*** TRẬN ĐÁNH ĐẦU TIÊN.
Ngày thứ hai trên chốt.
Sáng, địch tấn công dữ dội cả bốn hướng.Cả C9 chúng tôi như nằm giữa cái cối giã giò. Hầm chữ A của tôi lung lay như đưa võng.Đạn B40,B41,M79,
pháo các loại cứ nhằm đơn vị tôi mà rót tới.Tiếng hô “xung phong” của lính Miên vang dậy cả rừng sâu.
Anh lệnh cho tôi:
- Chú ý hướng hố bom.
Ngay lúc đó, tôi thấy thoáng bóng một tên áo đen.Tôi hét. Địch.
Anh đưa RPĐ cho tôi, bảo tôi quýet đi.Tôi nhằm tên áo đen kéo cò.Súng nổ một dây dài thì tắc.Tôi trao súng cho anh sửa và vội cầm lấy khẩu Ak của mình, tôi quỳ xuống mép cửa hầm ngắm vào bên một gốc cây mà tôi nghi ở đó có địch.Súng nổ được mấy viên thì cũng tịt nốt.Anh gắt, những lúc không có địch thì lau chùi súng đi.Nhớ không để cát rơi vào.Nghẹn đấy.
Tôi đang lóng ngóng kéo que lát để lấy vỏ đạn ra thì nghe anh hét:
- M…i…ê…n…Miên.Một thằng.Kìa,một thằng nữa.
Nhìn theo tay anh chỉ, tôi thấy một thằng Miên đi chân đất đang lò dò xuống hố bom.Anh gạt tôi ra, bò lên miệng hầm, đứng thẳng người tung quả lựu đạn về phía trước.Ném xong anh nhảy ngay xuống cửa hầm.Một tiếng nổ khô khốc vang lên. Nước, bùn, đất vung lên tung tóe.
Anh ra hiệu cho tôi:
- Ném đi.Ném đ…i…đi…
Tôi loay hoay tháo lựu đạn ra khỏi thắt lưng nhưng không tài nào tháo được(Vì khi hành quân tôi đã cột chặt mỏ vịt lại). Chợt thấy trên miệng hầm có ba quả lựu đạn đặt giăng giăng. Tôi chộp lấy một quả.Lượng thấy sức mình không ném tới hố bom được.Tôi đánh liều nhảy lên miệng hầm, bò thêm một đoạn nữa và ném quả thứ hai xuống đó.Một tiếng nổ “ầm” vang lên.Chúng tôi cố gắng lắng nghe, nhưng tuyệt nhiên không hề nghe một tiếng động nào từ hố bom vọng lại.Anh nói với tôi, nó tiêu rồi.Cao hứng, tôi nâng Ak nhằm phía vừa có tiếng xung phong, bóp cò.Sau loạt súng vụng về của anh tân binh.Hầm tôi hứng trọn một chầu đạn, đủ các loại. Từ bên kia hố bom, súng AK bắn xối xả về phía chúng tôi.Rồi cối sáu mươi, M79 cấp tập vào trận địa. Đã mấy lần anh đè đầu tôi xuống để tránh đạn.Nhưng lần này thì chậm mất rồi.Tôi thấy trán mình ươn ướt.Tôi đưa tay lên sờ, rồi giơ ra trước mặt. Máu.
Anh bảo, mày bị thương rồi đưa anh băng cho. Rất may, mảnh đạn M79 chỉ nhỏ bằng nửa hạt ngô, xuyên qua mũ cối thủng da đầu.Nhẹ thôi.
Bắn chán tay rồi bọn Miên cũng ngừng.Chỉ có “xung phong” bằng mồm thôi.Chẳng thấy thằng nào bò lên nữa.
Tôi thấy mệt mỏi và rất khát nước. Các bạn biết đấy, từ trưa qua đến giờ tôi mới ăn chỉ nửa cục cơm và chưa uống hớp nước nào.Tôi không đói nhưng khát quá.
Sau trận tập kích ấy, trên mặt đất lá rừng bén lửa cháy rầm rầm. Cả trận địa như nằm trong cái chảo lửa khổng lồ.Hầm tôi chẳng khác gì một lò lửa, đầy khói bụi và mùi thuóc súng nồng nặc.
Không thở được , tôi xách Ak chaỵ ra giao thông hào.Giao thông hào cũng đang cháy. Tôi chạy sang hầm anh Đệ, thấy thằng Sáng mình cởi trần đang vùi trong cát. Nó bảo, trong người bây giờ bôn đồn lắm. Điên mất.Còn anh Đệ thỉnh thoảng bò ra mép hầm giơ súng lên bắn vu vơ mấy viên, như ngầm bảo với quân Miên rằng bọn tao đang sống. Còn lâu mới chết.
Bọn giặc lửa đi qua, tôi trở lại hầm.
Cơn khát nước và cơn thèm thuốc lào nó hành hạ tôi.Tôi lục tung ba lô để tìm thuốc và diêm. Quái, sao chẳng thấy đâu.Tôi lắc hết bi đông này đến bi đông khác, chiếc nào cũng khô khốc, chẳng có giọt nước nào. Tôi bò ra cửa hầm phía trước, tìm thấy một chiếc bi đông nhựa.Cầm lên lắc lắc. Nghe tiếng lách sách.Nước.
Tôi luống cuống mở nắp,tu ngay một ngụm. Nhưng tôi vội nhổ nó ra ngay , vứt bi đông vào góc hầm.
- Đ…mẹ! Nước đái.
Tôi gắt B trưởng. Sao anh đái vào bi đông của em? B trưởng nhìn tôi cười. - - Đái vào đó mà uống chứ sao!
Tôi hoảng hốt:
- Uống nước đái?
Anh nói với tôi:Thế mày chưa uống nước đái à? Mày chịu khát giỏi đấy . Còn anh mày đã uống từ chiều hôm qua rồi.Anh nói với tôi, phải đái vào đấy để mà uống dần, sợ đến lúc không còn nước đái nữa mà uống chú em ạ.Tôi chui tọt vào hầm chẳng đáp lời anh.
Thưa các bạn!
Cái lẽ thường tình, cái gì mà ta cố quyên nó đi thì nó lại càng quay trở lại dày vò, tấn công ta. Tôi khát đến cháy cổ, cháy họng. Trong người như có lửa đốt .Trong khi ngồi gác , tôi nhìn lên cây trám nhỏ bên miệng hầm Tôi phát hiện thấy một quả trám. Không biết quả trám ấy xanh hay chín. Nhưng tôi nghĩ nếu hái được nó, ăn chắc đỡ khát lắm.Tôi định trèo lên hái.Nhưng sợ địch phát hiện “tỉa” tôi rụng, nên thôi. Ngồi gác mà mắt không rời quả trám.Cuối cùng tôi tính liều. Lấy AK bắn vào cuống cho nó rụng.Nghĩ là làm. Tôi đưa Ak lên ngắm và nổ súng.Tôi làm liền hai viên.Nghe tiếng súng, B trưởng vọt dậy ngay.Miên à?Tôi bảo không.Vậy sao mày lại bắn? Tôi im lặng. Anh mắng:Mày muốn bắn lắm à? Muốn chết à?
Sau này nghĩ lại việc này, tôi thấy buồn cưới vô cùng.Tôi là thằng tân binh, không phải là thiện xạ, lại đòi bắn một quả trám bằng quả trứng gà cách mình những năm mét.Gía như có bắn trúng đi chăng nữa thì quả trám ấy cũng nát bét còn gì nữa mà ăn.Nhưng khát quá hóa rồ phải không các bạn?
Tôi lấy bi đông của mình ra. Đái vào đó và uống. Tôi nhắm mắt nhắm mũi, nhím từng tí một , cho lưỡi ươn ướt là được.Tôi không thể tả hết với các bạn cái “hương vị” đặc trương của nó.Nước đái để trong bình tông đậy kín, lại đặt dưới nắng nóng, khi mở nắp ra là phải quay mũi đi ngay.Nó khai không tài nào chịu nổi. Nhưng muốn sống thì phải uống.Uống nhiều lần thành ra nước đái nhạt dần không còn khai như lúc đầu nữa.
Thôi, bây giờ tôi không nói về chuyện thưởng thức thứ đặc sản này nữa mà xin kể về một cơn thèm khát khác. Đó là thèm thuốc lào.Nếu cơn khát nước nó hành hạ tôi khổ sở bao nhiêu, thì cơn “khát” thuốc lào nó cũng hành hạ tôi khổ bấy nhiêu.Tôi muốn sang anh Đệ xin một điếu thuốc lào mà không có cách nào để đi.Tôi nói với B trưởng:
- Em nghe người ta nói,khi khát nước, ngậm một hạt muối cũng đỡ khát anh ạ.Anh cho em sang hầm bên xin hạt muối(Thực ra là xin thuốc lào).Anh bảo mày đi đi.
Tôi chạy sang anh Đệ, xin được một điếu thuốc lào nhưng lại không có diêm.Đành tiu nghỉu quay về hầm.Nhịn vậy
Màn đêm buông xuống, tiếng súng thưa thớt dần.Mặt trận khá yên tĩnh.Một lúc sau, liên lạc chạy lên thông báo. Đường vẫn chưa thông.Cơm nước vẫn chưa tiếp tế được. Đại đội chỉ thị tu sửa hầm hố, kiểm tra đạn dược. Ngày mai có thể địch sẽ tấn công ác liệt hơn.
Tôi hỏi liên lạc, ở dưới ấy có thuốc và diêm không?
- Có.
Tôi xin B trưởng và theo liên lạc đi xuống hầm đại đội.Liên lạc cho tôi một điếu thuốc rê và bao diêm.Tôi ra ngay mép thông hào châm lửa hút. Anh em xung quanh mắng cho tôi một trận.Mắng cũng chẳng sợ. Thèm là hút cái đã. Tôi chui vào một cái hầm bò, kéo một hơi rõ dài, nhưng chẳng thấy ngon lành gì cả.Miệng đắng ngắt.
Tôi phả khói mù mịt.Tiếng ho sặc sụa của một ai đó trong căn hầm vang lên.Liên lạc chạy lại kéo áo, lôi tôi ra.Này biết đây là đâu không? Hầm thương binh đấy.Toàn là bọn bị sức ép cả, thở không được. Sao cậu vô ý thế.
Tôi quay về hầm của mình. Đêm thứ hai trên chốt trôi qua bình yên.
Ngày thứ ba trên chốt. Chúng tôi bị thức giấc bởi tiếng xe tăng gầm rú ở phía D5. Súng 12 ly 8 nổ toang toác trên đầu. Rồi pháo lớn, pháo bé của ta cấp tập vào trận địa của địch. Tiếng hô xung phong của quân ta vang động cả núi rừng.Nghe thật sướng lỗ tai.
Sau này chúng tôi được biết, để tiêu diệt trung đoàn 52 anh hùng,địch đã huy động ba trung đoàn bộ binh thiện chiến.Với một tham vọng độc ác, diệt cho bằng được trung đoàn 52.Vì vậy, chiến dịch Tà Nốt, ta thương vong nhiều. Xê chín, trước khi chúng tôi vào chỉ còn lại trên vài chục tay súng.Và lần này trung đoàn đã huy động ba chiếc xe tăng và tiểu đoàn bộ binh số 5 đánh vận động giải vây cho C9.Trận đánh của D5 kéo dài cho đến chiều.Trong trận đánh này, ta đã đuổi được địch lùi sát biên giới, nhưng ta hy sinh cũng lắm. Ba chiếc xe tăng thì cháy mất hai, còn một.
Ngày thứ ba thật yên tĩnh.Chỉ có cơn khát nước và thèm thuốc lào nó hành hạ tôi mà thôi.
Tối đến, khi tôi đang ngồi gác thì B trưởng gọi tôi ra ngoài giao thông hào đưa cho một bát nước. Cầm bát nước trên tay mà tôi sướng cả lòng.Tôi tu một hơi hết nửa bát.Tôi có cảm giác nham nhám, nhầy nhầy ở trong miệng, thì ra là bùn.Nói là nước nhưng thực ra là một bát nước bùn loãng, đem ngòm.Tôi hỏi B trưởng lấy đâu ra thứ của quí này. B trưởng nói: Đêm qua, đại đội đào giếng trên chốt để lấy nước.Đây là nước múc lên từ cái giếng ấy đấy. Tôi cố gắng tu nốt nửa bát còn lại và xin thêm bát nữa.B trưởng nói, hết rồi. Anh cũng được một bát như chú mày thôi(?).
Khoảng mười giờ đêm, liên lạc chạy lên thông báo:
- Rút quân.Đường đã thông.Bàn giao chốt cho đơn vị mới( Sau này chúng tôi được biết đơn vị vào thế chân chúng tôi là sư 311.Sư mới thành lập).
Chúng tôi thu xếp đồ đạc, súng ống, ba lô theo giao thông hào về sở chỉ huy.Chúng tôi đi trong im lặng. Ra đến đường lớn cả đai đội dạt vào hai bên đường ngồi nghỉ.
Bọn vận tải mang nước và lương khô đến. Lúc đó, thằng cu Tư Nghi Kiều, bạn thân nhất của tôi chạy lại ôm lấy tôi, sờ nắn khắp người tôi. Khi thấy đầu tôi quấn băng trắng, hắn cười .Tao tưởng mày chết rồi cơ đấy.Nó đưa cho tôi một bình tông nước lạnh. Tôi nói với nó.ba ngày nay tao không ăn cơm, không uống nước, chỉ uống toàn nước đái thôi à.
Tôi uống gần hết một bi đông nước. Uống xong tôi thấy người mệt lả và ngồi khụy xuống đó.Thằng Tư lấy cho tôi một bánh lương khô, tôi nhấp một chút rồi nằm vật ra đường.
Xe cứu thương đến. Tôi tạm biệt bạn bè, đồng đội, tạm biệt thằng Tư, tạm biệt D6 thân yêu. Tạm biệt chốt Tà Nốt, tôi lên xe đi quân y viện.
Thưa các bạn cựu chiến binh.
Tôi chỉ ở C9,ở Tà Nốt chỉ có ba ngày ba đêm. Khuôn mặt của anh em lính cũ C9, tôi không biết ai, ngoại trừ anh B trưởng đáng mến của tôi. Hình như tôi chưa kịp hỏi tên anh. Hỏi thăm quê quán của anh.Cuộc chiến đấu gian khổ và đầy ác liệt đã cuốn hút anh em chúng tôi.Đến nỗi chẳng có một chút thời gian nào rỗi để hàn huyên tâm sự.Nhưng hình ảnh của anh đã in đậm trong trái tim tôi. Những bài giảng trên chốt của anh, tôi thấy không được nhắc đến trong bốn tháng huấn luyện ở Dục Mỹ, Phú Khánh.Sau này ra viện, tôi không trở lại C9, thành ra tôi cũng không gặp anh nữa. Không biết trong cuộc chiến gian khổ ấy anh còn hay mất. Những anh em tân binh nào may mắn được ở bên anh như tôi.
Viết đến đây tôi cảm thấy lòng mình nhẹ hơn, nhưng vẫn chưa trút được gánh nặng .Bởi vì trước mắt tôi đang là một cuốc chiến đấu đầy cam go, ác liệt, đầy máu và hoa.
Những điều tôi viết ra đây hầu các bạn hoàn toàn chân thật không tô vẽ, thêm thắt. Bởi vì hơn ba mươi năm nay, năm nào hội lính 15. 11.1977 của chúng tôi cũng gặp mặt để ôn lại kỉ niệm xưa. Trận chiến đấu trên chốt tiền tiêu Tà Nốt này, bạn bè, con cái , cháu chắt chúng tôi đã thuộc lòng.Mỗi khi chúng tôi nói chuyện, các cháu lại bảo: Bố sắp kể chuyện cổ tích đấy.
Không. Nó không phải là cổ tích. Không có yếu tố hoang đường kì ảo. Thật một trăm phần trăm .
Chúc các đồng chí cựu chiến binh mạnh khỏe, hạnh phúc. Hẹn gặp các đồng chí trong trận Lò Gò - Suối Đa Ha.