NHỮNG THÁNG NGÀY HÀO HÙNG SÔI NỔI
(Hồi ký của đại tá, tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan)
... Khoảng tháng 7-1950, sau khi củng cố đơn vị, Tiểu đoàn học viên lục quân khóa VI chúng tôi hành quân lên phía Bắc, chỉ cán bộ, đảng viên mới biết là sang Trung Quốc. Là cán bộ trung đội, đảng viên trong chi bộ mà chi uỷ có tới một nửa là cán bộ Đảng bên ngoài vào học, trung đội tôi chỉ là một tổ Đảng, tổ trưởng đảng lại là một đồng chí cấp uỷ Đảng ở ngoài vào học.
Nghi binh cho chiến dịch Biên giới, trên đường đi Tuyên Quang, Hà Giang, nhân dân đổ ra đón tiếp, cờ xí, băng rôn, quà bánh. Vượt qua cầu biên giới Thanh Thuỷ, để lại phía sau huyện lỵ Ma Ly Phố rồi Tây Thọ, Pa Kha..., đơn vị chúng tôi đến Nghiên Sơn trú quân tại một doanh trại cú của quân Tưởng.
Nghỉ ngơi được ít ngày, mấy tiểu đoàn học viên được lệnh vác vũ khí về nước. Trung đội tôi nhận lựu đạn chày, đạn súng trường, súng tiểu liên, súng máy... mỗi người từ đại đội trưởng trở xuống mang đủ 25 kilô. Rồi lại trở đi, trở lại, vũ khí trên người theo đường cũ về nước.
Hoàn thành chiến dịch “vác vũ khí” xong, đơn vị hành quân bộ, vượt núi băng đèo đến Khai Viễn, từ đấy đi xe lửa đến Phùng Minh Thôn, địa điểm của “Vân Nam quân khu đặc khoa học hiệu” – tên công khai của Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn từ khoá VI cho đến hết khoá X tại Trung Quốc.
Công tác và học bổ túc tại Phùng Minh – cách Côn Minh khoảng 30km - được giải quyết theo nguyện vọng về nước chiến đấu, đoàn chúng tôi do đoàn trưởng Mai Nhân – sau này có thời gian làm Cục trưởng Cục quân nhu – đã có mặt tại Cục cán bộ Tổng cục Chính trị trong khu ATK (An toàn khu), Việt Bắc vào cuối năm 1952. Sau khi Chủ nhiệm Chính trị Nguyễn Chí Thanh “đả thông tư tưởng”, một số anh em chúng tôi trong Đoàn nhận lệnh đi khu 4, Trung Lào, nhưng rồi chiến dịch Tây Bắc diễn ra, lại quay lại, được đưa về công tác tại một Trung đoàn trực thuộc Bộ Tổng tham mưu.
Chỉ huy một trung đội được vài tháng, Chính ủy Phạm Ngũ Kiên điều tôi lên Ban chính trị Trung đoàn làm cán sự tuyên huấn, trưởng ban ban đầu là Nguyễn Văn Trung – sau là chủ nhiệm khoa Mác-Lênin, Trường Chính trị Quân sự Hà Đông. Từ một cán bộ quân sự, tôi “chuyển ngành” sang “ngạch” chính trị từ năm đó.
Cùng với các bạn trong Ban, chúng tôi đã tổ chức huấn luyện chương trình “quân đội nhân dân”, tiến hành cuộc vận động chống “văn hóa đầu độc”, đốt các sách báo ủy mị, ảnh hưởng đến khí thế chiến đấu của quân đội, dạy những bài hát mới để xóa bỏ các bản nhạc vàng; tổ chức Đại hội mừng công chiến sĩ thi đua Trung đoàn, ra báo Tiến lên, 1 tuần 1 kỳ, in trên đá li-tô, 2 trang lớn hơn khổ giấy A4 một chút, mở Liên hoan văn nghệ quần chúng trong Tháng Việt – Trung – Xô, triển lãm tranh, truy điệu Stalin, tham dự đấu tố trong cải cách ruộng đất, mở các lớp học văn hóa, tuyên truyền chiến thắng, gặp gỡ quân dân... Công việc cứ tối mắt lên, chẳng biết ngày tháng, nghỉ ngơi, chẳng mong ước xa nào ngoài hoàn thành nhiệm vụ...
Giữa năm 1956, Tổng cục Chính trị triệu tập tôi và mấy cán bộ đại đội cùng cấp về Hà Nội học tiếng Nga, lớp tiếng Nga đầu tiên ở Việt Nam. Sau hai năm, đáng lẽ là tiếp tục sang Liên Xô, nhưng do nhiều nguyên nhân, việc “xuất ngoại” này hoãn lại, tôi cầm lệnh điều động về Cục Thông tin liên lạc vào giữa năm 1959.
Số phận và duyên nợ đã gắn bó cuộc đời tôi từ đây cho tới khi “hạ sao”, 9-1989. 30 năm ở bộ đội thông tin, qua gần chục “đời” Cục trưởng, Tư lệnh, từ đồng chí Hoàng Đạo Thuý, Nguyễn Anh Bảo, Hoàng Niệm, Phạm Niên, Tạ Đình Hiểu, Phan Hoan, Nguyễn Xuân Thăng...
Trong 30 năm đó, trải qua nhiều công tác như biên dịch, phiên dịch, cán bộ huấn luyện, giáo viên dạy tiếng Nga, biên soạn sách, giáo viên Trường Sĩ quan Thông tin, cán bộ tuyên huấn... nhưng những kỷ niệm sôi nổi, hào hùng nhất, đẹp đẽ nhất vẫn là những kỷ niệm về công tác tư tưởng, chính trị, văn hóa...
(còn nữa)