàn 803, tiểu đoàn 40 chủ lực Liên khu và trung đoàn 120 bộ đội địa phương đang hoạt động trên địa bàn. Đây là lần đầu tiên Bộ tư lệnh Liên khu tập trung toàn bộ lực lượng chủ lực của Liên khu, cùng lực lượng địa phương hoạt động trên một địa bàn do Bộ tư lệnh Liên khu trực tiếp chỉ huy. Tham gia chiến dịch còn có hàng vạn dân công phục vụ trực tiếp cho hướng chính của chiến dịch và hoạt động nghi binh trên hướng phối hợp.
Ý định tác chiến của Bộ chỉ huy chiến dịch là: sử dụng các tiểu đoàn tiến công diệt các cứ điểm vòng ngoài: Tú Thuỷ, Cửu An, Eo Gió, Thượng An,… uy hiếp trực tiếp An Khê và đường 19, buộc địch phải tăng viện phản kích chiếm lại các cứ điểm đã mất, tạo điều kiện để ta đánh địch ngoài công sự, tiêu diệt, tiêu hao nhiều sinh lực của chúng.
Cuối tháng 12 năm 1952, ta bắt đầu di chuyển lực lượng, vận chuyển vật chất bảo đảm cho chiến dịch. Cùng với việc di chuyển lực lượng và vận chuyển vật chất vào hướng An Khê, ta đồng thời huy động dân công vận chuyển nghi binh trên các hướng Khánh Hoà, Đắc Lắc, bắc Kon Tum và Đồng Xanh, Đồng Nghệ, Phú Túc (Quảng Nam). Các cầu lớn trên tuyến đường sắt Quảng Ngãi - Bình Định được bí mật khôi phục để đưa trung đoàn 108 từ Quảng Ngãi vào khu tập kết, sau đó lại phá sập để che mắt địch. Trung đoàn 803 đang đóng quân ở một khu đông dân, trước khi dời đi phải cho một đơn vị huấn luyện tân binh vào thay thế và hoạt động thường xuyên như hoạt động của trung đoàn 803.
Bằng hoạt động nghi binh chặt chẽ, ta đã giữ được bí mật hướng mở chiến dịch. Địch phát hiện chủ lực ta di chuyển, song không xác định được hướng hoạt động của chủ lực ta. Chúng vội vã báo động chiến đấu ở nam Tây Nguyên và tăng cường cho Quảng Nam hai tiểu đoàn Âu - Phi. Hướng An Khê địch hầu như không ngờ tới.
Sau khi chuẩn bị chu đáo mọi mặt, 1 giờ sáng ngày 13 tháng 1 năm 1953, trung đoàn 108 phát lệnh nổ súng, đồng loạt tiến công các cứ điểm Tú Thuỷ, Cửu An và Eo Gió. Bộ đội ta trên các hướng dũng mãnh tiến công, địch ở Cửu An, Eo Gió hoảng loạn và bị tiêu diệt sau 30 phút chiến đấu. Riêng Tú Thuỷ, địch lợi dụng lô cốt, hàng rào và sự chi viện hoả lực của An Khê và Thượng An chống trả quyết liệt. Trận chiến đấu diễn ra ác liệt, ta phải tổ chức xung phong nhiều lần, tập trung hoả lực diệt từng lô cốt, ụ súng, đến gần sáng mới diệt và làm chủ được Tú Thuỷ.
Tú Thuỷ, Cửu An, Eo Gió bị diệt, quân địch ở Kon Lía hốt hoảng bỏ lại cả kho tàng, đạn dược, tìm đường tháo chạy. Hệ thống cứ điểm vòng ngoài bảo vệ An Khê bị vỡ, Thượng An bị cô lập, đường 19 bị uy hiếp trực tiếp. Quân Pháp ở Tây Nguyên nằm trong tình trạng báo động và vội vã điều động lực lượng chi viện cho An Khê. Ngay sáng ngày 14 tháng 1, địch cho hai đại đội từ An Khê ra phản kích thăm dò, bị ta chặn đánh ở suối Vối khiến chúng phải vội vã quay trở lại An Khê.
Nắm vững phương châm “đánh điểm diệt viện”, Bộ chỉ huy chiến dịch nhận định: “Thế nào địch cũng hành quân giải toả áp lực của ta ở đông bắc An Khê”, do đó hạ quyết tâm sử dụng trung đoàn 108 diệt viện trên đường Hoàng Hoa Thám (nhánh đường số 7, An Khê - Cửu An). Thực hiện ý định của Bộ chỉ huy, trung đoàn 108 đã tổ chức lực lượng phục kích ở đoạn đường trên. Trận địa phục kích của trung đoàn được bố trí bất ngờ ở quãng rừng trống trải cách đồn Cửu An khoảng 500 mét.
Sau mấy ngày cho máy bay và biệt kích lùng sục thăm dò không phát hiện được gì, ngày 17 tháng 1, địch điều động tiểu đoàn sơn chiến số 8, có xe bọc thép dẫn đầu, từ An Khê theo đường Hoàng Hoa Thám tiến đến Cửu An. 10 giờ 30 phút ngày 17, đội hình hành quân cửa địch lọt vào trận địa phục kích của trung đoàn 108. Bộ đội ta giấu quân bí mật trong các cánh rừng thưa, đồng loạt xung phong chia cắt đội hình địch. Do chủ quan, đội hình hành quân của địch kéo dài, không có phòng bị nên khi bị đánh bất ngờ, cả tiểu đoàn địch nhanh chóng rối loạn và tan rã. Bộ đội ta tổ chức truy kích bọn địch tháo chạy, thu dọn chiến trường và giấu quân chuẩn bị cho trận chiến đấu tiếp theo.
Trong khi địch ở An Khê còn đang lúng túng, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định sử dụng trung đoàn 803 tiến công cứ điểm Thượng An và lô cốt Đầu Đèo, hai cứ điểm trấn giữ đường 19 ở đoạn đèo An Khê.
Từ khi Tú Thuỷ, Cửu An, Eo Gió bị diệt, bọn địch ở các cứ điểm còn lại rất chú ý đề phòng. Ban đêm chúng đưa một bộ phận phục kích ở ngoài đồn đồng thời tổ chức canh phòng rất cẩn mật. Sau mấy lần tiếp cận bị lộ, bộ đội ta đã nắm chắc quy luật hoạt động của địch. Rạng sáng ngày 21 tháng 1, tại Thượng An, khi bọn địch phục kích bên ngoài rút về đồn, một lực lượng nhỏ của tiểu đoàn 59 liền bám sát theo sau và diệt ngay lô cốt đầu cầu trong sự ngỡ ngàng của địch. Lô cốt đầu cầu bị diệt, quân địch trong đồn còn đang ngơ ngác, lộn xộn thì các mũi xung kích của tiểu đoàn 59 dũng mãnh xung phong dưới sự chi viện của hoả lực. Sau 15 phút chiến đấu tiểu đoàn 59 thuộc trung đoàn 803 đã làm chủ cứ điểm Thượng An, thu nhiều vũ khí, đạn dược, trong đó có khẩu pháo 105mm.
Tại lô cốt Đầu Đèo, bọn địch chui vào lô cốt kiên cố liều chết chống đỡ. Bộ đội ta một mặt dùng hoả lực chế áp, một mặt tiếp cận đặt lượng bộc phá 40 kg đánh sập lô cốt. Lô cốt Đầu Đèo bị tiêu diệt nhanh chóng.
Như vậy, đến ngày 21 tháng 1, toàn bộ cứ điểm bảo vệ phía bắc An Khê bị diệt, An Khê và tuyến phòng thủ Măng Giang trực tiếp bị uy hiếp. Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp vội vã điều ba tiểu đoàn dự bị chiến lược đến tăng viện cho An Khê và đưa tàu hàng không mẫu hạm A-rô-măng-sơ (Aromanche) tới Qui Nhơn. Có thêm lực lượng, địch điều tiểu đoàn dù nguỵ số 1 (1er BPVN) phản kích chiếm lại Thượng An.
Dự đoán đúng ý đồ của địch, Bộ Tư lệnh chiến dịch sử dụng tiểu đoàn 39 trung đoàn 803 tổ chức trận địa phục kích trên đường 19, đoạn từ An Khê đến Thượng An. 9 giờ sáng ngày 24 tháng 1, khi đại bộ phận tiểu đoàn địch lọt vào trận địa phục kích, các chiến sĩ tiểu đoàn 39 đã đồng loạt xung phong chia cắt, bao vây tiêu diệt từng bộ phận. Mặc dù có không quân, pháo binh chi viện, song cả tiểu đoàn địch rơi vào thế bất lợi, nhanh chóng tan rã. Ta tiêu diệt hai đại đội, đánh thiệt hại nặng đại đội thứ ba.
Ngày hôm sau (25 tháng 1) cũng trên đường 19, đoạn tây An Khê, tiểu đoàn 68 của trung đoàn 120 địa phương phục kích chặn đánh đoàn xe 25 chiếc chở một tiểu đoàn dù từ Plây-cu về An Khê, diệt một đại đội, phá năm xe, bắt 50 tù binh, thu một khẩu đại bác không giật 57mm.
Trước cuộc tiến công liên tục của chủ lực ta ở khu vực An Khê, địch buộc phải điều thêm sáu tiểu đoàn tới An Khê và đưa hạm đội đặc nhiệm gồm sáu tàu chiến vào vùng biển Quy Nhơn. Nhận thấy so sánh lực lượng không có lợi cho ta và dự đoán địch có thể đánh vào vùng tự do duyên hải của ta, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định kết thúc chiến dịch. Ngày 28 tháng 1, các đơn vị tổ chức rút quân về vùng tự do. Chiến dịch An Khê kết thúc thắng lợi.
Kết qủa, sau 15 ngày chiến đấu (từ ngày 13 đến ngày 28 tháng 1), ta đã san phẳng sáu vị trí, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng bảy đại đội địch, diệt 571 tên (bắt trên 300 tên), thu 11 khẩu pháo cối (có một khẩu 105mm), trên 550 súng bộ binh các loại, 30 tấn đạn, 25 máy vô tuyến điện cùng nhiều quân trang quân dụng (số vũ khí thu được có thể đủ trang bị cho bốn tiểu đoàn). Ta đã phá hầu hết các khu dồn dân của địch ở đường số 7B và một số khu tập trung ở đường 19, giải phóng trên 10.000 dân trong khu vực.
Chiến thắng An Khê là chiến thắng lớn nhất của ta từ trước tới nay trên chiến trường Nam Trung Bộ, cổ vũ rất lớn tinh thần hăng hái kháng chiến của bộ đội và nhân dân. Tiếng vang của chiến thắng An Khê đã vượt qua phạm vi Đông Dương làm xôn xao dư luận Pháp. Chiến thắng An Khê đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của lực lượng vũ trang Liên khu 5 về tổ chức chỉ huy các chiến dịch vừa và nhỏ. Sau khi giành thắng lợi ở Chiến dịch An Khê, Liên khu 5 đã được Tổng Tư lệnh gửi thư khen ngợi động viên.
Về nghệ thuật chiến dịch, Chiến dịch An Khê đã có sự chỉ huy tập trung thống nhất trên toàn mặt trận: Mặc dù chiến dịch chỉ diễn ra ở phạm vi hẹp xung quanh An Khê, song trên toàn địa bàn liên khu đã có sự phối hợp hoạt động của nhiều lực lượng, tạo điều kiện cho hướng chính giành thắng lợi. Một thành công nữa là Bộ tư lệnh chiến dịch đã thực hiện thành công kế hoạch nghi binh lừa địch về hướng tiến công. Biết địch thường phán đoán hoạt động của chủ lực dựa vào sự vận chuyển vật chất của dân công, Bộ tư lệnh chiến dịch đã huy động dân công vận chuyển nghi binh trên nhiều hướng, tổ chức nghi binh giấu sự di chuyển của chủ lực, nên mặc dù nắm được tin chủ lực ta di chuyển nhưng địch không thể xác định được hướng tiến công của chủ lực ta.
Trong thực hành, nét nổi bật của Chiến dịch An Khê là ta đã chọn mục tiêu khêu ngòi là các cứ điểm hiểm yếu vòng ngoài, vừa sức đánh của ta, song khi ta đánh được lại uy hiếp trực tiếp An khê và đường 19, buộc địch phải tăng viện phản kích, tạo thời cơ để ta tổ chức các trận phục kích, diệt nhiều sinh lực địch. Chiến dịch An Khê để lại nhiều kinh nghiệm về “đánh cứ điểm nhỏ, diệt viện binh nhỏ” ở địa bàn Liên khu 5 lúc bấy giờ.
chuongxedap:
CHIẾN DỊCH THƯỢNG LÀO
(Tiến công, từ ngày 13 tháng 4 đến ngày 14 tháng 5 năm 1953)
Sau chiến thắng Tây Bắc (1952), vùng giải phóng của ta đã mở rộng sát với Thượng Lào. Quân dân hai nước Việt Nam, Lào có điều kiện giúp đỡ nhau đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung. Đầu năm 1953, tranh thủ mùa khô vẫn còn, Tổng Quân uỷ quyết định phối hợp cùng quân dân Lào mở chiến dịch tiến công Sầm Nưa (Chiến dịch Thượng Lào) nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng đất đai, xây dựng căn cứ đứng chân cho bạn, buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó, đồng thời tạo điều kiện để bộ đội rèn luyện đánh tập đoàn cứ điểm nhỏ.
Thượng Lào gồm sáu tỉnh: Luông Pha Băng, Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, Viêng Chăn, Phông Xa Lỳ, Huội Sài, diện tích khoảng 135.000km2, dân số khoảng trên một triệu người. Thượng Lào là vùng rừng núi, đường sá giao thông ít. Từ Việt Nam sang Lào có một số con đường chính, đường số 7 từ Vinh đi Xiêng Khoảng; đường số 6 từ Hoà Bình, Mộc Châu đi Pa Hang, Sầm Nưa; một con đường từ Sơn La qua Mường Hét đi Sầm Nưa... Các con đường này hư hỏng nhiều, ô tô chỉ có thể đi được ở một số đoạn bên phía Việt Nam. Thời tiết khí hậu thời gian này đang còn là cuối mùa khô, sông suối ít nước, cơ động thuận tiện. Song nếu chiến dịch kéo dài, mùa mưa ập đến thì việc cơ động ở vùng rừng núi Thượng Lào sẽ hết sức khó khăn.
Sau thất bại ở Tây Bắc, bộ chỉ huy Pháp nhận thấy nguy cơ có thể mất Thượng Lào nên đầu năm 1953, tổng chỉ huy Xa-lăng đặt Thượng Lào dưới quyền chỉ huy của bộ chỉ huy quân đội Pháp ở Bắc Bộ và chú trọng xây dựng các khu vực phòng ngự ở Thượng Lào hơn. Tại Sầm Nưa chúng xây dựng một tập đoàn cứ điểm nhỏ “kiểu Nà Sản”, gồm 11 vị trí trong phạm vi chiều dọc 2.000 mét, chiều ngang 1.800 mét, có sân bay dã chiến Nà Thông, bãi nhảy dù Nà Viêng và lực lượng lên tới ba tiểu đoàn1. Xung quanh các cứ điểm có hàng rào, bãi chướng ngại và cây cối được phát quang để tăng tầm quan sát từ xa. Chúng còn thường xuyên tung biệt kích ra thăm dò các hoạt động của ta. Tại Xiêng Khoảng, địch cũng tăng thêm một tiểu đoàn ngụy Lào để tăng cường phòng ngự.
Từ tháng 2 năm 1953, ta bắt đầu tiến hành chuẩn bị cho chiến dịch. Đến cuối tháng 3 năm 1953, Bộ Tổng tham mưu hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến của chiến dịch Thượng Lào. Trong kế hoạch, ta xác định hướng chính chiến dịch là Sầm Nưa, hướng thứ yếu là Xiêng Khoảng và hướng phối hợp là Bắc Bộ.
Trên hướng chính Sầm Nưa, lực lượng gồm sáu trung đoàn bộ binh (ba trung đoàn của đại đoàn 308, hai trung đoàn của Đại đoàn 312, và trung đoàn 98 của Đại đoàn 316), bốn đại đội sơn pháo 75mm (12 khẩu), hai tiểu đoàn phòng không 12,7mm, ba đại đội súng cối 120mm (12 khẩu), một tiểu đoàn công binh và một đại đội trinh sát. Hướng này có nhiệm vụ phối hợp với quân dân Lào bao vây, tiêu diệt quân địch ở Sầm Nưa theo cách đánh tập đoàn cứ điểm.
Hướng thứ yếu Xiêng Khoảng, lực lượng gồm Đại đoàn bộ binh 304, một đại đội sơn pháo 75mm, một đại đội súng cối 120 mm và một tiểu đoàn phòng không 12,7 mm, tiến theo đường số 7 tiêu diệt vị trí Noọng Hét, Bản Ban, áp sát Xiêng Khoảng phát động chiến tranh du kích ở vùng này. Một bộ phận của hướng này tiến theo hướng Mường Ngạt, Mường Mô, Tha Xí, Tha Thơm, đánh vào Sầm Nưa phối hợp với hướng chính.
Lực lượng dự bị của hướng chính là trung đoàn 174 thuộc Đại đoàn 316 đứng chân ở khu vực Mộc Châu, bảo vệ khu vực này và sẵn sàng chiến đấu trên hướng chính. Các hướng phối hợp ở chiến trường Bắc Bộ phải tăng cường đánh nhỏ, chống địch càn quét... buộc chúng phải căng kéo đối phó khắp nơi. Ngoài ra, để đảm bảo bí mật, bất ngờ cho chiến dịch, Bộ Tổng tham mưu còn sử dụng Đại đoàn 316 nghi binh đánh vào Nà Sản, kế hoạch nghi binh thực hiện từ cuối tháng 3 năm 1953; trung đoàn 148 tiến theo lưu vực sông Nậm Hu xuống uy hiếp bắc Luông Pha Băng. Tổng số quân tham chiến trên ba hướng khoảng 45.000 người.
Bộ chỉ huy Chiến dịch Thượng Lào gồm: đồng chí Võ Nguyên Giáp là Chỉ huy trưởng, đồng chí Nguyễn Chí Thanh là Chủ nhiệm chính trị, đồng chí Hoàng Văn Thái là Tham mưu trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Nam là Chủ nhiệm cung cấp. Về phía bạn, Hoàng thân Xu-pha-nu-vông, Thủ tướng chính phủ kháng chiến và đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, cũng tham gia chỉ đạo chiến dịch.
Về đảm bảo vật chất, trên hướng chính do Tổng cục Cung cấp đảm nhiệm. Các kho trạm bố trí ở hai khu vực Mộc Châu và Vạn Mai, sau đó đưa dần vào Sốp Ban, Sốp Hào để đảm bảo cho đánh Sầm Nưa. Cánh quân đánh vào Xiêng Khoảng theo đường 7 do Liên khu 4 đảm nhiệm. Còn hướng Mường Sài giao cho trung đoàn 148 liên hệ trực tiếp với bạn Lào nhờ bạn bảo đảm. Các đồng chí Nguyễn Chí Thanh và Trần Đăng Ninh được Tổng Quân uỷ cử xuống đôn đốc việc huy động vật chất ở các địa phương. Trên 80 xe ô tô, 880 thuyền, hơn 2.000 xe đạp và 180 con ngựa được huy động vận chuyển vật chất phục vụ chiến dịch2.
Trên hướng chính, hậu cần chiến dịch tổ chức ba tuyến hậu cần gồm tuyến Vạn Mai, tuyến Suối Rút, tuyến Vạn Yên để thống nhất chỉ huy các lực lượng quân nhu, quân y, quân khí, vận tải trên từng khu vực. Việc chuẩn bị hậu cần được tiến hành rất khẩn trương. Tuyến Vạn Yên chuyển gạo chuẩn bị cho bộ đội hành quân, tuyến Vạn Mai tổ chức chuyển lương thực, thực phẩm từ Hồi Xuân lên Vạn Yên, tới Sốp Hào, tuyến Suối Rút chủ yếu dùng xe ô tô tập trung vận chuyển theo từng chặng, từ Vạn Mai lên Bãi Sang, rồi từ Suối Rút, Bãi Sang tới Mộc Châu. Đến cuối tháng 3, tập trung vận chuyển từ Mộc Châu vào Sốp Ban, Sốp Hào.
Ngày 16 tháng 3 năm 1953, Bộ Tổng tham mưu ra chỉ thị hành quân cho các đơn vị. Cơ quan tiền phương của Bộ cũng bắt đầu rời Quảng Nạp, Thái Nguyên lên Mộc Châu để chỉ đạo các đơn vị tham gia chiến dịch.
Từ đêm 21 tháng 3, Đại đoàn 312 và 308 bắt đầu hành quân từ Phú Thọ lên tập kết ở Mộc Châu. Tiểu đoàn 999 thuộc Đại đoàn 316 bắt đầu thực hiện kế hoạch nghi binh đánh vào Nà Sản. Trên hướng thứ yếu, ngày 31 tháng 3, Đại đoàn 304 rời Anh Sơn vào tập kết ở Khe Kiều, sát ngay biên giới Việt - Lào.
Sau khi các đơn vị đã vào tập kết, ngày 7 tháng 4 năm 1953, Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh cho các đơn vị tiến quân vào đất bạn. Ngày 9 tháng 4, các đơn vị bắt đầu xuất phát. Sở chỉ huy chiến dịch đi sau Đại đoàn 308 vào triển khai ở gần Mường Pua.
Địch phát hiện các đơn vị chủ lực của ta từ nhiều ngả tiến về Sầm Nưa và nhận được báo cáo khẩn cấp của viên trung tá Man-pơ-lát, chỉ huy phân khu Sầm Nưa, trưa ngày 12 tháng 4 năm 1954, tướng Xa-lăng ra lệnh rút toàn bộ lực lượng khỏi Sầm Nưa.
Đêm 12 tháng 4, địch ở Sầm Nưa bắt đầu tổ chức rút quân. Lực lượng địch ở Sầm Nưa khoảng 1.900 tên, trời lại mưa tầm tã nên đến 19 giờ ngày 13 tháng 4. Man-pơ-lát mới đưa được đội quân cuối cùng của chúng về đến Nà Noọng tây nam Sầm Nưa 23 ki-lô-mét nghỉ lại ở đây một đêm, sáng ngày 14 hành quân tiếp.
Như vậy, tình huống chiến dịch đã thay đổi. Ta dự định tổ chức đánh địch trong công sự vững chắc, nhưng địch lại rút chạy trước khi ta đến. Trưa ngày 13 tháng 4, nhận được tin địch rút khỏi Sầm Nưa, Bộ chỉ huy chiến dịch lập tức quyết định hướng chính phải tổ chức các đơn vị gọn nhẹ truy kích thật nhanh, thật mạnh, hướng Đại đoàn 304 đánh mạnh ở đường số 7 không cho chúng chạy thoát về Cánh Đồng Chum.
Khoảng 10 giờ ngày 13 tháng 4, khi bộ phận cuối cùng của địch rút khỏi Sầm Nưa, các đơn vị đi đầu của ta còn cách Sầm Nưa từ 5 đến 10 ki-lô-mét. Nhận được lệnh truy kích địch, mặc dù vừa trải qua chặng đường hơn 300 ki-lô-mét, còn đang rất mệt mỏi, một số đơn vị đã nhanh chóng tổ chức các bộ phận gọn nhẹ tiến hành đuổi bám, truy kích địch. Tuy nhiên, cũng có đơn vị (trung đoàn 209 và 102) do công tác tổ chức chậm, nên đến 17 giờ mới xuất phát truy kích, chậm hơn bộ phận cuối cùng của địch tám giờ.
______________________________________
1. Ba tiểu đoàn gồm: tiểu đoàn dù số 1 Lào (1er BPL), tiểu đoàn bộ binh số 5 Lào (5e BTL ), tiểu đoàn biệt kích Lào số 8 (8e BCL).
2. Kết quả, trên hai hướng ta đã cung cấp tiếp tế cho bộ đội 6.300 tấn lương gạo, 200 tấn muối, 290 tấn thịt, 190 tấn thực phẩm khô, 166 tấn vũ khí, cứu chữa 490 thương binh. Trên tuyến hậu cần chiến dịch, đã sử dụng 62.500 lượt dân công, thành 25.3500 ngày công.
Navigation
[0] Message Index
[#] Next page
[*] Previous page