Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:21:56 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bên kia biên giới  (Đọc 47084 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #10 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2012, 09:31:31 am »

*

Cơn bão sầm sập đổ xuống rừng đêm như vô vàn chiếc ô-tô phóng nước đại trên ngọn cây, cùng rít còi một lần. Gió bẻ những cành bằng bắp đùi gẫy nghiến, dứt tung mạng dây leo chằng chịt đang cố níu giữ cành cây quật cả khối gỗ dây lá ấy xuống mái lều. Gió cuộn từng thác lá ùa dưới rìa mái tranh, tốc ngược lên đầu những người đang chống bão. Chớp trừng mắt xé bóng đêm từng vệt lằng nhằng, soi lên mặt họ. Những khuôn mặt nhợt nhạt điểm hai chấm mắt đen vụt lóe trắng bệch rồi biến từng loạt.

Hai tay đánh đu giữ mái nhà đang rung bần bật chực bay, Tiến gào khản cổ: “Mộc! Ném con dao! Con da-a-ao!”. Gió nuốt tiếng gọi, chỉ đánh rơi một mẩu a- ao cuối cùng. Mộc ném đến con dao Mỹ to bản. Tiến chặt đoạn dây leo chờn vờn bên rìa tranh, buộc chằng mái nhà xuống một rễ cây. Rồi anh nhặt dao, chạy ra rừng. Tiếng kêu thất thanh đằng sau: “Đừng ra, bể đầu!”

Tiến mò mẫm chặt hai cây nạng chống thật chắc. Cành gẫy bay ngang rần rật trên đầu như đàn khi bị phường săn đuổi. Vào nhà chống xong cột, Tiến lại lao ra rừng tìm dây. Một cành rơi hất anh ngã ngồi xuống đất, ống xương chân đau nhói. Mé sau lều bỗng dậy tiếng răng rắc, soàn soạt kéo dài. Khối lá đen ngòm trên mái nhà rung rinh, lác đầu, ngả dần về một bên, hằn rõ trên nền trời loe lóe ánh chớp. Tiến rú lên:

- Nằm xuống! Cây đổ!

Cành lá vướng nhau, giây leo níu nhau, cả cụm rùng vặn mình theo cây đổ. Một con nhím vọt qua trước nhà, tiếng hục hục khiếp đảm tan nhanh. Tiến nép dưới một mô đá ong, nghe rõ tim đập dồn, đập dồn. Anh em mắc chẹt trong lều. Nguy mất...

Cây quật xuống.

Tiếng nổ như mìn nặng chuyển đất dưới ngực Tiến. Rừng dội lên rùng rùng, vọng lại từng đợt. Mái nhà vênh một góc còn khẽ đu đưa. Tiến đâm bổ vào lều, chưa dám tin mình thoát nạn. Tiếng rên ngạt thở trong tối, một thân hình khẽ quẫy dưới cành con bằng bắp tay. Tiến chặt phầm phập, nghĩ rất nhanh: thằng An chưa việc gì... Anh ném dao, bẻ cành gẫy rời, luồn tay xốc lên một xác chết mềm nhũn, đôi mắt mớ to không động đậy.

Bên ngoài gió vẫn rít lên điên cuồng.

Nửa giờ sau, bão ngớt dần rồi tắt hẳn. Lửa cà- boong soi trên phên những hình thù nhảy nhót. Tiến ngồi bó gối trên một góc sạp, lạnh run. Anh em lầm lỳ thay quần áo, thỉnh thoảng liếc sang xác An nằm trên đầu sạp bên kia. Trên khuôn mặt bụ bẫm của Huy còn một ngấn nước mắt chưa ráo.

Tiểu đội phó Thiết nhắc lau súng với giọng cố giữ bình thường. Anh bước lại rút tất cả đồ đạc lặt vặt trong túi An, đặt trên tấm khăn dài giữa sạp. Một đồng hào ván cũ rơi ra. An thường kể sự tích hào bạc của chị cho làm kỷ niệm từ lúc mới sinh đến giờ ai đánh gió cho An cũng chỉ dùng đồng hào ấy. Thiết rón tay nhặt nó lên, lật xem hai mặt bạc cáu bẩn, rồi lặng lẽ bỏ vào túi An, đóng cúc cẩn thận. Nhưng ngón tay chuối mắn hơi run.

Anh hỏi Tiến:

- Báo cáo anh cho chôn?

Tiến chỉ gật đầu không đáp. Anh đang chăm chú theo dõi đôi mắt của Mộc-cóc. Mộc nhìn An chăm chăm... nhưng không nhìn khuôn mặt tím bầm của An mà chỉ dán mắt vào tấm võng ka-ki mới, sắp dùng để liệm. Mộc không có võng. Đến nơi nào không kịp làm sạp Mộc đành lót lá chuối nằm trên đất ướt và đá ong, ho sù sụ suốt đêm...

Bỗng nhiên tim Tiến bóp lại, đau đến nghẹn thở. Anh thương An thương Mộc, thương tất cả các bạn chiến đấu đói khổ không tả xiết.
Nạn đói cơm đói muối kéo dài đằng đẵng. Nồi cháo loãng chia mỗi người một ca nhỏ cầm hơi, chỉ nhâm nhẩm vị mặn. Chỉ còn măng luộc ăn nhạt qua ngày, đợi đến mùa lúa mới. Đói sinh trăm bệnh. Ghẻ kềnh ghẻ càng từ đầu đến chân, bàn tay không nắm lại được. Mắt mờ dần, đâm ra quáng gà. Tay chân phù to như chĩnh, chỉ bước nổi khi địch ập đến đuổi bắn. Một hôm Tiến sầm sầm về gặp đồng chí ủy viên ban cán sự khu yêu cầu giải quyết gạo cho B.8. Nhưng ăn xong bữa măng với đồng chí, Tiến lắc đầu trở về đơn vị.

Tiến nuốt cái gì vướng cổ, bảo Thiết:

- Lấy chăn Mộc mà liệm... cũng được.

Mộc quay mặt đi như người phạm tội bị bắt quả tang. Thiết ngần ngừ bảo Mộc: “Đưa chăn đây”. Mộc ngồi im. Thiết chép miệng, với tay lấy tấm chăn vá bốn năm mảnh khác mầu. Nhặt con dao Mỹ, Tiến cầm cà- boong bước ra ngoài, đi đào huyệt. Thiết bế xốc An trên hai cánh tay lực lưỡng, đi theo.

Thân hình một thước bẩy lăm của Thiết bị bệnh kiết ly kinh niên đục bên trong, nhưng anh vẫn khỏe gấp đôi người khác. Tóc sớm bạc tiêu muối. Thiết đã lỳ với bệnh cũng như quen với cái tuổi ba mươi tám chưa vợ, nên ít nghĩ đến đời mình mà lo cho anh em nhiều hơn. Anh thương đồng đội với tình người anh lớn dầy dạn, và anh em trong đơn vị cũng thương Thiết như anh cả.

Anh em lính cũ hy sinh, Thiết không đau xót bằng mất tân binh. Những người cựu binh là vốn quý, nhưng dường như họ đã quen giáp mặt với cái chết, không bở ngỡ kinh hãi nữa. Đằng này cậu con trai mới lớn lên cứ mở tròn mắt nhìn đời một cách ngây thơ vui thú, đôi khi sợ sệt. Khóc nhớ nhà, xưng em với cán bộ, reo hí hứng khi được thư... sao mà nó dễ thương lạ! Khi một đồng chí trẻ tuổi gục bên Thiết, anh căm tức điên người, như thấy ai đi bóp cổ một con chim non, bẻ một cây mới nhú hoa. Trận liền sau đó, với khẩu Bờ- ren vừa sức tay như tiểu liên, anh bắt địch trả nợ gấp đôi gấp ba. Rồi anh gọi một cậu giỏi chữ ra, bảo viết thư báo tin trả thù cho gia đình đồng chí kia biết: “Ề, có điều đừng nói tao bắn, cứ nói chung chung...”

Không làm như thế, lương tâm cắn rứt anh không chịu được. Thiết tưởng như tất cả gia đình họ hàng cậu con trai kia đều trách móc cái anh tiểu đội phó già đã không giữ được chồng con họ mà lại trơ mắt ếch không dám trả thù. Họ chửi là phải. Họ giao “cục cưng” cho Thiết để anh dạy nó đánh Tây cứu nước, chứ để nướng suông đi à?

Thiết lý luận theo lối ông giáo già như thế, và lần này anh vấp nặng. Trên không cho đánh thì trả thù thế nào? Cứ đi làm ruộng giúp dân với tuyên truyền kháng chiến mãi, thì Thiết bị chửi đến bao giờ mới thoát?
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #11 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2012, 09:34:21 am »

Mải suy nghĩ Thiết va phải Huy xuýt ngã dúi. Đến nơi đất mềm rồi. Thiết gượng nhẹ đặt An nằm xuống, đưa bàn tay vuốt tóc đứa em bất hạnh.

Tiến kỳ cạch lấy dao nậy từng hòn đá ong, moi huyệt. Lửa cà-boong chờn vờn trong rừng đêm. Đàn vạc đi ăn sau cơn bão kêu quang quác trên đầu.

Chôn An xong, bốn người trở về lều lúc tờ mờ sáng. Mặt đất rải kín lá tươi, cành gẫy. Vượn hú gọi đôi khi xa khi gần, tiếng hú dài càng về cuối càng đứt quãng, dồn dập thành tiếng nấc nghẹn ngào.

Hai con chim cu ướt cánh chui vào lều từ lúc nào, bay lạch bạch. Huy đuổi theo tóm được một, cười phá lên. Giá mọi ngày Thiết đã chỉnh cho cái tội to mồm lộ bí mật nhưng hôm nay ai cũng cười theo. Thiết muốn Huy cứ đùa nghịch suốt ngày cho đỡ buồn, đỡ nhớ An.

Nồi cháo nấu tối qua đầy ngập rác. Chỉ rổ măng còn ăn được. Tiến cũng đâm dễ dãi, cho phép Huy róm bếp nướng chim khi trời đã sáng. Anh lo lắng nhìn khói trắng cuồn cuộn bốc lên ngọn cây mấy lần định bắt dập lửa nhưng lại thôi. Mùi thịt chín thơm phức. Huy bi bô trong bếp như trẻ con nghịch lửa, thỉnh thoảng lại thò đầu ra ngoài: “Khặ-ặc! Ái chà khói!”. Khuôn mặt đỏ hồng, má tròn núng nính như con gái. Tiến nghĩ thầm: “Qua vài trận ốm mới giống lính Hạ- Lào”.

