Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:05:43 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chuyện của lính "thối tai, chai đít" (phần 4)  (Đọc 225092 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vetran
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1145


Một thời để nhớ.


WWW
« Trả lời #430 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2013, 02:48:49 pm »



Chuyện đi Nam Lào của anh ở chỗ nào, cho tôi đường link đi. Cả năm vừa rồi tôi ngồi trên cột điện nhìn mây, nhìn trời, không biết mô tê chi cả. Sang bên Khúc quân hành lại gặp bà hatuyenha bên ấy, mà chuyện thì cứ nhạt phèo.
Chúc mừng anh Linhthongtin đã mãm hạn trở về và làm chủ thực ngôi nhà của mình, chứ không còn hoang dã như xưa nữa, mà anh nhớ nhập trạch lần này phải cúng kiếng cẩn thận vì "có thờ có thiêng..."nhất là tháng cúng cô hồn này. Chúc anh khỏe!
Logged

Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
hatuyenha
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2403


« Trả lời #431 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2013, 04:10:12 pm »

    Ngày mai ban liên lac của hội VKTTT thông báo gặp măt ở nơi cơ quan mới ( e 130 cũ ) . Nếu ai chưa nhận được tin mời các đồng đội đến nhé . 8 giờ có mặt giao lưu . Trưa có chén cơm lính tai nơi họp mặt . Mình sẽ đến muộn, hen gặp các chiến hữu vào ngày mai nhé.
Logged
linhnamlien
Thành viên
*
Bài viết: 368


« Trả lời #432 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2013, 09:35:32 am »

anh linhthongtin đi sắm lễ gì mà lâu thế? đi lâu ngày nay mới về phải chào hàng xóm đi chứ
Logged
linhnamlien
Thành viên
*
Bài viết: 368


« Trả lời #433 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2013, 03:37:48 pm »

Nhờ quan y103 Gửi tới Đá Biên

THƯƠNG TIẾC ĐỒNG ĐỘI
           E207
(Những người lính có cùng cảnh lúc lên đường ra mặt trận)

Có những đóa hoa, những bài ca
 “Khi miền nam cháy trong lòng ta”
“xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”
Quân kỳ rầm rập chiến trường xa

Đường ra trận máu và hoa
Mong sao Tổ Quốc chúng ta hòa bình
Quân reo vẫy gọi chúng mình
Bút nghiên xếp lại chiến binh xa trường

Dày vẹt gót, núi mù sương
Mồ hôi đẫm áo, súng trường trĩu vai
Lam chiều khói bếp nhà ai
Nhớ quê, nhớ mẹ không phai lời thề

Đồng bưng, một sáng mai về
Quân xanh màu áo, bốn bề giặc vây
Quyết chiến, quyết tử nơi này
Máu xương đổ xuống cho ngày mai sau

Linh thiêng giờ đang ở đâu?
Hay chăng đất nước rợp màu cờ sao
Những công trình, những tầm cao
Đồng bưng ngày ấy khi nào cho quên

Linh thiêng Bắc bỏ - Đá Biên
Ấm lòng đồng đội giữa miền viễn chinh
Máu xương xây tổ quốc mình
Rừng tràm ngày ấy, chiến binh bi hùng./.



Logged
quân y 103
Thành viên
*
Bài viết: 277


« Trả lời #434 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2013, 08:39:00 pm »

@ linhnaamlien em sẽ in và đọc dùm anh ,em đọc ở miếu cũ chứ không đọc trong nhà thờ to đùng kia đâu
Logged
linhnamlien
Thành viên
*
Bài viết: 368


« Trả lời #435 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2013, 08:12:25 am »

@ linhnaamlien em sẽ in và đọc dùm anh ,em đọc ở miếu cũ chứ không đọc trong nhà thờ to đùng kia đâu

Đúng rồi! ở cái miếu cũ mà người thợ xây có ghi dòng chữ: "hy sinh gì (vì) tổ quốc" dưới chân bệ ấy. Người thợ xây này mới học lớp 1 nên ghi vậy đấy.
Logged
linh thong tin
Thành viên
*
Bài viết: 746



« Trả lời #436 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2013, 10:33:31 am »

Đúng rồi! ở cái miếu cũ mà người thợ xây có ghi dòng chữ: "hy sinh gì (vì) tổ quốc" dưới chân bệ ấy. Người thợ xây này mới học lớp 1 nên ghi vậy đấy.

Có thể không phải do "người thợ xây này mới học lớp 1" mà là người Nam bộ phát âm từ "vì" thành "gì" nên nói sao viết vậy.
Logged
linh thong tin
Thành viên
*
Bài viết: 746



« Trả lời #437 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2013, 11:50:42 am »

NHỮNG THÁNG NGÀY HÀO HÙNG SÔI NỔI

(Hồi ký của đại tá, tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan)

... Khoảng tháng 7-1950, sau khi củng cố đơn vị, Tiểu đoàn học viên lục quân khóa VI chúng tôi hành quân lên phía Bắc, chỉ cán bộ, đảng viên mới biết là sang Trung Quốc. Là cán bộ trung đội, đảng viên trong chi bộ mà chi uỷ có tới một nửa là cán bộ Đảng bên ngoài vào học, trung đội tôi chỉ là một tổ Đảng, tổ trưởng đảng lại là một đồng chí cấp uỷ Đảng ở ngoài vào học.

Nghi binh cho chiến dịch Biên giới, trên đường đi Tuyên Quang, Hà Giang, nhân dân đổ ra đón tiếp, cờ xí, băng rôn, quà bánh. Vượt qua cầu biên giới Thanh Thuỷ, để lại phía sau huyện lỵ Ma Ly Phố rồi Tây Thọ, Pa Kha..., đơn vị chúng tôi đến Nghiên Sơn trú quân tại một doanh trại cú của quân Tưởng.

Nghỉ ngơi được ít ngày, mấy tiểu đoàn học viên được lệnh vác vũ khí về nước. Trung đội tôi nhận lựu đạn chày, đạn súng trường, súng tiểu liên, súng máy... mỗi người từ đại đội trưởng trở xuống mang đủ 25 kilô. Rồi lại trở đi, trở lại, vũ khí trên người theo đường cũ về nước.

Hoàn thành chiến dịch “vác vũ khí” xong, đơn vị hành quân bộ, vượt núi băng đèo đến Khai Viễn, từ đấy đi xe lửa đến Phùng Minh Thôn, địa điểm của “Vân Nam quân khu đặc khoa học hiệu” – tên công khai của Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn từ khoá VI cho đến hết khoá X tại Trung Quốc.

Công tác và học bổ túc tại Phùng Minh – cách Côn Minh khoảng 30km - được giải quyết theo nguyện vọng về nước chiến đấu, đoàn chúng tôi do đoàn trưởng Mai Nhân – sau này có thời gian làm Cục trưởng Cục quân nhu – đã có mặt tại Cục cán bộ Tổng cục Chính trị trong khu ATK (An toàn khu), Việt Bắc vào cuối năm 1952. Sau khi Chủ nhiệm Chính trị Nguyễn Chí Thanh “đả thông tư tưởng”, một số anh em chúng tôi trong Đoàn nhận lệnh đi khu 4, Trung Lào, nhưng rồi chiến dịch Tây Bắc diễn ra, lại quay lại, được đưa về công tác tại một Trung đoàn trực thuộc Bộ Tổng tham mưu.

Chỉ huy một trung đội được vài tháng, Chính ủy Phạm Ngũ Kiên điều tôi lên Ban chính trị Trung đoàn làm cán sự tuyên huấn, trưởng ban ban đầu là Nguyễn Văn Trung – sau là chủ nhiệm khoa Mác-Lênin, Trường Chính trị Quân sự Hà Đông. Từ một cán bộ quân sự, tôi “chuyển ngành” sang “ngạch” chính trị từ năm đó.

Cùng với các bạn trong Ban, chúng tôi đã tổ chức huấn luyện chương trình “quân đội nhân dân”, tiến hành cuộc vận động chống “văn hóa đầu độc”, đốt các sách báo ủy mị, ảnh hưởng đến khí thế chiến đấu của quân đội, dạy những bài hát mới để xóa bỏ các bản nhạc vàng; tổ chức Đại hội mừng công chiến sĩ thi đua Trung đoàn, ra báo Tiến lên, 1 tuần 1 kỳ, in trên đá li-tô, 2 trang lớn hơn khổ giấy A4 một chút, mở Liên hoan văn nghệ quần chúng trong Tháng Việt – Trung – Xô, triển lãm tranh, truy điệu Stalin, tham dự đấu tố trong cải cách ruộng đất, mở các lớp học văn hóa, tuyên truyền chiến thắng, gặp gỡ quân dân... Công việc cứ tối mắt lên, chẳng biết ngày tháng, nghỉ ngơi, chẳng mong ước xa nào ngoài hoàn thành nhiệm vụ...

Giữa năm 1956, Tổng cục Chính trị triệu tập tôi và mấy cán bộ đại đội cùng cấp về Hà Nội học tiếng Nga, lớp tiếng Nga đầu tiên ở Việt Nam. Sau hai năm, đáng lẽ là tiếp tục sang Liên Xô, nhưng do nhiều nguyên nhân, việc “xuất ngoại” này hoãn lại, tôi cầm lệnh điều động về Cục Thông tin liên lạc vào giữa năm 1959.

Số phận và duyên nợ đã gắn bó cuộc đời tôi từ đây cho tới khi “hạ sao”, 9-1989. 30 năm ở bộ đội thông tin, qua gần chục “đời” Cục trưởng, Tư lệnh, từ đồng chí Hoàng Đạo Thuý, Nguyễn Anh Bảo, Hoàng Niệm, Phạm Niên, Tạ Đình Hiểu, Phan Hoan, Nguyễn Xuân Thăng...

Trong 30 năm đó, trải qua nhiều công tác như biên dịch, phiên dịch, cán bộ huấn luyện, giáo viên dạy tiếng Nga, biên soạn sách, giáo viên Trường Sĩ quan Thông tin, cán bộ tuyên huấn... nhưng những kỷ niệm sôi nổi, hào hùng nhất, đẹp đẽ nhất vẫn là những kỷ niệm về công tác tư tưởng, chính trị, văn hóa...

(còn nữa)
Logged
linh thong tin
Thành viên
*
Bài viết: 746



« Trả lời #438 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2013, 09:58:52 am »

(tiếp theo)

Năm 1964, sau hơn một năm cùng với các đồng chí khác từ Kiép (Liên Xô) trở về. Khi có Nghị quyết 9, tôi vác ba lô đi bộ về Hiệp Hòa, “căn cứ địa” của Trường sĩ quan thông tin do Trưởng phòng huấn luyện cũ của tôi là Hoàng Tài Long làm hiệu phó, thực việc là Hiệu trưởng. Đầu năm 1966, đồng chí Nguyễn Duy Lạc, cán bộ phòng chính trị Cục thông tin lên nhà trường, gặp tôi, hỏi thăm sức khỏe, tình hình công tác cũ thời chống Pháp, tình hình gia đình... và không thông báo một ý kiến gì. Do đã có 15 năm tuổi quân, nên tôi đoán sẽ có chuyện thay đổi nhiệm vụ.

Tôi bỗng nhớ lại, một ngày vào giữa năm 1959, khi cầm quyết định đến gặp đại tá Hoàng Đạo Thuý, vị Cục trưởng, huynh trưởng Hướng đạo sinh mà tôi từng biết, hỏi:

- Nghe Đạm (tức Tạ Quang Đệ - nhà báo Quang Đạm) nói đồng chí là Xì-cút (Hướng đạo sinh)?

- Vâng! Ở đạo Hạc Thành với anh Trần Mỹ Thạch (anh ruột đại tá thông tin Trần Hoạch) và Văn Hà của anh Võ Chương (sau năm 1945 là cán bộ bảo vệ Bác Hồ), và Quang Đạm (tên thật là Tạ Quang Đệ, em ruột Tạ Quang Bửu, nhà báo, biên uỷ báo Nhân Dân).

- Xì-cút thì phải thế nào?

Tôi trả lời bằng tiếng Pháp:

- Phăng-giơ ê tú-giua-prê (Franc jeu et toujour prêt = Thành thật và sẵn sàng).

Cục trưởng đứng lên, bắt tay trái (lối bắt tay của Xì-cút) và nói:

- Thế là tốt. Rồi đồng chí Anh Bảo (Bí thư đảng uỷ Cục kiêm Cục phó) sẽ giao công tác.

Thế là an tâm. Đã luôn sẵn sàng thì chẳng phải lo nghĩ gì.

Mấy hôm sau, đồng chí Hoàng Tài Long trao cho giấy quyết định về Cục.

Bấy giờ đã gần hai năm sau ngày Mỹ đánh phá Hồng Quảng, lấy cớ tàu Ma-đốc bị tấn công. Cơ quan Cục còn ở trong thành, phải làm hồ sơ mới có giấy vào. Vả lại cũng đang rục rịch sơ tán nên anh Sinh Hùng, cán bộ Ban tuyên huấn Cục gửi tôi Phạm KHắc Vinh và một cậu trung sĩ trẻ nữa ở nhờ tiểu đoàn 78 tại một khu nhà giữa phố Lý Nam Đế - nay là Cục tài vụ. Phần tôi, tôi cũng chẳng lạ gì cái “thành”, vì tôi đã ở , làm việc tại đấy từ năm 1959 cho đến 1963, ra vào khu A, khu B, chui xuống hầm nhà Con Rồng (điện Kính Thiên), nơi đã tìm thấy cái giếng cổ, bờ giếng hằn sâu vết dây kéo vào đá gần lầu của Tây...

Ngày đến làm việc, trưa đi ăn cơm ngoài (bấy giờ chưa có từ “cơm bụi”) vì Tiểu đoàn phó không cho báo cơm lại còn dọa “đưa ra ngoài doanh trại” vì không có giấy giới thiệu chính thức mà chỉ có lệnh miệng!

Nhiệm vụ đầu tiên của nhóm chúng tôi là biên tập, ghi chép thành tích của một số chiến sĩ có thành tích để “làm sách”. Tuy công tác tại Hà Nội nhưng những tháng đầu tôi vẫn phải mượn xe đạp lên Hiệp Hoà lĩnh lương, phiếu gạo.

Đấy là cách “mượn người cơ sở về cơ quan” của Phòng chính trị. Chính cái “mẹo” này, về sau tôi đã học lại của Phòng để “mượn” rồi “cứt trâu để lâu hóa bùn”, mượn mà không trả, “giải phóng” cho nhiều bạn đi học, đi khỏi đơn vị làm cái nghề mà mình thích như Nguyễn Duy, Phạm Khắc Vinh, Quang Chuyền, Phạm Đình Trọng, Quang Thống, Hồng Đào, Huy Thiêm, Trọng Tân, Thuỵ Kha, Phạm Ngọc Liệu, Nguyễn Cương, Xuân hạnh, Bắc Sơn, Thuý Minh, Thọ My, Thanh Hải, Vân Anh v.v...

Sách thông tin bấy giờ đã có một bộ sáu quyển “Chiến sĩ thông tin kể chuyện”  do Cục trưởng Hoàng Đạo Thuý chủ trương, tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ thông tin sau năm 1954 viết lại những kỷ niệm, kinh nghiệm huấn luyện, chiến đấu trong “ngành binh” của mình, đã in, phát hành đến đơn vị (không biết bộ sách quý này có còn không?). Chính Cục trưởng đã làm gương khi viết “Báo cáo! Liên lạc vững!” - một quyển sách nhỏ mà theo lời tác giả: “Ông Tổng tư lệnh (Đại tướng Võ Nguyên Giáp) lại thích cái lối viết ngắn của mình”.

Làm xong cuốn “Giữ vững đường dây” về thông tin miền Bắc, cuốn “Giao liên trên tuyến đầu Tổ quốc” về thông tin miền Nam, Phạm Khắc Vinh vẫn còn là quân số mượn, còn tôi được “biên chế tạm thời” vào Cục.

Vào Phòng chính trị Cục, tôi đã được đọc một số nghị quyết của Đảng uỷ về việc viết lịch sử ngành binh (và đã có một tổ sử đang tiến hành), về tuyên truyền gương chiến đấu, huấn luyện, về công tác thu thập hiện vật làm nhà truyền thống, nâng cao trình độ văn hóa cho cán bộ, chiến sĩ.

Những nghị quyết ấy mang dấu tư tưởng, tầm nhìn xa của đồng chí Lê Cư, đồng chí Nguyễn Anh Bảo và tập thể thường vụ, mà tôi đã nhiều lần được trò chuyện. Tôi lập một đề cương hoạt động bao gồm nhiều công việc cụ thể, từng bước đẻ thực hiện Nghị quyết của Đảng uỷ. Chừng thấy tôi sốt ruột, đồng chí Lê Cư, một hôm, nói với tôi:

- Ta sắp “lên” Bộ tư lệnh rồi. Chờ đã...

Trong khi “chờ đã”, tôi tranh thủ xin đi học lớp “bồi dưỡng cộng tác viên” do anh Hồng Lân, trưởng phòng giảng dạy. Tuy đã là “Tổng biên tập” báo Trung đoàn từ năm 1953, có thể “cộng tác viên” của báo Quân đội nhân dân, Phát thanh quân đội, đã có 2 sách in (Tấm thảm màu xanh da trời, Một phút) nhưng đây là lần đầu tiên tôi được đi học “chính quy” khoa báo chí ngắn ngày.

(còn nữa)
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Chín, 2013, 10:16:50 am gửi bởi linh thong tin » Logged
quân y 103
Thành viên
*
Bài viết: 277


« Trả lời #439 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2013, 11:31:00 am »

Cám ơn @linhthongtin đã đưa những ký ức hồi ký của Đại tá tiến sĩ Nguyễn văn Khoan  cho anh em cùng đọc .Anh may mắn là được bác đưa cuốn sách hay này.
Trong ký ức này có  thời kỳ tôi cũng biết về hoạt động của ông .Hồi còn E130 tôi là người chuyển các tài liệu cho ông làm đề tài Tiến sĩ do con trai trưởng cùa cùa ông cung cấp .
Ông là người sống có tình có nghĩa , sống giản dị ,không ham vật chất trong sạch ,sống vì người khác ,tâm lý và rất quan tâm chị em thời chiến khó khăn ,nên được các chiến sĩ nữ rất quý trọng ,vợ ông là trung sĩ giao liên của tiểu đoàn 78 năm 1971 và chết do 1 tai nạn giao thông tại HN .Đến tận bây giờ cụ vẫn là người như vậy.
Thời gian ông đưa các anh đi học tôi có biết nhà thơ Nguyễn Duy khi ấy anh mới xuất bản tập thơ đầu tiên và tặng tôi 1 cuốn ,lúc ấy ai cũng đeo binh nhất như nhau .Sau này anh vẫn là người bạn thân thiết với GD cụ Khoan
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM