vetran
Cựu chiến binh

Bài viết: 1145
Một thời để nhớ.
|
 |
« Trả lời #20 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2012, 06:16:41 pm » |
|
Tôi xin kể với các bác về vụ Hắc Lào (Lác) vì ngày hôm nay @Linhquany nhắc đến NÓ. Tự nhiên cảm thấy sung sướng nhớ lại cách nay 37 năm. Đơn vị tôi là C3. D930. E15 quân khu Hữu Ngạn đóng ở Thạch Thành - Thanh Hóa. Huấn luyện bộ binh được ba tháng thì một đêm báo động di chuyển. Xuyên rừng lội suối đến đêm thứ hai thì được lệnh tập kết và nhận nhiệm vụ đắp đê sông Đáy chống lũ lụt khu vực huyện Ninh Khánh tỉnh Ninh Bình. Một tháng đào vác đất đắp đê với khí thế thi đua nước rút, đơn vị tôi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nhưng một chi tiết không thể nào quên là do nặn ngụp dưới nước bùn lầy cho nên chín mươi chín phần trăm chiến sĩ trong tiểu đoàn đau mắt đỏ, nóng bỏng đau rát, sáng sớm mắt bị ghèn dính cứng, không mở ra được, cặp mi như được gắn hồ, cộng thêm một bệnh nữa rất tế nhị, mặc dù khi ở doanh trại đã có nhưng diện tích nhỏ không ấn tượng như lúc này đó là bị hắc lào bẹn, anh nào cũng sở hữu hai mảng to cỡ bàn tay, màu nâu thâm xì bởi vì suốt ngày ngâm nước bùn, vác đất đi bộ khá xa, quần xà lỏn cọ nát hai bên háng càng tạo điều kiện cho bào tử nấm ăn sâu vào da. Mỗi chiều tập trung quân số ở sân kho hợp tác xã nông nghiệp cho quân y bôi cồn Iod hoặc cồn ASA, sau đó nhảy lambada vì ngứa, nóng và đau rát đến chảy nước mắt mà vẫn cười vì có câu “nếu không có hắc lào không phải là bộ đội” Đau rát và ngứa muốn điên, nhưng cặp mắt vẫn dè chừng các em gái làng đi trồng khoai lang bãi ngoài đê sông Đáy đi qua thì nhanh chóng nở nụ cười pha mếu vì sân kho giáp đường liên thôn. Tuy nhiên sau năm phút bôi thuốc mới thực sự tê tái vì cồn bốc hơi hết, còn lại I ốt, muối Salisilat khô reng, da tại chỗ căng nứt đau vô cùng với dáng đi khệnh khạng nhích từng bước nhỏ về nhà dân nơi đóng quân mà không giám bước dài vì rát bỏng. Thật sự là một trong những kỉ niệm nhớ đời quân ngũ.
|
|
|
|
|
Logged
|
Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
|
|
|
vetran
Cựu chiến binh

Bài viết: 1145
Một thời để nhớ.
|
 |
« Trả lời #21 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2012, 08:03:59 pm » |
|
Câu chuyện tiếp theo khi tôi đóng quân trong trung tâm 43 bảo toàn trung hạng- Tổng kho Long Bình đầu năm 1975, gần cổng 11 hướng Vũng Tàu. Chủ nhật cánh lính trẻ chúng tôi kéo nhau qua một quả đồi xa đơn vị khoảng ba cây số, sau khi mặc áo chống đạn, đội mũ sắt, khoảng hai chục đứa chúng tôi chia hai phe qui ước là dùng toàn súng Rulo lòng ngắn của quân cảnh Mỹ ra bãi xe Zeep bắn nhau (bãi xe này có tới hàng ngàn chiếc) với qui ước chỉ ngắm bắn vào kính chắn gió vì kính chắn gió của xe bị đạn vỡ mà không bắn mảnh ra xung quanh, nhưng cũng có tên bị thương, máu me ướt cả áo. Bắn nhau ì đùng khá lâu nên bộ tư lệnh tổng kho biết chuyện mặc dù không biết rõ lính của đơn vị nào. Nhưng chỉ huy đơn vị tôi bắt quả tang vài chiên sĩ, thế là bị nhốt vào container mấy ngày với nỗi khổ khí hậu trên đỉnh đồi cao, ngày nóng cháy da, đêm lạnh co quắp, (theo người dân di cư năm 1954 ở Tam Hiệp nói: từ trước tới nay, khi gần Noen, trời có lạnh hơn đôi chút nhưng chưa bao giờ lạnh như thế này, nay Việt cộng vào đưa cái rét theo). Vụ này tôi may mắn thoát hiểm. Ngày hôm sau đơn vị báo động di chuyển, tất nhiên đã báo động di chuyển thì phải gom hết mọi thứ. Khi tập trung chỉnh đốn hàng ngũ, tôi đang nghĩ thầm “tại sao không tập trung ở sân chào cờ gần khu nhà ở mà lại tập trung giữa sân lớn” thì lệnh của đại đội trưởng vang lên: Kiểm tra quân tư trang. Thế là chúng tôi mắc bẫy, Chà! Bây giờ có muốn vất phi tang những (đồ chơi) bất hợp pháp trong ba lô cũng khó vì không có góc kẹt hay chướng ngại vật giữa mênh mông không gian trên là trời, dưới là mặt sân rộng cả hecta. Tất cả súng ngắn, áo giáp, dao găm, lưỡi lê đa năng, lựu đạn mỏ vịt, lựu đạn mili, roi điện và nhiều thứ vũ khí khác giấu trong ba lô, trong rương đều bị tịch thu. Sau đó có lệnh giải tán tại chỗ mà chỉ huy cũng không điều tra nguồn gốc số vũ khí trên. Thật sự điều tra cũng không được bởi vì các loại súng cá nhân ê hề ngoài bờ rào, gốc cây. Dưới mương cạn lựu đạn lăn lóc khắp chốn cùng nơi như củ su hào. Nhưng riêng tôi không hiểu trời xui đất khiến thế nào trước khi báo động một ngày tôi đã lật tấm cách nhiệt trên trần phòng ngủ và nhét lên đấy 4 khẩu súng ngắn. Sau vụ ấy, tôi tiếp tục sở hữu số đồ chơi đó khi chuyển cứ ra Gò Vấp vì khi chuyển cứ với toàn bộ vũ khí khí tài của một đại đội cả trăm chiến sĩ nên cổng số 10 Tổng kho phía ngã ba Tam Hiệp không kiểm tra được toàn bộ mười mấy chiếc xe REO hành quân chở đủ thứ từ tương cà mắm muối tới vũ khí, khí tài. Và đương nhiên cái hòm gỗ tự đóng của tôi đựng quân tư trang cùng những thứ chết người được đồng đội xách theo về cứ mới, tôi không tham gia đợt chuyển quân này vì đang đi tăng gia trồng ngô ở núi Chứa Chan – Long Khánh. Sau vụ này tôi nghĩ: có lẽ ở qui mô đại đội trong toàn quân thì duy nhất đại đội 11 của tôi sở hữu nhiều chủng loại vũ khí nhất, mà cũng chỉ tập trung trong đám lính mới chúng tôi ở hai trung đội một và hai, còn các bộ phận của lính già thì không có vũ khí ngoài luồng như vầy. Cũng vì thế mới có chuyện đau lòng sau đó. Số là Tuất, đồng hương ở xã Giao Phong thấy trái lựu đạn mili nhỏ xíu da láng bóng mà đặc biệt có cái khoen chốt rất đẹp.Thế là nổ dây chuyền ầm ầm mấy phút trong kho xép cuối sân, cả đơn vị đổ xô tới khu kho nhưng không ai giám nhào vào. Trước khi chết nó nói mục đích giật lấy cái khoen để treo bát B52 của nó vì thấy ai cũng có. Nhưng nó giật chốt mà không thèm lém ra xa mà nhẹ nhàng để cẩn thận vào đống lựu đạn dưới đất có hàng trăm trái lớn nhỏ. Thế mới ra cớ sự. Sau mấy ngày lo tang lễ cho tử sĩ. Chỉ huy tập trung toàn bộ đơn vị thu gom tất cả các loại vũ khí rải rác khắp nơi trong khuân viên bỏ vào contener khóa lại, Cũng may cho số của tôi. Hiếu động, nghịch phá một cách vô tư thái quá cũng do tuổi quân, tuổi đời quá nhỏ lại lạ lẫm trước môi trường mới mẻ của cuộc chiến vừa qua, hơn nữa còn có cả yếu tố a dua của đám lính nhóc vì trong môi trường sinh hoạt với nhiều cái đồng như đồng niên, đồng ngũ, đồng hương và cuối cùng là vô lo cẩu thả mới xảy ra những cái ngu xuẩn vĩ đại chỉ có ở con người dẫn đến thương tích, bị kỷ luật thậm chí mất mạng như vừa qua,
|
|
|
|
|
Logged
|
Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
|
|
|
quynhnga_92
Thành viên

Bài viết: 50
Cháu ngoan Bác Hồ
|
 |
« Trả lời #22 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2012, 08:42:59 pm » |
|
Tôi xin kể với các bác về vụ Hắc Lào (Lác) vì ngày hôm nay @Linhquany nhắc đến NÓ. Tự nhiên cảm thấy sung sướng nhớ lại cách nay 37 năm. Đơn vị tôi là C3. D930. E15 quân khu Hữu Ngạn đóng ở Thạch Thành - Thanh Hóa. Huấn luyện bộ binh được ba tháng thì một đêm báo động di chuyển. Xuyên rừng lội suối đến đêm thứ hai thì được lệnh tập kết và nhận nhiệm vụ đắp đê sông Đáy chống lũ lụt khu vực huyện Ninh Khánh tỉnh Ninh Bình. Một tháng đào vác đất đắp đê với khí thế thi đua nước rút, đơn vị tôi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nhưng một chi tiết không thể nào quên là do nặn ngụp dưới nước bùn lầy cho nên chín mươi chín phần trăm chiến sĩ trong tiểu đoàn đau mắt đỏ, nóng bỏng đau rát, sáng sớm mắt bị ghèn dính cứng, không mở ra được, cặp mi như được gắn hồ, cộng thêm một bệnh nữa rất tế nhị, mặc dù khi ở doanh trại đã có nhưng diện tích nhỏ không ấn tượng như lúc này đó là bị hắc lào bẹn, anh nào cũng sở hữu hai mảng to cỡ bàn tay, màu nâu thâm xì bởi vì suốt ngày ngâm nước bùn, vác đất đi bộ khá xa, quần xà lỏn cọ nát hai bên háng càng tạo điều kiện cho bào tử nấm ăn sâu vào da. Mỗi chiều tập trung quân số ở sân kho hợp tác xã nông nghiệp cho quân y bôi cồn Iod hoặc cồn ASA, sau đó nhảy lambada vì ngứa, nóng và đau rát đến chảy nước mắt mà vẫn cười vì có câu “nếu không có hắc lào không phải là bộ đội” Đau rát và ngứa muốn điên, nhưng cặp mắt vẫn dè chừng các em gái làng đi trồng khoai lang bãi ngoài đê sông Đáy đi qua thì nhanh chóng nở nụ cười pha mếu vì sân kho giáp đường liên thôn. Tuy nhiên sau năm phút bôi thuốc mới thực sự tê tái vì cồn bốc hơi hết, còn lại I ốt, muối Salisilat khô reng, da tại chỗ căng nứt đau vô cùng với dáng đi khệnh khạng nhích từng bước nhỏ về nhà dân nơi đóng quân mà không giám bước dài vì rát bỏng. Thật sự là một trong những kỉ niệm nhớ đời quân ngũ.
Cháu lạc đề tí. Cháu bị eczema ở chân hồi lớp 1 đến nay 20 tuổi mà vẫn bị. Bố mẹ cháu chữa cho rất mất nhìu tiền. Chữa đủ thể loại. Cháu học Y cũng chữa nhưng chẳng ăn thua. Bác nào từng bị rùi mà khỏi thì cho cháu xin ít kinh nghiệm. Híc.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Đậu Thanh Sơn
Thành viên

Bài viết: 552
1975 - Mãi mãi là người chiến sỹ SĐ Sông Lam
|
 |
« Trả lời #23 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2012, 02:43:47 pm » |
|
DŨNG SỸ ĐÂM LÊ
Hoàng Văn Nô cùng tiểu đội vọt lên, bám sát truy kích địch. Một tên lính Âu vừa chạy, vừa liều mạng quay tiểu liên lại bắn. Hoàng văn Nô căm giận, trừng mắt thét lớn và dồn toàn sức lao tới, cắm ngập lưỡi lê vào ngực tên giặc. Tên giặc ngã xuống, máu vọt lên ướt đẫm cả tay áo Nô. Bọn địch sợ rú lên, cắm cổ chạy. Hoàng Văn Nô quyết định không tha, anh đuổi kịp toán địch đâm chết tên thứ hai, tiếp tục xốc tới đâm chết tên thứ ba. Máu thù ướt đẫm súng, đẫm áo anh. Nô càng thắng, càng khỏe lạ thường. Đâm tới tên thứ tư, Hoàng văn Nô đạp chân rút lê ra, thì bị trúng đạn hy sinh. Noi gương Hoàng Văn Nô, đồng đội càng dũng mạnh lao lên tiêu diệt giặc.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Linh Quany
Cựu chiến binh

Bài viết: 2483
Kỷ niệm một thời !
|
 |
« Trả lời #24 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2012, 02:48:35 pm » |
|
Cháu lạc đề tí. Cháu bị eczema ở chân hồi lớp 1 đến nay 20 tuổi mà vẫn bị. Bố mẹ cháu chữa cho rất mất nhìu tiền. Chữa đủ thể loại. Cháu học Y cũng chữa nhưng chẳng ăn thua. Bác nào từng bị rùi mà khỏi thì cho cháu xin ít kinh nghiệm. Híc.
Bạn chuyển sang Bệnh của lính và di chứng đi nhé. Bên ấy nhà lúc nào cũng có bác sĩ trực .
|
|
|
|
|
Logged
|
Sắp ngừng chơi mạng.
|
|
|
Đậu Thanh Sơn
Thành viên

Bài viết: 552
1975 - Mãi mãi là người chiến sỹ SĐ Sông Lam
|
 |
« Trả lời #25 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2012, 02:50:46 pm » |
|
ĐỒNG CHÍ CÓ BIẾT?
Trong cuộc chiến đấu bảo vệ thủ đô, các chiến sỹ ta hai người mới có một súng trường (một nửa là súng khai hậu và súng bắn chim). 600 người mới có 1 súng máy, 3 người mới có 2 quả lựu đạn. Ta có 7 khẩu pháo cao xạ 75 mm tất cả đều không có máy ngắm và dụng cụ đo đạc. Toàn mặt trận chỉ có 1 khẩu ba zo ca (súng chống tăng) với 5 viên đạn. Nếu so sánh với giặc Pháp thì binh lực của chúng hơn ta 3 lần, vũ khí bộ binh gấp 9 lần và hơn hẳn về chất lượng, pháo binh gấp 6 lần.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Đậu Thanh Sơn
Thành viên

Bài viết: 552
1975 - Mãi mãi là người chiến sỹ SĐ Sông Lam
|
 |
« Trả lời #26 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2012, 03:00:32 pm » |
|
Trận đầu đánh thắng của Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân
Vận dụng chiến thuật Tập kích- một hình thức đánh địch trước đây vẫn được ông cha ta gọi là “Đánh úp”, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân đã đánh trận đầu thắng lợi, tiêu diệt đồn Khay Phắt và đồn Nà Ngần, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần cách mạng đang sục sôi của cả dân tộc, đồng thời mở đầu truyền thống đánh tiêu diệt, đánh chắc thắng, đánh thắng ngay từ trận đầu của Quân đội ta…
Đồn Khay Phắt thuộc bản Khay Phắt, tổng Kim Mã, châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Đồn do 21 lính dõng chiếm giữ, dưới sự chỉ huy của viên cai người Pháp. Xung quanh đồn có hàng rào bằng tre nứa và giao thông hào; cổng ra, vào có lính gác suốt ngày đêm. 17 giờ ngày 25-12-1944, lợi dụng lúc tên chỉ huy đồn đi vắng, toàn bộ đội quân tập kích của ta mặc trang phục lính dõng, đi đầu có “viên đội sếp” và hai lính khố xanh ung dung tiến vào bản. Trừ một số đồng chí cảnh giới vòng ngoài, còn lại toàn bộ đội chia làm ba nhóm, đi thẳng vào đồn địch. Một nhóm nhanh chóng đến án ngữ kho súng trong khi “viên đội sếp” hô binh lính trong đồn ra tập trung để đón quan Châu về kiểm tra. Khi lính trong đồn còn đang lúng túng, bộ đội ta đã vây chặt, khống chế bắt quân địch đầu hàng. Giữa lúc đó, viên đội sếp Si-mô-nơ từ Châu về đến cổng đồn thì bị tổ mai phục của ta đón sẵn, nổ súng tiêu diệt. Trận đánh chỉ diễn ra trong 10 phút. Ta bắt toàn bộ binh lính trong đồn Khay Phắt, thu 17 súng cùng toàn bộ trang bị.
Đồn Nà Ngần thuộc xã Cẩm Lý, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, cách đồn Khay Phắt khoảng 25km. Đồn này là một ngôi nhà kiên cố xây dựng trên một đỉnh đồi, có chòi cao để canh gác, xung quanh có đường hào và hàng rào tre, gỗ bảo vệ. Lực lượng địch trong đồn có 22 lính khố đỏ do 2 viên cai người Pháp chỉ huy. Sau trận đánh đồn Khay Phắt, do địch chưa biết nên chúng vẫn rất chủ quan. Khác với trận đánh đồn Khay Phắt, lần này ta đóng giả thành một đơn vị lính khố xanh đi tuần tiễu, toàn đội do đồng chí Thu Sơn và đồng chí Mậu chỉ huy. Đội hình chiến đấu chia thành 3 bộ phận: Bộ phận xung phong vào đồn đi trước; bộ phận tiếp viện vào sau; bộ phận ở ngoài bao vây và ngăn chặn.
3 giờ ngày 26-12-1944, toàn đội xuất kích. Đi đầu là một đồng chí mặc trang phục người Mán, hai tay bị trói. Khoảng 7 giờ, khi trời sáng rõ cũng là lúc quân địch ở trong đồn vừa ngủ dậy, toàn bộ đội hình đơn vị đã đến trước đồn. Quân ta cố ý nói chuyện ầm ĩ để tên lính gác nhìn thấy “một đơn vị khố xanh đang dẫn giải một người bị bắt tiến vào đồn”. Bộ phận xung phong ung dung tiến đến cổng gác, xin vào đồn để nộp “người Mán Việt Minh” cho quan đồn xét hỏi. Khi đã vào trong đồn, 4 đội viên nhanh chóng tiến đến án giữ kho súng, còn đồng chí chỉ huy hô lớn yêu cầu quân địch đầu hàng. Một số tên do cố ý chống cự nên đã bị ta tiêu diệt. Cùng lúc đó tổ tiếp viện cũng xông vào đồn, toàn bộ quân địch giơ tay đầu hàng, ta thu toàn bộ vũ khí, lương thực của địch. Trận đánh này chỉ diễn ra chớp nhoáng trong 7 phút.
Sau khi thực hiện chu đáo chính sách đối với tù binh, giao chiến lợi phẩm cho nhân dân địa phương, bàn với địa phương cách đối phó với địch khi chúng kéo đến và chấp hành chỉ thị "đi không bóng, đến không hình", Đội đã nhanh chóng, bí mật chuyển quân về căn cứ mới. Trong suốt cuộc hành quân chiến đấu kéo dài cả ngày đêm, mọi người chỉ ăn có một bữa cơm, nhưng đã tự hào là "ăn thì mỗi ngày một bữa, đánh thì mỗi ngày hai trận"
Như vậy, chỉ sau 3 ngày thành lập, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân đã liên tiếp dùng mưu mẹo để “đánh úp” hai đồn Phay Phắt, Nà Ngần, giành thắng lợi trọn vẹn, vừa tiêu hao sinh lực địch, vừa thu được nhiều vũ khí để trang bị cho đội viên của ta, góp phần khắc phục tình trạng thiếu vũ khí trang bị trong những ngày đầu.
(TS sưu tầm)
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Năm, 2012, 03:55:15 pm gửi bởi Đậu Thanh Sơn »
|
Logged
|
|
|
|
Đậu Thanh Sơn
Thành viên

Bài viết: 552
1975 - Mãi mãi là người chiến sỹ SĐ Sông Lam
|
 |
« Trả lời #27 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2012, 03:02:42 pm » |
|
Người phụ nữ có 64 người cha liệt sĩ
(Dân trí) - Chiều nay, chị Trần Thị Yến lại ra nghĩa trang, thắp hương cho 64 ngôi mộ liệt sĩ vô danh cô quạnh. Chị thủ thỉ với từng ngôi mộ như đang nói chuyện với người thân rồi thầm cầu nguyện mong đứa con trai luôn khỏe mạnh, tự đi được đến trường. Trời chập choạng tối. Khói hương trầm bảng lảng ngào ngạt khắp nghĩa trang xã Hoà Phong, huyện Hoà Vang, TP Đà Nẵng, chị Yến vụng về kéo áo lau nước mắt khi đứa con trai tìm gọi: “Mẹ ơi!”. 64 người cha liệt sĩ Sinh năm 1965, chị Yến sớm chịu cảnh thiệt thòi khi thiếu vòng tay yêu thương, chăm sóc của cả cha lẫn mẹ, lớn lên trong sự đói khổ cùng cực với ông bà nội. Cha chị ra chiến trường khi chị còn rất nhỏ và đã hy sinh sau đó. Một năm sau mẹ chị cũng gia nhập đội du kích xã. Khi cha hy sinh, cô bé Yến mới được 3 tuổi, chưa hiểu nổi sự tàn khốc của chiến tranh gói gọn trong hai chữ “hy sinh” mà cha mình phải gánh lấy. Sau này, chị mập mờ hình dung hình ảnh của cha bằng những lời kể bị ngắt quãng trong nước mắt của bà nội. Mãi đến năm 2003, một người đồng đội cũ của cha mới tìm được chị Yến để trao lại tấm ảnh thẻ trắng đen theo lời trăng trối trước lúc hy sinh. Nhận tấm ảnh lưu lạc hơn 35 năm đã ngả màu vàng ố, tình máu mủ cha con trỗi dậy khiến chị Yến bật khóc nức nở. Người đồng đội kể rằng ông Trần Văn Thái cha cô đã hy sinh cùng với 63 người đồng đội khác trong trận đánh tại sân bay An Định. Hình: Cứ mỗi cuối tuần, chị Yến lại cùng con trai ra nghĩa trang xã chăm sóc 64 ngôi mộ vô danh mà chị gọi bằng “Cha”. Có được tấm ảnh thẻ cũ, chị đem phục hồi phóng lớn rồi trang trọng đặt lên bàn thờ xem như báu vật của cha để lại, bên cạnh là Huân chương kháng chiến hạng Nhất và bằng Tổ quốc ghi công. Năm 2003, liệt sĩ Trần Văn Thái cùng 63 người đồng đội hy sinh tại sân bay An Định được quy tập về nghĩa trang liệt sĩ xã Hoà Phong. Do không xác định được chính xác hài cốt của từng liệt sĩ nên phần mộ của 64 người đồng đội được đặt nằm cạnh nhau trong nghĩa trang với cùng cái tên “vô danh” lạnh lẽo. Chị Yến gọi tất cả những người cùng nằm xuống với ba mình là “Cha” và âm thầm chăm sóc 64 ngôi mộ như cách của người con hiếu thảo. Mỗi chiều cuối tuần, chị lại dành thời gian ra nghĩa trang cùng nắm hương to cộm trên tay với niềm tin: “Ba tui sẽ được ấm lòng, bớt đi sự lạnh lẽo nơi chín suối”. Rồi chị đến từng ngôi mộ thủ thỉ như đang nói chuyện với người thân cho đến tối mịt mới chịu ra về. “Tâm nguyện của tui là liên lạc với thân nhân của những liệt sĩ ngoại tỉnh được an táng tại nghĩa trang này để những người nằm xuống được đoàn tụ với gia đình. Chắc người thân của những liệt sĩ cũng mong mỏi như tui ngày trước” - chị Yến day dứt khi đọc bảng danh sách dài dằng dặc ghi tên những liệt sĩ quê ở tận Thái Bình, Hải Dương, Hà Nội,... chưa tìm được thân nhân. Hình: Ngậm ngùi “Dáng mẹ” Sống với ông bà nội, chị Yến một buổi đến trường, buổi còn lại ra đồng giữ trâu, cắt cỏ phụ giúp ông bà. Tuổi thơ của chị trôi qua theo những vụ mùa lam lũ, hiếm hoi lắm mới được mẹ về thăm chớp nhoáng. Sau đó, mẹ chị bị trúng đạn nứt đầu, gãy chân; phải liên tục chuyển viện điều trị nên những cuộc gặp chớp nhoáng của hai mẹ con cũng không còn. “Nhiều đêm nằm ngủ, nghe tiếng người đập cửa tui lại vùng dậy tưởng mẹ về thăm”, chị Yến bồi hồi nhớ lại những năm tháng xa cách. Rồi bà Đãi mẹ chị đi bước nữa với một người thương binh cùng cảnh, chị Yến lủi thủi sống với ông bà nội, mẹ chị tất bật với cuộc sống cơm, áo, gạo, tiền ở gia đình mới nên hiếm khi về thăm con. Năm chị học lớp 6, một lần cô giáo ra đề tập làm văn “Em hãy tả người mẹ thân yêu của mình”. Đọc xong đề bài, cô bé Yến thút thít khóc vì nhớ mẹ, cô giáo cũng ứa nước mắt khi biết hoàn cảnh thiệt thòi của học trò. Chỉ mấy lần ít ỏi được mẹ về thăm, dòng cảm xúc của cô bé Yến hồn nhiên tuôn trào thành bài thơ “Dáng mẹ”: Cánh cò lặn lội bờ sông/ Mẹ em lặn lội trên đồng ruộng sâu/ Sớm chiều mưa nắng dãi dầu/ Cánh cò trắng, áo mẹ nâu thanh bần/ Hai sương một nắng tảo tần/ Trèo non, lội suối, đồng gần, chợ xa/ Mờ sáng đi, tối về nhà/ Miếng cơm, tấm áo, gói quà nuôi con/... Đọc xong bài làm văn đặc biệt, cô giáo ôm chị Yến vào lòng rồi nhận chị làm con. Kể từ đó, suốt mấy năm học cấp 2, mỗi lần làm tập làm văn, chị Yến lại lấy thơ ra để tả cảnh, tả người... mà mỗi lần chấm bài cô giáo lại rơi nước mắt. Ngồi nói chuyện với tôi, bao nhiêu ký ức tuổi thơ của chị lại dội về nguyên vẹn: “Mỗi lần nhớ mẹ, tui lại chạy ra đường cái đứng nhìn những người đàn bà trong làng đi chợ. Tối đó, thường mơ thấy mẹ về ôm tui vào lòng, nói sẽ không đi đâu nữa. Có lần mơ thấy mẹ chết, tui vùng dậy gọi mẹ rồi khóc khiến bà nội nằm bên cạnh cũng khóc theo. Bà nói sẽ tìm mẹ về với tui để dỗ tui ngủ tiếp”. Đến năm lớp 12, chị Yến thi học sinh giỏi đạt giải nhì môn Văn của tỉnh, được cho ra Hà Nội học nhưng vì hoàn cảnh ông bà nội già yếu không ai chăm sóc, chị không thể đi được. Đậu tốt nghiệp cấp 3 loại giỏi nhưng không có tiền học tiếp, chị ở nhà làm nông nuôi ông bà nội. “Ước mơ của tui là được làm cô giáo dạy Văn nhưng...”, chị nghẹn giọng không nói thêm được nữa. Hình: Cõng con đi học Năm 1990, chị kết hôn với anh Thái Quang Tùng (Hoà Quý, Hoà Vang). Một năm sau, cháu Trọng chào đời trong sự đói khổ, thiếu thốn. Quần quật suốt ngày trên đồng vẫn không kiếm đủ cái ăn, anh Tùng nói chị chịu khó nuôi con để anh vào Nam làm ăn rồi đón hai mẹ con vào khi đã ổn định nơi ăn chốn ở. Chị tin tưởng để chồng ra đi, nào ngờ chờ đợi 1 tháng, 2 tháng rồi đến mấy năm trời vẫn không thấy tin tức của chồng, chị mới biết người chồng đã phụ bạc, ruồng bỏ mẹ con chị. Khai sinh cho đứa con trai đầu lòng, chị lấy theo họ mẹ như muốn quên đi người đàn ông đã chối bỏ trách nhiệm làm chồng, làm cha. Biền biệt đến 9 năm sau, anh Tùng báo tin thú nhận với chị là đã có vợ mới, mẹ con chị liệu bề mà đùm bọc nuôi nhau. Hình: “Dù khổ mấy tui cũng gắng đưa con học hành đến nơi đến chốn” Đã có lúc chị nghĩ quẩn định kết thúc cuộc đời nhưng khi nhìn đứa trẻ ngây thơ vô tội, chị lại thôi. “Tuổi thơ tui đã bơ vơ vì mất cha, thiếu mẹ; tui không muốn con mình lại phải chịu cảnh đó. Dù khổ mấy tui cũng cố gắng nuôi con học hành đến nơi đến chốn để nó khỏi tủi phận”, chị cay đắng nói về đời mình. Cháu Trọng sinh ra ốm yếu, bị bệnh khớp ngay từ nhỏ. Mỗi khi trái gió trở trời, chân Trọng sưng tấy, đau nhức không đi được, chị Yến lại phải gò lưng cõng con đến trường. Mùa đông năm trước, trên đường cõng con đi học, chị bị trượt chân té ngã, hai mẹ con lấm lem bùn đất trông thật thảm thương. Tối đó, cháu Trọng nói với chị không muốn đi học nữa vì đi học là làm khổ mẹ. Chị ôm con vào lòng giải thích: “Được cõng con đi học là niềm vui của mẹ, con phải cố gắng học giỏi thì sau này mẹ con mình mới hết khổ”. Bản thân chị Yến cũng bị bệnh hen suyễn, bệnh tim khá nặng. Khi đi làm thuê xa, chị phải mang theo thuốc trong người để kịp lấy uống mỗi khi lên cơn khó thở. Một người hàng xóm của chị cho biết, chị Yến mới bị ngất xỉu ngay tại xưởng làm, nằm viện 3, 4 ngày mới tỉnh lại. Bác sĩ khuyên không nên làm việc nặng, phải nghỉ ngơi một thời gian nhưng chị vẫn cố gắng đi làm kiếm tiền trả nợ ngân hàng và nộp tiền học cho con. Hiện cháu Trọng đang học lớp 12A4 trường THPT Ông Ích Khiêm, sức học vào loại khá giỏi nhưng Trọng chỉ nộp đơn thi vào trường Cao đẳng Điện lực miền Trung mà không thi đại học với lý do: “Bớt đi 1 năm để sớm đi làm kiếm tiền chữa bệnh cho mẹ, rồi còn dành dụm để trả khoản nợ 7 triệu đồng mẹ vay của ngân hàng chính sách người nghèo để sửa nhà trong cơn bão năm 2006”. Lê Hải
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Đậu Thanh Sơn
Thành viên

Bài viết: 552
1975 - Mãi mãi là người chiến sỹ SĐ Sông Lam
|
 |
« Trả lời #28 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2012, 03:04:56 pm » |
|
Kì 1: Chuyện những dũng sỹ diệt Mỹ ở đoàn 253 - QK3
Cuối năm 1968, Đoàn an dưỡng 253 - QK3 nhận một nhiệm vụ đặc biệt của Bác Hồ và TW Đảng là tiếp nhận, nuôi dưỡng, tổ chức học tập cho những dũng sỹ diệt Mỹ ưu tú từ miền Nam ra miền Bắc. Đình Đại Lã nơi nuôi dưỡng những dũng sỹ diệt Mỹ ưu tú Làng Đại Lã, xã Hiệp Cát, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương được chọn nơi tiếp đón. Tại đây, hơn 20 dũng sỹ nhỏ tuổi nhiều năm được sống trong tình thương yêu vô bờ của quân và dân Miền Bắc...
“ĐẠI LÃ - QUÊ HƯƠNG THỨ 2 CỦA CHÚNG TÔI”
Giọng nói xứ Quảng không lẫn vào đâu được, ấm áp và đầy khẳng khái của thiếu tướng Trần Phước Tới, thiếu tướng Nguyễn Quy Nhơn như khắc cốt “Làng Đại Lã là quê hương thứ 2 của chúng tôi”. Bác Phạm Văn Trình, quân y trưởng được giao nhiệm vụ chăm sóc Đoàn dũng sỹ diệt Mỹ ưu tú từ miền Nam ra Đại Lã nghe các “cháu” bây giờ đã trở thành các vị tướng nói vậy mà cảm động, không giấu nổi nước mắt. Bác Trình bảo “Tôi hiểu tấm lòng và ý chí của các “tướng” hôm nay mà. Sắc son lắm, nghĩa tình lắm… thế nào cũng có dịp tổ chức gặp mặt nhau ở Đại Lã, chứ không phải buổi thăm gia đình tôi ở Hải Phòng như bây giờ”. Thiếu tướng Trần Phước Tới hiện đang giữ trọng trách Phó viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng VKS Quân sự TW; thiếu tướng Nguyễn Quy Nhơn, đại biểu Quốc hội, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Quân sự Quảng Nam và cả Vụ trưởng Ngô Phương - Ngân hàng Nhà nước… đều đồng tình với đề xuất của bác Trình. Anh Ngô Phương nhấn nhá: “Không về Đại Lã sao được, miền Nam là quê hương sinh ra, Đại Lã là quê hương nuôi dưỡng. Miền Bắc, miền Nam đều là quê hương của chúng ta cả”. Cứ vậy, không khí bữa cơm tại gia đình bác Trình càng trở nên vui vẻ, cảm động. Chúng tôi có đề nghị nho nhỏ sẽ cùng bác Trình về lại Đại Lã càng sớm càng tốt. Chiếc xe 7 chỗ ngồi của báo ANHP đưa bác Trình về lại Đại Lã vào một ngày cuối tháng 4 lịch sử. Dừng lại cạnh một lớp học mẫu giáo, đối diện với ngôi đình Đại Lã, xuống xe nhưng bác Trình vẫn thấy ngờ ngợ vì gần lớp học của các dũng sỹ diệt Mỹ nhỏ tuổi ngày trước có một cây phượng cổ thụ, mùa này hoa nở đỏ rực trời, sao không thấy đâu cả? Vẫn giữ tác phong người lính, không biết thì hỏi, bác Trình nhanh nhẹn bước vào khu lớp học mẫu giáo của làng. Như có linh cảm điều gì đó, cô giáo ra khỏi lớp đón hỏi bác Trình: “Chú là ai, hỏi thăm nhà nào ạ?” - Cô giáo nhanh nhảu hỏi trước. “Chú tên là Trình, chú hỏi bây giờ ai trông coi ngôi đình làng này?” - Bác Trình vào chuyện. “Ối trời ơi, có phải chú Trình quân y không? Cháu là Tiến - con gái bố O đây, chú còn nhớ không?”. “Chết chưa chứ, con gái bố O mà sao chú không nhận ra? Mấy chục năm rồi nhỉ?”... Đứng ngoài mà chúng tôi cũng dâng trào xúc động. Cô giáo Tiến cứ thế bá vai bá cổ bác Trình, cả hai đều bật tiếng khóc. Ân tình gặp lại bao giờ chẳng thế. Cuối cùng thì chị Tiến cũng tìm được người trông coi đền làng mở cửa để chúng tôi cùng bác Trình vào nơi ăn ở xưa của các dũng sỹ diệt Mỹ miền Nam. Căn nhà xây gạch, lợp ngói kiểu dáng xưa tường ngoài đã nhiều chỗ bong vữa, có chỗ gạch đã mủng mọt. Dù vậy, địa phương đã đôi lần cho gia cố phần mái và có ý giữ nguyên hiện trạng để làm kỷ niệm. Nơi ăn ở của Đoàn dũng sỹ diệt Mỹ miền Nam chỉ có vậy, chứ chuyện về cuộc sống với dân làng Đại Lã của hơn 20 chiến sỹ là cả trăm kỷ niệm ân tình ấn tượng rất sâu đậm trong lòng dân. Bác Nguyễn Văn Chì, năm nay bước sang tuổi 80 (nguyên là Phó chủ tịch, rồi Chủ tịch xã Hiệp Cát từ những năm đó đến năm 1984 thì bác về hưu) vẫn khoẻ mạnh nhanh nhẹn và là chính gốc người làng Đại Lã. Từ những chuyện sinh hoạt nhỏ nhất của các chiến sỹ bác Chì đều biết hết. Bác kể, nhớ nhất là cháu Hồ Thị Thu. Lúc về Đại Lã Thu chỉ khoảng 13-14 tuổi mà đã 2 lần lập công đưa bộ đội ta diệt gọn 2 đồn bốt địch. Ít tuổi thế mà cháu Thu cứ kể vanh vách chuyện đánh Mỹ, ai cũng cảm phục... Chuyện của cháu Nguyễn Dũng quê ở Hương Thuỷ - Thừa Thiên Huế từng tham gia đội diệt ác của Mỹ Thuỷ từ năm lên 10 tuổi. Tuổi nhỏ chí lớn, Dũng chính là người dẫn đường cho bộ đội ta phối hợp với du kích địa phương tiêu diệt một tiểu đoàn lính Chư Hầu, 7 xe quân sự và 2 tên ác ôn ngậm máu với nhân dân. Về lại làng Đại Lã hôm nay, nghe chuyện các dũng sỹ diệt Mỹ nhỏ tuổi năm xưa khó mà kể hết. Biết rằng, không chỉ bác Chì, chị Tiến, ông Dụ… mà gia đình nào làng Đại Lã cũng ghi nhận tinh thần và tấm lòng sâu đậm nghĩa tình của họ. Và chính những con người ấy được coi như con cháu quê hương Đại Lã…
Kì 2: Chuyện những dũng sỹ diệt Mỹ ở đoàn 253 - QK3
Trong số những chuyện mà chúng tôi được nghe từ bác Trình, anh Tới, anh Nhơn hay anh Phương có lẽ ấn tượng nhất vẫn là cái tên dũng sỹ diệt Mỹ Hồ Thị Thu. Hình: Chị Hồ Thị Thu ngày ra miền Bắc (1968) “ĐÁNH MỸ - ĐỒNG BÀO MIỀN NAM KHÔNG SỢ CHẾT”
Chị Thu sinh năm 1955, quê ở Xuyên Phú, Nghi Xuyên, Quảng Nam, vốn được chứng kiến cảnh giặc Mỹ tàn sát vô cớ dân làng Xuyên Phú quê hương, chị đau xót và căm phẫn đến tận cùng. Bởi vậy ngay từ lúc còn nhỏ, Thu đã vận động nhóm thiếu niên theo dõi hoạt động của tụi lính trong các đồn bốt giặc để báo tin cho các chú du kích và bộ đội địa phương biết lập phương án tiêu diệt gọn địch. Mới đây, khi được trò chuyện với chị Thu, chúng tôi vẫn không hình dung nổi ở tuổi thiếu niên lúc bấy giờ Thu lại dũng cảm đến vậy. Chị Thu kể, vào đầu năm 1967, khi ấy toàn miền Nam đang bị giặc chà xát mạnh. Mọi sự liên lạc của bộ đội giải phóng với địa phương rất khó khăn. Giữa xã Xuyên Hoà và Xuyên Phú cách nhau một con sông nhỏ thông thương qua bến đò Lõng Bà Tình, coi như đường đi lại của hai bên. Từ lâu đây chính là đường dây đưa cán bộ, bộ đội ta về Xuyên Phú xây dựng cơ sở đánh địch. Thế nào đó mà bọn địch phát hiện ra đường dây liên lạc, liền lập bốt phục kích ngăn chặn. Suốt nhiều tháng liền, ngoài giờ học Thu lại tổ chức một số bạn gái ra khu vực đó chơi, làm quen với bọn lính. Thường thì các bạn vờ hỏi xin đồ chơi con nít, xin đồ ăn và nhổ tóc sâu cho bọn lính để “thân thiện” làm quen. Nhiều lần như vậy, Thu biết bọn lính vào các buổi chiều là ra các ụ pháo lau chùi vũ khí. Có lần các em cố tình theo đến tận nơi ra vẻ vừa chơi, vừa phụ giúp. Dần dần thành thói quen, Thu và các bạn ra vào trận địa của giặc dễ dàng. Một hôm, được các chú du kích và bộ đội địa phương bố trí vào buổi gần chiều tối để Thu và các bạn mang theo cặp sách đến gặp các “chú” lính hàng ngày đã làm quen để xin đồ ăn vì đi học về muộn. Vẫn thái độ thân thiện, các bạn của Thu thi nhau nhổ tóc sâu cho các tên lính giặc. Thu xin đi vệ sinh, rồi bò vào các ụ pháo lấy cát tống vào các nòng súng. 12, 13 ụ pháo gì đó Thu thực hiện khá nhanh và vội vã quay lại chỗ các bạn đang chơi đùa với tụi lính. Đến giờ phải về nhà Thu và các bạn xin phép để các “chú” còn làm việc. Thông tin đó ngay lập tức được báo về đường dây liên lạc của bộ đội chủ lực. Trong đêm, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương cùng du kích liền tổ chức tấn công vào trận địa phục kích của giặc. Bọn giặc triển khai bắn trả, nhưng không thể nào bắn được vì nòng pháo nào cũng có cát. Chúng tháo chạy cũng không kịp, quân ta bủa vây tiêu diệt gọn toàn bộ bốt Lõng Bà Tình. Lần khác, vào cuối năm 1967 cách Xuyên Phú (quê của Thu) khoảng 1km, Mỹ ngụy cho xây dựng một đồn trấn ải mới. Từ khi có đồn, bọn giặc thường giở trò phủ đầu nhân dân trong vùng bằng cách tối nào cũng bắn pháo vào vùng dân. Hôm đó, chúng bắn quả pháo đúng vào một gia đình nhà hàng xóm của Thu làm một bà cụ già chết tại nhà. Thế là chính Thu kêu gọi bà con lối xóm kéo nhau lên đồn đấu tranh. Bọn giặc bị nhân dân phản ứng dữ dội quá, tìm mọi cách dụ dỗ không được, đành phân công người đưa dân về làng để giải quyết tại chỗ. Biết bọn địch đang bị phân tán lực lượng, Thu báo cho bộ đội và du kích rồi trực tiếp dẫn đường các anh đến bao vây đồn giặc. Trận đánh đó bộ đội ta diệt gọn đồn chỉ trong vài giờ đồng hồ. Chính từ chiến công của Hồ Thị Thu, Bác Hồ đã chỉ thị cho Quân uỷ TW đưa một số dũng sỹ diệt Mỹ miền Nam ra Bắc đào tạo làm hạt giống cách mạng. Cuối năm 1968, Hồ Thị Thu cùng với các anh Hồ Văn Mên (Thủ Dầu 1), Ngô Văn Nếp, Đoàn Văn Luyện (Quảng Ngãi), Võ Văn Hường, Võ Phủ (Quảng Nam) và Nguyễn Văn Hoà (Thừa Thiên Huế) đều ở lứa tuổi 13-14 được đưa ra Hà Nội để gặp Bác Hồ. Theo chị Hồ Thị Thu, cuối năm 1968 và đầu năm 1969 chị còn được gặp Bác 2 lần nữa, trước khi được TW đưa sang Liên Xô tham gia vào đoàn tuyên truyền giải phóng Việt Nam tại nước bạn. Sau năm 1973, chị Thu đi học ngành quân y, rồi về công tác tại QK3. Ngày giải phóng miền Nam chị Thu về lại quê hương Đà Nẵng công tác và sống với gia đình ở đó. Bây giờ chị đã về hưu, nhưng tâm khảm của chị luôn biết ơn Bác Hồ, Đảng và Nhà nước, nhân dân miền Bắc từng chăm sóc, nuôi dưỡng chị sống trọn đời với cách mạng…
(Còn nữa) VIỆT HÀ - ĐỨC TÙNG
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Đậu Thanh Sơn
Thành viên

Bài viết: 552
1975 - Mãi mãi là người chiến sỹ SĐ Sông Lam
|
 |
« Trả lời #29 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2012, 03:08:27 pm » |
|
Phước Long đòn “Thăm dò chiến lược”
Hai tháng sau ngày Hiệp định Pa-ri được ký kết, tháng 4-1973, tại Hội nghị San-clem-quit, Tổng thống Mỹ Ních–xơn đã lớn tiếng tuyên bố rằng Mỹ sẽ can thiệp lại nếu miền Nam Việt Nam bị tiến công mạnh. Trong khi chính quyền Nguyễn Văn Thiệu hy vọng và “dài cổ ngóng trông” thì ngày 13-12-1974 ta mở chiến dịch đường 14 Phước Long.
Lúc bấy giờ, giới quân sự Mỹ cho rằng Phước Long là một “cuộc tiến công thử nghiệm”, là “sự thách thức những phản ứng của Mỹ”. Còn đối với ta, Phước Long được coi như một “trận trinh sát chiến lược”. Thắng lợi của chiến dịch này có tầm chiến lược quan trọng, cùng một lúc đạt được cả hai mục tiêu: tiêu diệt sinh lực lớn của địch, giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long, một địa bàn đặc biệt nhạy cảm trong hệ thống phòng thủ phía bắc Sài Gòn và để thăm dò khả năng phản kích chủ lực ngụy cũng như để đánh giá khả năng can thiệp trở lại của Mỹ khi ta đánh lớn. Thắng lợi này là cơ sở thực tiễn, góp phần để Bộ Chính trị, Trung ương Đảng ta hạ quyết tâm chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam một cách kịp thời và chính xác.
Tháng 7-1974, binh đoàn Cửu Long chúng tôi được thành lập trong bối cảnh lịch sử trên chiến trường miền Nam, thế tương quan chiến lược đã có sự thay đổi lớn, nghiêng hẳn về ta, chủ lực của ta đã có khả năng chủ động mở các cuộc tiến công lớn trên một số hướng quan trọng. Tuy nhiên, lúc bấy giờ một vấn đề mang tính chiến lược được đặt ra buộc chúng ta phải cân nhắc là liệu Mỹ có thể can thiệp trở lại miền Nam nữa hay không một khi ta đánh lớn? Đành rằng Trung ương Đảng ta đã phán đoán là Mỹ có khả năng quay lại và khẳng định, nếu có quay lại cũng sẽ không xoay chuyển được tình thế, song đây là một vấn đề mấu chốt được cấp chiến lược quan tâm và theo dõi chặt chẽ trong quá trình hoạch định chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam. Chỉ đến khi chiến dịch đường 14-Phước Long giành thắng lợi thì phán đoán trên mới được sáng tỏ.
Binh đoàn chúng tôi nhận nhiệm vụ trong điều kiện các đơn vị vừa mới tập hợp lại, tổ chức chưa thật ổn định. Song chúng tôi lại có thuận lợi là cả hai sư đoàn chủ lực 9 và 7 đều đã quen thuộc với chiến trường miền Đông và từng hiệp đồng tác chiến với nhau nhiều. Tuy nhiên, trước khi vào trận ai cũng lo bởi đây là chiến dịch đầu tiên của binh đoàn kể từ ngày thành lập. Nhưng rồi sau 25 ngày đêm chiến đấu, những lo lắng đó dần dần bị xua tan.
Sau khi Phước Long bị mất, mặc dầu chính quyền G. Pho cũng có một số động thái phản ứng, như tiếp tục lại các chuyến bay trinh sát tại không phận Bắc Việt Nam, xin quốc hội Mỹ bổ sung viện trợ cho chế độ Sài Gòn. Các phương tiện truyền thông và bộ máy tâm lý chiến tung tin các chiến hạm ở Su-bích, lính thủy đánh bộ ở Nhật Bản… được lệnh chuẩn bị động binh trở lại Việt Nam… Nhưng rốt cuộc vẫn chỉ là những “cú đòn gió”. Mọi hy vọng của chính quyền Thiệu tan biến khi người phát ngôn của Nhà Trắng chính thức tuyên bố: “Tổng thống Pho không có ý định vi phạm những điều cấm (của Quốc hội) về việc sử dụng lực lượng quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam”. Rõ ràng là “Sự kiện Phước Long” cho thấy Mỹ không dễ gì can thiệp trở lại Việt Nam dưới bất cứ hình thức nào để cứu chế độ ngụy.
Chiến thắng Phước Long là niềm tự hào không chỉ riêng của cán bộ, chiến sĩ binh đoàn Cửu Long mà còn của quân và dân miền Đông Nam Bộ, bởi nó diễn ra trong một thời điểm lịch sử nhạy cảm, thời kỳ cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ (ở đầu mùa khô 1974 – 1975), trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975. Chiến dịch đường 14-Phước Long thể hiện những nét đặc sắc về nghệ thuật quân sự mà lúc bấy giờ ngay cả anh em cán bộ chỉ huy chúng tôi cũng chưa thấy hết. Đó là vấn đề chọn địa bàn mở chiến dịch đúng. Phước Long là một địa bàn rộng, dân cư ít, hệ thống phòng ngự của địch có nhiều sơ hở, thiếu tính liên hoàn để chi viện cho nhau, khả năng chi viện của quân đoàn 3 ngụy cho Phước Long rất hạn chế, vì cả hai tuyến quốc lộ 13 và 2 đã bị ta cắt đứt. Hơn nữa, Phước Long chỉ cách Sài Gòn khoảng 100km, lại án ngữ trên tuyến hành lang chiến lược vận chuyển Bắc-Nam. Nếu chiếm được Phước Long sẽ tạo ra bàn đạp uy hiếp Sài Gòn từ hướng Tây Bắc.
Đó là vấn đề chọn hướng tiến công chính xác và chọn mục tiêu đúng. Trong số 3 mục tiêu chiến lược quan trọng: Bù Đăng-Đồng Xoài-Phước Long thì việc chọn Bù Đăng để tiến công trước là hoàn toàn sáng suốt, mặc dầu xét về lý thuyết thì tiến công Đồng Xoài trước có vẻ thuận lợi vì mục tiêu này ta đã có sự chuẩn bị kỹ, hơn nữa đánh Đồng Xoài sẽ nhanh chóng phá được thế phòng thủ quốc lộ 14 của địch. Trong chúng tôi lúc bấy giờ, nhiều người cũng nghĩ như vậy. Tuy nhiên, để đánh được Đồng Xoài cần phải huy động một lực lượng lớn (cả người và vũ khí) trong khi yêu cầu của chiến lược lúc bấy giờ là để bảo đảm yếu tố bí mật, bất ngờ không được bộc lộ lực lượng sớm, phải hết sức tiết kiệm vũ khí (đặc biệt là đạn pháo) phải vừa đánh vừa thăm dò khả năng phản ứng của địch. Chính vì vậy mà Bộ Chỉ huy chiến dịch đã quyết định đánh Bù Đăng trước, mặc dù chưa có sự chuẩn bị kỹ cho mục tiêu này. Đây là một cứ điểm bị cô lập, đường bộ không đến được mà đường không thì ở xa, địch khó có khả năng chi viện lớn. Thực tế đã chứng minh sự lựa chọn này là hoàn toàn chính xác.
Đó là vấn đề nghệ thuật chỉ đạo, chỉ huy chiến dịch linh hoạt và sáng tạo mà cụ thể là vấn đề sử dụng lực lượng hợp lý, vận dụng thích hợp các hình thức chiến thuật khi đánh địch trong thị xã và phòng ngự kiên cố trong công sự vững chắc. Trước khi chuẩn bị chiến dịch này, ta chưa dự kiến hết tình huống giải phóng toàn tỉnh Phước Long. Tuy nhiên, đánh chiếm Bù Đăng, thời cơ mới mở ra, ta lập tức triển khai ngay kế hoạch đánh Đồng Xoài khi mà cuộc chiến ở đây chưa kết thúc. Tương tự như vậy, khi số phận Đồng Xoài sắp được định đoạt thì ta cho triển khai kế hoạch đánh Phước Long. Việc “đón trước thời cơ” như vậy đã làm cho quân ngụy liên tục bị bất ngờ và bị động đối phó.
Chiến dịch đường 14 – Phước Long là thước đo trình độ tác chiến và nghệ thuật tổ chức thực hành chiến dịch của chủ lực ta ở thời điểm lúc bấy giờ. Nó cho chúng ta và cả những đơn vị chủ lực khác những kinh nghiệm quý về cách đánh địch trong thành phố, thị xã! Về công tác tổ chức bảo đảm hậu cần, vũ khí cho một chiến dịch lớn. Ở tầm chiến lược, chiến thắng đường 14-Phước Long đã chứng minh cho sự suy yếu rõ rệt của quân ngụy và làm sáng tỏ “khả năng không thể can thiệp lại” của Mỹ đối với miền Nam Việt Nam.
Chiến thắng này là cơ sở thực tiễn để chúng ta tiếp tục hoàn thiện kế hoạch chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam nhanh hơn, phù hợp với sự phát triển của tình hình
(Nguồn Báo QĐND năm 2005)
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Năm, 2012, 03:58:53 pm gửi bởi Đậu Thanh Sơn »
|
Logged
|
|
|
|
|