Huy mới 19 tuổi, học sinh, con nhà giàu mới vào bộ đội rất thèm bắn súng và chúa sợ làm ruộng rẫy. Tiến thường bảo Thiết: “Cậu chiều nó quá sinh hư”. Thiết chép chép miệng, giọng Quảng Nam hiền lành: “Hắn còn nhỏ dại, để lớn lên tôi kèm cho”. Tiến bật cười, nhắc qua loa mấy câu rồi để mặc.

Bữa măng thiếu muối hôm nay có con chim cu thêm vui chuyện. Mộc rủ rỉ nhắc đến quê mình vùng chài lưới, vô số cá nục thịt mềm và ngọt lừ. Huy khoe tài bà chị học trường nữ công nấu được tất cả các món Tây, Tàu nhiều lần cá thối nấu thành cá tươi. Tất nhiên là Mộc cãi.
Câu chuyện cá thối đang gay go thì một người hớt hải chạy vào, lấm bùn từ đầu đến chân: đồng chí trinh sát viên theo dõi đồn Núi-Quỷ.

- Thằng Rạng... đào ngũ vô đồn rồi!

Tiến đứng phắt dậy. Thiết đập tay xuống sàn, mấy cái bát dừa nhẩy lổng chổng:

- Vô khi mô?

- Chiều hôm qua. Cơ sở ngụy binh báo đích xác. Nó mang theo một trường Anh đầu bằng, với hơn ngàn bạc gửi cho trung đội mình. Tôi đi suốt đêm, trúng bão chút xíu nữa nguy... à, thằng Phủi con buôn vừa đi voi qua gần đây. Khả nghi lắm.

Tiến vơ nịt đạn thắt ngang lưng , hỏi vội:

- Cậu gặp Linh chưa?

- Rồi. Ảnh ra lệnh tiểu đội bên này rời kho vũ khí ngay, xong tập trung về thẳng chiến khu Pha-luông để kịp mai học quân sự theo đúng kế hoạch cũ.

- Chết chửa, sao lại tập trung? Linh bây giờ ở đâu?

- Ảnh về huyện chuẩn bị địa điểm cho trung đội. Ba tiểu đội bên kia cũng sắp sửa rút. Anh em thắc mắc sao lại bỏ trống cơ sở, ảnh nói có du kích bí mật lo bảo vệ.

Tiến đi qua lại mấy bước để trấn tĩnh. Tình thế rất nguy. Thằng Rạng dao động, giấu truyền đơn Pháp muốn đào ngũ đã lâu, nhưng Linh vẫn tin nó, giữ nó làm liên lạc trung đội, thậm chí cử nó về huyện lĩnh tiền. Được dịp, nó chuồn thẳng. Ở Việt Nam nó có thể đào ngũ về nhà, nhưng ở đây xa liên khu 5 hàng tháng đường núi, những thằng mất tinh thần thường tếch theo Pháp. Tuy vậy mất người, súng và tiền chưa phải là tai họa lớn lắm.

Cái nguy cơ chính là Pháp sẽ dí súng vào lưng thằng Rạng, bắt dẫn về tập kích đơn vị và bắt bớ cơ sở. Bộ đội dời lán và kho còn dễ, chứ cơ sở làm sao tránh kịp? Tất cả hội viên It-xa-la và anh em du kích bí mật vùng Hàng-rào, thằng Rạng biết đích danh. Phải lập tức tung bộ đội về các làng, báo động ngay. Nhưng Sơn-Linh lại ra lệnh tập trung rút về huyện, cầm bằng nhét cơ sở vào miệng cọp. Vùng Hàng-rào đến rơi vào tay địch mất. Mà lần này dứt khoát không giành lại được nữa!

Linh không quan tâm đến cơ sở, nên đã xử trí hoàn toàn sai.

Tiến dừng lại, băn khoăn. Huyện đã quy định chậm nhất là chiều hôm nay B.8 phải có mặt ở chiến khu để học lớp quân sự mười ngày.

Một mình Tiến có đương nổi trách nhiệm làm trái chỉ thị huyện và hủy bỏ lệnh của Linh không? Trong một loáng, anh thấy đôi mắt gườm gườm dễ sợ và cái giọng dằn hắt của đồng chí đại đội phó... Nhưng tình hình này không thể máy móc do dự. Chậm chạp là để cho địch bắt giết hết cơ sở. Dứt khoát trung đội 8 phải ở lại!

Tiến nhìn anh em, nói chậm và rõ:

- Các đồng chí biết tình hình rồi đấy. Tôi phân công luôn: tôi với Mộc sang ba tiểu đội bên kia. Mộc đi các tổ bên này. Phổ biến lệnh mới: hoãn học tập quân sự, lập tức phân tán ai về cơ sở nấy, báo cho anh em It- xa-la biết để lẩn tránh ra rừng, nắm du kích chặn các ngả đường. Cố giết cho được thằng Rạng là địch hết lùng. Thiết và Huy dời kho vũ khí xong bố trí đánh địch tại đây. Có lẽ nó vào đây trước tiên, vì ban nãy ta đốt khói nhiều quá.

Đồng chí trinh sát nheo mắt lo lắng:

- Lỡ các tiểu đội kia không nghe...

- Nhất định họ nghe. Họ cũng lo cơ sở không ai bảo vệ đấy.

- Nhưng mà... anh Linh đã quyết định...

Cơn giận Linh dồn ứ lại đến bay giờ mới nổ, Tiến nói như quát:

- Không quyết định bừa thế được. Rút quân như thằng Linh thì kỷ luật cả nút. Bốn tháng nay nó không thò đầu ra cơ sở... Thôi đi đi, nhanh không hỏng bét, địch xuống ngay cho mà xem!

Tiến lôi anh em ra đi. Thiết xé mảnh lá chuối rừng, gói vội nửa rá măng chạy theo ấn vào tay Tiến.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #12 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2012, 09:44:52 am »

Hai giờ sau, tất cả cơ sở trong mười một làng vùng Hàng-rào đều được tin báo động. Đúng như Tiến phán đoán, thằng Rạng dẫn một đại đội Pháp ập vào Na-bua không bắt được ai, kéo vào lán bí mật của anh Việt xỏ tai bị chặn đánh. Súng nổ rền rền từng đợt như sấm đất, lúc thưa lúc nhặt, kéo dài hơn hai mươi phút.

Tiến luồn rừng trở về Na-bua gặp tổ Thiết, Mộc, Huy. Thiết cười hề hề, vuốt nòng Bờ-ren còn nóng: “Vét cả kho được có ba chục viên phải bắn phát một bọp xẹt. Ăn bốn thằng rồi!” Huy còn thất sắc, nhưng luôn mồm giục đánh nữa, đánh nữa.

Suốt ngày hôm ấy họ đi lùng Tây. Nhưng thằng Rạng cũng thạo địa thế không kém. Địch tan biến trong rừng, bất ngờ ập vào các làng rồi rút đi như chớp. Đuổi nhau trong rừng là một trò chơi ú tim chết người. Vòng lên mé trên Na-bua, Mộc bị một phát súng kíp tung mũ. Thì ra cậu Đeng ở Na-bua nghe súng nổ cũng hăm hở vác súng kíp đi lùng, thấy bóng mũ cao bồi là bắn luôn. Đeng nhập bọn chạy theo Tiến.

Đến xế chiều, cả năm người cùng mệt tướt, khắp người bết bùn. Mặt Thiết đã vàng như nghệ càng vàng thêm, hệt vỏ thị rụng. Huy cảu rảu vừa đủ nghe một mình: “Đánh chác gì, chạy vuốt đuôi như chó dại...”. Đến bây giờ Huy mới nhận ra đánh giặc đường rừng không khó, chỉ khó tìm ra địch mà đánh. Đeng ngồi bệt xuống một gốc cây: “Chịu thôi. Tôi về đây anh Tiến ạ!” Cả tổ dừng lại nghỉ.

Tiếng loạt soạt lốc cốc đến gần. Tiến dỏng tai. Trâu chăng? Một tiếng ho... Anh đứng chồm trên đôi chân tê dại, vẫy anh em luồn qua bụi rậm: “Băng lên phía Thông-nọi. Chạy nhanh!”. Gần làng Thông-nọi có một quãng độc đạo, địa thế rất tốt, địch nhất định phải qua.

Mộc hối hả vùi xong quả đầu đạn đại bác 75 ly trong lá khô vừa lúc ba trung đội “lính đỏ” kéo đến. Hàng ngũ nhếch nhác. Thằng đi đầu vác ngược cái máy dò mìn lên trời bước chếnh choáng. Địch cũng kiệt sức. Ngồi trên sườn đồi nhìn qua kẽ lá, Tiến thấy một cảnh mát lòng mát dạ: thằng Rạng cúi đầu lê từng bước, một tên Pháp đi sau chọc ba toong vào lưng nó, rít răng chửi. Áng chừng chửi thằng phản phúc, đưa ông lớn chui rừng mửa mật.

Tiến vỗ mông Huy, ra hiệu giật.

Oàng! Tặc-tặc-tặc... tặc-tặc-tặc... pách! Pùng!

Khẩu tôm-xông nhẩy bần bật trên tay Tiến, khạc đạn từng loạt ba viên một. Thiết bình tĩnh đổi khóa Bờ- ren, bắn từng phát, đếm như người tính tiền: “Trật! Trúng! Trật! Trật! Trúng!” Huy và Đeng lồng lên, hét xung phong đến đứt hơi, chổng mông cao hơn đầu tránh đạn địch bắn trả như vãi cát.

Mười phút sau, tiếng súng trên đỉnh đồi im hẳn. Đại đội lính đỏ ùa lên, đặt súng cối nã tới tấp vào rừng sâu. Tên quan hai Mắt-mèo đánh diêm châm bíp, cười khoằm qua hàng ria mép gọt mảnh kiểu Cờ-lác-Gáp . Hắn thầm khen bọn phiến loạn cao tay, chặn đúng được con đường ngoằn ngoèo rắn lộn của hắn.

