Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:00:08 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nguyễn Bình - huyền thoại và sự thật  (Đọc 58625 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #10 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2008, 08:42:12 am »

Chương 10

Được Bác gọi. Bình lên Hà nội
Lần thứ hai khăn gói vào Nam

 
Sau cuộc gặp gỡ phái viên Bộ Tổng một tuần, Nguyễn Bình được thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi về Thủ đô. Tư lệnh Đệ Tứ Quân Khu nửa miệng nửa lo. Mừng là từ lâu mong được gặp vị chủ tịch nước từng là một nhà cách mạng bôn ba khắp thế giới tranh đấu giành độc lập, tự do, hạnh phúc cho nước nhà. Còn lo là về chuyện chống lại Bộ Tổng, không nhận chia quyền chỉ huy cho người xa lạ chưa từng đóng góp xương máu cho mảnh đất Đông Triều thân yêu. Chuyến về thủ đô ngàn năm văn vật giữa tháng chín năm ấy Nguyễn Bình nhớ mãi. Anh suy nghĩ nhiều về cách ăn mặc khi vào Bắc Bộ Phủ gặp vị chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Phải ăn mặc thật đàng hoàng. Phải đúng phong cách một tướng lãnh, một tư lệnh quân khu. Ông mặc quân phục ka ki, mang giày bốt da lấy của Nhật, đeo cả súng lẫn gươm của Nhật, đội kết cũng là chiến lợi phẩm của Nhật. Tất cả trang sức đó vừa đẹp vừa nói lên chiến công hiển hách vừa qua. Theo ông, đó là gián tiếp báo cáo với thượng cấp thành tích cách mạng của chiến khu Duyên Hải mà anh là người đại diện.

        Từ Hải Phòng Nguyễn Bình đi xe hơi về Hà Nội.

        Nước nhà đã tuyên bố độc lập rồi, nhưng đường phố lểnh ngểnh bọn lính Tàu Tưởng đáng ghét. Nếu chúng dẫn xác vào giang sơn của ông thì chắc chắn là sẽ có lắm tên đi chầu Hà Bá.

        Đến Bắc Bộ Phủ, một bất ngờ lớn đang chờ ông thay vì một vị chủ tịch ăn mặc đúng thời trang, côm-lê cà vạt, giày da bóng láng, ông được một cụ già giản dị trong bộ quần áo mặc thường ngày, chân đi dép.

        Thấy vị chủ tịch nước “phú quý bất năng dâm” như thế, tự nhiên Nguyễn Bình đâm ngượng về cách ăn mặc diêm dúa của mình. Nhưng Bác không quan tâm tới chuyện nhỏ nhặt mà đi thẳng vào chuyện quốc gia đại sự:

        - Chú là Nguyễn Bình, tư lệnh Đệ Tứ Quân Khu đấy ư?

        Bác vừa hỏi vừa đưa tay ra bắt. Nguyễn Bình nắm lấy bàn tay Bác xúc động. Ông hoàn toàn bất ngờ trước cử chỉ thân ái. Vị chủ tịch nước tiếp một tư lệnh quân khu không theo nghi thức “triều đình” mà theo lối thân tình bác cháu:

        - Thưa Bác, cháu là Nguyễn Bình. Về đây theo thư Bác gọi.

        Bác Hồ chỉ ghế mời khách ngồi, chìa gói thuốc thơm ra mời. Bình rút một điếu. Bác lại bật quẹt cho Bình.

        Hai bác cháu cùng hút vài lời trước khi vào chuyện:

        - Bác có nghe báo cáo về các hoạt động của cháu ở chiến khu Đông Triều. Bác có lời khen... Mấy ngày qua chú có nghe tình hình trong Nam?

        - Thưa Bác có. Ngày 23-9 vừa qua, Pháp đã gây hắn. Đồng bào Sài Gòn - Chợ Lớn đã nhất tề đứng lên kháng chiến.

        Bác nói:

        - Cũng như một trăm năm trước, giặc nhắm vào miền Nam đánh trước. Nhưng ngày nay khác hẳn ngày xưa. Triều đình Huế cắt đất, cầu hoà, còn chúng ta nhất định không để mất một tấc đất. Nam Bộ là máu của chúng ta, là xương của chúng ta. Nam Trung Bắc một nhà, không ai có thể chia ly được. Nguyễn Bình gật lia. Ông Cụ nói đúng tâm trạng của mình quá. Ông toan nói nhưng ông Cụ nói tiếp:

        - Máu chảy ruột mềm. Rất nhiều đồng chí tình ngnyện vào Nam chiến đấu. Các đoàn Nam Tiến đang chuẩn bị lên đường. Bác có nghe đồng chí Trần Huy Liệu nói chú trước kia có hoạt động trong Nam. Bác nghĩ rằng các lực lượng vũ trang trong đó đang cần một chỉ huy có tài năng để tập hợp cán bộ đội địa phương lại, nếu không sẽ có thể xảy ra nạn thập nhị sứ quân rất tai hại trong lúc này. Người chỉ huy đó phải là người đã biết rõ miền Nam, lại phải là một người có đủ bản lãnh thu hút những tay giang hồ kiểu Bình Xuyên. Chú có thể đảm trách vai trò đó không?

        Nguyễn Bình hoàn toàn bất ngờ trước câu hỏi ấy. Ông đinh ninh Bác sẽ thuyết phục ông chia quyền với phái viên Bộ Tổng mà ông đã một lần từ chối. Chưa có lúc nào ông ngờ Bác chọn mình để phái vào Nam. Ông đang lúng túng thì Bác nói tiếp:

        - Chú có đủ điều kiện nói trên. Chú đã sống trong Nam, am hiểu nhiều loại người. Không ai xứng đáng hơn chú để lĩnh trọng trách tập hợp các giáo phái trong Nam để đương đầu với địch. Chú nghĩ thế nào?

        Nguyễn Bình đã có lần mơ ước chuyện vào Nam thăm lại người xưa cảnh cũ, nhưng ông không thể vào Nam như một khách nhàn du vì nay ông là tư lệnh một quân khu quan trọng: quân khu duyên hải, là yết hầu của thủ đô Hà Nội. Nay chính vị chủ tịch nước chánh thức giao công tác vào Nam cho anh. Vậy là đúng lý hợp tình. Ông gật ngay:

        - Bác đã tín nhiệm cháu, cháu xin nhận.

        Bác vui vẻ nói:

        - Bác giao miền Nam cho chú đó. Chú hãy tỏ ra xứng đáng với lòng tin yêu của Bác và của đồng bào miền Nam. Hãy về thu xếp vào Nam ngay. Tình hình trong đó như nước sôi lửa bỏng. Nhớ ghé qua chú Giáp lấy giấy tờ. Bác đã bảo chú Giáp làm giấy giới thiệu đặc phái viên Bộ Tổng cho chú rồi. Bác xiết thật mạnh bàn tay Nguyễn Bình thời nói:

        - Chúc chú thượng lộ bình an.

        Rồi thật bất ngờ Bác ông choàng luôn lên hai má Nguyễn Bình. Đây là cách biểu lộ tình cảm của người phương Tây. Pháp gọi là: “accolade” ông Bình chỉ thấy trong phim thời sự mà thỏi. Nay không ngờ vị chủ tịch nước đã “accolade” mình. Theo phản ứng tự nhiên, Bình cũng hôn đáp lễ những chỉ kịp áp má vào râu Bác. Chừng xuống tam cấp Bác Bộ Phủ, ông vẫn còn nghe nhột nhột trên má, dường như râu Bác còn cạ vào má ông.

        Ghé Bộ Quốc phòng lấy giấy giới thiệu, Nguyễn Bình về Hải Phòng thu xếp hành lý vào Nam. Dù chuyến đi được quyết định một cách đột ngột, thành phố Hải Phòng cũng cấp tốc làm tiệc tống biệt vị tư lệnh bách chiến bách thắng của mình. Đại diện thành phố Cảng trao tặng khu trong khẩu súng lục liệu Wicker để làm kỷ niệm, mong rằng khẩu súng mang trong người sẽ nhắc nhở Khu trưởng rằng dân Hải Phòng luôn luôn theo dõi từng bước chân của Khu trong trên đường vào Nam thi hành trọng trách mà Bác Hồ đã giao. Rất xúc động, Nguyễn Bình đưa cao khẩu súng nói lớn:

        - Bác đã giao miền Nam cho Nguyễn Bình. Thành phố Cảng tặng Nguyễn Bình khẩu súng này để hoàn thành nhiệm vụ Bác giao. Nguyễn Bình thề với khẩu súng này: Nếu để Nam Bộ mất, Nguyễn Bình sẽ chết theo khẩu súng này.

        Cả hội trường xúc động cao độ với lời thề son sắt ấy. Việc chuẩn bị tiến hành nhanh gọn. Khu trưởng làm lễ bàn giao cho người thừa kế và sau đó khăn gói lên đường. Trên đường thiên lý, đơn thương độc mã, Nguyễn Bình có nhiều thì giờ để nghĩ ngợi chuyện đời: ngày xưa, khi ngỏ ý cùng cha nguyện vọng vào Nam tìm đất sống thay vì tiếp tục học để giật mảnh bằng sư phạm, ông thân khuyên: “Chớ nên thả mồi bắt bóng”. Đây có phải là thả mồi bắt bóng không, chắc chắn là không phải. Tất cả chỉ vì tổ quốc Việt Nam thân yêu. Phong cảnh đẹp hai bêu đường đánh thức tâm hồn nghệ sĩ trong ông. Tới Đèo Ngang bất giác ông ngâm:

        Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà
        Cỏ cây chen lá, lá chen hoa

        Nhưng thơ Bà Huyện Thanh Quan nghe hiền lành quá mà tâm hồn nhà tướng đang bừng bừng khí thế. Bình chuyển sang bài thơ “tráng sĩ hề” với hình tượng kiếm cung, kỵ mã:

        Tráng sĩ hề, gặp thời loạn
        Như cá gặp nước hề, ta vẫy vùng
        Một ngựa một gươm hề, một cây cung
        Ta xông pha hề, trong chốn lao lung
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #11 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2008, 08:49:32 am »

Chương 11

Theo ngả Tây Nguyên tới miền Đông
Dừng chân tỉnh Thủ, nhà giáo Chương

 
Đúng là một cuộc chạy đua nước rút. Thực dân Pháp đã nổ súng tái chiếm Nam Bộ. Sài Gòn là mục tiêu đầu tiên. Đó là ngày hăm ba (23 tháng 9 năm 1945). Tin này bay tới thủ đô Hà Nội như tiếng sét giữa trời quang. Thật bất ngờ những không gây hoang mang. Trước đó tướng De Gaulle đã tuyên bố tại Brazzaville, thủ đô nước Congo, là Pháp sẽ củng cố các lãnh thổ hải ngoại để xây dựng Liên Hiệp Pháp hùng mạnh hơn xưa. Lời rêu rao này được các đài bá âm phát đi từ đầu năm 1944 và mỗi ngày qua cho thấy Pháp nỗ lực tái chiếm các thuộc địa cũ ở Bắc Phi và Đông dương.

        Hà Nội sục sôi căm phẫn trước tin Sài Gòn bị xâm chiếm. Phong trào đầu quân vào Nam tiếp viện nổi lên gần như tự phát: máu chảy ruột mềm là truyền thống nhiễu điều phủ lấy giá gương của dân tộc Lạc Long. Chánh phủ Hổ Chí Minh tuy bận rộn với nạn thổ phỉ do quân đội Lư Hán có nhiệm vụ giải giới quân Nhật ở miền Bắc Việt Nam gây ra vẫn cấp tốc gởi các đoàn quân Nam tiến chống xâm lăng. Một trong những đoàn quân này do Nam Long chỉ huy. Vì đường giao thông bị phá hoại, quân Nam Tiến mất khá nhiều thì giờ trên đường hành quân. Vào tới miền Đông, Nam Long đưa thẳng lực lượng tới sát thành phố Sài Gòn. Tại cầu Bình Lợi, bộ đội miền Đông đã lập một tuyến phòng thủ, không cho địch nống ra lấn chiếm các tỉnh Thủ Đầu Một và Biên Hoà. Dân quân ở đây được một phân đội đồng bào thiểu số từ Biên Hoà xuống tăng cường. Đây là một binh chủng đặc biệt mà bọn Tây và quân Anh-Ấn khiếp sợ vì họ đánh địch một cách âm thầm lặng lẽ: đánh bằng cung nỏ. Những mũi tên tẩm thuốc độc không nổ ồn ào như súng mút nhưng lại gieo khủng khiếp hơn: cái chết kéo dài trong nhức nhối chứ không nhanh gọn như những cái chết “bình thường”. Ngày đoàn quân Nam tiến của Nam Long tới Bình Lợi là một ngày trọng đại. Lực lượng tăng viện không đông nhưng mang ý nghĩa rất lớn: tình đồng bào ruột thịt Bắc Nam là một sức mạnh tinh thần vô địch. Đó là một thông điệp gởi tới bọn thực dân: “Chớ động tới Nam Bộ”. Ngày 20 tháng 10, sau ngày giặc Pháp gây hấn gần một tháng, nhờ tinh thần chiến đấu cao của các bộ đội miền Đông mà hai tỉnh Thủ Đầu Một và Biên Hoà vẫn còn trong tay chánh quyền cách mạng.

        Trong khi ấy, Nguyễn Bình từ cao nguyên Ban Mê Thuột vượt vùng Ba Biên Giới (Trois Froncières) xuống Thủ Đầu Một.

        Do đi một mình nên Nguyễn Bình tới miền Đông trước đoàn quân Nam Tiến của Nam Long. Thị xã Thủ Đầu Một đang trong khí thế sẵn sàng tử chiến trước mọi đợt tấn công của bọn Pháp có quân Anh-Ấn yểm trợ. Rõ ràng là quân Anh đã làm sai chức năng giải giới quân Nhật tại miền Nam Việt Nam như Đồng minh đà uỷ quyền. Nguyên văn chỉ thị của Đồng Minh cho lực lượng tướng Gracey vỏn vẹn có một câu ngắn gọn: “sole mission: disarm the japanese don t get involved in keeping order” (sứ mạng duy nhất: giải giới quân Nhật, chớ can thiệp vào việc giữ trật tự).

        Tướng Gracey ngay từ đầu đã làm sai chức trách chìa mình, mở đường cho Pháp trở lại xâm lược Việt Nam.

        Tới thị xã Thủ Đầu Một, Nguyễn Bình đến nhà ông giáo Chương là một Mạnh thường quân nổi tiếng trong vùng. Tên ông là Đoàn Hữu Chương. Gia đình ông giáo Chương với lai người con là Đoàn Hữu Hoà và Đoàn Hữu Thanh và người con rể là Võ Bá Nhạc đều theo kháng chiến ngay từ đầu. Vừa tới nơi, Nguyễn Bình bắt tay vào việc phòng thủ thị xã cùng với chánh quyền sở tại. Công việc chuẩn bị rất khẩn trương vì có tin quân Pháp cùng bọn Anh-Ấn đã đánh chiếm Gò Vấp sau khi mặt trận An Phú Đông bị phá vỡ.

        Ngày 22-10 quân Anh-Ấn đánh thị xã Thủ Đầu Một. Súng nổ vang trời, nhưng dân quân chỉ làm chậm trễ bước tiến của địch chớ không đủ sức đánh bật chúng. Xe nồi đồng, Tây gọi là auto-mitrailleuse, xả súng liên thanh dọn đường cho bộ binh. Nhà của ông giáo Chương chỉ cách chúng có 300 mét. Lúc đó Nguyễn Bình ẩn trong nhà, thủ khẩu Wicker chờ địch tới. Nhưng xe nồi đồng chỉ bon bon trên đường nhựa. Lính bộ binh thận trọng bám sau xe, không dám xông xáo lục lạo.

        Thị xã mất rồi, Nguyễn Bình cùng hai anh Hoà, Thanh và ông Nhạc dời về Bưng Cầu. Cuối tháng 10 Nguyễn Bình họp với Cò Trương và một số nhân vật lãnh đạo tỉnh Thủ Đầu Một để tổ chức lại lực lượng quân sự. Địa điểm cuộc họp này là đồn điền cao su Võ Bình Tây. Cuộc họp này dọn đường cho hội nghị quân sự Nam Bộ vào ngày 15-11-1945.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #12 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2008, 08:52:28 am »

Chương 12

Theo bộ đội lên tới Phú Cường
Cô cứu thương trở thành liên lạc

 
        Chiến cuộc ngày càng ác liệt khi viện binh từ Pháp đổ bộ lên bến Sài Gòn. Đây là đội quân viễn chinh dưới quyền chỉ huy của đại tướng Leclerc từng giải phóng Paris và vượt qua hai sông lớn Rhin và Danube giải phóng các nước Tây Âu thoát ách Đức Quốc Xã. Các tiểu đoàn dưới quyền Leclerc đều hãnh diện với phù hiệu “Thiu ét Dauube” may dính nơi cánh tay áo ka ki của mình. Các cuộc giao tranh ngày càng bung ra xa ngoại vi Sài Gòn Gia Định. Một trong những mặt trận ta giữ được khá lâu là mặt trận An Phú Đông. Có nhiều đơn vị tham gia phòng thủ chiến khu nằm sát Sài Gòn này. Trong số này có bộ đội Hứa Văn Yến, bộ đội Nguyên Đình Thâu. Đặc điểm của phân đội Nguyễn Đình Thâu là rất đông phụ nữ. phần lớn các chị em là người miền Bắc sanh sống tại Phú Nhuận. Chị em làm nhiều nghề như buôn bán ở các chợ, làm thợ thêu, đan. Nhưng được nổi tiếng nhất là một số chị em làm nghề ả đào, cô đầu. Dãy phố dưới dốc cầu Kiệu trên đường Louis Berland sát chợ Xã Tài (Chợ Phú Nhuận) nay là đường Phan Đình Phùng - là giang sơn của các chị em. Đêm đêm, đi ngang qua đây, ngoài hàng hiên có gắn đèn xanh hoặc tím, khách bộ hành nghe rõ tiếng ngâm “Hồng hồng tuyết tuyết, mới ngày nào có biết cái chi chi, mười lăm năm thấm thoát có ra gì, ngoảnh mặt lại đã tới thời tơ liễu”. Nhưng khác hẳn với đám “ca nữ” bất tri vong quốc hận bến Tầm Dương bên Tàu, các cô đầu Phú Nhuận lập tức vứt đàn phách phấn son để lên đường cứu nước. Hiên ngang không kém giới sinh viên đã xếp bút nghiên tòng quân giết giặc. Trong số chị em này có Hoàng Thị Thanh vốn là dân Hải Phòng. Người phốp pháp nhưng rất xinh đẹp, mái tóc dài chải bồng lên, theo kiểu “tăng gô”. Khi nhập bộ đội, Thanh được học khoá cứu thương và sau một tuần thực tập đã có thể băng bó các vết thương hay tiêm thuốc cho thương binh. Các cô cứu thương với các túi thuốc có thêu chữ Thập đỏ lui tới các phòng tuyến là những đoá hoa tô điểm cho mặt trận đằng đằng sát khí.

        Mặt trận An Phú Đông vỡ sau những ngày đương cự dũng mãnh. Dân quân rút vô các chiến tuyến ngoại vi chân đường tiến địch về phía Biên Hoà hay Thủ Đầu Một. Đội cứu thương của Hoàng Thị Thanh cũng rút về phía Lái Thiêu. Ngày kia đội cứu thương của Thanh được chi huy hỏi:

        - Có ai rành đường phố Sài Gòn Chợ Lớn?

        Các cô y tá nhìn nhau. Một người chỉ chị Thanh nói:

        - Chị Thanh rành đường phố Sài Gòn hơn ai hết.

        Chỉ huy nhìn Thanh gật gù:

        - Chị Thanh qua đây với tôi.

        - Đi đâu vậy anh? - Thanh ngạc nhiên hỏi.

        Đợi đi khỏi tấm nghe của đơn vị, anh chi huy nói:

        - Ông phái viên Trung ương muốn có một liên lạc thành. Người này phải là dân Sài Gòn chính cống, trẻ đẹp, lanh lợi mới có thể đảm trách nhiệm vụ quan trọng liên lạc giữa bộ chỉ huy với các đơn vị nội thành.

        Thanh hơi chột dạ. Khi ra đi, Thanh không hề nghĩ tới việc trở về thành. Câu hát Chính Khí Ca bắt đầu với lời lẽ hào hùng: “Một ra đi là không trở về”. Lòng mình cũng quyết giả biệt kinh kỳ... Rồi hình dung bao nhiêu đồn bốt, nút chận ghê gớm mà người liên lạc phải vượt qua, Thanh sợ mình không có đủ bản lĩnh để đương đầu với bao thử thách không thể đoán lường trước được.

        Đang nghĩ ngợi miên man, Thanh đã tới ngôi nhà ông phái viên Nguyễn Bình đóng. Lần đầu tiên Thanh thấy người mà đôi khi chị có nghe nói. Ấn tượng đầu tiên anh Ba gây cho Thanh là một người cao lớn vạm vỡ, mặc đồ xá xẩu như người Tàu, mắt mang kính râm, lưng đeo súng nòng dài và chiếc sắc cốt tài liệu luôn luôn sát bên tầm tay.

        - Chào đồng chí!

        Nguyễn Bình bắt tay Thanh tự nhiên như người Âu. Cử chỉ này khiến chị lúng túng, chỉ có Tây mới bắt tay, còn người Việt mình thì nam nữ thọ thọ bất nhân chỉ chắp tay xá.

        - Mời đồng chí ngồi. Ta bàn chuyện có hơi lâu.

        Thanh ngồi xuống ghế đối diện. Anh chỉ huy kín đáo rút lui vì không muốn nghe chuyện cơ mật.

        - Tôi đang cần liên lạc thành. Anh chỉ huy giới thiệu đồng chí. Xin đổng chí cho biết trước kháng chiến đồng chí ở đâu, làm gì... Hình như đồng chí quê ở miền Bắc?

        Thanh nói:

        - Dạ đúng. Tôi quê Hải Phòng, vào Nam theo người cô có hiệu ảnh ở Thị Nghè. Đang theo nghề ảnh đụng kháng chiến. Tôi theo đội cứu thương ở Gò Vấp.

        Nguyễn Bình gật gù, giọng nói thân ái hơn:

        - Rất vui mừng khi gặp đồng hương trên đất Nam Bộ này. Đồng chí có nhận công tác mới là làm liên lạc thành cho chúng tôi?

        - Tôi mới nghe nói lần đầu, chưa biết mình có khả năng hay không. Xin ông phái viên nói rõ thêm...

        Nguyễn Binh cười:

        - Cứ gọi tôi là anh Ba như mọi người. Phái viên là chức vụ để dễ làm việc, không nên xem đó là một danh xưng... Người Nam Bộ có cách gọi độc đáo mà miền Bắc ta không có. Gọi nhau bằng thứ: Chị Hai, anh Ba. Nghe thân mật gần gụi làm sao! Khi nào muốn cho rõ. không nhầm lẫn thì kèm theo tên như Ba Bình hay Tư Râu... Tôi nói rõ thêm về công việc mà đồng chí đảm trách: Tôi từ Bắc mới vào đây, dù hai mươi năm trước tôi có ở Sài Gòn, nhưng lâu quá rồi, nay không thông thạo đường phố. Tôi cần một người liên lạc để giúp tôi đi đây đi đó. Công việc chỉ có vậy thôi. Liên lạc phải hết sức bình tĩnh trong mọi tình huống. Một người dân Sài Gòn đã tham gia các mặt trận ác liệt Thị Nghè, Cầu Bông như đồng chí có khả năng lắm. Nhưng phần quyết định phải là đồng chí. Làm cách mạng là chuyện tự nguyện của từng người.

        Trong khi Nguyễn Bình nói, chị Thanh lắng nghe và nhận xét. Giọng nói đúng là dân Hải Phòng “quê ta”. Cử chỉ điềm đạm, khoan thai khác hẳn bộ tướng nhà binh. Có thể nói đây là văn võ kết hợp trong một người. Cách làm việc mới lạ, không quyết đoán, không chỉ định mà để cấp dưới tự nguyện.

        - Thế nào? đồng chí có nhận công tác đó không?

        Chị Thanh gật. Anh Ba nói tiếp:

        - Tôi có mấy ý này giúp đồng chí hoàn thành công tác. Trước hết, đồng chí nên sắm hai bộ đồ xá xẩu như tôi đây. Không phải mình lập dị đâu. Hoạt động nội thành nên hoá trang thành người Tàu để dễ qua mắt bọn lính kín. Hải Phòng ngoài Bắc và Chợ Lớn trong Nam là hai thành phố người Trung Hoa đông đảo hàng chục vạn dân, ta dễ trà trộn đề hoạt động. Đồng chí thấy thế nào?

        Thanh bật cười: nàng là chúa ăn diện, kiểu nào mới ra nàng cũng may sắm, nhưng chưa hề có ý nghĩ hoá trang người Tàu.

        Anh Ba cũng cười theo:

        - Chắc đồng chí ngại mặc đồ Tàu sẽ làm xấu mình đi chăng? Không đâu? Chiếc áo không làm nên thầy tu. Đẹp xấu là do người, chứ không do áo quần. Mà xinh đẹp như đồng chí thì mặc kiểu gì cũng đẹp.

        - Tôi đang nghĩ tới tiền để may sắm hai bộ đồ Tàu...

        Anh Ba khoát tay:

        - Đồng chí làm việc cho Bộ chỉ huy thì Bộ chỉ huy phải sắm những thứ cần thiết cho đồng chí. Sẽ có thợ may tới lấy ni tấc cho đồng chí.

        ***
        Chuyến liên lạc đầu tiên của chị Thanh là đi Bưng Cầu. Nguyễn Bình và chị đóng vai hai người Tàu cùng chủ nhà là thầy giáo Chương mướn nguyên một chiếc xe ngựa của người quen trong xóm. Anh Ba lên Bưng Cầu để nghiên cứu địa điểm có thể dùng để gặp các nhản vật tên tuổi miền Đông. Trước khi lên đường, anh Ba giao chị Thanh khẩu súng và một số tài liệu. Chị Thanh giấu súng một bên đùi và tài liệu nơi đùi bên kia. Tới Bưng Cầu bình an vô sự. Vì cuộc họp không đông đủ nên anh Ba mời họp lần thứ hai cũng tại Bưng Cầu sau đó vài ngày. Lần sau không đi xe ngựa mà đi xe hơi, mượn một xe đò nhỏ chở mười hai người. Trên xe có các ông Tám Chùa, Dương Bạch, Mai Huỳnh Văn Nghệ... Không may lần này chuyến đi bị bọn Nhật đi tuần tiễu chặn xe đò lại lục xét giấy tờ lẫn hành lý. Anh Ba nhăn mặt vì không kịp thủ tiêu giấy phái viên của Bộ Tổng. Bọn Nhật tịch thu chuyền cho nhau xem. Một tên Nhật nhìn anh Ba, gọi là “tài hồ”. Chị Thanh đoán chữ tài là đại, có nghĩa là to, còn chữ hồ thì chị không biết. Nhưng chị hiểu là chúng đặc biệt để ý đến anh Ba trong số hành khách trên xe. Chúng lùa tất cả đến một trạm gác có bốn lính Nhật giữ cả đêm. Sáng hôm sau, chúng hỏi cung từng người. Chúng hỏi chị Thanh qua một thông ngôn:

        - Chị là người Tàu. sao lại đi chung xe với Việt Minh?

        - Tôi đi tản cư, gặp xe nào đi xe nấy, làm sao biết trên xe có Việt Minh.

        Bọn Nhật gật gù không hỏi nửa. Một lúc sau chúng đưa một rá gạo và một rổ đậu đũa bảo nấu cơm.

        Anh Ba nói:

        - Trả lại đi? Mình tuyệt thực phản đối!

        Bọn Nhật giải tất cả về thị xã Thủ Đầu Một. Xe chạy một đỗi, anh Ba hội ý nhanh với chị Thanh. Chị hiểu ý, vỗ bụng, nhăn mặt đòi xuống xe đi tiểu. Tài xế cũng cần múc nước mương đổ vào thùng xe cho bớt nóng máy. Chị Thanh đi tới bụi rậm thì anh Ba hô to:

        “Chạy đi anh em ơi!” Tất cả phóng nhạnh, mỗi người một hướng. Bọn Nhật nổ súng rầm rầm. Tiếng súng càng làm anh em chạy “chết bỏ”.

        Chạy khỏi bọn Nhật, chị Thanh rơi vào tay du kích. Họ thấy chị là người Bắc, lại ăn mặc theo xẩm nên nghi gián điệp, bắt giải cho chỉ huy điều tra. Chỉ huy là một người mặc quần soóc trắng, đeo súng trước bụng. Chị Thanh nói gì cũng mặc, ông ta cứ nhất quyết chị là chỉ điểm cho Pháp hay là cho Nhật.

        Trong khi hỏi cung ông ta móc thường súng cầm tay hăm: “Cây súng này đã xử không biết bao nhiêu Việt gian”. Về sau chị Thanh mới biết ông ta là Trịnh Khánh Vàng.

        Tới chiều, chưa kịp ăn cơm thì có thư hoả tốc của Nguyễn Bình gởi đổng chí Trịnh Khánh Vàng đòi người con gái mặc áo xẩm. Vàng đọc xong cự chị Thanh:

        - Sao không nói là người của Nguyễn Bình? Rủi tôi nóng tôi bắn thì sao? Thôi qua bển đi!

        Về gặp anh Ba, chị Thanh mừng vô cùng. Đây là thử thách đầu tiên trong công tác liên lạc của chị: hết bị Nhật bắt tới bị Việt minh giữ. Chủ nhà đem ra một rổ khoai lang nóng. Chị Thanh ăn ngấu, chưa bao giờ thấy khoai ngon ngọt, thơm tho như vậy.

        Nhưng ăn chưa hết củ khoai thì có tin Nhật vô. Hình như chúng biết anh Ba ẩn trong xóm này. Lập tức anh Ba bỏ cặp kính râm vô tủ, mặc vội bộ đồ chủ nhà đưa - một bộ bà ba đen móc cời có vá mấy miếng.

        Cải trang xong, anh ung dung đi ra. Chị Thanh cũng bỏ bộ xẩm, giả làm con gái miệt vườn trốn thoát.
        Giữa ông đặc phái viên Trung ương và cô liên lạc thành dần dần nảy sinh một tình cảm đặc biệt, vừa là đồng hương vừa là đồng chí. Chị Thanh nhớ lại lúc còn ở Hải Phòng, có lúc hai người ở cùng dãy phố. Bấy giờ Nguyễn Bình còn là Nguyễn Phương Thảo từ Nam Kỳ về. Để sanh sống, Thảo đã hùn với người bạn nấu dầu gió theo toa thuốc gia truyền nhãn hiệu dầu Phúc Thảo. Nhưng đó chỉ là bình phong để Thảo hoạt động cách mạng. Chị Thanh nhắc lại chuyện cũ, anh Ba gật “có lúc nấu dầu gió” còn chuyện hai người ở cùng dãy phố thì anh không nhớ.

        Vài ngày sau anh Ba mở cuộc họp thứ hai tại sở cao su Võ Bình Tây. Cuộc họp kéo dài ba ngày.

        Nguyễn Bình truyền đạt chủ trương thống nhất chỉ huy các lực lượng quân sự. Đây là vấn đề khó vì tâm lý các “lãnh chúa” muốn làm vua một vùng, không thích ai chỉ huy mình. Nhưng nghe phái viên Trung ương trình bày đường lối của Bộ Tổng có hệ thống mạch lạc từ trên xuống dưới, từ Trung ương tới địa phương, và nhất là bản lãnh của người thuyết trình; hội nghị nhất trí chịu sự lãnh đạo của Trung ương mà đại diện là khu trưởng Nguyễn Bình.

        Cũng trong hội nghị này, các đại biểu quyết định triệu tập cuộc hội nghị chính thức tại An Phú Xã.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #13 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2008, 08:53:48 am »

Chương 13

Gặp Nguyễn Bình, Cò Trương hiến kế
Mở hội nghị quân sự miền Đông

 
        Tại Bưng Cầu, Nguyễn Bình gặp Cò Trương. Trương là một thanh niên hai mươi lăm tuổi, tên thật là Huỳnh Kim Trương, quê làng Kim Sơn, tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang). Địa danh Kim Sơn nổi tiếng với trận thuỷ chiến Rạch Gầm, nơi Nguyễn Huệ đánh tan năm vạn quân Xiêm đánh thuê cho Gia Long. Ông thân của Trương là Huỳnh Kim Lâu, cơ sở mật của đồng chí Ngô Gia Tự. Do truyền thống cách mạng mà Trương sớm có ý thức chính trị. Đậu đíp-lôm với số điểm cao nhất tại trung tâm Mỹ Tho, Trương được học bổng lên học ban tú tài tại trường Pétrus Ký. Đậu tú tài, định ra Hà Nội học kiến trúc nhưng gia đình không đủ tiền, đành đi làm thư ký kiếm sống. Trương làm việc tại phòng quản thủ điền thổ Thủ Đầu Một mà trưởng phòng là ông Nguyễn Minh Chương, một trí thức có tinh thần quốc gia tiến bộ. Trương rất tích cực trong phong trào truyền bá quốc ngữ dưới sự lãnh đạo của các thầy cũ như Giáo sư Phạm Thiều, Nguyên Văn Chì, Lê Văn Chí, Đặng Minh Trứ, Hồ Văn Lái... Anh đi dạy thêm tại hai trường tư Thanh Trước và Tân Ánh Mai. Do hoạt động tích cực mà anh được cử đại diện sinh viên trong Nam, tuy chưa ra Hà Nội học ngày nào. Trong cương vị này, Trương giao du mật thiết với các trí thức như kỹ sư Trương Công Phòng, trưởng ngành canh nông Bến Cát, Nguyễn Khắc Cần, Phan Văn Phổ, Nguyễn Văn Liệp...

        Ngày Nhật đảo chinh Pháp, chúng cướp trụ sở Hội truyền bá quốc ngữ Thủ Đầu Một. Anh em rời vô xóm Mươn, tá túc trong chùa thầy Mười Trận. Ông thày chùa này đặc biệt ở chỗ đã từng hành hương qua xứ Phật là Ấn độ, nhưng có tinh thần chống thực dân triệt để.

        Lúc Việt Minh ra công khai ở Thủ Đầu Một vào tháng 5-1945, Trần Quốc Quân làm thủ lãnh Thanh niên tiền phong tỉnh. Ông Trần Văn Giàu giới thiệu Trương nắm lực lượng Thanh niên tiền phong. Lúc đó trong tỉnh còn có hai người hoạt động hăng hái trong giới thanh niên, đó là sinh viên Trịnh Kim Ảnh và Kiều Đắc Thắng. Trịnh Kim Ảnh quê Lái Thiêu, từng tham gia tích cực trong đoàn SÉT (Section d’ Excursion ét de Tourisme) - một tổ chức tập hợp thanh niên học sinh các trường mà nòng cốt là trường Pétrus Ký. Còn Kiều Đắc Thắng là một công nhân gốc miền Trung vào Sài Gòn hoạt động trước 1945. Họ Kiều có nhiều hành động quân phiệt nên Trần Văn Giàu giao Trương “kèm” Thắng. Lúc cướp chánh quyền tỉnh Thủ có ba đại đội dân quân, do bộ đội cảnh sát Cộng hoà vệ binh do Ách Lân ( Lê Văn Lân là adjudant trong quân đội Pháp) chỉ huy, thứ hai là bộ đội Dân quân Cách mạng ( cũng gọi là bộ đội xung phong Đề Thám) và thứ ba là bộ đội công chức đa số là thầy giáo do Quách Văn Trở chỉ huy. Khi cướp chánh quyền, bộ đội Cộng hoà vệ binh đóng gần khám, bộ đội Đề Thám đóng trên dốc Toà Tập tụng, bộ đội Công chức đóng ở Bưng Cải.

        Cũng trong lúc này, các anh Trương Văn Giàu chỉ huy trưởng Cộng hoà vệ binh Nam Bộ kiêm tư lệnh Bảo An Đoàn cùng hai phụ tá là hai adjudant Nguyễn Văn Quan và Nguyễn Văn Hoặc được quân Nhật giao trọng trách quản lý sở cao su Lộc Ninh là nơi chúng quản thúc toàn quyền Decoux, thống đốc Nam Kỳ Hoeffel, tướng Delsuc, tổng tư lệnh quân đội Đông Dương và tỉnh trưởng Biên Hoà Larivière.

        Nhật hăm chặt đầu ba anh Giàu, Quản và Hoặc nếu để mất bốn tên nguy hiểm này. Một đặc điểm của thời kỳ 1945: các tay quân nhân trong cơ lính Brigade Mobile (Lữ đoàn cơ động) và Garde Civile Locale (Bảo An Đoàn) lên tới cấp cao là công ách (adjudant) đều chạy theo cách mạng. Đứng đầu là Trương Văn Giàu, Nguyễn Văn Quan, Nguyễn Văn Hoặc, ách Theo (sau lấy tên là Nguyễn Sơn Xuyên), ách Lê Văn Lân, ách Năm Râu tức Nguyễn Hữu Nam. Cao cấp hơn có ông Một Thời, Trịnh Văn Thời là thân sinh anh Trịnh Kim Ảnh cũng theo cách mạng. Cũng như ông Một Khôi là thân phụ anh Bùi Khánh Ngươn (sau này lên cấp tướng). Treo chỉ thị của Trần Văn Giàu, các anh Trương, Lân, Quan, Hoặc, Nguyễn Văn Thi, Hồ Văn Nâu, Vạn Công Khai cướp chánh quyền tỉnh Thủ Đầu Một. Trừ Hồ Văn Nâu là dân Tân An lên, tất cả đều là người hoạt động ở tỉnh Thủ. Khí thế tỉnh trái cây trong những ngày tháng tám vô cùng sôi nổi. Trong cuộc biểu tình lớn ở Sài Gòn ngày 25-8 thanh niên Thủ Đầu Một đều kéo xuống tham gia.

        Chánh quyền đã về tay ta, Trần Văn Giàu điện phong bác sĩ Trần Công Vị làm chủ tịch tỉnh, phó là Văn Công Khai và Nguyễn Minh Chương. Huỳnh Kim Trương nắm Cảnh sát và Cộng hoà vệ binh, từ đó có cái tên Cò Trương.

        Đến khi quân Anh-Ấn của tướng Gracey từ Rangoun bay qua Sài Gòn giải giới quân Nhật, tình hình Nam Bộ bắt đầu gay cấn. Tướng Gracey công khai yểm trợ bọn thực dán Pháp trước đây bị Nhật bắt giam trong thành Ong-dèm (II ème RIC tức Trưởng đoàn 11 Bộ Binh thuộc địa). Chúng mở cửa thành này và Khám Lớn thả một số sĩ quan đầu não ra chuẩn bị thời cơ chiếm lại thuộc địa Nam Kỳ. Tất nhiên chúng cũng nghĩ tới bốn tay đầu sỏ đang bị quản thúc ở Lộc Ninh. Gracey hạ lịnh cho tổng tư lệnh Thái Bình Dương Nhật là thống chế Tra-Chi phải giải thoát toàn quyền Decoux, tướng Delsuc, thống đốc Hoeffel và tên Larivière đang nằm trong tay Việt Minh. Nếu không hoàn thành sứ mạng thì coi chừng đầu rơi xuống đất. Lúc đó ta phong toả kinh tế, bãi thị, cấm tiếp tế quân Nhật đóng trong tỉnh Thủ. Với sáng kiến của Cò Trương, ta tiến hành chủ trương trao đổi hai chiều: một trái dưa leo đổi một trái lựu đạn. Bọn Nhật chịu ngay. Chúng đang đói rau quả còn súng đạn có nghĩa gì một khi Thiên Hoàng đã tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Một mặt đổi hàng bông lấy lựu đạn, một mặt chặn đường giật súng. Kiện tướng trong nhóm giật súng là anh Tư Ốm. Kỹ thuật của anh là ném bột ớt vô mắt lính Nhật rồi nhảy tới chụp súng. Bị mất vũ khí kiểu đó nhiều lần, Nhật khoá súng vào cườm tay lính. Muốn cướp súng phải chặt tay mới lấy được. Dù địch lo xa vậy, du kích Thủ cũng giật được súng bằng cách không chặt tay mà chặt đứt cườm tay bọn Nhật.

        Trở lại chuyện Nhật giải thoát bốn tay đầu sỏ Pháp bị giam lỏng ở Lộc Ninh. Trước nhất, phải bắt Cò Trương để vô hiệu hoá các bộ đội có nhiệm vụ canh giữ nhóm Decoux. Tình báo Nhật biết Cò Trương đóng quân ở một nhà gần mé sông, nửa đêm chúng cho lính vây bắt. Tên quan ba Nhật đưa Cò Trương vô dinh tỉnh trưởng quản thúc, cho phép vợ con anh đưa mọi thứ cần thiết. Cũng trong lúc đó quân Nhật bắt cả đại đội xưng phong Đề Thám giam trong thành săn-đá mang tên Tây là caserne Vassoigne ( Dân Thủ gọi là Hầm Đá). Cò Trương liền tuyệt thực phản đối Nhật xen vô nội tình Việt Nam, đồng thời kêu gọi thả 400 binh sĩ thuộc đại đội Đề Thám. Đến ngày thứ ba, Đồng Minh lên chiếm thị xã Thủ Đầu Một. Lúc đó Nhật đã làm xong nhiệm vụ giải thoát bốn tên đầu sỏ ở Lộc Ninh nên đại tay Nhật chịu thả Cò Trương ra. Tuyệt thực đến ngày thứ ba, Cò Trương kiệt sức, anh em binh sĩ phải khiêng ra đưa về cho y sĩ Gắt chăm sóc. Để an toàn, anh xuống xuồng qua sông qua Mỹ Bình. Tại đây Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hoà giao cho Trương bốn xã An Phú, Mỹ Bình, Bình Tân, Tân Mỹ thuộc quận Hoè Môn để làm đất hoạt động. Từ nơi đóng quân, Cò Trương cho lính bắn qua Chợ Thủ uy hiếp tinh thần bọn Pháp. Du kích có sáng kiến cắm cọc treo mũ sắt đổi bằng dưa leo trước đây. Bọn Tây tưởng bộ đội Cò Trương trang bị đầy đủ - có cả mũ sắt - nên có phần lo ngại mỗi khi hành quân nống ra ngoại vi thị xã.

        Cuối tháng 10-1945 Kiều Đắc Thắng nắm trọn quyền hành, tự xưng là chỉ huy trưởng Trung Đoàn kháng chiến miền Đông đóng quân ở Bttng Cầu. Họ Kiều xưng bá đồ vương đúng lúc Cò Trương bị Nhật bắt. Trong thời gian ngắn này, hắn đã giết nhiều người. Một trong những người chứng kiến tận mắt là anh Ngô Văn Quỹ, một sinh viên ngành y người Bắc đã tranh đấu chống tên viện trưởng Pháp có đầu óc khinh thường sinh viên Việt Nam. Bị đuổi và truy lùng, anh Quỹ chạy vô Sài Gòn. Cách mạng tháng Tám như chấp cánh cho anh, Ngô Văn Quỹ xếp bút nghiên lên đường kháng chiến. Kiều Đắc Thắng chọn anh sinh viên biết cả hai thứ tiếng Pháp và Anh làm thư ký riêng. Một hôm anh cùng Thắng đi công tác. Họp liên miên và đi nhiều nơi, người tài xế mệt mỏi tựa đầu lên tay lái ngủ ngon lành. Chừng Thắng ra xe, thấy tài xế ngủ quên, nổi quạu văng tục đồng thời rút súng nổ vào đầu anh tài xế xấu số. Chứng kiến hành động dã man này, Ngô Văn Quỹ không thích làm việc với họ Kiều nữa. Chừng Nguyễn Bình tới Thủ, Ngô Văn Quỹ tìm về đầu quân dưới trướng ông phái viên Trung ương.

        Cò Trương gặp Nguyễn Bình như cá gặp nước.

        Nguyễn Bình chỉ tự giới thiệu là phái viên Trung ương chứ không xuất trình giấy giới thiệu. Nguyễn Bình không có giấy tờ gì, nhưng Cò Trương nhắm tướng thấy rõ ràng là một tay hảo hớn, vóc dáng vạm vỡ, phong thái chững chạc, ăn nói uy nghiêm, đúng là con nhà tướng.

        Sau khi nghe Cò Trương trình bày tình hình trong tỉnh, Nguyễn Bình giao cho anh trọng trách chuẩn bị địa điểm cho cuộc hội nghị quân sự đầu tiên ở miền Đông quy tụ các chỉ huy quân sự. Cò Trương đề nghị lấy An Phú Xã làm địa điểm hội nghị lịch sử này.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #14 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2008, 08:55:28 am »

Chương 14

Lãnh trọng trách đưa vàng ra Bắc
Trở vào Nam, Quỹ gặp tai ương

 
Thời gian sinh viên trường Thuốc (Đại học Y khoa Hà Nội) Ngô Văn Quỹ làm thư ký riêng của phái viên Bộ Tổng Nguyễn Bình không lâu nhưng có nhiều sự kiện khó quên. Trước nhất là tuần lễ vàng, đồng bào đóng góp vàng bạc cho kháng chiến mua sắm súng đạn đánh Tây. Tất cả số vàng lạc quyên của tỉnh nào thì tập trung về Uỷ ban kháng chiến của tỉnh đó. Tại miền Đông, Bộ chỉ huy được các tỉnh chuyển vàng về.

        Lúc đó anh Ba Bình cùng một vài anh em văn phòng đóng trong nhà một chủ tiệm vàng ở xã Chánh Lưu, gần thị xã Thủ Đầu Một (nay là Sông Bé). Chính chủ nhà cân giùm số vàng lạc quyên. Tất cả là 32 ký. Có thêm vài chỉ. Anh Ba Bình quyết định để vài chỉ lẻ đó lại để văn phòng chi dùng còn trọn ba mươi hai ký kia thì đưa ra Bắc nhờ Trung ương mua súng đạn đưa vào Nam đánh Tây. Quyết định thì dễ, nhưng thi hành mới khó. Giao cho ai đưa số vàng này ra Bắc?

        Đường xa vạn dặm, có nơi Tây chiếm, phải cắt đường rừng, băng rừng vượt núi. Nhưng khó khăn mấy cũng phải vượt qua. Đánh Tây là lẽ sống. Súng đạn là cần thiết. Nhìn quanh quẩn, không thấy ai có đủ khả nàng lãnh sứ mạng này tốt hơn sinh viên Ngô Văn Quỹ. Anh Ba nói:

        - Anh phải đưa số vàng này ra Bắc đổi lấy súng đưa về đây. Không ai biết rõ Hà Nội bằng anh sinh viên y khoa...

        Ngô Văn Quỹ bất ngờ trước sự tín nhiệm đó. Anh hơi lo vì trách nhiệm quá nặng, nhưng không thể thoái thác. Số vàng được đúc lại thành khối từng ký, cho vào bao để bộ đội tải trên lưng mỗi người năm ký.

        Anh Quỹ chỉ huy một tiểu đội đặc biệt với ba tay súng, còn những người tải vàng thì võ trang lựu đạn.

        Ngày lên đường, anh Ba dặn kỹ:

        - Trên đường đi, tuyệt đối giữ bí mật. Không được nổ súng, trừ trường hợp bị phục kích. Tới nơi phải trao thư của tôi và vàng tận tay Bộ trưởng Quốc phòng. Có súng đạn thì tổ chức đưa về đây càng sớm càng tốt. Nên nhớ miền Đông là mục tiêu số một của tướng Leclerc.

        Trên đường thiên lý, anh Quỹ không ngớt động viên anh em chân cứng đá mềm, cứ đi rồi sẽ tới. Chớ có sốt ruột hay nôn nóng.

        Thấm thoát ngày tháng trôi qua, sau cùng tiểu đội tải vàng cũng tới thủ đô Hà Nội. Ngô Văn Quỹ trao thư và vàng tận tay Bộ trưởng Quốc phòng lúc đó là ông Hoàng Văn Hoan. Anh thở phào nhẹ nhõm: “mission accomplie” ( sứ mạng đã hoàn thành).

        Nghỉ ngơi vài ngày, anh và tiểu đội lại đưa số võ khí Bộ Quốc phòng chi viện cho miền Nam. Trên chuyến trở về có anh Mã Thành Lợi cùng đi với đoàn.

        Tới Quảng Ngãi, Quỹ và Lợi gặp chuyện bất ngờ.

        Tướng Nguyễn Sơn, chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến miền Nam gồm các tỉnh Nam Trung Bộ và cả Nam Bộ tịch thu số võ khí của hai anh. Theo dò hỏi, Quỹ được biết tướng Nguyễn Sơn đã từng tham gia cuộc Vạn Lý Trường Chinh của giải phóng quân Trung Hoa, rất được Bác Hổ tm nhiệm. Nguyễn Sơn có ý xây dựng Quảng Ngãi thành thủ đô Kháng chiến như Diên An của Hồng Quân. Theo khẩu hiệu của nước bạn “chánh quyền trên nòng súng”. Nguyễn Sơn tịch thu tất cả võ khí chi viện cho Nam Bộ đi ngang qua Quảng Ngãi và Liên Khu V.

        Tất nhiên là Ngô Văn Quỹ không chịu khoanh tay. Anh nhiều lần xin gặp tướng Nguyễn Sơn, nhấn mạnh số súng đạn anh áp tải về Nam là súng đạn của khu trưởng Nguyễn Bình nhờ Trung ương mua với giá 32 ký vàng do chính anh đưa từ Nam ra Bắc.

        Nhưng không ăn thua gì. Trái lại càng lãnh lấy tai vạ. Quỹ và Lợi bị giam lỏng tại trường Trung học Quảng Ngãi. Ngày ngày ăn không ngồi rồi giữa lúc tình hình chiến sự càng lan rộng ở miền Nam. Quỹ và Lợi rất sốt ruột... Không biết ngày nào mới được trở về Nam.

        Thế rồi một bất ngờ lại đến. Lẩn này là một bất ngờ thú vị. Giáo sư Bác sĩ Hồ Đắc Di đánh điện gọi Ngô Văn Quỹ ra học năm thứ hai trường Y vừa được mở trong vùng tự do.

        Như vậy là sinh viên Y khoa Ngô Văn Quỹ đã để ba năm đi một vòng từ Bắc vào Nam rồi từ Nam ra Bắc để trở lại mái trường Đại học Y. Nhưng anh không có gì phải hối tiếc. Anh đã được tham gia kháng chiến ở Nam Bộ ngay từ ngày hăm ba lịch sử và nhất là đã được làm việc với vị tướng lãnh mà Bác Hồ đã tin tưởng giao trọn miền Nam trong cơn khói lửa ngất trời.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #15 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2008, 08:56:56 am »

Chương 15

Về Tân Tịch. Tám Nghệ lập cứ
Tới Bưng Cầu, gặp được Nguyễn Bình

 
Trong cuộc hội nghị quân sự An Phú Xa, Nguyễn Bình vui mừng được tiếp xúc với các “tướng tá” đang nắm trong tay các lực lượng võ trang đóng rải rác khắp nơi trên chiến trường miền Đông. Người mà Nguyễn Bình đặc biệt chú ý là Tám Nghệ, chỉ huy trưởng bộ đội Tân Uyên.

        Tám Nghệ là ai vậy? Đây là vài nét về nhân vật này:

        Huỳnh Văn Nghệ quê Tân Tịch, một xã nằm ven sông Đồng Nai, cách thị trấn Tân Uyên khoảng ba cây số. Cha anh là thợ mộc mất sớm, mẹ anh buôn bán tần tảo nuôi anh ăn học. Anh học giỏi, được học bổng lên trường trung học Pétrus Ký. Đậu thành chung, anh làm việc tại sở Hoả xa. Tân Uyên có ba bạn chí thân cùng học từ trường làng lên tới trường Sài Gòn. Đó là ba bạn Tô Văn Của (Sáu Của), Cao Văn Bể (Ba Bể) và Huỳnh Văn Nghệ (Tám Nghệ).

        Trước cách mạng tháng Tám nhiều năm, ba anh đã có tinh thần dân tộc bí mật hoạt động chống Pháp trong giới trí thức và công chức. Tám Nghệ liên lạc thường xuyên với anh Chín Quỳ, một nhà cách mạng làm công trong nhà máy xay ở Tân Hoà. Trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ tháng 11-1940, tiểu đội du kích của Chín Quỳ định chụp đồn Cây Đào rồi đánh ra Tân Uyên, nhưng kế hoạch đổ bể, Tây phòng thủ kỹ và đánh bật du kích vô rừng. Chín Quỳ với khẩu súng săn đã nuôi tiểu đội mấy năm ròng với tài thiện xạ.

        Đạn săn hết, Chín Quỳ nhắn Tám Nghệ cung cấp đạn. Anh Tám ngoại giao với bọn lính Tây mua đạn gởi về Tân Uyên. Đi nhiều chuyến trót lọt, nhưng rồi nội vụ đổ bể. Tây xét nhà trọ, thấy đạn giấu trong rương, chúng đòi bắt tất cả những người ở trọ. Tám Nghệ phải nhận số đạn đó của mình. Anh vận động được đóng tiến để “tại ngoại hầu toà”. Vừa được tự do tạm là anh vọt. Trốn đâu? Hệ thống lính kín địch như rươi. Anh vọt sang Xiêm hoạt động theo các nhóm Việt Kiều yêu nước. Trong mấy năm sống xa quê anh đã làm những bài thơ tha hương rất truyền cảm mà nổi bật nhất là bài Tết quê người.

        Sau ngày Nhật đảo chánh Pháp, Tám Nghệ về nước và được bí thư Xứ uỷ Sáu Giàu phân công trở qua Xiêm mua súng đạn chuẩn bị cướp chánh quyền trong tay Nhật khi thời cơ đến. Thời cơ ngàn năm một thuở là Đồng Minh sẽ đánh bại phe Trục. Thừa lúc Nhật đầu hàng trong khi Pháp chưa kịp trở tay, ta tranh thủ phất cờ độc lập. Tám Nghệ hoàn toàn đồng ý nước cờ thần diệu của Sáu Giàu, ôm vàng sang Xiêm mua súng đạn. Sáu Giàu chọn Tám Nghệ rất đúng người đúng việc. Xiêm là chợ trời súng đạn nổi tiếng Đông Nam Á. Còn Tám Nghệ là người đã hoạt động trong các nhóm Việt Kiều yêu nước ở Xiêm trong nhiều năm. Rất tiếc là chuyến đi đó thất bại thảm thương: Tám Nghệ đã bị bọn cướp núi chặn tại dãy núi Tà Lơn ở biên giới Việt Miên cướp sạch tiền và vàng. Không mất mạng là may. Tám Nghệ trở về Sài Gòn nhận tội với Sáu Giàu. Vào thời buổi vô cùng nghiêm trọng, các đảng phái, các chánh khách thân Nhật, thân Tàu, thân Pháp thi nhau giành thế lực, Sáu Giàu phân công Tám Nghệ gia nhập nhóm Lương Văn Tương, trụ sở tại đường Verdun (nay là Cách mạng tháng Tám) gần Ngã Sáu, Sài Gòn. Đây là nhóm chính trị gồm nhiều xu hướng khác nhau tthuộc đủ thành phần trong xã hội: Tám Nghệ gặp tại đây khá nhiều nhân vật tên tuổi như hai anh em Diệp Ba, Diệp Tư, Hoạ Đồ Trình, Vũ Tam Anh, Huỳnh Phú Sổ và Năm Lửa... Một chi tiết buồn cười về bộ vó bên ngoài của Tám Nghệ: Anh mới từ Xiêm về ăn mặc tóc tai giống như người Nhật. Đầu hớt trọc, y như các sĩ quan quân đội Phù Tang.

        Lương Văn Tương là một Mạnh Thường Quân trong nhà luôn luôn có cả chục “tân khách”. Cơm nước ngày hai bữa do em họ của Tương là cô Lương Thị Thành đảm trách. Cô Ba Thành quê Nha Mân, một làng ở giữa hai tỉnh Sa Đéc và Vĩnh Long nổi tiếng sản sanh nhiều cô gái đẹp. Đặc điểm này đã đi vào ca dao tục ngữ vùng đồng bào sông Cửu Long: “Thóc nào ngon bằng thóc Cao Lãnh, gái nào bảnh bằng gái Nha Mân”. Ngày Tám Nghệ gia nhập đám tân khách của Lương Văn Tương; cô Ba Thành nhìn anh với cặp mắt dửng dưng. Cô tưởng anh là dân “trôi sông lạc chợ”, nhưng dần dần thái độ xa lạ đó biến đi và chuyển thành một thứ cảm tình có phần lãng mạn.

        Số là cô Ba Thành rất khoái văn thơ mà Tám Nghệ là một thi nhân thích ngâm nga. Giọng anh không hấp dẫn nhưng tứ thơ rất truyền cảm. Từ yêu thơ tới yên người khoảng cách không xa. Cô Ba Thành yêu Bảy Thái - tên thường gọi của Tám Nghệ lúc đó - từ lúc nào cô cũng không nhớ. Chừng đã lỡ yêu rồi thì đã muộn: Bảy Thái quê Biên Hoà, có vợ và ba con. Thế rồi “một liều ba bảy cũng liều”...

        Đầu 1945, Tám Nghệ bị PSE (Police Spéciale de Est) tức Ty Đặc cảnh miền Đông bắt. Đích thân tên cò Mai Hữu Xuân khai thác Tám Nghệ. Tám Nghệ chơi ván bài lật ngửa. Khi Quan hỏi: “Giữa Pháp và Nhật anh chọn ai?”. Nghệ đáp: “Cả hai đều là quân cướp nước. Chúng tôi đánh cả hai để giành độc lập”. Xuân lại hỏi: “Nếu giành độc lập thất bại, anh chọn ai, Pháp hay Nhật?”. Tám Nghệ: “Không thể thất bại được. Nhất định giành được độc lập. Còn như thất bại như ông nói thì chúng tôi chọn mối quan hệ Việt-Pháp đã có từ lâu rồi. Nhật là kẻ tới sau, chưa có quan hệ gì sâu về mọi mặt”. Mai Hữu Xuân là tay sai của Pháp nên gật gù ý đó. Những ngày mất tự do trong khám Catinat của Tám Nghệ không lâu, tình hình diễn biến nhanh, Nhật đảo chánh, Tám Nghệ lại được tự do bay nhảy như cá gặp nước.

        Hãy trở lại công việc xây dựng căn cứ địa Tân Uyên tháng 9-1945. Tân Uyên lập Uỷ ban nhân dân trong tháng 10-1945. Anh Lê Thái bí thư. Công cuộc chuẩn bị kháng chiến tiến hành rất khẩn trương.

        Trong ba ngày 23, 24, 25-10-1945, Tây đánh chiếm Biên Hoà. Uỷ ban Kháng chiến miền Đông của Lương Văn Tường rút ra Xuân Lộc rồi Phan Thiết. Bấy giờ tại Tân Uyên, Tám Nghệ gặp Chín Quỳ. Hai bên tập hợp lực lượng, được 40 dân quân với 30 súng. Đất Cuốc, một xóm giữa rừng của xã Tân Hoà được chọn làm căn cứ. Vài ngày sau, lực lượng kháng chiến của Cao Văn Bổ (Ba Bổ) kéo về Đất Cuốc. Lại thêm các học viên quân chính do Nguyễn Xuân Diệu, Phạm Thiều huấn luyện ở Vĩnh Cửu kéo về. Thêm nhóm tốt nghiệp khoá quân sự của anh Phan Đình Công ở Dốc Bà Nghiêm nữa. Tám Nghệ tập hợp tất cả lại được bốn phân đội (hồi đó phân đội là trung đội bây giờ).

        Số súng được tăng lên nhờ binh vận và nhất là các nhóm thợ lặn mò súng từ các tàu Tây, Nhật chìm trước đó. Số súng anh Võ Bá Nhạc lấy trên tàu Tourane kẹt đá hàn tại Bến Vịnh trước ngày Nhật đảo chánh là một đóng góp quan trọng với lực lượng bốn phân đội, Tám Nghệ thành lập bộ đội Biên Hoà, những hoạt động chủ yến trong quan Tân Uyên. Phân đội I hùng hậu nhất có nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ căn cứ gốm các xã Tân Hoà. Tân Tịch, Mỹ Lộc, Thường Lan, Lạc An.

        Đầu tháng 11-1945, Nguyễn Bình vào tới Nam Bộ. Từ Thủ Đầu Một, đặc phái viên Trung ương qua Tân Uyên. Đây là một ngày lịch sử, Nguyễn Bình gặp Tám Nghệ. Đang gặp một chỉ huy địa phương để làm tham mưu thì vớ đúng Tám Nghệ. Qua phút trao đổi đầu tiên, hai bên đã hân hoan xem nhau như là “anh hùng tương ngộ”. Tám Nghệ trình bày tình hình Nam Bộ từ khi Nhật đảo chánh Pháp cho đến lúc Nhật hoàng tuyên bố đấu hàng vô điều kiện và ta cướp chánh quyền đúng thời cơ: Nhật mất khí thế trong khi Pháp chưa sang. Đây là cơ hội ngàn năm một thuở mà bí thư xứ uỷ Trần Văn Giàu đã tiên đoán và chạy đua nước rút để về đích trước thực dân Pháp.

        Tám Nghệ đưa Nguyễn Bình đi khảo sát căn cứ Tân Uyên. Núi rừng trùng điệp ăn thông tới dãy Trường Sơn là một vị trí quân sự cực kỳ quan trọng, công thì tiến tới Sài Gòn, thủ thì lên tận cao nguyên Trung Bộ. Thật là căn cứ lý tưởng. Nguyễn Bình đánh giá Tám Nghệ cao về khả năng quân sự: ngay từ đầu Tám Nghệ đã có ý thức xây dựng một căn cứ quân sự trong quận Tân Uyên là nơi có rừng núi hiểm trở ăn thông tới Ba Biên Giới nói liền với dãy Trường Sơn. Thật ra thì đây là sáng kiến của Bí thư Xứ uỷ Trần Văn Giàu đã gợi ý cho Bảy Thái ngay từ khi rời Bangkok về Sài Gòn. Tám Nghệ hăm hở bắt tay vào việc vì Tân Uyên chính là quê hương yêu dấu của anh.

        Tám Nghệ đưa Nguyễn Bình về Tân Uyên, trước nhất về ngôi nhà của anh tại Tân Tịch, nằm sát con đường đất đỏ chạy cặp con sông xanh biếc với hàng dừa, vườn bưởi xen kẽ đồng ruộng và rẫy mía bạt ngàn. Đi một vòng qua các xã Tân Hoà, Mỹ Lộc, Thường Lang, Lạc An. từ sông Đồng Nai tới sông Bé, băng qua những khu rừng bát ngát, Nguyễn Bình đã chấm nơi này để xây dựng căn cứ cho Bộ chỉ huy miền Đông. Vị trí Tân Uyên thật lý tưởng vì thị trấn này chỉ cách tỉnh lỵ Biên Hoà và Thủ Đầu Một khoảng 30 km. Tân Uyên cung cách Sài Gòn chừng ấy thôi, tính theo đường chim bay.

        Nguyễn Bình càng đắc ý với vị trí của Tân Uyên khi nghe Võ Bá Nhạc hiến kế:

        - Nếu anh Ba - ông Nhạc gọi Nguyễn Bình như thế từ khi Nguyễn Bình đến ở trong nhà ông giáo Chương là cha vợ của ông - chọn Tân Uyên thì anh Ba phải chọn Bến Vịnh nằm ngay vàm sông Bé đổ ra sông Đồng Nai, thuộc xã Lạc An.

        - Bến Vịnh như thế nào? Nguyễn Bình lắng tai nghe, thích thú. Võ Bá Nhạc thao thao kể chuyện đời xưa.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #16 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2008, 09:56:22 am »

Chương 16

Sợ Nhật cướp, Tàu Tây chạy trốn
Lên bên vịnh, nạp súng cho ta

 
Vàm Bến Vịnh là nơi con sông Bé đổ ra sông Đồng Nai. Nơi đây là xã Lạc An. Sở cao su Bến Vịnh là nơi khỉ ho cò gáy dân cạo mủ cao su ở đây ném về hạng nghèo nhất miền Đông Nam Bộ. Quanh năm chỉ có bộ đồ dính da. Tối ngủ không mùng mền, trước khi ngủ phải móc bùn non thoa đều khắp mình để muỗi chê không thèm cắn. Quản đốc Sở cao su này là Võ Bá Nhạc. Lúc thiếu thời, Nhạc là một thanh niên hiếu học. Không tiền ăn học, Nhạc tình nguyện sang Pháp trong đội lính không nghề, Tây gọi là ONS (Ouvriers Non Specialisés) vào thời thế chiến 2 (1940 - 1945), Tây đầu hàng quá nhanh, Nhạc không phải ra trận làm bia đỡ đạn cho Nước Mẹ (Mẫu quốc), có thì giờ nhàn rỗi chăm chú học hành. Đêm đêm anh thắp đèn dầu - khi trại lính đã tắt đèn, để tự học.

        Chừng Tây cho lính thợ về nước sau chiến tranh, Nhạc đã có một mớ hành lý văn hoá, nhất là Pháp văn. Nhưng hay không bằng hên: một trong số đồng đội của anh là con một chủ sở cao su ở Nam Kỳ. Do người con giới thiệu, Nhạc được người cha nhận làm qủan đốc sở cao su Bến Vịnh. Chỉ là quản đốc thôi, những ông Nhạc được dân trong vùng “tôn” lên hàng ông chủ. Dòng đời cứ lặng lẽ trôi như dòng sông Bé đổ ra Đồng Nai qua vàm Bến Vịnh. Thế rồi xảy ra một biến thiên dữ dội: đám phát xít lùn đảo chánh thực dân Pháp. Đó là ngày Nớp Mạc (9-3-1945). Nhưng nơi bùn lầy nước đọng này, chỉ có quản đốc Nhạc hay tin đảo chánh nhờ báo chí Sài Gòn lên trễ cả tuần, còn anh em cạo mủ thì không hề hay biết.

        Ngày kia có chiếc tàu nhà binh mang tên Tây Tourane (Đà nẵng) chạy lên, phóng ngược dòng sông Bé. Đây là một hiện tượng lạ vì khúc sông này rất nhiều đá hàn. Chuyện phải đến đã đến: tàu rấn lên đá ngầm, mắc kẹt. Tây thả ca nô lên gặp quản đốc Nhạc xin cho thuyền đưa lính trên tàu vào bờ, đồng thời cho xin một bữa ăn, sẽ đền ơn xứng đáng. Ông Nhạc ra lịnh cho em vợ là xếp “săn-chê” Hoà lo ghe đưa lính lên bờ và lo cơm nước. Số lính trên tàu độ 400 người Việt, chỉ huy Tây chừng một chục. Thằng Tây xếp tự giới thiệu là “chen de bataillon” (tiểu đoàn trưởng) còn chiếc Tourane là “canonnière” (pháo hạm) có bố trí đại bác trước mũi và sau lái. Chúng lên rừng là có ý không cho Nhật tước súng và bắt làm tù binh.

        Tất cả tiểu đoàn ăn uống thoả thích: lâu ngày mới được bữa cơm thịnh soạn, có thịt heo tươi, có rượu chát đỏ. Rượu chát lấy ở dưới tàu lên. Vừa ăn tên xếp Tây nói:

        - Cám ơn các ông đã tiếp đón niềm nở chúng tôi. Tôi sẽ trả tiền sòng phẳng buổi tiệc hôm nay. Ngoài ra tôi còn tặng các ông tất cả đồ đạc trên tàu. Chúng tôi chỉ mang súng lên rừng mà thôi. Cái gì quý nhất đối với người lính bằng khẩu súng? Đồ đạc trên tàu trị giá bạc triệu: đó là quần áo binh sĩ cả kho. Chúng tôi thân ái tặng các anh với điều kiện các anh cho người địa phương đưa chúng tôi theo đường rừng lên Ban Mê Thuộc. Được không?

        Ông Nhạc bắt tay tên Tây nói:

        - Xin các ông yên chí. Chúng tôi sẽ giúp các ông: dù có thù lao hay không. Tôi lấy một câu cách ngôn của người Pháp các ông làm phương châm xử thế: “Một việc làm phải không bao giờ mất”.

        Anh bảo anh Hoà chọn ba người thông thạo đường rừng đưa tiểu đoàn lính trên pháo hạm Tourane vượt rừng đi về phái Tây nguyên Trung Bộ.

        Đám lính Pháp và Việt đi rồi, ta cho người lên tàu thu chiến lợi phẩm: Kho quân phục được đưa hết lên bờ. Còn thức ăn trong các tủ lạnh như xúc xích, anh em chưa hề thấy, cứ đưa lên cắn. Không ngờ thịt lạnh để lâu trong tủ lạnh đã đông lại, cũng như củi. Anh em suýt gãy răng vì những cây xúc xích oái oăm đó, ném xuống sông như ném củi. Số quần áo quá nhiều, anh em đang rách rưới mỗi người quơ hai bộ. Một bộ mặc liền tại trận, một bộ cất để dành. Ai nấy đều vui tươi cho đây là của trên trời rớt xuống giúp vận con nhà nghèo. Nhưng niềm vui của họ không được lâu vì Võ Bá Nhạc thấy công nhân mặc đồ nhà binh Pháp trắng rừng lấy làm lo sợ, ra lịnh cho Hoà phải thu hồi tức khắc các bộ đồ ka ki đó đem cất giấu cũng như số súng Tây để lại làm quà:

        - Nội trong ngày nay, thế nào tụi Nhựt cũng lên tới đây truy bắt tiểu đoàn Tây chạy vô rừng, nếu chúng thấy mình đã tiếp tế cho Tây để lấy quần áo, súng ống thì nó tàn sát hết cả đám.

        Quyết định của ông Nhạc làm anh em công nhân không vui. Qua ngày sau, bọn Nhật lên Bến Vịnh.
        Chúng thấy chiếc Tourane mắc cạn, đổ lên sở cao su của quản đốc Nhạc. Nhưng Nhạc đã nhanh chân về Sài Gòn hôm trước. Chỉ có Hoà ở lại. Nhật lên bắt năm người buộc dẫn chúng băng rừng tìm bắt bọn Tây đã trốn. Đi quần nát mà không gặp bọn Tây, bọn Nhật nổi khùng chôn sống năm anh em công nhân xấu số này.

        Giới thiệu lịch sử Bến Vịnh với sở cao su Bô-mua xong, Võ Bá Nhạc cùng hai em vợ là Hoà và Thanh đưa anh Ba tới tận nơi. Các cơ sở văn phòng, nhà kho đều còn nguyên, có thể làm nơi đặt bộ chỉ huy rất thuận tiện. Nguyễn Bình rất hài lòng có được một nơi đóng quân giữa chốn rừng xanh hiểm trở.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #17 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2008, 09:58:35 am »

Chương 17

Mất giấy tờ khi tới Mỹ Hạnh
Nhờ bản lãnh, thuyết phục Ba Trà

 
Sau vụ bị Nhật bắt ở Bưng Cầu, Nguyễn Bình tiếp tục đi khắp nơi để gặp các vị chỉ huy quân sự, bàn chuyện thống nhất lực lượng võ trang để chống Pháp hữu hiệu hơn. Ngày kia liên lạc đưa ông tới Mỹ Hạnh là một làng trong quận Đức Hoà. Liên lạc cho biết đây là nơi đóng quân của một bộ phận Giải phóng quân Liên quận Hốc Môn - Bà Điểm - Đức Hoà. Anh Ba Bình lẩm bẩm:

        - Giải phóng quân Liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hoà, tên sao mà dài thế?

        Liên lạc giải thích:

        - Có ba đơn vị nhập lại. Đơn vị nào cũng muốn giữ cái tên của mình. Cho nên đặt tên mới dài như vậy.
        Hốc Môn và Đức Hoà là quận, còn Bà Điểm là một làng trong mười tám thôn vườn trần của Hốc Môn. Nhưng đây là làng tiêu biểu cho cả quận Hốc Môn về truyền thống Cách mạng, cho nên phải gọi chung là Hốc Môn - Bà Điểm như cặp anh em sanh đôi.

        Nguyễn Bình thích thú hỏi tiếp:

        - Như vậy ban chỉ huy phải đông?

        - Đông chớ? Bên Hóc Môn - Bà Điểm có anh Ba Tô Ký, Huỳnh Tấn Chùa. Bên Đức Hoà có anh Huỳnh Văn Một...

        - Còn bộ phận Mỹ Hạnh này ai chỉ huy?

        - Anh Trần Văn Trà, thường gọi là anh Ba Trà. Anh là Tổng thư ký của Giải phóng quân liên quận.

        - Ba Trà thuộc quận nào? Đức Hoà hay Hốc Môn?

        - Trường hợp anh Ba Trà thì khác. Anh Ba Trà là người Quảng Ngãi. Trước cách mạng anh học trường kỹ nghệ thực hành Huế, nửa chừng bỏ học hoạt động cách mạng. Hai anh em ông vô Sài gòn hoạt động lấy tên là Thắng và Châu. Thắng là anh Ba Trà phụ trách tờ báo bí mật của Đảng, tờ Giải phóng. Ra được mất số thì cả nhóm bị Tây bắt đưa vô Khám Lớn. Cách mạng tháng Tám giải thoát các anh để tham gia bộ đội ngay từ đầu.

        Nguyễn Bình gật gù:

        - Đúng Nam Bộ là đất Yên Triệu thu hút được nhân tài. Còn đất Hốc Môn - Bà Điểm đúng là cái nôi cách mạng. Các đồng chí trong Xứ uỷ Nam Kỳ đều chọn mười tám cái thôn vườn trầu là căn cứ hoạt động.

        Liên lạc ghé lại một nhà đầu xóm hỏi thăm rồi nói:

        - Tới rồi. Anh Ba Trà đóng quân trong cái nhà kia kìa. Mình đi vô đó đi.

        Một thanh niên tầm vóc trung bình mạc quân phục tươm tất bước ra chào khách lạ.

        Gương mặt sáng láng thông minh của một người trí thức:

        - Tôi nghe nói Trung ương gởi một phái viên vô Nam. Có phải đồng chí là phái viên của Bộ Tổng?

        Nguyễn Bình gật:

        - Đúng Tôi là Nguyễn Bình, phái viên của Bộ Tổng vào Nam để giúp các đồng chí thống nhất các lực lượng vũ trang...

        Nhìn ánh mắt của anh Ba Trà, Nguyễn Bình cười nói:

        - Lẽ ra thì tôi phải xuất trình giấy giới thiệu của Bộ Tổng, nhưng trong lúc đi đường, tôi bị bọn Nhật chặn xe tịch thu hết. giấy tờ.

        Anh Ba Trà nhìn khách lạ kỹ hơn. Vóc dáng tầm thước, người i vạm vỡ rắn chắc trong bộ đồ xá xẩu đen, vai mang xắc cốt da, mắt đeo kính râm gọng đồi mồi to bản. Tướng đi đứng, cách ăn nói, tất cả toát ra cốt cách oai phong lẫm liệt.

        Anh Ba Trà gật đầu:

        - Đồng chí phái viên đi đường đã mệt, hãy nghỉ ngơi tắm rửa cho khỏe. Cơm nước xong ta sẽ bàn công việc.

        Khi nghe Nguyễn Bình trình bày vắn tắt mục đích yêu cầu của Bộ Tổng, anh Ba Trà thấy rõ mình phải giúp phái viên Trung ương hoàn thành sứ mạng. Những điều mà Nguyễn Bình dự định làm, chính anh Ba Trà cũng đang suy tính. Ba nhiệm vụ cấp bách trước mắt của người có trách nhiệm về quân sự là tập hợp các cán bộ đảng viên lại. Thứ hai là tập hợp các bộ đội địa phương lại. Và thứ ba là thống nhất các lực lượng võ trang dưới sự lãnh đạo của Đảng.

        Anh Ba Trà không rõ phái viên của Trung ương có phải là Đảng viên hay không vì không nghe ông ta tự giới thiệu về điều đó, nhưng anh nghĩ rằng người đã được Cụ Hồ giới thiệu vào Nam phải là người xứng đáng với niềm tin cậy. Cách trình bày khúc chiết và tác phong chững chạc đường hoàng có sức mạnh thuyết phục được người đối thoại. Anh Ba Trà tin rằng Nguyễn Bình làm được nhiệm vụ Trung ương giao.

        Nguyễn Bình nói:

        - Tôi đã tiếp xúc được nhiều anh em đồng chí trong Nam. Thật là phấn khởi vì ai cũng sẵn sàng dẹp bỏ riêng tư để lo cho đại cuộc. Càng tiếp xúc nhiều với các đồng chí Nam Bộ tôi mới thấm thiá chân lý mà Bác Hồ đã nói với tôi khi giao nhiệm vụ: thực dân ra sức chia rẽ ba kỳ, lập ra ba chế độ cai trị khác nhau, nhưng dân tộc Việt Nam ta là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý đó đời đời sống mãi. Hội nghị An Phú Xã tới đây sẽ cụ thể hoá việc thống nhất các bộ đội địa phương thành một sức mạnh đủ sức đương đầu với giặc Pháp. Đồng chí đến dự nhé?
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #18 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2008, 10:01:29 am »

Chương 18

Theo cách mạng Bình Xuyên chuyển biến
Dương Văn Dương kháng chiến đánh Tây


        Bến xe đò Nam vang nằm trên đường Schneider (Nay là Phan Châu Trinh) bên hông chợ Bến Thành là nơi tụ tập đám du côn đâm thuê chém mướn. Ngày nào cũng có đâm chém làm nhọc lòng cò bót. Nhưng từ ngày Ba Dương từ nhà Bè tới thì “đâu đó êm re”. Ba Dương là ai mà trị được đám chằn ăn trăn quấn, ông Trời không sợ mà chỉ ngán ông Cò Tây thôi?

        Chắc phải là ba đầu sáụ tay thở ra khói, nói ra lửa, mình cao bẩy thước lưng lớn ba vừng? Gặp Ba Dương rồi ai nấy đều té ngửa. Anh Ba nhỏ thó như thư sinh, khiêm tốn trong bộ bà ba lụa lèo hay hàng Tân Châu.

        Anh ăn nói lễ phép, vậy mà du côn không dám hỗn láo, thầy chú không dám coi thường. Cò Tây vung gậy đập đầu du đãng quen tay vẫn phải nói chuyện đàng hoàng với Ba Dương vì Ba Dương nói tiếng Tây đúng mẹo luật, biết chia “verbe” hẳn hoi. Cò Tây trọng người có văn hoá nhưng không phải vì vậy thôi đâu. Nó trọng Ba Dương vì Ba Dương đem lại trật tự an ninh ở bến đò Nam Vang mà trước đây cả tiểu đội cảnh sát không làm nổi. Ba Dương đứng bến được không phải nhờ bộ vó học trò lễ. Đây là đấu trường đẫm máu, là nơi bạo lực nói lên tiếng nói cuối cùng.

        Tất nhiên là đã xảy ra nhưng trận thử lửa ác liệt. Có thể nói là Ba Dương đã thủ đài, lần lượt đấu với các tay anh chị sừng sỏ nhất trong làng dao búa. Và sau khi hạ hết đám này, anh mới được công nhận đại ca ngự trị tại bến xe Nam Vang.

        Văn phòng trùm bến xe đóng tại Phòng số 1 nhà ngủ Trung Châu, ngay góc đường Schreider –Colonel Boltdonnet (Phạm Hồng Thái), ngang ga xe lửa Mỹ Tho. Hồi đó dân anh chị khoái xài tiếng Tây nên gọi là phòng “permanent” (tức có người mướn dài hạn, có nghĩa là dành riêng, không cho thuê). Còn trong Chợ Lớn Ba Dương cũng có một phòng “permanent” đó là Phòng số 2 Khách sạn Đồng Bang trên đại lộ Tổng đốc Phương (Châu Văn Liêm). Hồi còn hàn vi, Ba Dương đi chăn vịt đồng cả ngàn con, tới đâu học võ tới đó nên quen lối sống “kiếp phong sương ăn quán ngủ đình” chừng lên chân làm “anh chị bự” ở giữa Sài Gòn, anh vẫn tiếp tục văn quán ngủ đình nhưng quán và đình loại sang. Quán Ba Dương vô ăn là các tửu quán cao lâu còn đình là các khách sạn phòng ngủ. Phòng ngủ thì chủ dành cho một phòng đặc biệt. Còn các cao lâu không đời nào lấy tiền của anh Ba, dù anh Ba ăn một mình hay kéo theo cả đám. Nhưng sông có khúc, người có lúc. Thời vàng son của Ba Dương ở bến xe đò Nam Vang kết thúc đột ngột vào giữa năm 1939. Đứng trước nguy cơ Nhật đổ bộ Đông Dương, Pháp ra tay trước, bố ráp các nhà cách mạng, bắt luôn các chánh khách, các đạo giáo, tóm cả các tay anh chị, du đãng, lưu manh.

        Ba Dương bị Tây bắt đánh giập mười đầu ngón tay, ngón chân. Nhưng hình phạt tên Đốc phủ Cần và Cai Tổng Nhì dành cho Ba Dương mới dễ sợ. Theo lịnh hai tên này, lính cắt tóc Ba Dương từng khúc ngắn, bắt uống. Đây là điều thiên hạ sợ nhất; tóc sẽ phá nát “bộ đồ lòng”, kẻ xấu số không thoát khỏi cái chết lần mòn vì chứng bịnh do tóc gây ra. Ba Dương thất thế không cách nào khác hơn là phải uống loại thuốc độc gớm ghiếc này. Anh thề sau này khi có dịp sẽ trả mối hận “sống để bụng, chết mang theo”. Biết chắc Ba Dương sẽ chết dần mòn, đốc phủ Cần và Cai tổng Nhì tha cho về nhà.

        Ba Dương là thầy nghề võ có nhiều môn đệ trong hai quận Nhà Bè và Cần Giuộc. Một trong những học trò cưng của Ba Dương là Nguyễn An Nhơn tức Ba Nhơn. Khi Ba Dương ngộ nạn, Ba Nhơn đứng ra bảo lãnh. Ông đem Ba Dương về Chợ Núi, xã Đông Thạnh, quận Cần Giuộc. Ông đi khắp nơi xin thuốc gia truyền phục được mấy tháng trường. Chừng hết bịnh, Ba Dương trở lại nghề nuôi vịt để sống qua ngày, quanh năm chỉ ở trong đồng sâu, không dám ra xóm đông sợ làng lính bắt lại. Ba Nhơn luôn luôn ở bên ngoài canh gác, hễ thấy làng lính báo động thì Ba Dương rút vô sâu.

        Sau khi Nhật đảo chánh Pháp, Ba Nhơn học tiếng Nhật rồi tham gia Thanh niên tiền phong. Khi anh làm đoàn trưởng, Ba Dương giúp anh dạy võ cho thanh niên. Đến ngày 25-8 các quận nội ngoại thành nô nức kéo nhau đi biểu tình biểu dương lực lượng do Việt Minh tổ chức, Ba Dương mới tái xuất giang hồ. Cùng đi với anh Ba là lực lượng Thanh niên tiền phong xã Đông Thạnh do Ba Nhơn cầm đầu. Tại Vườn Bồ-rô (Tao đàn) anh em được biết bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, thủ lãnh Thanh niên tiền phong. Sau cuộc mít tinh, hai anh em Ba Dương và Ba Nhơn ghé khách sạn Đồng Bang ở Chợ Lớn nghỉ đêm, sáng hôm sau mới về nhà. Rồi tới cuộc biểu tình ngày 2-9 mừng Độc Lập. Hai anh em cùng tham gia trong hàng ngũ quận Cần Giuộc...

        Tới lúc này, bọn dựa hơi Tây, hơi Nhật không còn tác oai tác quái nữa. Ba Dương trở về Tân Quy thăm nhà ở gần cầu Rạch Đỉa. Ba Nhơn cũng theo sát đề phòng bất trắc. Để an toàn, hai anh em đi ngã ga-ra Nguyễn Văn Hảo theo đường Marchaise (Ký Con) qua đò nhà máy Nguyễn Thanh Liêm. Anh Ba tránh hãng đóng tàu Nhật Nichinan ở dưới cầu Rạch Ong vì trước đây anh có làm bảo vệ các bè cây giá-tị dưới rạch. Lúc đó thầy Ba Hanh làm xếp hãng. Tên Nguyễn Văn Thành đấu thầu lãnh đóng một tàu cây. Thành thấy Ba Dương và đám em út có uy trong giới giang hồ nên ân cần mời anh Ba gia nhập Cao Đài. Ba Dương từ chối cho nên sau đó cố tránh Nguyễn Văn Thành.

        Ngày ta cướp chánh quyền, Ba Nhơn làm chủ tịch xã. Tây đánh Cần Giuộc, Ba Nhơn xin anh Ba súng và lựu đạn để cố thủ được một ngày một đêm. Lúc đó anh Ba đã là chỉ huy bộ đội Bình Xuyên gồm các đại đội Tân Quy, Tân Thuận và Phú Xuân, dưới trướng có cả trăm binh sĩ. Làm lớn rồi Ba Dương vẫn mặc bà ba đen như lúc chăn vịt. Về súng thì bộ đội Bình Xuyên rất nhiều: ba bao cà ròn súng lục đủ loại. Lúc này là lúc ân oán giang hồ. Ta vậy bắt hai tên có nợ máu với nhân dân trong vùng: đốc phủ Cần và Cai tổng Nhì. Hai tay này như gà rót, lạy lục xin được toàn mạng. Biết Ba Nhơn đã cưu mang Ba Dương, hai tên này năn nỉ Ba Nhơn nói giùm Ba Dương cho họ chuộc. Dù hiến hết gia sản để được sống, họ cũng chẳng từ. Nhưng thái độ Ba Dương làm cho cả hai kính phục.

        Anh Ba nói:

        - Tội ác của hai người, trời không dung, đất không tha. Nếu trả thù thì chặt một chục cái đầu của hai người cũng không vừa. Nhưng mà thôi. Bây giờ cách mạng đã nổi lên rồi. Không ai còn nhỏ mọn tính chuyện trả thù trả oán.

        Anh Ba ra lịnh cởi trói tha cho về. Cả hai xá lia lịa, chân bước trên đường đất mà tưởng như bay trên mây. Không ai nghĩ là mình còn sống trong cõi đời này. Thái độ quân tử của Ba Dương tác động mạnh: Phủ Cần từ đó tu tâm sửa tánh. Tây trở lại, kêu gọi các công chức cao cấp về thành hợp tác, cho lãnh “rappel” (truy lãnh lương đủ kể từ khi Nhật đảo chánh, gồm mười tháng). Nhưng Phủ Cần nhất định không hợp tác với Tây. Con cái cho theo kháng chiến.

        Ngày Tây gây hấn, Ba Dương chỉ huy bộ đội Bình Xuyên đánh mấy trận đột nhập nói thành Sài Gòn gây hoang mang cho bọn Tây và đám Việt gian dựa hơi quân Anh Ấn giừ mặt trận cầu chữ Y.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #19 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2008, 10:04:33 am »

Chương 19

Thay Ba Dương, Hai Trọng phó hội
Gặp Nguyễn Bình, kết bạn đồng hương


Kháng chiến bùng nổ, Hai Trọng lập tức tấp vô bộ đội Bình Xuyên của Ba Dương ở cầu Rạch Đỉa, chỉ cách Sài Gòn có con Kinh Tẻ. Hai Trọng tên thật là Lương Văn Trọng là thợ điện, quê Hải Phòng vào Nam từ lúc còn trẻ. Anh hoạt động trong công đoàn thợ điện Gia Định trước 1945. Khi chánh quyền về tay cách mạng, Hai Trọng được uỷ nhiệm tổ chức Trại công nhân thất nghiệp, lo chỗ ăn chỗ ở cho làng ngàn thợ thầy đang lâm cảnh túng bấn. Hai đồng chí Hoàng Đôn Văn và Kha Vạn Cân bấy giờ là đô trưởng Sài Gòn chỉ định Hai Trọng làm tổng giám đốc các trại này. Gọi là tổng giám đốc vì lúc đó thành phố có ba trại: Sài Gòn, Thị Nghè và Bà Chiểu. Trại ở Sài Gòn chiếm một ngôi trường huấn luyện của Sở Cứu hoả trên đại lộ Norodom, đối diện với thành Ong-dèm (II è RIC). Hoạt động sát cánh với Hai Trọng có Nguyễn Văn Hội cũng là thợ điện làm việc tại Sở Mộ, nhà ở Xóm Gà. Hội là bí thư Chi bộ nghiệp đoàn thợ điện. Tánh tình thẳng thần, hào hiệp của Hội khiến Hai Trọng cảm mến ngay từ đầu, hai anh em làm việc rất hăng say trong công tác được phân công.

        Tiền chợ cạn dần, hai anh đang lo thì hay tin Trần Văn Giàu họp quân sự trên Tân Phú Trung.
        Lúc đó Sáu Giàu là chủ tịch Lâm uỷ hành chánh Nam Bộ. Cả hai tức tốc lên gặp Sáu Giàu để xin tiền cho trại. Địa điểm họp là nhà giám đốc sở cao su ở sát đường. Khi tới nơi, hai anh thấy Sáu Giàu ngồi ở bộ xa lông có trải da cọp. Một chân Sáu Giàu đạp lên đầu cọp, trông rất oai. Cử toạ là các chỉ huy các bộ đội. Nội dung trao đổi là chuyện đánh Tây. Sau phần thuyết trình đến phần tài chánh: các bộ đội được cấp phát tiền để hoạt động. Theo sát bên Sáu Giàu là thư ký giữ tiền. Sau khi phát tiền xong, Sáu Giàu lên xe đi. Lập tức Hai Trọng và Hội nhào tới: “Còn tụi tôi? Tôi là tổng chỉ huy lo cho anh em công nhân thất nghiệp...” Sáu Giàu rút giấy ra viết ngay: “Hai ông tới gặp Lương Văn Tương lãnh tiền”. Lương Văn Tương là chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến miền Đông, văn phòng đặt tại một căn phố lầu đường Vedrun, gần ngã sáu Sài Gòn... Khi Tây đánh chiếm Sài Gòn ngày 23-9-1945, ông Tương cùng Uỷ ban Kháng chiến miền Đông chạy về Biên Hoà. Hai Trọng và Hội cũng giã biệt thành đô để theo kháng chiến.

        Hai Trọng tấp vô Bình Xuyên ở cầu Rạch Đỉa, xã Tân Quy, Nhà Bè. Gặp lãnh tụ Bình Xuyên lần đầu, Hai Trọng đã nhận định “đây là tay có bản lĩnh”. Ba Dương vóc dáng bình thường nhưng được cặp mắt, nhỏ mà sáng. Tánh tình trầm lặng, suy nghĩ nhiều hơn nói. Mà nói thì như đinh đóng cột.

        Một hôm anh Ba hỏi Hai Trọng:

        - Nghe nói ngoài Bắc phái Nguyễn Bình vô Nam, anh nghĩ thế nào?

        - Tôi có nghe tin đó. Tôi chưa biết Nguyễn Bình ra sao. Nhưng đã là phái viên Trung ương chắc là phải thế nào...

        Hai Trọng nói tới đó, Ba Tương gật đầu nối lời:

        - Tôi cũng nghĩ như anh. Trong này đang gặp khó khăn mà được ngoài đó phái người vô giúp thì đỡ lắm. Theo tôi nghĩ thì anh Hai nên tìm gặp Nguyễn Bình cho biết rồi về đây báo cáo cho anh em rõ về ông phái viên Trung ương đó.

        Ý của Ba Dương rất đúng với tâm tư Hai Trọng. Anh vô Nam đã lâu, cần biết tin tức ngoài Bắc. Nguyễn Bình từ Bắc mới vào Nam, chắc nắm tình hình ngoài ấy rất rõ. Một công hai việc. Vừa là việc chung vừa là việc riêng, nên đi liền. Thế là Hai Trọng nhận công tác lên Thủ Đầu Một tìm gặp Nguyễn Bình. Anh đến thật đúng lúc, Nguyễn Bình đang tìm hiểu về cán bộ địa phương ở miền Đông mà anh có nhiệm vụ tập hợp lại để thành một lực lượng quân sứ hùng hậu sẵn sàng đương đầu với Tây. Trong số các bộ đội này, Bình Xuyên đứng hàng đầu về quân số, súng ống, nhưng cũng là đơn vị có nhiều vấn đề nghiêm trọng như vừa đánh Tây vừa xách nhiễu dân chúng.

        Bấy giờ Nguyễn Bình đóng trong một nhà gần thị xã Thủ Đầu Một. Hai Trọng tới vào xế chiều. Hai người ngồi nói chuyện ngoài sân. Thoạt tiên, Hai Trọng nghĩ rằng cuộc hội kiến chỉ ngắn thôi, không ngờ sau khi anh giới thiệu là sứ giả của anh Ba Dương tới gặp ông phái viên Trung ương để tìm hiểu tình hình, anh được anh Ba Bình tiếp đón niềm nở và đãi cháo gà. Hai anh em ngồi nói chuyện tới khuya, hết chuyện công tới chuyện tư. Cả hai đều là dân Hải Phòng vào Nam trước cách mạng. Do cùng mang chí lớn nên mới gặp lần đầu đã mến nhau. Đêm ấy, Hai Trọng giới thiệu bộ đội Bình Xuyên mà anh nắm được. Anh Ba Bình đặc biệt muốn biết về Ba Dương:

        - Ba Dương có đúng là tay hảo hớn như thiên hạ đồn?

        - Tôi chỉ mới biết anh Ba Dương thôi, nhưng trong thời gian sống với anh Ba tại tổng hành dinh Rạch Đỉa, tôi có vài nhận xét như sau: Ba Dương học tới tiểu học rồi đi giang hồ, mượn nghề nuôi vịt mà trau dồi võ nghệ và quy tụ anh hào. Khi được em út tôn lên làm đại ca Ba Dương không chỉ xưng hùng trong vùng Nhà Bè mà còn đứng bến xe đò Nam Vang ở bên hông chợ Bến Thành. Anh có một “lô can” (tiếng lóng có nghĩa là trụ sở hay văn phòng) ngay bến xe. Đó là phòng dành riêng cho anh trong một nhà ngủ tại góc đường hông chợ và ga xe lửa, gọi là khách sạn Nhà Ga (Hôtel de la Gare) Đáng lưu ý điều này: làm anh chị đứng bến xe, Ba Dương không giống ngừng tay du côn láu cá, mặc áo bạch ngực khoe rổng rán bùa ngãi xâm trên lưng, hễ mở miệng là đù mẹ đéo bà. Không, Ba Dương bao giờ cũng nho nhả thư sinh, quanh năm mặc bà ba, nói chuyện lễ phép, y như thầy giáo làng. Vậy mà không thằng em út nào dám hỗn láo... Khi Nhật cần người bảo vệ hãng đóng tàu Nichinan ở cầu Rạch Ong, Ba Dương làm cho Nhật để tạo uy thế.

        Ba Bình tỏ ra thích thú trước cá tính độc đáo của Ba Dương. Anh nói:

        - Vài ngày nữa tôi sẽ triệu tập tất cả chỉ huy trưởng bộ đội miền Đông họp tại An Phú Xã. Anh về chuyển thư mời của tôi cho anh Ba Dương. Tôi rất muốn gặp vị chỉ huy Bình Xuyên.

        ***
        Hai Trọng trao thư mời của Nguyễn Bình cho Ba Dương sau khi báo cáo chuyến gặp gỡ vị phái viên Trung ương. Ba Dương hỏi:

        - Theo anh thì Nguyễn Bình là người thế nào?

        Hai Trọng cười nghĩ thầm: “Rõ ràng là hai tay hảo hớn đang dò dẫm tìm hiểu nhau. Cũng bình thường thôi. Sách có chữ: biết mình, biết người: trăm trận trăm thắng”. Anh nói:

        - Nguyễn Bình tầm thước, mang kính râm dù là ban đêm vì hư một con mắt, thích mặc áo xá xẩu như người Tàu. Đó là hình dáng bên ngoài...

        - Còn bên trong - Có một điểm hai anh Ba Dương và anh Ba Bình giống nhau: rất ít nói. Suốt đêm qua, hầu như chỉ có một mình tôi nói. Anh Ba Bình chỉ hỏi. Đúng là tác phong của một người chỉ huy. Hỏi thật nhiều, hiểu cho rõ, nắm cho chắc...

        Ba Dương gật gù, một lúc sau mới nói:

        - Tôi rất muốn lên An Phú Xã dự cuộc họp đầu tiên do Nguyễn Bình triệu tập nhưng rất tiếc là mấy ngày nay tôi bị cảm. Vậy anh Hai thay tôi đi dự cuộc họp. Nhớ chuyển lời tôi hỏi thăm Nguyễn Bình.

        Trong khi Hai Trọng lên Thủ Đầu Một tìm Nguyễn Bình, ở nhà có chuyện đáng tiếc: Ba Dương cho lính bắt đồng khí Ba Bang. chủ tịch quận Cần Giuộc, tịch thu súng ống. sổ sách và tiền bạc. Lý do là Ba Bang để Tây đánh chiếm thị trấn Cần Giuộc.

        Ba Bang tên thật là Trương Văn Bang, là Cộng sản 30, từng là xứ uỷ viên Nam kỳ.

        Ba Bang bị giải về Rạch Đỉa, chưa biết số phận ra sao thì tình cờ Hai Vĩnh đi ngang qua trông thấy Hai Vĩnh (Mai Văn Vĩnh là rể ông Tám Mạnh, chỉ huy bộ đội Chánh Hưng về sau là Chi đội 7). Hai cha con Tám Mạnh - Hai Vĩnh cũng là Bình Xuyên nhưng khác phe Ba Dương. Ông Tám Mạnh được ông Bảy Trân kết nạp vô Đảng Cộng sản năm 42. Đây là tay giang hồ được kết nạp sớm nhất trong vùng Bình Xuyên. Do là Đảng viên nên ông Tám Mạnh rất thân với anh Ba Bang. Hay tin dữ, Hai Vĩnh liền ghé vô tổng hành dinh Rạch Đỉa xin bảo lãnh cho anh Ba Bang. Anh Ba Dương không có ở nhà. Hai Vĩnh một mặt viết thư cho Ba Dương nhờ Tư Hoạnh cấp tốc chạy tìm Ba Dương. Mặt khác Hai Vĩnh báo động với ông Tám Mạnh và ông Bảy Trân để can thiệp trong trường hợp Ba Dương thủ tiêu Ba Bang. Lúc đó ông Bảy Trân là uỷ viên trưởng quân sự Mặt trận số 4 chạy từ Bến Đá - Cầu Sập tới cầu Tân Thuận. Nhờ sự can thiệp đúng lúc đó mà Ba Dương thả Ba Bang, nhưng súng ống và tiền bạc thì không trả đủ. Dù vậy Ba Bang cũng hú hồn thoát chết.

        Nhân vụ này cộng với nhiều vụ bê bối khác như Bình Xuyên bắn chết một bác sĩ Pháp từ Sài Gòn đi xe hơi qua Chánh Hưng coi mạch trị bịnh cho một thân chủ. Bác sĩ này bị lính bắt giải về Chánh Hưng toan cho mò tôm. Gặp ông Bảy Trân, bác sĩ này vui miệng như chết đi sống lại vì Bảy Trân hứa sẽ thả ông, những một tay Bình Xuyên xách súng Mút tới làm dữ “bắt được Tây thì phải giết. Tây là kẻ thù của mình mà”. Ông Bảy Trân đứng chặn người này, giải thích “có Tây tốt, Tây xấu. Mình chỉ đánh Tây xấu thôi” Nhưng ông chưa dứt lời thì tay Bình Xuyên kia đã chĩa súng qua nách ông bóp cò: bác sĩ xấu số ngã gục xuống chết ngay. Trước tình trạng vô kỷ luật của đám Bình Xuyên, sẵn súng đạn, muốn giết ai thì giết, ông Bảy Trân rất khổ tâm, những không cách gì khác hơn là báo cáo cấp trên là Lâm uỷ hành chánh Nam Bộ mà chủ tịch Sáu Giàu là bạn thân của ông.

        ***
        Trên đường tới An Phú Xã, Hai Trọng gặp đổng chí Hà Huy Giáp đang đi công tác lưu động. Ông này tâm tình với Hai Trọng:

        - Đồng chí ở đơn vị ông Ba Dương, chắc biết ông Bảy Trân báo cáo về vụ Ba Dương bắt Ba Bang chớ? Ý đồng chí như thế nào?

        Hai Trọng nói:

        - Lúc đó tôi đi Thủ Đầu Một tìm khu trưởng Nguyễn Bình. Chừng về Rạch Đia mới nghe nói. Vì nắm không rõ nên không có ý kiến.

        Hà Huy Giáp nói:

        - Mình đang ở trong thời Thập nhị sứ quân, cá lớn nuốt cá bé, bộ đội lớn tước súng bộ đội nhỏ. Thật là đáng phiền. Nhưng theo tôi thì trong lúc này Tây đang đánh ta, chuyện vô kỷ luật là chuyện nhỏ, chuyện nội bộ. Ta nên tạm lờ đi để lo đánh Tây trước đã, rồi sẽ giải quyết chuyện nội bộ sau.

        Hai Trọng gật gù đồng ý.

        Trong cuộc họp tại An Phú Xã, có mặt gần hết các chỉ huy quân sự. Chỉ thiếu Ba Dương. Nguyễn Bình bắt tay Hai Trọng nói:

        - Rất tiếc là người tôi cần gặp mặt lại vắng mặt. Hẹn sẽ gặp sau vậy. Đồng chí nhớ chuyển lời thăm hỏi của tôi tới đồng chí Ba Dương nhé.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM