@bác Trịnh Văn Quang, công tác tại Hội CCB huyện Hàm Tân, Bình Thuận: về trường hợp hy sinh của liệt sỹ nhà bác, em có ý kiến thế này:
1. Xác định thông tin đơn vị của Liệt sỹ:
- đầu tiên phải khẳng định rằng: thời điểm LS hy sinh, F9/sư đoàn 9 không có tiểu đoàn pháo binh 27/D27; còn trung đoàn pháo binh 42/E42 thì đến năm 1974 mới có chính thức. Cái này em đã viết ở bài trước cho nhà bác dovuphong, bác có thể xem lại
ở đây.- vậy tiểu đoàn 27 trung đoàn 42 theo như công văn trả lời của BCS sư đoàn 9 thông báo thì nó là cái gì, tại sao lại như vậy?


hì, chửa có tài liệu chính thống về đoàn pháo binh 75 Biên Hòa, em chứng minh tạm bằng thống kê của "mẽo", bác nào có thì xem/ tra giúp nhé,

Vậy là bác Quang có thể thấy rất rõ, đoàn 69 hay còn gọi là đoàn pháo binh 75 Biên Hòa/ hoặc mật danh tại thời điểm Mỹ thống kê là Đoàn Đông Hà có trung đoàn 42/ E42 và tiểu đoàn 27/D27.
Giải thích về điều này thì đơn giản là hai từ
phối thuộc, Miền điều thêm các đơn vị hỏa lực đi cùng/ tăng cường cho các sư đoàn chủ lực tại các mặt trận trọng điểm theo từng giai đoạn. Vậy thì người ta hiểu lúc đó tiểu đoàn 27 thuộc trung đoàn 42 phối thuộc cho sư đoàn 9 nên ghi thông tin như vậy, không có gì là lạ,

.
2. Sư đoàn 9 khoảng thời gian đó:
- Câu trả lời này hơi vướng một chút, cần phải phân biệt rất rõ,

- Đầu những năm 1971, khi Mỹ ngụy ra sức "hà hơi" cho tập đoàn phản động Lon Nol, quyết tạo "gọng kìm lớn" từ hai phía trên chiến trường Đông Bắc K. Một mặt, Mỹ ngụy tung lực lượng cơ động mạnh/ lớn đánh phá quyết liệt, đẩy các đơn vị chủ lực của ta ra xa biên giới, bằng mọi cách phá hủy các kho tàng và chân rết của các đoàn hậu cần Miền. Mặt khác, thúc giục tập đoàn Lon Nol quấy phá, chặn đánh các hướng mở của đoàn 559 vòng từ Lào xuống; cản trở quá trình giao - nhận của đoàn 559 với các đoàn hậu cần Miền. Có thể kể ra ở đây chiến dịch "Toàn Thắng 1/1971".
- Trước nguy cơ đó, để đối phó lại, BTL Miền đã thành lập ngay Đoàn 301 (tháng 3/1971) với lực lượng gồm sư đoàn bộ binh 5, 7, 9; trung đoàn 28 pháo binh, tiểu đoàn 12 súng máy cao xạ và nhiều đơn vị binh chủng, phục vụ khác nhằm thống nhất chỉ huy tác chiến, tập hợp một lực lượng mạnh sẵn sàng đón đánh địch trên đường số 7 (nhất là đoạn Chup, Krêck/ Phum Krek, Pra-chiếc, Kha-na, Pô-nô-rây)

- Thời điểm LS hy sinh 01/10/1971:
Ngày 20 tháng 8 năm 1971, chúng huy động 50 tiểu đoàn, nhiều xe tăng, xe bọc thép, pháo binh, tàu chiến... mở cuộc “hành quân Chen-la 2” ở đông nam Cam-pu-chia. Mục tiêu chính của cuộc hành quân là giành quyền kiểm soát đường số 6, chủ yếu là đoạn đường dài 50 ki-lô-mét từ Tăng-cốc đến thị xã Công Pông Thom; chiếm vùng đồng bằng rộng lớn đông dân giàu lúa gạo thuộc hai tỉnh Công Pông Chàm, Công Pông Thom để vơ vét lương thực, bắt lính, gây khó khăn cho lực lượng cách mạng Cam-pu-chia; đồng thời nhằm chia cắt hành lang của ta từ đông sang tây, đánh phá hậu phương và phá kế hoạch chuẩn bí của ta cho mùa khô 1971 - 1972. Mỹ trực tiếp chỉ huy cuộc hành quân này, sử dụng không quân, kể cả máy bay chiến lược B52 yểm trợ hỏa lực cho quân ngụy Lon-non, quyết giành thắng lợi cho cuộc hành quân mà chúng coi là điển hình của chương trình “Khơ me hóa chiến tranh”.
Từ ngày 20 tháng 8 đến ngày 26 tháng 10, lực lượng tại chỗ của ta và quân dân nước bạn đã liên tục chặn đánh, tiêu hao một số sinh lực địch, làm chậm kế hoạch hành quân của chúng.
Ngày 1 tháng 10 năm 1971, Quân ủy và Bộ chỉ huy Miền quyết định mở chiến dịch phản công ở khu vực đường số 6, đánh bại cuộc “hành quân Chen-la 2” của địch. Lực lượng tham gia chiến dịch có sư đoàn 9, hai trung đoàn 205 và 207 bộ binh và một số đơn vị binh chủng.
Tháng 10 ở Cam-pu-chia đang là cuối mùa mưa. Nước sông Mê Kông và các kênh rạch còn lớn. Hai bên đường số 6 là các cánh đồng ngập nước. Địa hình trống trải thuận tiện cho quan sát nhưng có nhiều trở ngại cho việc cơ động lực lượng, dấu quân, triển khai chiến đấu. Nhân dân Khơ Me ở thành từng cụm. Trong các phum, sóc nằm ven đường số 6 đều có quân ngụy Lon-non đóng chốt. Có nơi lực lượng địch đông tới một tiểu đoàn. Ở các thị trấn, các đầu mối giao thông quan trọng địch đóng sở chỉ huy lữ đoàn và từ ba đến năm tiểu đoàn bộ binh, có trận địa pháo từ hai đến bốn khẩu, có xe thiết giáp lội nước… Ngoài quân chính quy, ngụy quyền Lon-non còn tổ chức lực lượng phòng vệ dân sự có trang bị súng. Ở một số phum, lực lượng này đông tới trên 100 tên.
Sau khi nhận nhiệm vụ sư đoàn đã hành quân rất khẩn trương. Dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân, sư đoàn đã cho trinh sát đi trước nắm tình hình, tổ chức tốt việc vượt sông Mê Kông và bí mật vượt qua các cánh đồng trống trải, qua hệ thống bố phòng dày đặc của địch, đưa đội hình lớn về tập kết ở khu vực tác chiến chiến dịch đúng thời gian quy định.
Ngày 27 tháng 10, sư đoàn triển khai lực lượng vây ép và đồng loạt nổ súng tiến công các cứ điểm nằm trong hệ thống phòng thủ của hai lữ đoàn 46 và 61 từ bắc Tan Kul đến Rùm Luông, và đông Rùm Luông đến Krianđét. Trung đoàn 2, dưới sự chỉ huy của trung đoàn trưởng Di Thiện Tích và chính ủy Lê Giao tiêu diệt tiểu đoàn 377 quân ngụy Lon-non, chia cắt đội hình hành quân Chen-la 2 của địch ở phía bắc, đoạn Ba Rài - Rùm Luông và vây ép lữ đoàn 46 địch. Trung đoàn 3 dưới sự chỉ huy của trung đoàn trưởng Phạm Kim tiến công cứ điểm An-đông-pô, chia cắt đội hình hành quân Chen la 2 của địch ở phía nam, đoạn Kreul - Rùm Luông. Trung đoàn 1 dưới sự chỉ huy của trung đoàn trưởng Quách Mười và chính ủy Trần Văn Thiệt vây ép lữ đoàn 61 ở Krianđét. Bị ta đánh mạnh, đồng loạt và bất ngờ, đội hình hành quân của địch bị chia cắt thành ba khúc, giao thông vận chuyển từ phía sau lên bị đình trệ, việc chỉ huy hành quân của địch bắt đầu rối loạn. Mỹ phải sử dụng không quân (60 đến 70 lần chiếc xuất kích trong một ngày) ném bom ngăn chặn và đôn đốc bộ tổng tham mưu quân ngụy Lon-non đưa lực lượng lên giải tỏa. Đại đội 1 (tiểu đoàn 1, trung đoàn 1) chốt chặn phía nam Rùm Luông, đại đội 1 (tiểu đoàn 4, trung đoàn 2) chốt chặt phía bắc là vùng đồng trống, công sự sơ sài. Nhưng cả hai đơn vị đã kiên cường trụ bám dưới hỏa lực bom pháo ác liệt, đánh lui hàng chục đợt phản kích của các lữ đoàn 48, 25 và 20 thuộc lực lượng dự bị cơ động của quân ngụy Lon-non lên tăng viện. Bị đánh mạnh và bất ngờ, ngày 12 tháng 11, lữ đoàn 46 ở Rùm Luông và Triel tháo chạy. Bộ đội ta nhanh chóng chuyển sang truy kích, diệt hầu hết quân địch, bắt trên 1000 tên, thu toàn bộ xe, pháo, súng, đạn. Rùm Luông và Triel được giải phóng. Đoạn đường số 6 dài từ Pha-đa đến Tankok do ta làm chủ.
Vậy đấy, để phá cuộc hành quân Chen La 2 của địch, F9 và một số đơn vị
đã phải vào sâu đất Kampuchia.
Ngày LS hy sinh là ngày BTL Miền quyết định chiến dịch, hẳn là một số đơn vị binh chủng, do đặc thù về hỏa lực vẫn đang trong quá trình chuẩn bị cho chiến dịch, nên vẫn còn ở đất ta hoặc giáp ranh biên giới.3. LS hy sinh ở đâu? cầu Cần Te ở chỗ nào?
- hai cái vòng tròn đỏ, trong đó Prék Cầm Te (suối) - hẳn là có cầu bắc qua,

. Phiên âm Cần Te được đọc chệch từ Cầm Te mà thôi,

Bác Quang vào khu vực này cầy nát ra rồi, lạ gì nữa đúng không ạ? có cần phải chỉ rõ trên bản đồ hành chính không bác?