Trong khi chờ băng lính bị thương, Mắt-mèo buồn tay chọc đầu can vào đôi mắt lộn tròng của tên đầu hàng. Tối qua suốt hai tiếng đồng hồ thằng Rạng lạy lục xin hắn cho về Sài Gòn ở với bố mẹ, nhưng vẫn không thoát bình điện quay. Mắt- mèo định dẫn quân đi bắt bọn It-xa-la bí mật xong sẽ tìm cách thủ tiêu ngọt cái thằng Việt-minh nhiều tiền này, lấy ngon hơn hai nghìn đồng tiêu riêng. Nó chết vì mìn Việt-minh lại càng ổn. Quái lạ, Việt-minh cũng có thằng tin lời hứa hẹn trong truyền đơn phòng chiến tranh tâm lý... Tiếc rằng quên không cho ghi danh sách bọn phiến loạn mới mọc mầm, để thằng Rạng quỷ ám này mang theo tất cả tài liệu xuống mồ.

Nghĩ đến mấy nghìn bạc hiện nằm gọn trong ngăn kéo bàn hắn, Mắt-mèo trở nên vui tính. Hắn dặn một tên quản bằng tiếng Lào khá sõi:

- Chôn thằng này cẩn thận một chút. Nhớ cắt hai tai đừng bỏ phí. Về đồn tao chứng nhận cho lĩnh tiền thưởng giết được Việt-minh.

*

Sau trận phá càn, B.8 hối hả tập trung kéo về huyện. Cuộc kiểm thảo giữa Linh, Tiến và chi ủy kéo dài đến hai giờ sáng.

Sơn-Linh có tài tự chủ ngay cả những lúc nóng giận nhất. Anh lạnh lùng vặn Tiến về nguyên tắc, những câu nặng như chì và sắc ngọt như dao cạo. Ngược lại Tiến mất bình tĩnh hẳn, máu bốc lên mặt, chồm chồm chực cãi tay đôi. Đại đội trưởng Lũy điều khiển buổi họp mấy lần nghiêm khắc chặn Tiến:

- Đồng chí Tiến, trật tự! Giữ đúng thái độ!

Tiến gạt mồ hôi lạnh trên thái dương, gườm gườm nhìn khuôn mặt chữ điền sần sùi mụn cá của Linh, nghe nhưng lời buộc tội rứt thịt:

- ...Từ ngày về B.8 đến nay đồng chí Tiến vẫn luôn luôn chơi trội như thế. Đồng chí phá chính sách liệt sĩ, tự tiện lấy võng của An đem cho Mộc. Để làm gì? Để gây uy tín lẻ, lôi kéo anh em về phe mình. Rồi đồng chí nói xấu tôi, quát tháo trước mặt chiến sĩ: nào là thằng Linh quyết định bừa, nó không thò đầu ra cơ sở, nó bị kỷ luật, gì gì nữa không biết. Khách quan mà xét, tôi thấy đồng chí Tiến có ít nhiều khả năng và thành tích dân vận, do đó sinh kiêu căng, công thần, không coi ai ra gì...

Một đồng chí đến sau lẳng lặng ngồi vào góc tối. Lũy quay lại: “Báo cáo anh Mạc, chi ủy họp mở rộng”. Mạc xua tay ra hiệu nói khẽ. Mạc là ủy viên ban cán sự Hạ-Lào, phụ trách bí thư liên chi. Anh yếu phổi nên quanh năm sù sù khăn quấn cổ. Vóc cao gầy, mũi gẫy giữa và mắt sâu, trông tướng anh hơi dữ. Nghe Linh phát biểu một lúc, anh nhăn trán nghĩ ngợi, đầu gật gù.

Tiến tình cờ nhìn thấy Mạc gật đầu như tán thành Linh. Mạc với Linh là bạn đồng cấp từ năm 1946, đến nay vẫn chơi thân với nhau.

Anh nghĩ thầm: “Mình nguy rồi. Hỏng bét! Nhưng phải nói hết, chọi nhau một lần cạn tàu ráo máng rồi ra sao thì ra!”. Linh dứt lời. Hội nghị hơi xôn xao, nhiều người đưa mắt liếc nhau tỏ vẻ ngạc nhiên. Đôi người đang tươi tỉnh cũng nghiêm sắc mặt lại, để sắp sửa bước vào một cuộc đấu tranh tư tưởng khá gay go với Tiến, gay go vì đối tượng kiểm thảo phản ứng mạnh.

- Đồng chí Tiền bình tĩnh, để anh em phát biểu trước!

Chủ tọa vẫn nguyên giọng khô khốc, cho phép trung đội trưởng Sảnh nói. Sảnh mộc mạc hơn Linh, nhưng nhấn mạnh thêm: Tiến bất mãn với chính sách cung cấp, khinh cấp chỉ huy trục tiếp, mang thắc mắc lên thẳng đồng chi uỷ viên ban cán sự đòi giải quyết gạo.

Một đồng chí thứ ba phân tích khá dài về những diễn biến tư tưởng của Tiến ngày mới về Xây-thả-von: thiếu an tâm công tác, không muốn xây dựng cơ sở, thậm chí tìm mưu kế trốn về Việt Nam. (Một hôm vui chuyện, Tiến đã kể cho tất cả bạn nghe).
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #13 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2012, 09:47:04 am »

Trong không khí buổi họp có cái gì thay đổi. Hầu hết cán bộ có mặt đều biết Tiến hoặc nghe nói đến thành tích và ưu điểm của Tiến. Nhưng qua những ý kiến phát biểu đầu tiên, và thấy thái độ tiếp thu “thiếu thành khẩn” của Tiến, mọi người hình dung sự việc khác đi đâm ra phẫn nộ. Họ xem Tiến như một đảng viên không tôn trọng tập thể, thiếu tinh thần phê bình và tự phê bình Bôn-sê-vích, hay tệ hơn nữa như một bị cáo đang bướng bỉnh chực cãi lại tòa.

Bởi vậy, họ sẵn sàng phê phán thật nặng nề để Tiến giật mình hối lỗi, để tỏ tình thân yêu thật sự đối với một đồng chí chưa rõ sai lầm.

- Đồng chí Tiến phát biểu!

Tiến ngửng lên, mặt bơ phờ:

- Cho tôi nghĩ một lát đã.

- Được. Các đồng chí nghỉ mười phút.

Mạc vẫy Lũy ra một góc, thì thầm. Nhà họp vắng dần, anh em xuống suối uống nước. Hai tay bưng đầu Tiến ngồi thừ trước cái bàn tre, nhìn cái gì cũng thấy dài ra đuồn đuỗn.

Tiến không hiểu họ thù ghét gì mình, lại đem bóp méo sự việc và suy diễn ra đủ chuyện dễ sợ.

Hay là Tiến quá hỏng mà không tự biết? Nhưng nếu cúi đầu nhận lỗi để được tiếng thành khẩn, thì sửa chữa thế nào bây giờ? Đầu óc bung bung, Tiến muốn nghĩ để phát biểu mà không nghĩ được. Nói bậy chỉ tổ gây ác cảm, thôi đành im lặng ngồi nghe.

Buổi họp lại tiếp tục.

Một trung đội phó lên tiếng. Đồng chí này không thân với Tiến, nhưng thường nghe anh em B.8 khen người cán bộ trẻ. Anh thuật lại những dư luận ấy không thêm, không bớt, không bình luận. Hội nghị lặng im, hầu như lúng túng. Không ai cho anh nói dối, nhưng sao lại mâu thuẫn đến thế?

Chủ tọa nhường lời cho Mạc. Anh đứng dậy. Ánh cà- boong vờn trên cái mũi gẫy, đào sâu đôi mắt trũng thường xuyên đói ngủ. Mạc được chiến sĩ mến vì luôn luôn tìm hiểu và giúp đỡ họ một cách thực sự và chân thành, khác hẳn với những cán bộ chỉ chuyên lấy câu bỡn cợt vai vế với chiến sĩ để được tiếng “bình dân”, hoặc gặp ai cũng sâu sát bằng mấy câu cửa miệng: “Đồng chí khỏe chứ? Dạo này ra sao?...” Tuy vậy chung quanh Mạc cũng lắm tiếng xì xầm: “Ông Mạc tu ép xác - người như gỗ đá - nguyên tắc bỏ mẹ...”. Trong nhận xét của cán bộ dưới đối với Mạc có rất nhiều chỗ trái ngược.

Tiến không còn lạ gì Mạc là “cánh hẩu” của Linh. Anh đợi Mạc nói như đợi tòa tuyên án.

- Tôi xin phát biểu ngắn gọn vì sắp phải đi. Tôi đề nghị chúng ta nắm lại trọng tâm kiểm thảo hôm nay: “Trong hoàn cảnh thằng Rạng đào ngũ, với trách nhiệm của B.8 gây cơ sở vùng Hàng-rào, đồng chí Linh ra lệnh rút bộ đội, đồng chí Tiến quyết định giữ bộ đội ở lại cơ sở. Ai là người giải quyết đúng?” Vấn đề là như thế, chứ không phải là kiểm thảo cá nhân một đồng chí nào, đúng thế chứ đồng chí Lũy? (Lũy sượng sùng gật đầu). Một vài đồng chí góp ý xây dựng cho đồng chí Tiến. Như thế cũng tốt, nhưng nên để vào buổi họp khác, chúng ta sẽ xây dựng chung cho cả đồng chí Linh và những đồng chí khác nữa.

Sau khi Mạc ra về, cuộc kiểm thảo trở nên nhẹ nhàng thoải mái không ngờ. Do lời buộc tội vùi dập của Linh, sự vụng về của chủ tọa và cả thái độ nóng nẩy của Tiến nữa, vấn đề đưa ra đã bị rối rắm hẳn đi, bây giờ mới gỡ ra mối.

Giọng chủ tọa tươi hơn ban nãy. Anh luôn luôn nhắc lại như sợ mình quên: “Yêu cầu hội nghị xoáy vào trọng tâm”. Lại đưa mắt khuyến khích Tiến phát biểu.

Trong khi ấy Tiến ngạc nhiên nghe các đồng chí khác tiếp lời nhau bào chữa cho mình rất tách bạch. Chỉ trừ Linh đang làm ra vẻ lơ đãng nhổ râu và sờ sờ tay nặn mụn trên mặt, còn ai cũng thừa nhận Tiến xử trí hoàn toàn đúng.

Tiến phát biếu cuối cùng, khi đã thật bình tĩnh. Không nhắc lại ý kiến chung, anh chỉ nói vắn tắt về mình:

- Khi tôi mới về đây, thú thật là tôi rất chán công tác dân vận, không muốn đi gây cơ sở. Nhưng dần dần tôi nghĩ: Mình có khả năng và kinh nghiệm, không làm thì bỏ cho ai? Nhiệm vụ quốc tế, mình sang giúp Lào làm cách mạng... (Có tiếng cười khẽ. Tiến dằn từng chữ, nhắc lại như thách thức)... Mình làm nhiệm vụ quốc tế của Đảng giao cho, nhân dân Lào cần việc gì mình phải làm việc ấy. Do đó tôi cố gắng công tác. Nhưng đồng chí Linh bỏ mặc cơ sở, chả thèm ngó ngàng đến. Đồng chí bảo tôi nịnh cấp trên. Tôi không nịnh ai cả, tôi thấy đúng tôi mới làm. Nhiều lần đồng chí Linh tỏ ý không muốn tôi ở B.8 nữa. Tôi cũng muốn xin đi nơi khác. Ở chung với đồng chí Linh, tôi không chịu được cái lối giữ miếng, đối phó từng tý của đồng chí ấy. Đề nghị cấp trên cho tôi sang đơn vị khác. Báo cáo hết!

Buổi kiểm thảo tạm ngừng.

Tiến ra về, suốt đêm không ngủ được. Anh nhớ rất rõ ngày mới về B.8 với niềm hy vọng to lớn nó chắp cánh cho người và lòng tin yêu đối với Sơn-Linh. Ai ngờ đến nay Tiến phải rời B.8 trong hoàn cảnh lạ lùng như thế này!

Mấy đêm tiếp sau đó chi uỷ họp riêng. Tiến không được dự, càng tin chắc họ họp để nghe Linh và xét tội anh. Sau mỗi buổi họp, Linh về càng cáu kỉnh hơn, râu quai nón tua tủa không buồn cạo.

Mười ngày học tập chiến thuật “ba mạnh” đã qua, trung đội 8 chuẩn bị trở về vùng Hàng-rào giúp dân gặt mùa và chống cướp thóc. Bất ngờ có điện báo của khu điều động Linh trở về khu bộ và chỉ định Tiến phụ trách trung đội trưởng B.8. Người ngạc nhiên nhất lại là Tiến. Về sau anh mới biết đó là kết quả những đêm chi uỷ họp kiểm thảo Linh.

Tin ấy làm trung đội 8 xôn xao. Cũng như mọi lần thay đổi chỉ huy, anh em thăm dò thái độ “bác” Thiết trước tiên. Một lời khen hay chê của Thiết thường có ảnh hưởng lớn đến uy tín cán bộ. Thiết gãi tai, trâm ngâm một lúc rồi mỉm cười, gật gù: “Được đấy!” Sau đó anh em không bàn tán gì về đồng chí trung đội trưởng mới nữa.

Riêng Thiết còn một nỗi băn khoăn. Đợi đến hôm trung đội nghỉ một buổi tắm giặt trước khi về cơ sở, anh mới gọi Huy mang giấy bút ra một góc vắng:

- Mi viết thơ về gia đình thằng An, kể lại cái hôm đánh ở Na-bua nghe. Nói rõ là trả thù cho hắn... Ề, có điều đừng nói tao bắn hay ai bắn, cứ nói chung chung...

Viết chữ trên giấy là một công việc nặng nhọc bậc nhất theo ý Thiết. Vì vậy anh đã chuẩn bị chất động viên Huy: một chục kẹo xanh đỏ bọc giấy bóng, món quà của thằng bạn trinh sát đường 13.


Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #14 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2012, 09:53:03 am »

IV

Suốt mùa nắng khoảng từ tháng giêng đến tháng năm dương lịch, tức tháng hai đến tháng sáu theo lịch Lào, vùng đất trũng Xây-thả-von biến thành một bãi đá ong và bùn khô mênh mông.

Ruộng lầy ngày nào ngập nước đến bụng, giờ khô cứng như mặt bát cháo đậu đông, nẻ chân chim và nhọn hoắt tai mèo. Cây rừng trút lá đỏ tía phủ kín đất đá lởm chởm những cành khẳng khiu như bó chổi dựng ngược. Ao hồ cạn dần, đóng váng nhờn nhờn riêu cua. Suối đứt từng quãng, cá dồn lại phơi lưng lúc nhúc trong các vũng bùn còn sót. Lợn rừng kéo bầy đi tìm nước, hồng hộc tháo chạy khi nghe tiếng lạ.

Trong những tháng nắng ráo, Xây-thả-von căng hết gân sức vật lộn với địch. Rừng, núi, bãi lầy... đâu cũng khô rốc thành đường Pháp kéo quân bất ngờ thọc xuống khu du kích. Bộ đội Lào và Việt bám sát cơ sở, thỉnh thoảng tập trung quân luồn nhanh lên quốc lộ 13 diệt gọn mấy xe, úp một toán bộ binh địch, sau đó tức tốc chạy về nắm du kích chống càn quét, thọc phá.

Vụ gặt hái đã xong. Pháp cố cướp thóc nhưng bị đánh liên miên, không phá phách được mấy. Thóc vào đầy ắp các kho lúa bí mật trong rừng, nhân dân rời các trại làm ruộng, về ở làng.

Hôm nay trung đội 8 và trung đội It-xa-la của Vi- xiên rải thành hàng dọc thưa thớt, hành quân trên đường rừng. Có lệnh hỏa tốc của huyện rút hai đơn vị vào chiến khu trong dãy Núi Hoa, chuẩn bị đánh úp đồn Suối-đỏ. Cơ sở tạm giao cho du kích bảo vệ. Phải đi chéo hướng về làng Đôn-phao trong khu căn cứ du kích để đánh lạc mục tiêu gián điệp, chúng sẽ tưởng bộ đội lên phối hợp trên Bô-lô ven.

Tiến quen Vi-xiên đã mấy tháng, từ ngày anh sang giúp bộ đội It-xa-la học ba kỹ thuật lớn. Anh trung đội trưởng Lào có dáng vóc vạm vỡ, bắp thịt cuồn cuộn như thừng xoắn trên đôi vai hơi gù, gan góc nổi tiếng và đánh du kích giỏi ít ai bằng. Tiến rất phục cái tài đánh “chim sẻ” của Vi-xiên: Với một tiểu đội, một tổ, hay có khi chỉ một mình, Vi-xiên bám theo một cánh quân địch lùng quét để đánh tỉa hàng mấy ngày liền, không mất hút địch mà cũng không để chúng úp trở lại. Vi-xiên bước vào rừng như cá xuống nước, anh không cần bản đồ hay địa bàn vẫn có thể mở đường bí mật, chọn địa thế phục kích, tìm ra chỗ có nước. Tiến đánh du kích đã nhiều kinh nghiệm, nhưng không sao bì kịp Vi-xiên.

Hai người khác tính nhưng rất mến nhau. Và Tiến không hiểu vì sao Vi-xiên lại thích gán ghép cho Tiến cô gái đẹp nhất làng Na-bua.

- Dạo này anh vẫn “đi sát” Bua Kham đấy chứ?

Tiến nhún vai không đáp. Vi-xiên tán thêm:

- Nghe đâu được anh giúp đỡ, dạo này cô ta tiến bộ lắm thì phải. Làm ăn chăm như con gái thiểu số. Này, đêm nào cậu Đeng cũng đến thổi khèn ve vãn Kham đấy. Thằng Phủi con buôn vài ngày lại một lần quà cáp. Chậm chân thì hụt mồi Tiến ạ. Gái đẹp như nước đọng lá sen, ai kịp đưa tay hứng...

Tiến nói lảng:

- Nhổ xong cái đồn Suối-đỏ, vùng Hàng-rào lập làng kháng chiến được chứ nhỉ?

- Nhất định.

- Đến lúc ấy, chúng tôi bàn giao cơ sở, lại đi nơi khác...

- Thố! Nhớ mang cả Bua Kham theo đấy. Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi...

Không nín được, Tiến bật cười to. Vi-xiên được thể càng trêu già, tất cả cái vốn ca dao tục ngữ đem ra dùng hết.

Để cắt khéo câu chuyện đùa dai, Tiến chuyền lệnh lên B.8 đi đầu: “Dồn cự ly, chuẩn bị vào làng”. Tố xích hầu đã bước xuống suối, lội ỳ ùm.
Làng Đôn-phao lấp ló bên kia suối. Lũy tre sà ngọn vương nắng chiều từng chùm vệt sáng lay động. Nhà sàn gỗ xám xếp thành dãy, trông xa như những toa xe lửa ngụy trang trong một ga kháng chiến nào đó ở vùng tự do liên khu 5. Tiến rút vạt áo sơ-mi xuống ngay ngắn, thắt gọn lại nịt đạn. Tuy ở Lào lâu năm, Tiến vẫn thấy vui lẫn chút hồi hộp khi ra khỏi rừng, bước vào làng.

Rừng Lào là nơi ăn chốn ở quen thuộc của người lính tình nguyện, hết năm này sang năm khác. Với kẻ lạ, rừng giăng cây như hàng chấn song cầm tù hắn, đi đến kiệt lả vẫn không thoát vòng vây co dãn, bí hiểm. Nhưng đối với người quen, rừng chiều khách và hào phóng, đãi hết vô vàn thứ sơn hào, dành riêng những món quà thú vị trong mỗi gốc cây, mỗi góc suối. Rừng nuôi ong, chim, cá, hươu nai cho người. Mùa nào thức ấy rừng thết người trăm thứ nấm, rau hoa quả. Quanh năm rừng giành cho người nguồn măng và củ còi vô tận. Rừng che giấu kho súng kho lương và người bị giặc đuổi, rừng mở đường cho bộ đội luồn sau lưng địch, rừng ủ ấp giấc ngủ nặng như chì sau một ngày nổ súng. Và khi người lính khác dân tộc tắt thở, rừng đón anh vào lòng, đan cành che trên phần mộ anh, ru anh bằng diệu nhạc chim và lá anh đã quen nghe từ ngày xa đất mẹ.

Nhưng lặn lội trong rừng, anh phải là gỗ đá mới không nhớ làng. Làng Lào dang tay đón khách thân thiết và ấm cúng.

Nhà sàn xúm xít dựng gần sát mái. Không có rào dậu, hoặc chỉ rào vừa đủ ngăn gà bới rau. Hãn hữu lắm mới thấy một nhà đi vắng có khóa cửa. Ngày nào cũng vậy, bà mè dậy sớm đồ xôi đã tính sẵn cho thừa vài xuất để phần khách thập phương. Nếu không ai cần đến, hôm sau mè lại đồ xôi cũ vào gạo mới, không lo phí phạm. Một vụ chửi nhau trong làng là câu chuyện cho các bà các cô kháo nhau hàng tuần trăng, vì dân làng chỉ quen với tiếng khèn, tiếng hát, tiếng trai gái đêm đêm đùa cợt tán tỉnh nhau bên xa kéo sợi.

Anh em tình nguyện thường truyền miệng cho nhau những kinh nghiệm vào làng. Trước tiên là phải thạo cung cách đứng ngồi ăn nói, ví dụ như với tay cao quá đầu người khác phải nhớ xin lỗi. Thứ nữa, đừng khách sáo theo lối bên ta, chớ đợi mời lần thứ hai. Rồi lại phải săn đón thăm hỏi cô em gái chưa chồng từ khi bước lên cầu thang đến lúc chào đi, dù thực thà anh không muốn ve. Vân vân và vân vân. Được như thế, anh tạt vào nhờ vả dăm bữa cơm hay vài tối ngủ như con cháu trong gia đình. Ra khỏi nhà, nếu anh bỏ quên lại cái đồng hồ hay ví tiền và đi biệt hàng năm trời gia đình sẽ luôn mồm nhắc các con bộ đội qua đường: “Bảo thằng có cái nốt ruồi giữa cằm về nhà mẹ mà lấy”. Bao giờ đến nhận của rơi, anh sẽ bị phạt rất nặng: phải ăn cơm của mẹ, uống rượu của cha, và kể cho em gái nghe chuyện đánh Pháp...

Còn nếu anh hoạnh họe, quát tháo, “đánh dầu đá miệng” người ta, thì đôi khi sáng ngủ dậy không còn đầu. Kinh nghiệm ấy có đồng chí biết đã quá muộn, đành để làm bài học cho mai hậu nhớ chung. May sao những chuyện đau đớn như thế đã hết từ lâu lắm. Bàn tay của địch không còn chỗ khoắng vào giữa bộ đội và nhân dân nữa.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #15 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2012, 09:56:03 am »

Làng Đôn-phao hôm nay mở bun Phạ-vệt, một trong những ngày hội lớn nhất năm.

Thấy hai trung đội kéo vào, dân làng xúm ngay lại, vui thích và ngạc nhiên. Mọi ngày chỉ có bộ đội It-xa-la đến chơi hội, nay lại thêm anh em Việt, mà lại đi cả đơn vị! Các mè tong tả chạy góp cơm đãi bộ đội bữa tối. Các cô quẩy nước hộ trong những đôi gầu mới nhất. Thanh niên và du kích cần tin tức, thiếu nhi xoắn xuýt đòi bài hát, lao xao như chợ.

Một tin đồn không biết từ đâu ra, lan rộng khắp làng: bộ đội lên Bô-lô ven đánh giặc. Các cụ lão làng hỏi, thấy bộ đội cười cười lại càng chắc mẩm là đúng. Chỉ hiềm các con đi đường xa, ghé vào ngủ làng mà gặp ngày hội nhà cửa khí chật. Thôi thì mấy chục bánh nếp nhân chuối gọi là lòng dân, các con nhận cho cha mẹ vui, rồi tối nay ra chùa chơi hội nhé...

Đêm ấy trời không trăng không sao. Chùa làng rực ánh đèn đuốc, như một hòn đảo ánh sáng nhô bật giữa biển tối. Sắp xếp cảnh giới xong, Tiến lôi Mộc và Huy ra chùa xem hội. Huy mới lên Lào, lần đầu tiên bước chân vào đám hội nên cứ tròn mắt nhìn, hỏi dồn hỏi dập.

Chùa Đôn-phao dựng trên khu đất cao đầu làng rộng hơn mẫu, bốn chung quanh sân xây tường đá thấp. Ba ngôi nhà sàn lớn, mái cong vút lợp ngói gỗ chẻ, chạm nổi hình Phật, Tiên và những con rắn thần rỡn sóng, trợn xoe hòn bi mắt trắng dã. Ngôi ngoài là nhà khách, hai ngôi trong là nơi sư ở. Giữa sân chùa những dãy hoa đại, bồn lan và chậu cúc vạn thọ nở hoa điểm mầu thắm trên nền tường vôi trắng của nhà xỉm, nơi để tượng Phật.

Huy ngạc nhiên thấy đồng chí trung đội trưởng trèo lên nhà khách đang đông người, ngồi xệp hai chân một bên và kính cẩn chắp tay nghe kinh. Vừa xuýt phì cười thì bị Mộc đập lên vai, ra hiệu im. Lạ nhỉ, cái anh Tiến cứ như người Lào chính cống. Huy tò mò dòm ngược xuôi đợi Tiến.

Trong nhà khách trầm hương thơm ấm. Hai ngọn măng-xông sáng xanh treo giữa. Các ông sư mặc áo cà sa vàng tươi dài tay, ngồi trên bục cao theo ngôi thứ. Những chú bé lượt thượt áo vàng không tay ngồi mé dưới, hẳn là chú tiểu. Họ đang tụng kinh, hay đúng hơn là hát kinh, hát một bài đồng ca rất dài, rất trúc trắc, Huy nghe rõ có rất nhiều xanh-cốp và công-tờ-rờ- tâng, thế mà không lỏi một tiếng.

Một nhóm ba cô gái đi qua, bỗng dừng lại nhìn Huy chăm chắm rồi cười phá lên, nói gì với nhau líu ríu. Huy nhận ra các nường hôm trước Huy đến “xin sữa”. Chả là hôm ấy đi công tác lẻ với Mộc-cóc, Huy hết khoe môn đại số a cộng b lại chê Mộc ngờ nghệch, liền bị Mộc chơi một vố đau. Mộc dạy cho Huy câu tiếng Lào bố láo “Khỏ kỉn nạm num  là xin nước uống”. Huy đến nói nguyên văn khỏ kỉn nạm num1 với các cô này, bị một mẻ cười tối mặt, chuồn không kịp.

Giờ đây Huy lườm Mộc một cái tựa sét đánh, nhưng chắc hẳn đánh hụt vì Mộc vẫn phớt tỉnh, đối đáp với các cô kia từng câu nhát gừng như không muốn mở miệng. Tính Mộc xưa nay vẫn thế. Bông nhiên Huy thấy ức quá. Giá có phép thần thông nào đổi được tất cả cái vốn văn hóa a cộng b của Huy lấy một nửa cái trình độ tiếng Lào của Mộc, nhất định xin đổi ngay. Để phân vua cho các cô ấy biết thằng Mộc chơi khăm, biết Huy không phải tay kém cạnh gì, với lại cũng để... cô ả đứng giữa xinh tệ gớm, cười kìa... ừ, để làm quen nhau một tý. Biết đâu đấy...

Mộc chào, bỏ đi. Huy sợ lạc phải lẽo đẽo theo sau lưng Mộc, hậm hực bám riết cái thằng tưởng đần mà lắm khi lại ma lanh ngầm, tưởng dốt mà hóa ra tài hơn Huy rất nhiều mặt. sau buổi lễ cầu kinh, sân chùa ồn ã những tiếng vui đêm hội.

Đèn nhiều vô kể, ai đến cũng xách đèn theo, xếp thành hàng trên đỉnh tường đá thấp, sáng tưng bừng như một phiên chợ kháng chiến lớn bên Việt Nam. Dân các làng xa hàng buổi đường cũng đổ về chơi hội, người chen vai thích cánh. Thanh niên mặc phạ-xà- lửng ô vuông xanh đỏ sặc sỡ, đầu chải “mỡ dăng-tin”, chân dận giày da hoặc vải, chiếc khèn cắp nách. Đôi chàng vừa mãn tu ra chùa, đầu tóc mới lơ thơ bàn chải và lông mày còn nhẵn thín, vừa đi vừa thổi khèn hay búng đàn, cố hưởng vội thú trần tục sau mấy năm liền phải nhịn vui chơi.

Các cô gái diện sơ mi vai phồng kiểu mới khắp lượt, chiếc váy bó sát thân thêu lòe loẹt hàng tấc gấu. Miếng trầu ửng má thắm môi. Họ bá vai nhau cười khi khí chung quanh anh du kích Đeng đang say sưa rung đàn la-nát, hai chiếc vồ con nhảy tít trên những thanh gỗ trắc. Đeng ngồi đảo đầu như đồng ốp, hát bài ca ngợi bông hoa đại cao quý nhất trong muôn loài hoa, nhưng thỉnh thoảng lại liếc sang bên một đuôi mắt sắc lẻm,.áng chừng tìm một bông hoa nào quý hơn nữa.

Ơi hoa cham-pa
Nhìn hoa hé cười
Tưởng môi nàng chúm chím cười đón anh...


Len lỏi đi quanh sân chùa một vòng, Tiến nghe cái giọng nửa trống nửa mái quen thuộc của Đeng, định chen vào hỏi. Nhưng thấy đông phụ nữ, anh lại chùn bỏ đi. Anh tìm ra Vi-xiên trong đám bài các tê. Đánh không tiền nhưng Vi-xiên vẫn cay gỡ. Bị Tiến lôi ra khỏi chiếu bạc, Vi-xiên ngất ngưởng định sà vào chỗ các cô bán bún và kẹo bánh. Bị lôi ra lần thứ hai, Vi-xiên thở phì phì nặc mùi rượu:

- Ô hay cái ông thầy tu này! Để người ta hỏi nhau tí tẹo, hàng mấy tháng mới vào đám hội...

- Tôi mách cô Nuôn cho mà xem!

Nghe dọa tên Nuôn, cô gái Na-bua béo mẫm nhưng rất lành rất đáng yêu ấy, Vi-xiên cười ngượng ngập, khịt mũi, xốc lại cổ áo đi theo Tiến.


----------------------------------------------------------
(1) Xin uống sữa
« Sửa lần cuối: 31 Tháng Năm, 2012, 10:01:45 am gửi bởi hoi_ls » Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #16 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2012, 09:58:33 am »

Góc bên kia sân, người túm tụm vòng trong vòng ngoài nghe mỏ-lăm1  hát.Thỉnh thoảng tiếng cười nổi lên rào rào rồi tắt ngấm, nghe càng rõ cái giọng ề à hóm hỉnh. Vi-xiên huých tay Tiến:

- Mỏ-lăm càn quét!

Tiến cũng vừa nhận ra chàng nghệ sĩ dân gian có cái biệt hiệu kỳ khôi, nổi tiếng khắp huyện Xây thả- von. Anh đứng trên bục cao, hai bàn tay kẹp hai ngọn nến múa tròn dẻo quẹo, hát bài độc tấu “Chống càn quét” rất dài rất nhộn:

Pháp thò đầu vào làng, lấm la lấm lét
Ta vòng sau lưng nó, súng kíp gặp mồi ngon
Pháp thụt đầu ra, láu táu lùng rừng
Hầm chông đớp chân nó què nó khóc
Khóc rằng Pháp cha Pháp mẹ ơi hời... u-hu!


Cánh thanh niên khoái chí, hú đều một loạt tán thưởng. Một tràng cười bùng sau lưng, Tiến giật mình quay lại. Bua Kham bá vai Nuôn đứng đấy từ lúc nào. Chắc họ cười Tiến. Vốn không ưa cái lối cười ngửa cổ ầm ỹ của phụ nữ Lào, anh khó chịu, chào qua một tiếng định lẩn. Vi-xiên đứng ngây như tượng, không giám hở môi sợ bay mùi rượu. Kham kéo Nuôn lại gần, nheo mũi tinh nghịch:

- Các anh lại uống rượu. À không, chỉ có anh Vi- xiên thôi nhỉ.

Nuôn đỏ mặt nhìn Tiến rất nhanh, rồi kín đáo vẫy Vi-xiên ra một góc sân hỏi tội. Kham nhoẻn cười hở cái răng nhọn bên khóe miệng trái, hỏi Tiến một câu ranh mãnh không ngờ:

- Anh cũng đi chơi hội cơ à! Bao nhiêu hội Na-bua anh không vào. Tưởng anh tu mãi ngoài rừng, tụng kinh chính trị chứ!

Tiến càng khó chịu, nói kháy:

- Tôi chỉ thích chơi hội vùng tự do. Chắc Kham thích hội Pạc-xê hơn.

Kham đáp rất vui:

- Không, hội vùng ta thích hơn nhiều. Không có bọn lính Pháp phá đám... Nghe tin cha ốm, em mang sữa và thuốc về thăm, không định đi chơi đâu nhé. Đi với Nuôn, Đeng. Anh gặp Đeng chưa? À anh múa lam-vông chắc thạo chứ?

- Biết múa, nhưng chả thích.

Kham cau mày, không bằng lòng với cái chả thích kỳ khôi ấy:

- Thế anh thích cái gì?

- Thích tu ngoài rừng, tụng kinh kháng chiến thôi.

Nói xong Tiến bước né sang bên lủi vào đám đông, còn nghe tiếng Kham cười khanh khách. Tính anh vốn rụt rè trước mặt phụ nữ, không hiểu sao lại dám trêu vào cô ả rất tinh quái này. Do không khí rộn rực say người của đêm hội chăng? Hay do những lời vun vào của Vi-xiên?

Mỏ-lăm tạm nghỉ hát để ăn uống. Đám thanh niên reo: “Lam-vông đi! Lại đằng này!”. Họ xếp vòng tròn dưới ngọn măng sông, nhường một bên cho phụ nữ. Các cô cấu chí nhau, rúc rích mãi mới chịu đứng vào vòng. Bộ đội và du kích đeo súng chéo sau lưng, đến nhập bọn. Vi-xiên bắt gặp Tiến định chuồn về nhà, hùng hổ kéo anh trở lại, ấn đứng ra mé trước.

Tiến đang băn khoăn vì nỗi Đeng đi chơi xa trong lúc anh không có mặt ở Na-bua. “Tổ trưởng du kích mà chỉ thích dắt gái đi hội hè. Nhỡ địch xuống thì lấy ai chỉ huy? Hỏng quá...”. Nhưng nể bạn, Tiến không bỏ đi ngay.

Một giọng ồ ồ bên nam bắt lên câu đầu của bài hát lam-vông ca ngợi tình yêu và người đẹp. Tiếng phụ nữ thanh thanh hòa theo. Bài hát ngân vút trong tiếng vỗ tay giữ nhịp:

Dáng người lưng ong xinh tươi
Xin mời ra múa, mong ai vui lòng
Sen nhỏ bơi trong hồ ngọc
Nhẹ nghiêng nhìn về phương nam
Nàng đẹp như đóa sen hé nở
Ngày ngày anh những ước mơ
Đêm nằm ôm gối bàng hoàng mê tỉnh...


Tiến cũng hát theo. Nhạc điệu tươi mát của bài dân ca Lào dần dần làm anh rạo rực vui. Anh đã học và thưởng thức được cái chất thơ trong lành của những bài hát Lào rất cổ, truyền miệng từ bao đời không ai nhớ.

Bên nữ bước ra ba người đi nối nhau, Bua Kham đi cuối cùng. Hôm nay Kham lại diện sơ-mi lụa hỏng, váy xa-tanh đen gấu thêu kim tuyến óng ánh, thêm đóa hoa nhài trên mái tóc chải mượt, bới chéo sang một bên. Chiếc khăn lụa hai thước quàng chéo che ngực, rủ lơi hai tà xanh phủ phất như bàn tay vẫy khẽ. Chân rún nhè nhẹ theo nhịp vỗ bên ngoài, hai cánh tay trần uốn mềm lên xuống như đôi cánh cò trắng khoan thai nương gió.

Giữa vòng người, hai luồng mắt của Kham và Tiến giao nhau trong một loáng. Kham hơi mỉm cười, từ từ bước lại gần. Tiến quay mặt đi, nghĩ nhanh: “Lủi ngay! Nó định bắt cóc...”. Nhưng anh vẫn đứng yên, tim đập mạnh khó chịu lạ.

Tiến giật mình đánh thót.

Kham đứng trước mặt anh, uyển chuyển cúi đầu mời. “Bỏ mẹ!” Tai bốc lửa, Tiến rủa thầm, luống cuống ẩy Vi-xiên lùi về phía sau. Vi-xiên du hai vai anh, đẩy đến trước mặt Kham: “Ơ kìa, người ta đợi!”.

Kham đứng yên, đôi mắt hạt nhãn lấp láy dưới ánh đèn, môi chúm chím nghịch ngợm, cả bông hoa nhài cũng nhìn Tiến như một con mắt mở to vương trên tóc. Thẹn quá quên cả lễ phép, Tiến dằng tay Vi-xiên chui tọt ra ngoài vòng giữa tiếng cười rộ. Vi-xiên đành phải ra tiếp Kham. Hai người bước bên nhau chầm chậm theo nhịp múa, đưa mắt nhìn nhau cố nín cười.

----------------------------------------------------------
(1) Người hát lăm chuyên nghiệp. Lăm là điệu hát kể hoặc đối đáp.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #17 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2012, 10:04:57 am »

Tiến về nhà nằm phịch xuống võng, kéo chăn trùm kín đầu.

Ngượng chín cả người, bị đưa ra bêu cười giữa đám hội! Nhưng, nghĩ quanh quẩn, Tiến vẫn không thấy bực. Lại thu thú. Trai gái mời nhau múa ngay vòng đầu là lối tỏ cảm tình tế nhị. Trăm tội chỉ tại cái tính thẹn thò, bẽn lẽn, “kiêng gái” của Tiến thôi. Ở Lào thành thổ công, người ta mời múa lại co cẳng chạy như cọp đuổi, không biết xấu!

Đôi mắt Kham to, đen, điểm hai chấm sáng nhấp nhánh như đang nhìn Tiến trong chăn. Hương hoa nhài thoang thoảng. Làng Na-bua... nghĩa là Ruộng sen. Bua Kham - hoa sen bảng vàng, Sen Vàng. Tên đẹp, người cũng đẹp. Tính nết... ừm... hồn nhiên dễ thương. “Hoa sen nhỏ bơi trong hồ ngọc”. Câu hát tình ghê...

Tiến bỗng phì cười: bắt được quả tang tay kiêng gái nghĩ lan man nhé! Xấu đẹp cũng là của người, can gì đến mình. Dấm dớ mang tiếng dân vận lẻ thì chết. Dẹp, dẹp tất! Anh em bị kiểm thảo khối ra rồi đấy, còn tưởng bở...

Hội làng như đã tan thì phải, tiếng đàn hát trôi xa dần, hư ảo. Ai nâng võng Tiến đu đưa lên xuống, nhẹ như bông gạo vờn gió. Tiến chỗi dậy ngó quanh, ngơ ngác.

Một thế giới lạ-kỳ, không ánh sáng mà vẫn sáng, bởi âm thanh biến thành mầu sắc. Nhạc khèn thoi thóp, dồn dập, ríu rít, chảy thành những sóng lượn vàng rực lưng chừng trời. Đèn la-nát thả rơi những bong bóng pha lê, từng quả lớn hay chuỗi con, vỡ dưới chân bật tia loe lóe... Bóng người rõ dần. Tiến thấy toàn những người rất quen tuy không nhớ gặp ở đâu. Hai hàng trai gái hát đối đáp nhau. Hát đúm hay trống quân không ró. Cô gái đứng giữa đang hát ra tiếng mầu xanh biếc, một dải sáng phập phồng khẽ vẫy như bàn tay mềm. Cô nhìn Tiến, vẫn hát. Đôi mắt quen quá. Tiến đi vội, vấp tay vào đá ong. Lại vấp. Đôi mắt to dần, sáng dần, tỏa ánh chói lòa, dữ dội. Đèn pha ô-tô thốc vào mặt Tiến. Địch đến!

Anh ú ớ nhảy chồm dậy, quờ tay tìm súng.

- Gớm! Ngủ như chết, đập mãi không dậy. Hai giờ rồi, đi thôi.

Đồng chí trung đội phó tắt đèn bấm. Tiến hít một hơi dài, từ từ đứng lên. Phía sân chùa vẫn lao xao. Hội còn kéo dài đến sáng mới tiếp vào lễ chính đọc hết pho kinh Phạ-vệt.

Trung đội lặng lẽ cuốn võng, bí mật băng rừng ngược về hướng Tây-bắc. Lọt dưới cây những mảng trăng hạ tuần rách rưới bò trên lá khô, không đủ soi chân người đi. Tiến bước dò dẫm tránh những mấu đá sắc. Nhớ lại đêm qua, anh có một xúc cảm là lạ, nửa vui nửa buồn, hình như tiếc một hình ảnh tuyệt đẹp nhưng quá ngắn.

Chát! Một cành thấp đập vào trán Tiến. Mắt tóe sao.

Hành quân đến sáng, trung đội 8 vào đến chiến khu Núi Hoa. Trung đội It-xa-la lục tục đến sau. Đại đội 200 chủ lực của khu đã bí mật kéo về đây đợi sẵn, chuẩn bị đánh úp đồn Suối-đỏ.

*

Sương mù trắng đục như nước gạo còn vướng trên ngọn dừa chưa chịu tan. Đàn chim sẻ dậy sớm đuổi nhau choe chóe trên cành me đầu nhà. Kham gánh đôi gầu đi ra suối, tay gạt mấy sợi tóc xõa trên trán, người còn ấm hơi chăn.

Sau đêm hội Đôn-phao, Kham mới biết bộ đội anh Tiến rút đi xa. Về nhà Kham cứ thấy lo lo, không hiếu lo cái gì. Kham tự cắt nghĩa cho mình lo không ai giúp nhóm It-xa-la, lo Pháp càn không ai đánh. Nhưng lại thấy nó giả dối thế nào.

Rồi trưa hôm qua, phía đồn Suối-đỏ văng vẳng tiếng súng nổ lâu lắm. Dân làng rậm rịch chạy càn. Không ai tin bộ đội dám đánh đồn. Ta lèo tèo vài trung đội, đồn nó đóng những hơn trăm quân. Vả lại hôm trước bộ đội kéo về hướng khác kia mà. Đêm đến Kham thao thức vì lo. Sáng nay Kham lại bị cái lo kéo dậy sớm...

Trút xong gánh nước vào chum, Kham vớt mẻ gạo nếp ngâm tối qua, cho vào cái hông bằng tre đan, bắc nồi lên bếp. Đun lửa cháy to ngọn, Kham xuống dưới sàn ngồi dần nốt nửa thúng gạo chiều qua làm dở.

Dạo này Kham thấy mình khác được nhiều lắm. Từ ngày bị chú Xẩy nói mỉa mai như rứt từng miếng thịt, bị cha mắng lên mắng xuống, Kham không dám đua đòi theo con gái nhà giầu nữa. Phần vì xấu hổ, phần thương mẹ già vất vả, Kham trở nên người chăm việc. Ngoài vụ cấy gặt, suốt ngày Kham cứ luôn tay luôn chân: kéo chỉ, dệt vải, đồ xôi, giã gạo, lấy măng lấy nấm... không chịu ngồi rỗi. Mẹ thường mắng yêu Kham:

- Con gái mẹ làm nhiều xấu người, không đắt chồng đâu!

Mẹ nói thế thôi, chứ vẫn biết con mẹ đắt chồng nhất làng. Tuy nhà mẹ ít thóc ít trâu, nhưng đêm nào cũng hàng năm bẩy cậu trai làng đến lìn xảo (tán gái), khêu cà-boong chuyện vãn với Kham đến khuya. Mẹ đi ngủ sớm để các cô cậu được tự nhiên.

Thôi thì họ ướm nhau đủ lời bóng bẩy xa xôi, thổi khèn, hát những bài lăm tình tứ. Có chàng ví tiếng Kham cười như tiếng oanh vàng ru lòng người. Người khác thấy đôi cánh tay Kham lả lướt hơn cành phan trong đêm hội đèn hoa. Nhưng tất cả đều khen Kham đẹp như đóa sen bình dị soi bóng trong hồ ngọc, và thở than sao hoa kia chưa hé nụ cười xuân với đàn ong bướm lượn quanh... Vài hôm lại một lá thư tìm yêu ném qua cửa sổ buồng riêng. Kham đọc cho mẹ nghe, cười một hồi, ngẫm nghĩ một lúc, rồi xếp lẫn lộn anh này với anh kia thành một tập thư khá dày gồm hơn mười nét chữ khác nhau. Khó chọn quá.

Phò Phun mỗi lần bí mật tạt về thăm nhà lại mừng thầm cho con có nhiều tiến bộ, lại được lắm nơi dòm ngó. Kiếm được chàng rể tốt về giúp giập thì về già phò cũng được rảnh tay bế cháu. Nhưng phò vẫn bực về nỗi Kham không dám mó vào công tác kháng chiến lấy mảy may. Hết mắng con ông lại gắt vợ: “Con cái lớn tồng ngồng mà chả giác ngộ gì sất. Con hư tại mẹ...”.

Bà cụ bênh con chầm chập:

- Đấy ông thử hỏi khắp làng xem ai bảo con tôi hư? Ơn đức Phật tổ nó được người được nết. Chịu khó lam làm lại thông minh sáng dạ. Gái làng đã mấy đứa biết chữ được như nó.Tuổi chưa nên người, ông định bắt nó đi cán bộ để tôi thui thủi. Có mụn con trai đi bộ đội chết rồi, giờ đến con gái... Nhỡ nó có làm sao thì tôi... tôi...

Mè thút thít khóc, và phò chịu thua.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #18 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2012, 10:07:58 am »

Hồi còn là tay thanh niên ngỗ ngược dám đánh nhau với lính đồn, phò vẫn phải lụy cô vợ rất mau nước mắt. Mỗi lần tức vợ quá, phò sầm sầm bỏ nhà đi lên Bô-lô-ven, bẫy voi rừng dạy thành voi khôn mất vài tháng, bán lấy bạc vạn, rồi mang về biếu vợ chiếc xuyến vàng hay đôi hoa tai để làm lành. Mãi đến nay vẫn phải lụy như thế. Bụt nhà không thiêng, làm ông cán bộ huyện mà không giác ngộ được vợ con, phò nghĩ cũng thấy ức.

Kham ngừng tay dần gạo, đuổi mấy con gà táo tợn thò đầu mổ tận trong nia, tự nhiên tủi thân muốn khóc.

Mẹ giữ chịt Kham ở nhà định chong chóng gả lấy chồng để có con rể đến đỡ tay và kiếm tí cháu bế. Cha định kéo Kham đi làm việc nước, không được lại mắng mỏ. Còn chú Xẩy giao công việc cho Kham: “Mày vận động thằng Mắt-mèo nó cho biết tin tức đi”. Khốn khổ, mỗi trận càn quét cứ thấy hút nó vào làng Kham đã thất thần, tọt vào buồng ngồi nửa chết nửa sống. Chú Xẩy cũng nói cho tàn tệ. Hình như các anh It-xa-la đều nghĩ rằng con gái ông cán bộ tự nhiên phải gan dạ từ thuở lọt lòng hay sao ấy.

Đến nay Kham đã quen với những lời nhiếc móc lắm rồi. Kham đinh ninh rằng mình hèn, mình là đứa không ra gì. Kham chỉ còn biết phân trần rằng Kham không mê Phủi, chỉ bị hắn quyến rũ một dạo nhưng vẫn không “gì” như chú Xẩy nói. Các anh chị không đồng ý, Kham cũng thôi...

- Em chăm việc quá nhỉ?

Kham giật mình ngửng lên, thấy Phủi đứng trước mặt đang tủm tỉm cười, Kham luống cuống dần gạo ra ngoài nia, không đáp. Phủi vẫn cười, răng vàng lóe sáng trên khuôn mặt hồng hào, đầy đặn. Môi dầy và đỏ. Đôi mắt hơi lồi, khá sắc. Giở chiếc mũ dạ đắt tiền, Phủi ngồi xổm xuống hỏi nhẹ nhàng:

- Sao em gửi trả anh chiếc nhẫn? Em không thích chơi nhẫn à?

- Không...

- Anh cũng đoán thế, nên tìm chọn thứ khác. Đây, em xem.

Liếc nhìn qua, Kham rùng mình. Trong chiếc hộp lót nhung, sợi dây chuyền vàng mặt nạm kim cương tỏa ánh lập lòe. Sợi dây chuyền Kham mơ ước từ tấm bé cũng không đẹp thế này. Phủi chỉ buôn một chuyến hàng ngoại là thừa sắm, còn Kham cấy mười mùa lúa cũng chưa đủ một nửa tiền.

- Em xem, anh có tiếc gì với em đâu. Tất cả cơ nghiệp nhà anh, cả tính mạng anh nữa, anh chỉ đổi lấy chút tình yêu... Sao em nỡ hắt húi anh, hở Kham?

Kham nhắm mắt không dám nhìn nữa. Đầu óc xoay xoay. Phủi giỏi trai, ăn nói khéo lạ lùng. Không ai yêu Kham thắm thiết như Phủi. Các anh chị chê bai châm chọc Kham, chỉ có Phủi biết an ủi và nuông chiều... Kham mở mắt nhìn cánh tay mình lấm cám đến cùi, nhìn bộ quần áo sang trọng của Phủi. Các anh chị It-xa-la chỉ nghi ngờ chứ chưa dám chắc Phủi là gián điệp. Không có chứng cớ gì cả. Hay họ ghét Phủi vì anh ấy giàu? Người làm ruộng ghét người đi buôn chăng? Bụng dạ Kham rối tinh.

- Anh... về đi.

- Kham đuổi anh sao? Không cho anh sống nữa ư?

- Không, tôi... thôi anh về đi.

Kham lẳng lặng bước lên nhà. Vào buồng. Mẹ đi vắng. Nhìn qua cửa sổ thấy Phủi chầm chậm bước từng bước, Kham lại muốn gọi anh, nói một tiếng ngọt ngào cho anh đỡ khổ. Căn nhà thoắt tối sầm trống lạnh quá chừng. Hai giọt nước mát lăn xuống má Kham nóng hổi. Kham chịu, không còn hiểu Phủi là người thế nào nữa. Phủi là ma quỷ, hay là tiên?

- Ơ kìa, gà ăn hết gạo!

Kham luống cuống vớ khăn lau mặt. Tiếng chú Xẩy cười khà khà:

- Bà cụ giàu quá nhỉ, cho gà ăn toàn gạo trắng.

Kham trèo xuống dưới sàn, bưng thúng gạo. Xẩy ngồi trên cổ voi nói với: “Để đấy tao giúp. Hưi!”. Con voi cưa ngà co lên một chân trước. Xẩy dẫm trên khuỷu chân voi, trèo xuống đất. Bê thúng gạo lên nhà, chú cười hề hề, rỉ tai Kham:

- Lấy đồn Suối-đỏ rồi. Bắt được thằng Cụt rồi!

- Ô...

- Đánh trưa hôm qua, mày biết không?

Kham trố mắt ngạc nhiên. Xẩy kể thêm: nào là tù binh đông như đám hội, những hơn trăm thằng, súng như rừng đạn như núi - Nào là bộ đội mặc giả lính địch, lọt vào đồn đánh úp, chỉ năm phút là Pháp đầu hàng. Cả Lào lẫn Việt đều đánh như hùm - nào là anh em Việt không sờ đến cả một điếu thuốc chiến lợi phẩm. Họ bảo phải giao tất cả cho ủy ban Lào, không được phạm chủ quyền người Lào. Bộ đội Việt dạo này nghiêm lắm, không phải như cái thằng Linh quỷ tha ma bắt năm nọ... Ơi chao chao, tài thật các ông bộ đội!
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #19 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2012, 10:11:40 am »

Kham xuýt xoa mừng rỡ. Xẩy dặn Kham truyền miệng cho nhóm It-xa-la để tuyên truyền trong dân làng, rồi hối hả xuống thang. Anh đưa voi đi tải chiến lợi phẩm. Kham sực nhớ ra, gọi giật:

- Chú Xẩy! Bộ đội ta có ai... gì không?

- Chỉ thiệt mạng ba người. Một Lào hai Việt.

- Dà ơi! Cầu cho các anh siêu sinh tĩnh độ...

- Trung đội Việt ở đây chết một. Anh Tiến trúng đạn...

Xẩy trèo lên khuỷu chân voi. Trống ngực Kham đổ đồn, đầu gối bủn rủn không đứng vững. Thôi đúng rồi, cái lo lắng lởn vởn mấy hôm nay... Xẩy ngồi chĩnh chện xong mới tiếp:

- Anh Tiến trúng đạn bị thương nhẹ. Bộ đội bây giờ nghỉ ở Ka-lan. Tao cho cái đồn Núi Quỷ sống dai cũng được tháng nữa chứ mấy. Tài thật các ông bộ đội!

Kham đỡ sợ, nhưng vẫn bần thần lo lắng. Anh Tiến bị thương. Chắc hắn anh nằm trên võng, máu me đầy người, rên xiết... Chao ôi!

- Cho cháu đi với. Cháu đến thăm anh Tiến. À thăm bộ đội.

- Thăm gì, mai kia anh ấy lại về đây.

- Anh bị thương...

- Rách tý da. Anh ấy vào đồn đầu tiên đấy. Vi-xiên vào thứ hai. Tài thật các ông bộ đội!

Kham chạy lên nhà lấy tấm khăn dài mới dệt và mấy quả trứng gửi biếu anh Tiến, kèm mấy sợi chỉ trắng để buộc tay chúc phúc cho anh. Con voi cưa ngà đứng đợi sốt ruột, hết dọa con chó vàng lại rống từng tiếg ngắn. Nó thò cái vòi ngoằng ngoẵng hít hít tay Kham đòi quà. Kham đập cái vòi, mắng “thằng bé con” tham ăn, nhưng vẫn mất cho nó quả đu đủ xanh. Xẩy hô “đơk!” thúc voi đi. Nhìn theo Kham đang hớn hở chạy tìm các anh chị It-xa-la, Xẩy bĩu môi, thầm chê con gái ông cụ Phun còn quá trẻ con.

Suốt ngày hôm ấy, Kham làm việc không ngơi tay nhưng đầu óc để đâu đâu. Hình ảnh Tiến máu me đầy người cứ luẩn quẩn. Cái anh chàng người Việt này kỳ quái lạ. Không sợ chết, không sợ khổ, không sợ quỷ thần, thế mà Kham đến mời múa lại cuống quýt chạy trốn! Con người cả thẹn trông đến là dễ thương... Sợi dây chuyền vàng mặt kim cương và nụ cười quyến rũ của Phủi sáng nay, Kham đã quên bẵng.

Nhưng chiều đến, chú Xẩy về làng đưa trả Kham tấm khăn xanh đỏ mới dệt. Chú nói một câu làm cho Kham đau đớn như nứa cắt ruột.

- Tao biết mà. Đời nào anh Tiến nhận của mày biếu. Anh ấy có tham như thằng Phủi đâu!


V

Dân các làng xa hàng chục cây số tới tấp kéo về Ka-lan, xem thằng Cụt bị bắt. Mông-phai, tên quan một cụt tay của đồn Suối-đỏ, là con quỷ gớm ghiếc nhất ở Xây-thả-von.

Trong một góc làng, trung đội trưởng Vi-xiên dang hai tay, gầm lên:

- Im lặng! Đồng bào lùi ra! Tôi không bà con gì với nó...

Đám đông ngót trăm người láo nháo, hỗn độn, im được vài giây rồi lại sấn sổ:

- Anh bênh nó!

- Tránh ra! Nó cắt cổ cha tôi mới hôm kia!

- Con ơi, Bun-ma ơi, con về mà xem thằng Cụt... hu hu !

Tên tù binh biết không thoát chết. Hắn quắc đôi mắt điên dại, nghiến bạnh quai hàm, ngửng đầu lên. Mâý xoắn tóc nâu rủ xuống trán. Một bà cụ ẩy Vi-xiên ra, tay run lẩy bẩy giơ cao tấm váy cũ, quật trên mặt hắn, nấc oà: “Mày... mày hiếp con tao... nó chết!”. Một hòn đá bằng nắm tay vút qua vai Vi-xiên, trúng giữa ngực thằng Cụt đánh hự. Hắn nẩy người, rũ xuống.

Vi-xiên khuyên lơn, quát tháo, lúc ngọt lúc sẵng, nghĩ bụng lại oán Tiến. Cậu ta vừa bàn giao tù binh xong đã biến mất tăm, để một mình Vi-xiên không ngăn nổi khối người căm uất đến điên cuồng này. Đúng lại anh chàng sợ xẩy ra va chạm giữa bộ đội Việt với nhân dân, sinh to chuyện. Lúc nào cũng ý tứ chi ly, rõ máy móc!

Nhác thấy phò Phun đi đến, Vi-xiên reo to: “Ủy ban đây rồi! Đồng bào tránh ra!” Anh đưa tay gạt mồ hôi ướt đầm trên trán, tuy trời không nóng. Tiểu đội du kích làng Ka-lan áp giải tên tù binh ra tòa xử tội.

Trong khi ấy trung đội 8 đóng ở ngoài rừng nghỉ tắm giặt, chuẩn bị trở về nắm cơ sở. Tiến vừa dúng bộ quần áo bết bùn khô và máu xuống nước, Mộc đã giật lấy ngay.

- Anh bị thương, để tôi.

Tiến bật cười. Mất mẩu thịt ở vai mà bở, bao nhiêu chuối trứng của dân cho đều dồn phần Tiến, động sờ đến việc gì đã có người hớt tay làm hộ. Anh ngồi nhìn bộ đội tắm giặt, tán nhảm mấy câu rồi lên chỗ trú quân. Đồng chí Mạc bí thư liên chi đang ngồi trên võng, nói chuyện với anh em B.8.

Đến chỗ Mạc, Tiến nhận được một lá thư bên nước gởi sang. Tưởng thư nhà... nhưng cũng tốt, vì lá thư của Điềm, ông bạn tri kỷ cụt tay. Điềm có tài đối đáp kê đệm nổi tiếng trong lứa cán bộ trẻ. Tiến đọc thư cứ phì cười từng quãng.

Chúng mày ơi!

Rời chiến trường về nước, tao phóng tốc độ mã hồi, bụng cứ thon thót sợ phục kích. Nhưng khi lọt qua dốc Tang-đam, đặt chân lên đất ông bà, tao lại nhớ chúng mày thức suốt một đêm. Ăn bát phở, miếng đường cũng thấy bùi ngùi thương thương cái tố quỷ bốn đứa chúng mình ở Át-tô-pơ, nướng măng chia nhau nhai trừ bữa.

Trên cho tao nghỉ một lèo bốn mươi ngày chữa báng số 3 và chỗ cưa tay chưa lành hẳn. Nhàn cư vi bắt thiện, tao đâm ra muốn lấy vợ. Nói chúng mày đừng cười. Tao tưởng mì: ba ngày tìm hiểu, trầu cau đưa đến một tuần vừa ngon ơ. Hóa ra nhùng nhằng mất gần tháng. Thấy nhiêu khê quá, tao đâm thắc mắc, mấy lần tính nước lui quân, nhưng con bé cứ động viên tao mãi. Tội nghiệp, trước tao nghĩ nó thấy què cụt thế nào cũng chê. Nhưng nó khóc bảo tao: Anh mất một tay chứ mất hai tay em cũng lấy”. Nghĩ càng thấy lạ, xây dựng cơ sở cho cách mạng Lào thì tao kiên trì mấy năm không kêu, mà xây dựng cơ sở cho chính mình tao lại nóng vội như Trương Phi. Nhưng cưới vợ xong tao thích quá nên bao nhiêu thắc mắc biến đi ráo. Thế mới khỉ,. nói thế chứ tình cảm của tao bị chúng mày chiếm hết ba phần tư rồi, tao không quên bạn đâu.

Tao có đến thăm nhà mày Tiến ạ. Ông cụ râu bạc một nửa, vẫn làm ở hỏa xa, ngành tiện. Em mày vẫn ở đội chữa cầu, đi xếp tà-vẹt cao ba bốn chục thước làm trụ cầu gẫy. Cô em út học lớp năm, đảm ra phết. Từ ngày bà cụ chết bom, gia đình túng bấn lại neo người, cứ ngong ngóng mày về lấy vợ để thêm tay đỡ đần. Ông cụ bảo trước định độc-lập rồi gia đình trở về quê ngoài Bắc, giờ thì tính chuyện ở luôn đất Bình-Định.

Bởi thế nên tao rấm sẵn cho mày một cô hàng xóm tên là Xuân, tiêu chuẩn đẹp hạng A1 non và A2 cúng, họ gì chả biết, 19 tuổi, con nhà trung nông làm ăn rất cừ. Tao kể thành tích mày nhé, cho xem cái ảnh xinh trai nhất ấy nhé, tán dương chiến sĩ quốc tế vinh quang nhé. Chu đáo đến nỗi con bé mê tít, vài hôm lại vờ vĩnh tạt sang, ý chừng thăm dò xem bao giờ mày về. Tao hẹn : “Cô thật ưng, tôi mới gọi em nuôi tôi về”. Nguýt dài, nom duyên lạ. Giá tuổi tao chưa ngót tam tuần thì không còn đến phần mày, hẳn mày không chê vào đâu được. Mọi việc tổ chức tao liệu cho cả. Cấm mày không được nhường anh em về luân lưu trước đấy. Mày không về tao nhỡ tàu ê mặt lắm, tao từ mày tức khắc.

Thăm chung bà con Xây-thả-von, cả Việt lẫn Lào. Riêng chúc Sơn-Linh tiến bộ.

HÀ VĂN ĐIỀM

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM