Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 09:53:04 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nguyễn Bình - huyền thoại và sự thật  (Đọc 58571 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #20 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2008, 10:06:51 am »

Chương 20

Lính Bình Xuyên vô cớ giết người
Thầy Bảy Trân đệ đơn từ chức

 
        Trong cuộc hội nghị quân sự tại An Phú Xả có một chuyện bất ngờ khiến Nguyễn Bình ngạc nhiên: Uỷ trưởng quân sự Mặt trận số 4 Nguyễn Văn Trân (Bảy Trân) xin từ chức. Bảy Trân vóc người nhỏ thó, mình dây, hớt tóc cao có vẻ là một thầy giáo hơn là một chỉ huy quân sự. Giữa hội nghị ông nói:

        - Tôi được Sáu Giàu phân công phụ trách Mặt trận số 4 chạy dài từ Bình Đông tới cầu Tân Thuận. Lực lượng quân sự vùng này là Bình Xuyên. Đại bộ phận là anh em lao động ngoại thành nhưng chỉ huy là các tay giang hồ đã từng làm nghề lục lâm thảo khấu. Ngày nay có người tu tỉnh theo cách mạng, nhưng cũng có người tánh nào tật nấy, sẵn súng đạn đi ăn cướp thay vì đánh Tây. Vừa rồi chúng giết một bác sĩ Pháp từ Sài Gòn qua Chánh Hưng khám bịnh. Tôi đã đích thân điều tra và ra lịnh cho bác sĩ đó về: nhưng ông ta chưa kịp mừng thì một tay Bình Xuyên chọc súng qua nách tôi bóp cò làm ông ta chết, làm sao tôi chỉ huy được những kẻ ngu dốt không biết phân biệt Tây tót với Tây xấu lại mang nặng tánh tự do vô kỷ luật?...

        Mọi người im lặng chưa có ý kiến gì. Ông Trân nói tiếp:

        - Từ việc nhỏ đó suy ra việc lớn. Có nên phát súng cho Bình Xuyên không? Theo tôi thì coi chừng lợi ít mà lại to. Không khéo có ngày Bình Xuyên cắt cổ mình đó. Cho nên tôi xin từ chức uỷ trưởng quân sự mặt trận số 4 để lãnh công tác khác thích hợp với khả năng hơn.

        Nguyễn Bình ngẫm nghĩ rồi nói:

        - Làm cách mạng là tự giác tự nguyện. Nếu đồng chí tự thấy không thích hợp với nhiệm vụ hiện nay thì tôi chấp nhận sự từ chức của đồng chí. Để danh chánh ngôn thuận. đồng chí nên họp ban chỉ huy Mặt trận số 4 lại, tuyên bố từ chức để anh em bầu người thay thế.

        Đêm đó Nguyễn Bình tìm hiểu thêm về ỏng Bảy Trân. Con người nho nhỏ ấy lạ thay lại có một quá trình hoạt động cách mạng độc đáo. Cha mất sớm, mẹ ở vậy nuôi con. Đậu tiểu học, Trân trốn xuống tàu qua Pháp học. Tại Pháp, Trân học nghề vô tuyến điện và gia nhập thanh niên cộng sản, đêm đêm rải truyền đơn chống thực dân khủng bố trắng ở Đông Dương (tàn sát Việt Nam Quốc dân Đảng). Anh được kết nạp vô Đảng Cộng sản Pháp và được giới thiệu qua Nga học trường Đông Phương đại học đường (trường Staline) khoá 1927-1930. Trong khoá này có các đồng chí Trần Phú lấy tên Lý Quý phiên âm là Lít-vay, Ngô Đức Trì, Bùi Công Trừng, Bùi Lâm, Nguyễn Khánh Toàn, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Trần Ngọc Danh, Dương Bạch Mai, Trần Đình Long, Bùi Ái, Nguyễn Văn Trân...

        Đến năm thứ hai thì Bẩy Trân đã nói và viết tiếng Nga thông thạo. Anh lấy vợ Nga, được đưa tới các hãng xưởng nói chuyện với công nhân Nga. Nhờ làm phiên dịch anh được khá nhiều tiền. Cứ dịch một trang lấy 12 rúp. Chừng về nước sau mãn khoá, anh tặng lại nhà nước Nga 120 rúp bằng cách mua lại tờ quốc trái mỗi tờ 60 rúp. Bận về cũng như bận đi. Bảy Trân được các đồng chí các nước Nga, Đức, Bỉ giúp vượt biên giới. Tại Marseille về Sài Gòn cũng trốn dưới hầm tàu, các bữa ăn đều được bí mật đưa xuống. ăn xong ném đĩa xuống biển. Về nước, anh Bảy giả làm tín đồ Cao Đài lên Toà Thánh Tây Ninh làm thư ký cho giáo tông Lê Văn Trung, mượn Toà Thánh làm vỏ bọc để hoạt động. Sau đó theo chỉ thị của Xứ uỷ anh Bảy phụ trách Đặc uỷ Hậu Giang, mở lớp huấn luyện đào tạo đảng viên tại Chợ Mới, Long Xuyên. Năm 1931, Tây khủng bố ác liệt, phần lớn các đồng chí đi học ở Nga về đều bị bắt như Bùi Công Trừng, Bùi Lâm, Bảy Trân. Lần đó Tây bắt được một mẻ lớn: 201 tù Cộng sản ra toà, hai người còng chung một còng. Sau 19 tháng 9 ngày, Bẩy Trân được thả vì bị bắt không có tài liệu trong mình, chỉ do kẻ khác khai. Mỗi tuần phải trình diện chủ quận, mỗi tháng trình diện chủ tỉnh Chợ Lớn. Vậy là được thả nhưng anh vẫn bị quản thúc tại gia (Bình Đăng, Chợ Lớn).

        Dù bị quản thúc, Bẩy Trân vẫn đi bán dầu cù là với Nguyễn An Ninh. Đây là hình thức tuyên truyền lưu động độc đáo của hai nhà cách mạng trí thức. Ông Ninh nấu cù là theo toa thuốc gia truyền. Hai ông Ninh và Trân cỡi xe đạp đi khắp nơi, trước bán cù là để gây quỹ hoạt động, sau là tuyên truyền tinh thần quốc gia dân tộc. Những năm tháng đạp xe khắp miền Nam bán dầu cù là để lại một kỷ niệm khó quên trong đời hai ông. Tây biết “tẩy” nên cho lính kín đạp xe theo dõi đồng thời lính các nơi được lịnh xét giấy thuế thân hai ông. Để không mất thì giờ móc ví trình giấy, hai ông đeo thuế thân trước ngực, lính hỏi thì chỉ vô ngực, khỏi tốn nước miếng. Trong ba năm bán cù là dạo khắp Nam Kỳ lục tỉnh, hai ông thu hút vô số thanh niên vô Đảng Thanh niên Cao Vọng của Nguyễn An Ninh. Với nhà nông, hai ông cũng khuyến khích họ đoàn kết tranh đấu nâng cao đời sống bằng cách đòi chủ ruộng trả công cho họ cao hơn. Trước gặt 12 bó một công, sau chỉ còn 10 bó.

        Trong hai người, ông Ninh “cộc” hơn. Có lần trên đường Bà Rịa ra Long Hải, hai ông bị một thằng lính kín bám sát như bóng với hình. Không kềm được cữu bực, ông Ninh bảo ông Trân dừng xe lại để ông chặn đường, thộp ngực tát tai tên lính cho bỏ thói rình mò... Trong những đêm ngủ nhà trọ, ông Ninh tâm tình với ông Trân: “Tao suy nghĩ và thấy mình là trí thức tiểu tư sản theo chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi thì sẽ không bao giờ giải phóng được dân tộc. Chỉ có Cộng sản mới giải phóng được dân tộc. Cho nên tao giao đảng Thanh niên Cao Vọng lại cho mầy.

        Bảy Trân bị bắt lần thứ hai, bị giam sáu tháng ở Khám Lớn, ra toà được xử trắng án nhờ khai có lý có tình. Vụ án này được gọi là vụ “complot Giàu - Dực”, xảy ra năm 1934-1935. Giàu là Trần Văn Giàu, từng học trường Đông Phương đại học đường ở Mốt-cu khoá 1930-1933. Về nước Sáu Giàu được bầu bí thư Xứ uỷ. Còn Dực còn có tên là Long là con đại hương cả ở Kỳ Son (Tân An) cũng đi học ở Nga về. Theo lời giới thiệu của Giàu, Trân rước Dực về, bố trí ở nhà cô mụ Trinh (Trần Kim Trinh) để hoạt động. Lúc đó Xứ uỷ được Đảng Cộng Sản Pháp gởi báo, sách, tài liệu theo các chuyến tàu khách và tàu hàng. Dực bị bắt và khai làm Tây bắt khá nhiều đồng chí trong đó có thuyền trưởng Deschamps và Sáu Giàu. Có người tố Sáu Giàu khai Deschamps, nhưng sự thật là Dực đã khai.

        Bảy Trân bị bắt lần thứ ba vì Tây nghi Trân giấu Nguyễn An Ninh đang bị truy nã trong năm 1935. Trân biết chỗ Ninh ẩn trú nhưng chịu đòn không khai để Ninh có thì giờ dời chỗ né tránh. Nhờ thầy Bảy Cù là đóng vai khổ nhục mà ông Ninh rời nhà thầy thuốc Bắc ở Phú Thọ tròn về lò gạch ông Hội đồng Võ Công Tồn ở Gò Đen. Ông Ninh ở ẩn tại đó khá lâu cho tới ngày con Hội Đổng Tồn là Võ Công Phụng chỉ cho Tây bắt.

        Bảy Trân có biệt tài gây quỹ cho Đảng bằng cách “móc túi” các Mạch thường quân như Hội đồng Tồn, bà Ba Bầu ở Phú Nhuận, thầy giáo Mong ở Quán Tre. Mỗi lần thấy Bảy Trân tới toà soạn thì các ông Nguyễn Văn Tạo, Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Nguyễn vỗ tay kêu to: “Kalinin tới, có tiền rồi” (Kalinin là lãnh tụ Nga. Ở đây có nghĩa là nông dân - một nét nổi bật của Bảy Trân).

        Cuối năm 40 sau Nam Kỳ khởi nghĩa, Bảy Trân: bị bắt lần nữa dù đã “lặn” lên Đà Lạt. Anh bị quản thúc tại gia nhưng vẫn giúp hai đồng chí Trần Văn Giàu và Châu Văn Giác vượt ngục Tà Lài tá túc trong nhà rồi mướn ghe đưa xuống Rạch Giá đổi vùng hoạt động. Trong những năm 1940 ông Trân nắm được giới giang hồ Tám Mạnh nên được phân công nắm Bình Xuyên.

        Đêm ấy anh Ba Bình giữ Hai Trọng lại bàn chuyện Bình Xuyên.

        - Anh có nghe ông Bảy Trân xin từ chức không?

        Lý do là không thể chỉ huy được mấy tay Bình Xuyên? Đưa dân giang hồ theo cách mạng, lợi ít mà hại nhiều. Chưa quen đường cũ, sẵn súng ống, các tay ấy đi ăn cướp, nhũng nhiễu dân lành. Anh có ý kiến gì?

        Hai Trọng nhắc lại ý Hà Huy Giáp:

        - Tôi đồng ý với đồng chí Hà Huy Giáp là không nên quan trọng hoá chuyện bê bối nội bộ. Lo đánh Tây trước đã. Sẽ giải quyết chuyện vô kỷ luật sau.

        Ba Bình lắc đầu:

        - Tất nhiên ưu tiên một phải là đánh Tây. Nhưng không thể trì hoãn việc củng cố nội bộ. Một quân đội mạnh trước nhất phải có kỷ luật. Thuật cầm binh dậy trước nhất là phải nắm tổng binh tướng. Tướng phải gương mẫu, lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ. Phải thực hiện cho được tinh thần “huynh đệ chi binh” trên dưới một lòng, đồng cam cộng khổ... thì mới cờ khai đắc thắng; mã đáo thành công...

        Ngay trong đêm đó anh Ba Bình viết một lá thư cho Ba Dương và anh em Bình Xuyên. Dưới ánh nến, Hai Trọng thấy Nguyễn Bình cặm cụi viết, chốc chốc lại ngửng lên suy nghĩ. Nội dung bức tâm thơ như sau:

        “Đồng chí Ba Dương, anh em binh sĩ Bình Xuyên,

        Tôi đã nghe báo cáo về tình hình nội bộ trong đơn vị các đồng chí. Đại diện cho Trung ương, tôi có vài ý kiến sau.

        Các đồng chí nên lập Liên khu Bình Xuyên, tập hợp lại để thành một khối vững chắc. Chớ để lẻ tẻ Tây sẽ đánh nát. Chừng đó anh em sẽ trở lại kiếp giang hồ.

        Nhiệm vụ Trung ương giao cho tôi là thống nhất các lực lượng võ trang ở miền Đông Nam Bộ để đương đầu với địch. Để giúp tôi hoàn thành sứ mạng, trong từng đơn vị, các đồng chí hãy tiến hành thục hiện chỉ trương đoàn kết để chiên thắng.

        Ký tên Nguyễn Bình, Khu bộ trưởng Khu 7
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #21 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2008, 10:31:23 am »

Chương 21

Gặp Nguyễn Bình tại An Phú Xã
Huỳnh Văn Một kể chuyện miền Đông


Tại hội nghị quân sự An Phú Xã, Nguyễn Bình rất vui mừng được gặp hầu hết các nhân vật tên tuổi miền Đông. Một trong những nhân vật này là Huỳnh Văn Một, chỉ huy phó Giải phóng quân Liên quận Hốc Môn - Bà Điểm - Đức Hoà. Chỉ huy trưởng là Tô Ký, dân Hóc Môn, còn Huỳnh Văn Một là dân Đức Hoà.

        Trong những ngày tại An Phú Xã, anh Ba thường tiếp từng nhân vật vào những giờ ngoài hội nghị để tìm hiểu thêm đất nước và con người ở miền Đông Nam Bộ mà anh có nhiệm vụ lãnh đạo. Huỳnh Văn Một hào hứng kể vắn tắt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình.

        Cố tổ Huỳnh Văn Một là Trần Lãnh, tên thật là Trần Bình Nguyên, làm lãnh binh dưới quyền quan kinh lược Phan Thanh Giản. Trong gia phả còn ghi mấy câu thơ nói về ý chí bất phục nhà Nguyễn bán nước cho Tây:

        Nguyễn Ánh mặt dầy mày vắn
        Cõng rắn về cho cắn gà nhà
        Đau lòng thất quốc vong gia
        Ai mà không xót, ai mà không cay...

        Về sau Nguyễn Ánh thắng, tru di tam tộc những kẻ chống đối, họ Trần đổi ra họ Huỳnh. Cha Huỳnh Văn Một làm hương thân, còn Võ Văn Tần làm biện cho Xã Vui để làm bình phong hoạt động quốc sự.

        Lúc còn nhỏ, Một đã làm liên lạc cho chú Võ Văn Tần ở các vùng lân cận như Giồng Lốt, Giồng Cám, Binh Hữu và Mỹ Hạnh. Đường xa, Một phải cỡi ngựa. Mẹ mất sớm, cha làm không đủ ăn, Một phải thôi học làm việc làm giúp gia đình. Một chịu ảnh hưởng của ông Nguyễn An Ninh. Mấy chục năm sau, anh vẫn còn nhớ bài thơ “Sống và chết” của nhà chí sĩ trí thức nổi danh của miền Nam:

        Sống mà vô dụng, sống làm chi,
        Sống chẳng lương tâm sống ích gì
        Sống trái đạo người, người thêm tủi
        Sống quên ơn nước, nước càng khi
        Sống tai như điếc, xem càng khổ,
        Sống mắt như đui, sống cũng kỳ
        Sống sao cho phải nên kiếp sống,
        Sống mãi ai muôn đời sử còn ghi.

        ***
        Chết sao danh tiếng vẫn còn dài
        Chết vậy gọi người đủ mắt tai,
        Chết đặng đựng hình danh chứ mục
        Chết đem vào sử, chữ không phai
        Chết đó rõ ràng danh sống mãi
        Chết đây chỉ chết cái hình hài
        Chết còn nhân nghĩa, người đời khen ngợi
        Chết cho thế hệ đẹp tương lai.

        Năm 40, Nam Kỳ khởi nghĩa. Huỳnh Văn Một và Trần Văn Mậu làm binh vận ở thành Ô-ma. Hai anh phổ biến bài thơ kêu gọi binh lính bỏ trốn. Bài thơ có tên là “Một ngày lính, chín ngày tù” như sau:

        Ở civil, tôi chẳng phải nghèo
        Vào cơ lính nhiều điều nguy hiểm
        Rương quần áo mỗi ngày mỗi điểm
        Bộ nút chùi có bóng sáng ngời
        Lúc bình thường chẳng được thảnh thơi
        Lúc nằm ngủ ngơi không an giấc
        Nghe kèn thổi anh em lật đật
        Lấy áo choàng đứng gạc-đờ-bu
        Trễ l’appel lấy sổ ở tù
        Nếu nhẹ, rửa cầu một tuần lễ.

        Theo kế hoạch thì anh em binh lính trong thành Ô-ma cướp súng tham gia khởi nghĩa trong thành phố, nhưng do có người phản, Tây biết trước vào giờ chót, ra lịnh cấm trại, cất súng vô kho. Ta chuyển kế hoạch đánh bọn ác ôn ở Đức Hoà, giết tên Quản Nên đã từng bắt Nguyền An Ninh tại cầu Bến Lức. Địch phản công, bắt bớ đốt nhà. Nhà Huỳnh Văn Một bị đốt, cha anh Một là Huỳnh Văn Bãi bị địch giết chết... Mấy ngày sau Một mới biết vì sao kế hoạch đánh chiếm thành Ô-ma (cam des Meres) bị bể: một người bồi có chân trong tỏ chức khởi nghĩa ngày ấy không đi làm mà không khai bịnh, không xin phép. Tây sanh nghi bắt điều tra thì lòi ra các đồng chí cầm đầu Mậu, Tót, Vinh. Trần Văn Mậu bị bắt sáu giờ trước cuộc khởi nghĩa. Mậu nhất định không khai, địch đánh anh tới chết. Một mặt địch cấm trại tân Đông Dương, một mặt còng chân cả đơn vị bị tình nghi... Dù vậy các nhóm vẫn khởi nghĩa. Bộ đội Đức Hoà do Huỳnh Văn Cảnh, Huỳnh Văn Một chỉ huy giết Quản Nên. Bộ đội Tân Phú Trung giết chủ sở cao su Cầu Khói Ameaux vì lầm hắn là cò Bataille, đốt dinh quận Hốc Môn, thu bốn súng. Bộ đội Gò Vấp, Bà Quẹo do Hai Chối chỉ huy đánh bót Ngã Năm lấy ba súng. Bộ đội liên quận do Chín Bính, quê Đức Hoà chỉ huy rút vô rừng, đánh địch truy kích tại Truông Dứa (xã Lộc Hưng - Trảng Bàng) rồi kéo qua Bời Lời lại đụng độ tại xã Lợi Thuận. Anh Bỉnh ở Tân Phú Trung bị thương chân và bị bắt sống. Tám Cảnh lên thay anh Bỉnh, rút bộ đội về Giồng ông Hoà (Đức Lập) qua Bời Lời để về Mũi Lớn (Tân An Hội) rồi rút vô bí mật. Bị giải về dinh quận Hốc Môn, Chín Bỉnh tỏ thái độ hiên ngang, bất khuất khiến chủ quận Thọ kính nể đích thân đem ghế mời Chín Bỉnh ngồi. Địch xử bắn Chín Bỉnh tại quận Hóc Môn.

        Suốt cả năm trời, địch càn quét truy bắt những người tham gia khởi nghĩa. Huỳnh Văn Một chạy lên các sở cao su trà trộn trong dân các làng, làm thầy giáo đồng thời hoạt động trong giới công nhân cạo mủ. Do nằm trong các sở cao su mà anh Một biết chỗ Tây giấu súng phòng khi Nhật đảo chánh. Cách mạng tháng Tám bùng nổ, anh tìm được trên trăm súng Pháp giấu trong rừng, có mười FM và mấy tấn đạn. Cùng tham gia tìm hầm võ khí của Pháp có chị Mười Thập (Nguyễn Thị Thập). Chuyện bất ngờ khó chịu là Kiều Đắc Thắng tự xưng là tư lệnh miền Đông tới tước đoạt số súng đạn này. Họ Kiều lớn lối nói:

        - Vị tình đồng chí, tao chia cho mấy mấy cây stíng với 500 viên đạn và hai mươi cây ná. Đem về Đức Hoà mà khoe với đồng bào. Chớ tụi bây mà đánh giặc cái gì!

        Về nhân vật Kiều Đắc Thắng, cần giới thiệu sơ vài dòng: Họ Kiều là công nhãn quê miền Trung, vô Sài Gòn làm ăn. Tánh tình giống như cha mẹ đặt tên: háo thắng. Thời Tây cai trị, không rõ Thắng làm gì mà bị Tây bắt đày ra khám Vũng Tàu. Thời may gặp Năm Bé là tay anh chị Xóm Chiếu bị Tây bắt giam ở khám lờn Sài Gòn mấy năm rồi giải ra Vũng Tàu. Năm Bé xuất thân công nhân Hải Phòng, ham đi giang hồ cho biết đó biết đây nên tình nguyện sang Pháp theo nhóm ONS - chữ tắt của Ollvriers Non Spécialisés - tức thợ không rành nghề. Pháp tuyển nhóm này đưa sang Pháp để phục vụ chiến trường chống Đức tặc. Nhưng tàu vừa tới Sài Gòn là Năm Bé nhảy lên bờ nhập vào giới bụi đời. Nhờ là thợ sửa chữa lặt vặt trong nhà nên vào tù, Năm Bé được thầy chú trọng dụng như sửa vòi nước, sửa khoá nước... Nếu nhà thầy chú không có việc gì cần sửa thì Năm Bé được phân công quét đường chung quanh khám và dần dần quét con đường trước Grand Hôtel du Cap (Khách sạn lớn ở Bãi Trước). Mỗi sáng quét đường, Năm Bé để ý một sĩ quan Hải quân Pháp lái xe hơi tới khách sạn ăn sáng. Tên này đậu xe sát lề rồi vô khách sạn, không hề khoá công tắc và bỏ chìa khoá vào túi quần như đa số tài xế.

        Nghe Kiều Đắc Thắng tâm sự muốn vượt ngục, Năm Bé liền hiến kế: “Sáng mai, xin quét đường với tôi. Tôi chỉ cho cách tháo cũi sổ lồng”.

        Năm Bé chỉ chiếc xe tên sĩ quan Hải quân đậu trước khách sạn cho Thắng để sớm hôm sau Thắng đánh cắp chiếc xe ấy trốn về Sài Gòn. Tới Bà Chiều, Thắng bỏ xe, đón xe đò lặn về Lái Thiêu.

        Khi ta cướp chánh quyền, Thắng tự xưng tư lệnh miền Đông. Trong mấy tháng đầu, Thắng làm trời, ai anh ta cũng cho là Việt gian, dù có đủ giấy tờ. Còn nhà máy nào ông ta cũng xung công. Ai cự nự thì bắn bỏ. Danh sách nạn nhân của hung thần Kiều Đắc Thắng dài sọc. Rất may đặc phái viên Trung ương Nguyễn Bình tới tỉnh Thủ sớm để chấm dứt một thời tác oai tác quái của họ Kiều.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #22 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2008, 10:35:57 am »

Chương 22

Hội nghị Bình Hoà cuối bốn lăm
Nguyễn Bình được bổ nhiệm Khu trưởng

 
Sau hội nghị An Phú Xã, Nguyễn Bình quyết định lập các chi đội Giải phóng quân, đưa tất cả các bộ đội đã có trước đó vô nền nếp. Đây là một việc khó thực hiện vì tâm lý các chỉ huy bộ đội địa phương đều ít nhiều muốn làm “đầu gà hơn đuôi phụng”. Mỗi “tướng vùng” là một Từ Hải “dọc ngang nào biết trên đầu có ai”. Trong hội nghị An Phú Xã, Nguyễn Bình đã nhấn mạnh: Muốn đánh thắng thằng Tây chúng ta phải tập hợp thành một khối. Đừng bao giờ để chúng xé lẻ chúng ta mà diệt gọn. Bài học bẻ đũa từng chiếc lẽ nào chúng ta không biết? Tôi đề nghị từ nay bộ đội các đồng chí chọn một cái tên chung để gọi. Chẳng hạn như Giải phóng quân hay Vệ quốc quân. Nghe hay hơn là bộ đội của ông A, bộ đội của ông B... Để không lẫn lộn, ta cho mỗi đơn vị một con số như chi đội 1, chi đội 2, vân vân.

        Các chỉ huy gật gù tán đồng ý kiến Nguyễn Bình.

        Vấn đề đổi tên chẳng làm thiệt gì cho họ, bởi họ vẫn nắm quyền chỉ huy. Tuy mang tên chung là Giải phóng quân, nhưng “hồn ai nấy giữ” Lúc đó ngồi kế Nguyễn Bình có Huỳnh Kim Trương, Lương Văn Trọng. Nguyễn Bình cười bảo:

        - Tôi đề nghị đặt phiên hiệu theo thứ tự như sau: Bộ đội tỉnh Thủ Đầu Một của anh Huỳnh Kim Trọng là Chi đội 1, bộ đội Bình Xuyên do anh Lương Văn Trọng đại diện là Chi đội 2 và 3 vì lực lượng Bình Xuyên khá đông. Bộ đội anh Huỳnh Văn Trí là Chi đội 4, bộ đội anh Phạm Hữu Đức là chi đội 5...

        Tuy Nguyễn Bình chỉ đề nghị nhưng các chỉ huy đều coi đó là quyết định và họ chấp nhận vì thấy hợp lý.

        Sau Hội nghị An Phú Xã không bao lâu thì Nguyễn Bình được mời dự hội nghị Xứ uỷ mở rộng tại Bình Hoà ngày 15-12-1945. Hội nghị quyết định chỉ định ba khu trưởng cho ba khu 7, 8, 9. Đó là Nguyễn Bình, khu 7, Đào Văn Trường, khu 8 và Vũ Đức, khu 9. Hội nghị cũng quyết định đổi tên Giải phóng quân thành Vệ Quốc đoàn.

        Trở về miền Đông, Nguyễn Bình ra thông tri huỷ bỏ các nghị quyết của Hội nghị An Phú Xã để thi hành nghị quyết của Hội Nghị Bình Hoà. Các chi đội được mang tên chung là Vệ quốc Đoàn. Danh sách các chi đội ở miền Đông như sau:

        - Chi đội 1 của Huỳnh Kim Trương, tỉnh Thủ Đầu Một
        - Chi đội 2 của Huỳnh Văn Nhị, quận Nhà Bè
        - Chi đội 3 của Từ Văn Ri, quận Nhà Bè
        - Chi đội 4 của Huỳnh Văn Trì, Bà Quẹo
        - Chi đội 5 của Phạm Hữu Đức, tỉnh Tân An
        - Chi đội 6 của Nguyễn Văn Dung, tỉnh Giả Định
        - Chi đội 7 của Nguyễn Thanh Bạch, tỉnh Tây Ninh (Cao đài)
        - Chi đội 8 của Nguyễn Hoài Thanh, tỉnh Tây Ninh (Cao đài)
        - Chi đội 9 của Lê Văn Viễn, Phú Thọ.
        - Chi đội 10 của Huỳnh Văn Nghệ, tỉnh Biên Hoà
        - Chi đội 11 của Trịnh Khánh Vàng, tỉnh Tây Ninh
        - Chi đội 12 của Tô Ký, Hốc Môn - Bà Điểm - Đức Hoà
        Chi đội 13 của Mười Thìn, Tổng Công Đoàn
        - Chi đội 14 của Trần Văn Trà, tỉnh Tân An
        - Chi đội 15 Huỳnh Văn Một, Đức Hoà

        ...

        Vài tháng sau có vài thay đổi:

        - Hai Nhi (Đinh Văn Nhị) bi địch bắt, Nguyễn Văn Chẳng (Năm Chẳng) lên thay ở chi đội 2.
        - Từ Văn Ri tử trận tại Long Thành, Mười Lực nắm chi đội 3.
        - Hai chi đội 2 và 3 gọi là Liên Chi Bình Xuyên.
        - Hai Chi đội Cao đài 7 và 8 của Nguyễn Thanh Bạch và Nguyễn Hoài Thanh chạy ra toà thánh Tây Ninh, Nguyễn Thanh Bạch đổi tên là Nguyễn Thành Phương, Nguyễn Hoài Thanh đổi tên Nguyễn Văn Thành. Chi đội 7 sau đó là tên của bộ đội Nguyễn Văn Mạnh và Mai Văn Vĩnh (Tám Mạnh - Hai Vĩnh) gốc Chánh Hưng.

        Ba Chi đội 12, 14, 15 gốc là giải phóng quân Liên quận Hốc Môn - Bà Điểm - Đức Hoà.

        - Chi đội 16 là bộ đội Bà Rịa với các chỉ huy, Hứa Văn Yến, Phan Đình Công.
        - Chi đội 21 của Tư Hoạch ở cầu ông Thìn (Cần Giuộc).
        - Chi đội 25 vốn là bộ đội An Điền (Thủ Đức) của Bảy Quai bị Lâm Văn Đức (Tư Tị) ở Cầu Bót (Chợ Lớn) chiếm đoạt.

        Điểm qua thực lực các lực lượng võ trang miền Đông Nam Bộ, Nguyễn Bình thấy rõ nhóm Bình Xuyên trội hơn hết. Giữa các chi đội 2, 3, 4, 7, 9, 21 và 25 có một liên hệ chặt chẽ: các chỉ huy bảy chi đội này đều xuất thân giang hồ vùng Nhà Bè, Cần Giuộc gọi chung là Bình Xuyên. Còn hai chi đội 7 và 8 trước đó là gốc Cao Đài Tây Ninh. Với các lực lượng này phải hết sức khéo trong việc lãnh đạo...

        Trong dịp này Nguyễn Bình cũng tìm hiểu về các sư đoàn 1, 2, 3, 4 đã có trước khi ông tới miền Đông Nam Bộ. Ông Huỳnh Văn Một và các chi đội trưởng cho anh Ba biết một số chi tiết về các sư đoàn “hữu danh vô thực” trên như sau:

        Sư đoàn 1 được gọi là Đệ nhất sư đoàn hay là Cộng hoà vệ binh phần lớn gồm Garde Civile Locale (GCL) (cảnh sát mã tà) của Tây trước đây và một số lính Heiho (Hải Hồ) của Nhật. Đây là lực lượng chủ lực của Lâm uỷ hành chánh Nam Bộ. Chỉ huy trưởng là Kiều Công Cung. Trong hàng ngũ chỉ huy có quan hai Đang, quan một Lê Văn Tỵ. Ở cấp adjudant (ách hay là vệ) có các anh Trương Văn Giàu, Nguyễn Văn Quận, Nguyễn Văn Hoặc...

        Sư đoàn 2 gọi là Đệ nhị sư đoàn do Nguyễn Ngọc Nhẫn tức Vũ Tam Anh (Ba chữ N là Tam Anh) cầm đầu. Vũ Tam Anh là con địa chủ, bất mãn vì cách mạng chia ruộng cho nông dân nên dựa vào Bình Xuyên của Bẩy Viễn để chống Việt Minh.

        Sư đoàn 3 gọi là Đệ tam sư đoàn do Nguyễn Hoà Hiệp là cường hào quê ở Lái Thiêu chỉ huy. Hiệp thi rớt đíp-lôm (thi tốt nghiệp cấp hai) làm thư ký Bưu điện Lái Thiêu, sau bỏ sở làm mật thám cho Pháp rồi cho Nhật. Trong những ngày đầu kháng chiến, Đệ tam sư đoàn trở thành thổ phỉ cướp của giết người gây điêu linh thống khổ cho dân các vùng chúng đi qua, nhất là trị trấn Cao Lãnh. Lính đa số là công nhân cao su.

        Sư đoàn 4 gọi là đệ tứ sư đoàn của Lý Huê Vinh. Vinh là người Tàu lai, lưu lạc giang hồ sang Thái Lan và đã theo quân Nhật trở về Sài Gòn, lính là công nhân Cao Đài và tự vệ của Nhật.

        Bốn sư đoàn trên tan rã nhanh chóng khi Tây trở qua. Chỉ có Cộng hoà vệ binh dưới sự chỉ huy của hai anh Trương Văn Giàu, Nguyễn Văn Quan là theo kháng chiến tới cùng...

        Ngoài bốn sư đoàn chánh quy nói trên còn có lực lượng Quốc gia tự vệ Cuộc.

        Đầu kháng chiến, Nam Bộ có ba bộ chỉ huy ba khu 7, 8, 9. Khu 7 Kiều Đắc Thắng tự xưng tư lệnh. Khu 8 có Đào Văn Trường và khu 9 có Vũ Đức. Kiều Đắc Thắng là công nhân miền Trung vô Sài Gòn trước cách mạng tháng Tám. ĐàoVăn Trường là công nhân mỏ than Hòn Gai ở Quảng Ninh còn Vũ Đức là người Tày, từ miền Bắc.

        Khi Nguyễn Bình vào Nam với danh nghĩa đặc phái viên Trung ương, Kiều Đắc Thắng rút đi ra Bắc theo ngã Ba Biên Giới theo quốc lộ 13 lên Ban Mê Thuộc. Nguyễn Hoà Hiệp kéo Đệ Tam sư đoàn xuống Đồng Tháp Mười, còn Lý Huê Vinh kéo Đệ tứ sư đoàn tên Dầu Tiếng chiếm núi Cậu làm căn cứ.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #23 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2008, 10:40:51 am »

Chương 23

Giết rắn độc, phải đập nát đầu
Đánh thực dân lòn sâu sào huyệt


 
Sau khi bố trí các chi đội theo hệ thống tại hội nghị An Phú Xã, Nguyễn Bình trở về Tân Uyên kiện toàn bộ chỉ huy Khu. Bấy giờ có mấy nhà trí thức bỏ Sài Gòn đi kháng chiến từ “mùa thu rồi ngày hăm ba”. Một trong các vị này là giáo sư Phạm Thiều biệt hiệu là “ông đồ xứ Nghệ”. Họ Phạm dự cuộc thi cuối cùng của Triều Nguyễn rồi theo tân trào học chữ quốc ngữ và chữ Tây. Trước Nam Kỳ khởi nghĩa năm 40, họ Phạm dạy chữ Hán tại trường Trung học Pétrus Ký. Trường này lớn nhất Sài Gòn, chỉ đứng sau trường Chasseloup dành cho con Tây và những người vô dân Tây. Trường lấy tên nhà thông thái Tây học Trương Vinh Ký, thường được gọi tắt là Pétrus Ký.

        Pétrus là tên thánh của ông Ký. Tuy là trường do Pháp lập ra, dạy theo chương trình Pháp, cả tiếng việt và chữ Hán (cũng gọi là chữ Nho) cũng phải giải nghĩa bằng tiếng Pháp, nhưng trường Pétrus Ký lại là cái nôi đào tạo những người yêu nước. Trong số mấy chục giáo sư dạy trường này có hơn phân nửa mang truyền thống bất khuất của nòi giống Tiên Rồng. Họ Phạm là một trong những vị đó. Ông phát động phong trào Truyền bá chữ quốc ngữ, kéo đám học trò của ông đi xoá nạn mù chữ. Lúc bấy giờ không khí học đêm của người lớn tuổi rất sôi nổi. Đâu đâu cũng nghe nghêu ngao mấy câu ca dao: “I tờ có móc cả hai, i ngắn có chấm, tờ dài có ngang”, và “O tròn như quả trứng gà, Ô thì đội mũ, Ơ thời mang râu...”.

        Khi ta cướp chánh quyền ngày 25-8-1945, họ Phạm là thủ lãnh Thanh niên tiền phong vùng Thị Nghè, cũng phóng xe đạp đi họp, cũng xách gậy đi biểu dương lực lượng trong cuộc mít tinh vĩ đại ngày tuyên bố Độc Lập 2-9-1945 giữa trung tâm Thành phố.

        Ngày 23-9, Tây đánh chiếm Sài Gòn, họ Phạm rút ra ngoại thành làm liên lạc cho đoàn quân Nam Tiến của Nam Long, sau đó trụ lại tại chiến khu Bình Đa, dọc sông Đồng Nai. Tuy không được nhanh nhẹn như đám thanh niên, họ Phạm cũng dám đạp xe lộn về Sài Gòn cùng với hai anh cán bộ trường quân chính Nguyễn Xuân Diệu và Mạnh Liên để nắm tình hình trong vùng địch tạm chiếm. Số là hàng ngày anh em trong chiến khu muốn biết cuộc sống của đồng bào bị kẹt lại Sài Gòn như thế nào. Tất cả đều trông vào họ Phạm đọc báo Hoa Văn xuất bản ở Chợ Lớn. Nhưng tin tức trong báo vẫn chưa đủ thoả mãn yêu cầu nắm dân tình và địch tình nên hai anh Xuân Diệu và Mạnh Liên quyết định đột nhập Sài Gòn để nắm tình hình. Hai anh nghĩ rằng khi Tây bung ra đánh chiếm các tỉnh miền Đông và miền Tây thì lực lượng chúng ở Sài Gòn sẽ không còn nhiều, việc canh phòng sẽ lỏng lẻo. Hai anh rủ họ Phạm cùng đi, mỗi người một chiếc xe đạp và năm đồng giằn túi để cơm nước trong ba ngày. Hẹn sẽ trở về Biên Hoà vào ngày thứ ba.

        Mời lơi thôi, không ngờ họ Phạm chịu mạo hiểm về thành. Tới Thị Nghè, ông giáo già tách ra, từ từ đạp về ngôi nhà cũ đã bỏ hoang từ ngày hăm ba. Không thấy thằng địch nào, ông mở cửa chui vào nằm lắng nghe tiếng động xung quanh. Cho đến lúc bụng đói, mới lần ra định mua khoai ăn đỡ, thay cơm. Bất ngờ gặp người láng giềng đã hồi cư. Họ đem cơm cho ông ngày hai bữa. Ban đêm ông giáo vi hành ra chợ Thị Nghè quan sát tình hình. Bất ngờ thoáng thấy một tên quen làm thông ngôn cho Tây. Lập tức ông rút nhanh về nhà. Đến ngày thứ ba, ông đạp xe về Biên Hoà, chờ hai bạn tại bến đò. Cả ba đều về đến chiến khu bình an vô sự.

        Người trí thức thứ hai sống bên cạnh Khu trưởng Nguyễn Bình là luật gia Lê Đình Chi. Ông Chi người miền Bắc nhưng vào Nam đã lâu, làm việc tại pháp đình Sài Gòn. Giới thẩm phán luật sư Sài Gòn chia làm hai phe sau ngày Nhật đảo chánh (9-3-1945). Số thân Pháp có toà áo đỏ do Trần Văn Tỷ cầm đầu. Số này ít thôi, phần lớn là những người già, từng hưởng ơn mưa móc của Tây. Số trẻ đứng hẳn về phía Việt Minh. Sôi nổi nhất là các anh Thái Văn Lung, Phạm Ngọc Thuần Gaston, Trần Công Tường... Ngoài ra có một số “trùm chăn đứng ngoài chờ xem gió chiều vào để xoay sở”. Luật sư Lê Đình Chi nhớ rõ cuộc tranh luận giữa hai phe già trẻ. Toà Tỷ tuyên bố trắng trợn là không bỏ Tây được vì cả đời ông đã bú sữa Tây.

        Gaston Phạm Ngọc Thuần tuy tuổi tác đáng cháu ông toà áo đỏ thân Tây số 1 đã thẳng thắn lên án bậc chú bác: “Ông nói vậy thì chúng tôi không coi ông là người Việt Nam nữa”. Ngày Nam Bộ kháng chiến, ông Lê Đình Chi bỏ hết sự nghiệp lại thành phố để ra đi “đáp lại lời sông núi”. Ngày ấy, anh Ba Bình bàn với hai nhà trí thức thân cận:

        - Giết rắn phải đập đầu. Tôi muốn đánh vào đầu não của chúng trong Sài Gòn. Muốn đánh phải nắm tình hình thật chính xác. Tôi định đột nhập vào sào huyệt chúng nó, hai ông thấy thế nào?

        Giáo sư Phạm Thiều gật gù:

        - Tôi đã về Thị Nghè trong ba ngày. Thấy cũng không nguy hiểm lắm.

        Luật gia Lê Đình Chi lắc đầu:

        - Thị Nghè là vùng ngoại ô. Còn khu trưởng thì lại muốn vô tận trung tâm Sài Gòn. Nguy hiểm hơn nhiều...

        Anh Ba Bình cười:

        - Hai ông mỗi người một ý, tôi biết nghe ai đây. Riêng tôi thì biết chuyến đi này rất nguy hiểm, nhưng không vào hang cọp thì làm sao bắt được cọp con! Vấn đề là phải chuẩn bị thật kỹ, dự đoán nhiều tình huống bất ngờ nhất và nghĩ cách từng phó. Phương châm hành động của tôi là không bao giờ để mình rơi vào tình thế hoàn toàn bị động do những bất ngờ mà mình không tiên liệu trước.

        Im lặng một lúc lâu, ông Chi vỗ trán kêu lên:

        - Đã có cách. Tôi sẽ cùng đi với Khu trưởng về Thị Nghè. Đó là ngoại ô nên Tây không đặc biệt chú ý như ông Thiều vừa nói. Tại đó ta sẽ gặp bạn đồng nghiệp của tôi là luật sư Nguyễn Thành Vĩnh. Ông này có thể giúp khu trưởng đột nhập Sài Gòn tương đối an toàn.

        Cả Nguyễn Bình và Phạm Thiều đều chăm chú nghe ông Chi nói. Ông Bình hỏi:

        - Ông Vĩnh là người thế nào, xin nói rõ thêm...

        Ông Chi nói tiếp:

        - Anh Vĩnh quê gần Ngã ba Trung Lương, tỉnh Mỹ Tho. Nhà giàu đại điền chủ. Anh đi Pháp học luật tốt nghiệp rồi qua Nam Vang mở văn Phòng luật sư. Trước ngày Nhật đảo chánh, anh về nước hành nghề. Trong cuộc họp ngành tư pháp sau đó, anh Vĩnh được đa số bầu làm chánh án Toà án Sài Gòn có sự nhất trí của đại diện Mặt trận Việt Minh là đồng chí Trần Công Tường.

        Sau ngày 25-8-1945 ông Vĩnh tiếp tục giữ chức vụ chánh án Toà án Sài Gòn.

        Đến ngày hăm ba tháng chín, vào sáng sớm, dân chúng vùng Đa Kao tới đập cửa báo tin Tây đang bao vây bắt các luật sư theo kháng chiến như Thái Văn Lung, Phạm Ngọc Thuần. Lập tức anh Vĩnh ôm đồ tế nhuyễn chạy qua Thị Nghè, bỏ lại hai cái vila ở đường Pierre ở Đất Hộ (đường Phạm Đăng Hưng, nay là Mai Thị Lựu). Anh Vĩnh có hai xe hơi, một xe ngựa kiểu gentleman - farmer (chủ nông trại) để chiều chiều ra ngoại ô dạo mát...

        Anh Ba Bình gật gù cười:

        - Giầu như vậy, sang như vậy mà bỏ hết đi kháng chiến, dân Sài Gòn có khác!

        Ông Chi vui miệng kể tiếp:

        - Anh Vĩnh đang tính cất nhà theo kiểu tân thời. Đã nhờ kiến trúc sư Pháp vẽ kiểu, tính đập phá ngôi biệt thự số 35 đường Pierre cất lại mới. Nhưng thời cuộc làm vỡ kế hoạch.

        Tới đây ông Thiều mới chen vào:

        - Kể ra thì ông Vĩnh cũng hên. Nếu cất rồi thì cũng phải đập phá theo chủ trương tiêu thổ kháng chiến, không cho Tây có chỗ sung công cư ngụ.

        Sau khi bàn bạc kỹ, anh Ba theo luật gia Lê Đình Chi từ An Phú Đông theo liên lạc về Thị Nghè gặp ông Vĩnh.

        Nghe ông Chi trình bày, ông Vĩnh nói:

        - Có anh Danh là tài xế của tôi đây. Tôi có rất nhiều bồi bếp, những chỉ giữ lại có hai người. Anh Danh là một, còn chị bếp Tám Sương là hai. Hai người này như người nhà. Anh Danh sẽ báo cáo tình hình Sài Gòn cho anh Ba nắm.

        Anh Danh được ông Vĩnh giới thiệu với ông Bình:

        - Đây là anh Ba ở ngoài bưng muốn vô Sài Gòn liệm tình hình. Tôi tính đưa anh Ba về nhà mình. Lâu nay không thấy tụi nó dòm ngó tới. Anh thấy có được không?

        Danh gật, mắt vẫn nhìn khách lạ mặc đồ xá xẩu đen, mang kính râm gọng đồi mồi, bộ tướng rất lẫm liệt.

        - Tôi thấy bọn Tây tà không còn theo dõi ngôi nhà của mình. Chúng đã biết chủ nhà đã bỏ ra bưng từ ngày hăm ba.

        Ông Vĩnh nói:

        - Tôi giao anh Ba cho anh. Anh lấy xe hơi của mình đưa anh Ba đi các nơi anh Ba muốn. Anh vừa là sốp phơ vừa là gạc-đờ-co cho anh Ba, nghe không?

        Danh lại nhìn khách lạ:

        - Dạ được! Nếu có ai hỏi tôi nói anh Ba là “tầng khạo” của ông chủ ở Mỹ Tho mới lên.

        Anh Bình cười:

        - Tầng khạo là cai điền phải không?

        Ông Vĩnh cười nói:

        - Anh Ba rành ngôn ngữ Nam Bộ quá!

        Anh Bình tiết lộ:

        - Tôi vào Nam lúc mười bẩy tuổi, sống ở Sài Gòn và có đi vài nơi trong Nam Kỳ lục tỉnh và cả Côn Đảo nữa...

        ***
        Trong ba ngày, tài xế Danh lấy xe đưa Nguyễn Bình đi khắp nơi trong thành phố Sài Gòn, Chợ Lớn.
        Vẫn mặc bộ đồ xá xẩu, anh Ba ngồi băng sau, chễm chệ như một xì thẩu chủ hãng lớn đi chạy áp phe. Anh đặc biệt quan tâm tới các trại lính, đồn bót, các cơ quan quân sự. Ngay ngày đầu, anh Ba bảo anh Danh lái xe từ nhà thờ Đức Bà, chạy từ từ với tốc độ 30 km/giờ. Theo đúng luật giao thông công lộ, đi ngang bót Catinat nơi tên trùm mật thám Bazin có thể đang tra tấn để khai thác các chiến sĩ không may sa vào tay giặc. Xe từ từ lướt qua nhà hàng La Pagode sang trọng, qua nhà sách Albert Portail mà nhưng năm cuối thập niên 20 anh Ba thường vô mua sách, loại chính trị thường thức. Rồi xe đi ngang qua Nhà hát Tây, từ tiền đình nhà hát ngó ra chợ Bến Thành thẳng nhất kẻ chỉ. Anh Ba đặc biệt quan sát toà soạn báo Journal Officiel phía bên tay mặt. Đây là tờ công báo đăng tất cả nghị định của nhà nước thực dân mà Trần Huy Liệu khuyên anh nên đọc để tìm hiểu thêm về xứ Nam Kỳ... Xe tới toà soạn báo La Dépêche, cùng một dãy với rạp chiếu bóng Majestic và khách sạn Majestic ở cuối đường. Đây là tờ báo phản động nhất. Chủ báo là một tên thực dân già có vườn cao su bạt ngàn ở miền Đông. Cho nên nó dám bỏ tiền ra mướn một đơn vị - một trung đội - tới đóng ngay trên đồn điền của nó để bảo vệ tài sản. Tên nó là Hen ri de Lachevrotière...

        Kế bên toà soạn có một hiệu hớt tóc. Anh ba chợt vỗ vai anh Danh:

        - Dừng lại cho tôi vô cắt tóc trong hiệu này. Anh chạy xe ra bến tàu giải khát. Chừng hai mươi phút sau anh trở lại rước tôi.

        Anh Danh dừng lại sát lề, bước xuống xe, vòng ra sau lái mở cửa xe cho anh Ba xuống, cúi đầu chào, đúng kiểu cách của sốp-phơ làm việc cho các ông chủ triệu phú. Trong khi anh Ba ung dung bước vô hiệu cắt tóc anh sốp-phơ đảo mắt nhìn quanh xem có ai dòm ngó vị khách quý mà ông chánh án đã giao phó cho anh. Không thấy một tên nào mang kính râm đội nón nỉ ở ngã tư này. Anh yên tâm lái xe ra bờ sông đậu dưới bóng cây chờ đợi. Chưa bao giờ anh thấy kim đồng hồ nhích chậm đến thế. Đúng hai mươi phút anh lái xe chạy ngược lên đón anh Ba. Chừng anh Ba bước lên xe, anh Danh mới thở phào nhẹ nhõm.

        Ba ngày thấm thoát trôi qua. Hai ông khách quý đã về An Phú Đông an toàn. Chừng ấy ông Vĩnh mới thấy yên tâm. Trong ba ngày, ông lo lắng, hồi hộp, có lúc như ngợp thở. Ông đã gánh trên vai trách nhiệm quá nặng. Nếu vị khu trưởng có bề gì thì ông lãnh đủ.

        Nghe anh sốp-phơ kể chuyện anh Ba vô hiệu cắt tóc trên đường Catinat, ông kêu trời. Chưa thấy ai
gan lì như vậy. Ngồi hớt tóc trên đường Catinat, chỉ cách bót thằng Bazin có mấy trăm thước. Đó là ấn tượng nổi bật nhất Nguyễn Bình để lại cho ông vào đầu năm 1946.

        * *
        Sau chuyến về thành, Khu trưởng Nguyễn Bình bàn với anh Tám Nghệ là vị chỉ huy quân sự mà ông đã chấm trong cuộc họp ở An Phú Xã.

        Sau hội nghị ở Bình Hoà ngày 15-12 Nguyễn Bình được chánh thức giao chức tư lệnh Khu 7 và chuyển bộ tư lệnh về Tân Uyên, mối giao du giữa hai ông Bình và Nghệ càng thêm khăng khít. Anh Tám Nghệ thường mời anh Ba về nhà mình ở Tản Tịch, kế bên cầu Rạch Rớ để bàn chuyển quân lẫn chuyện thơ. Cả hai đều say mê văn thơ nên đàm luận rất tâm đắc.

        Một hôm có anh Nguyễn Xuân Diệu và Phan Đình Công tới nhà anh Tám Nghệ bàn chuyện mở lớp quân chính ở Dốc Bà Nghiêm trong xã Tân Hoà. Ngày ấy anh Ba cũng có mặt tại đó.

        Anh Ba Bình liền thực hiện ý đồ của mình:

        - Trong những năm học quân sự, tôi nghiền ngẫm khá nhiều binh thư, từ Tôn Tử tới Napoléon. Về vị anh hùng của Pháp, tôi nhớ mấy câu có thể dùng làm kim chỉ nam cho các tướng lãnh. Một trong nhưng câu này là: “Hhai đòn bẩy chánh để huy động nhân dân là sự lo sợ và cái lợi”. Nói rõ ra là cây gậy và củ cải. Các đồng chí thấy có đủng không?

        Mọi người gật gù tán thưởng. Anh Ba nói tiếp:

        - Sau chuyện đột nhập Sài Gòn, tôi quyết định áp dụng câu đó. Với đồng bào mình trong thành, tôi sẽ đem sự an ninh và lòng tự hào cho họ. Còn với kẻ thù tôi sẽ gieo sự khủng khiếp cho chúng ăn không ngon, ngủ không yên...

        - Bằng cách nào? - Tám Nghệ cười hỏi.

        - Tôi sẽ lập một đội quyết tử gồm các chiến sĩ thông minh, dũng cảm, chuyên thọc sâu, đánh hiểm, nhắm vào đầu não của địch.

        Xuân Diệu và Phan Định Công cùng kêu lên:

        - Giết rắn phải đập đầu.

        Anh Ba quay sang hai anh nói:

        - Tôi đã được báo cáo về các lớp huấn luyện quân chính của hai anh ở Bình Đa, Vĩnh Cửu. Hai anh tập trung một trung đội để lập tổ cảm tử đầu tiên đưa về nội thành. Có làm được không?

        Xuân Diệu nhìn Phan Đình Công rồi gật:

        - Dạ được. Xin khu trưởng cho thời hạn...

        Anh Ba cắt lời:

        - Càng sớm càng hay.

        Chấp hành lịnh của Nguyễn Bình, anh Xuân Diệu liên lạc ngay các học viên các khoá trước lập ra một đội cảm tử. Anh Ba Bình đặt tên là Ban trinh sát Quân chính và chọn ba anh tương đối chững chạc làm chỉ huy. Đó là anh Nguyễn Ngọc Sớm, Nguyễn Đình Chính và Trần Phong. Sớm là thợ quấn mô tơ ở Gò Vấp, Chính là lính Marine (Hải quân) bỏ ngũ theo cách mạng. Phong cũng là công nhân. Ngày 6-1-1946, ngày toàn dân bầu Quốc Hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, cũng là ngày Ban Trinh sát Quân Chính làm lễ ra mắt với cái tên mới: Ban Công Tác số 1.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #24 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2008, 11:11:20 am »

Chương 24

Làm liên lạc kiêm luôn thư ký
Tình đồng hương đồng chí keo sơn




Những ngày sống trong khu với Nguyễn Bình là thời gian tươi đẹp nhất đời cô liên lạc Hoàng Thị Thanh. Chị đi liên lạc là chính, nhưng những lúc không có việc thì chị làm mọi việc trong nhà như một người nội trợ. Bếp núc, tiền nong, giao dịch, một tay chị quán xuyến. Sống với vị tư lệnh khu, chị Thanh có nhiều kỷ niệm khó quên.

        Hồi cuối năm 1945 có sáu lính Nhật ôm súng chạy theo ta. Anh em cho chúng gác trước văn phòng anh Ba. Bọn này rất có kỷ luật. Ai ra vào chúng cũng bồng súng chào. Đến liên lạc như chị Thanh chúng cũng chào. Chị Thanh sợ lắm, nói với anh Ba bảo chúng đừng chào vì chị chỉ là liên lạc. Vả lại cách chào của lính Nhật bậm trợn quá, thấy mà phát sợ. Anh Ba Bình cười nhưng cũng bảo bọn Nhật bớt chào.

        Rồi thêm bốn lính lê dương chạy vô khu cũng được đưa về văn phòng Khu trưởng. Bốn tay này thèm ăn cơm cháy chão mà chúng gọi là bánh mì ba-ghệt (baghette là đũa, bánh mì ba-ghết nhỏ, và giòn như que đũa). Được chị Thanh cho ăn cơm cháy với trứng chiên, chúng rất thích. Lúc đầu anh em không cho lính Tây với Nhật mang giầy. Không quen đi chân không, nhất là trong rừng, chúng có vẻ khổ sở, anh Ba cho phép chúng mang giày trở lại. Súng ống là vật bất ly thân, bị mình tước, chúng buồn lắm.

        Anh Ba bảo trả lại súng cho chúng. Anh nói; “Người chiến sĩ có cây súng là bạn đồng sanh đồng tử, có thể nói họ quý súng hơn quý vợ”.

        Anh Ba không phải nói suông, bản thân anh cũng rất quý súng đạn. Trong buổi đầu ta rất thiếu súng đạn, một mặt Khu cho người đi mua, một mặt khuyến khích bộ đội đánh địch và cướp súng.

        Nghe anh Ba nói người lính quý súng hơn quý vợ, chị Thanh cười hỏi nhỏ: “Anh Ba đâu có vợ mà nói như vậy!”. Anh Ba cười không nói gì nhưng vài ngày sau khi vui miệng, anh tiết lộ bí mật: Sau khi từ Côn đảo về anh đã hăm chín (anh sinh năm 1908) mẹ anh muốn cưới vợ để cột chân anh lại, nhưng các mối mẹ anh chọn, anh không ưng mối nào. Mẹ thắc mắc, anh giải thích: “Con thích có vợ đẹp. Không đẹp thì cũng phải xinh. Kém văn hoá thì có thể học tập trau dồi thêm. Chứ xấu thì làm sao đẹp được?”.

        Nghe xong chị Thanh cười thầm chỗ yếu của anh Ba là ở chỗ đó, nhưng cũng là chuyện bình thường, ông bà mình đã từng nói “trai tài gái sắc”. Anh Ba có cách dùng người đặc sắc. Trước nhất là chọn người thích hợp với công tác. Chẳng hạn như về liên lạc thành, anh chọn phụ nữ thích hợp hơn thanh niên. Mà là phụ nữ đẹp và phải thông minh để ứng phó với bọn lính kín ở các trạm kiểm soát ven đô. Khi đã chọn xong phải giáo dục nghiệp vụ cẩn thận. Anh chọn chị Thanh làm liên lạc thành cũng theo tiêu chuẩn trên, người Tàu ít bị địch để ý, anh đề nghị chị Thanh cải trang “á xẩm” Anh cho thợ may cắt hai bộ đồ xẩm đồng thời kiếm người dạy tiếng Quảng Đông cho chị Thanh. Người này là cô Ngọc, cán bộ Hoa Kiều vụ Thủ Đầu Một. Sau thời gian học thực hành cấp tốc, chị Thanh có thể nói chuyện bằng tiếng Quảng Đông chút ít. Nhìn chị trong bộ đồ xẩm trông rất xinh, anh Ba cười thú vị. Các bạn trẻ cũng đùa: “xẩm lai bằng hai xẩm thiệt”...

        Xong rồi phải tạo giấy tờ giả để ra vô thành. Anh Ba giao công việc này cho ông giáo Chương là người có uy thế trong vùng. Ông Chương đưa chị Thanh hoá trang “á xẩm” đến văn phòng bang trưởng Quảng Đông làm giấy đàng hoàng chớ không phải là giấy giả. Chừng tất cả mọi thứ cần thiết đã đầy đủ, anh Ba còn cẩn thận trắc nghiệm lần chót trước khi cho chị Thanh về thành. Anh đóng vai người Tàu hỏi chuyện chị Thanh. Thật là bất ngờ: Anh nói tiếng Quảng Đông rất rành, dường như đã nhiều năm sanh sống ba Tàu: Chị nghĩ có lẽ sau khi được Tây trục xuất về quê quán Hải Phòng năm 35 dường như anh Ba bí mật sang Tàu học trường võ bị Hoàng Phố, nhưng chuyện đó chị chưa được nghe anh Ba kể lần nào.

        Thêm một chi tiết nhỏ để thấy mối quan tâm của vị thủ trưởng với nhân viên. Không rõ anh Ba tìm đâu ra một phù hiệu Tôn Văn để ghim lên ngực áo xẩm của chị Thanh. Anh ngắm nghía cẩn thận rồi bắt tay chúc: mã đáo thành công.

        Chị Thanh về thành chuyến đầu tiên suôn sẻ.

        Chừng chị về anh Ba rất mừng, bắt tay xiết chật, nói: vạn sự khởi đầu nan, chuyến đầu trót lọt thì các chuyến sau cùng trót lọt. Xin có lời khen. Đêm ấy anh Ba trao cho chị Thanh xem bài thơ viết trong sổ tay:

        Một phút xa em một phút buồn
        Ước gì anh ở cạnh em luôn
        Em ơi có phải em đi vắng
        Chiều nay anh thấy ngẩn ngơ buồn
        Nơi nơi nhuộm đẫm màu hiu quạnh
        Một phút xa em một phút buồn.

        Chị Thanh mang về một xấp báo thành. Anh Ba rất thích đọc báo thành để tìm hiểu tình hình địch và ta trong thành. Đêm đêm anh ngồi bên ngọn đèn dầu đọc báo. Đèn ỉu mà mắt anh lại kém anh nhờ chị Thanh đọc tiếp mấy tờ báo sau. Nhờ đọc báo như thế, chị Thanh biết thêm một khả năng đặc biệt của anh Ba: vừa ngủ vừa nghe. Đang đọc chị nghe anh ngáy ngon lành, chị ngưng đọc dượm đi để anh ngủ. Nhưng chị vừa đứng lên thì anh Ba kêu lên: “Đọc đi, tôi nghe mà?”. Chị lại ngồi xuống: “Nãy giờ em đọc những gì, anh nói nghe?”. Anh Ba kể vanh vách. Thật là lạ!

        Lần đầu tiên trong đời chị mới thấy một người có thể nghe khi ngủ.

        Những ngày sống bên cạnh anh Ba không lâu, nhưng mãi mãi ghi sâu vào tâm hồn cô liên lạc thành.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #25 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2008, 11:13:27 am »

Chương 25

Tay giang hồ đi tìm hào kiệt
Giáp Nguyễn Bình, Hoàng Thọ tôn sư


 
Trong Chi đội 13 của Tổng công đoàn của anh Đặng Văn Thìn (Mười Thìn) đóng ở Gò Vấp, anh em binh sĩ có đến hai trăm người, phần đông là công nhân các hãng lớn như Ba Son, Caric, Faci... Chi đội có nhiều phân đội mà nổi bật là phân đội 10 do Hoàng Thọ chỉ huy. Hoàng Thọ là một thanh niên đẹp trai, to cao, râu quai nón rất oai. Họ Hoàng là dân Hải Phòng lưu lạc vô Nam rất sớm. Anh làm đủ thứ nghề để sống, hớt tóc, làm nón, mạch lô, thợ quấn dây điện v.v... Vốn tánh ngang tàng nên không làm ở đâu lâu. Như làm mạch-lô cho hãng xáng ở Mỹ Tho, Hoàng Thọ đã đạp thằng Tây chủ hãng xuống sông khi nó bạt tai anh. Bỏ Mỹ Tho anh lên Sài Gòn làm thợ quấn dây điện, Tây gọi là bobineur tại Hãng Gaz - Auto kế bên hãng Faci, Khánh Hội. Tại đây Hoàng Thọ kết bạn với anh thợ hàn gió khí đá Đỗ Văn Lai.

        Họ Hoàng vô Hướng đạo cho tới khi Nhật qua Đông Dương, anh học tiếng Nhật làm cho Radio Domei.

        Chừng Nhật mở trường đào tạo cán bộ quân sự, Hoàng Thọ ghi tên học, mãn khoá được đưa qua ngành Hải quân. Tháng 8-1945, Việt Minh cướp chánh quyền, Hoàng Thọ như cá gặp nước, gia nhập Chi đội 13. Đã được đào tạo thành thanh niên xốc vác trong thời gian theo Hướng đạo, lại được huấn luyện quân sự trong khoá vỡ lòng của quân đội Nhật, Hoàng Thọ là một chỉ huy năng nổ trong chi đội.

        Khi Tây nống ra tiến chiếm ngoại thành Sài Gòn, các chi đội lần lượt rút lên miền Đông, cánh lên Thủ Đầu Một, cánh lên Biên Hoà. Ngày 12-10-1945, chi đội 13 rút lên miền Đông cùng với Uỷ ban kháng chiến miền Đông của nhóm Lương Văn Tương. Tại Tân Uyên, Chi đội cùng các đơn vị bạn đã chặn đánh toán quân Pontchardier núp bóng quân Anh tiến chiếm miền Đông Nam Bộ. Trận Tân Uyên rất ác liệt. Tây có các đơn vị nhảy dù SAS và thuỷ quân lục chiến (Fusiniers marins) quyết tâm chiếm Tân Uyên sau khi chiếm Biên Hoà. Các lực lượng cố thủ Tân Uyên đào công sự và áp dụng tiêu thổ kháng chiến, dân chúng tự tay đốt nhà mình để thi hành chủ trương “vườn không nhà trống” không cho địch có chỗ đóng quân. Nhưng tương quan lực lượng quá chênh lệch, quân Pháp chiếm được Tân Uyên ngày 25-1-1946.

        Chi đội 13 quay về Gò Vấp, lấy nơi đây làm bàn đạp tấn công Sài Gòn, nhân lúc địch tung chủ lực đánh chiếm các tỉnh, chỉ để lại đây một vài đơn vị nhỏ.

        Gò Vấp với An Phú Đông là chiến khu nổi tiếng sát nách Sài Gòn. Tại Mặt trận tiền tuyến miền Đông này có nhiều đơn vị ngoài Chi đội 13, như Chi đội 6 với các nhóm Đào Sơn Tây, Hứa Văn Yên, Trần Thắng Minh, Chi đội 12, v. v... Trong các nhóm trên có bộ đội của anh Nguyễn Đình Thâu. Chi đội 13 có nhiều phụ nữ đẹp ở thành đầu quân. Đẹp nhất đơn vị là cô Thanh cũng gọi là Tuyết. Cô là nhân viên bán hàng tiệm giầy da Trần Văn Mỹ, đường Đết pan (Lê Thánh Tôn). Hoàng Thọ đã quen với cô khi còn là thợ quấn mô tơ hãng Gaz-Auto. Để có một đôi giày da loại thể thao, anh la cà hết dãy phố bán giày đường Đết pan. Và tới tiệm Trần Văn Mỹ anh huynh trưởng Hướng đạo bị sét đánh. Cô bán hàng giày quá xinh đã khiến chàng trai đa tình lui tới mãi... Đi kháng chiến họ gặp lại trong chi đội 13. Vậy là họ trở thành “cố nhân”. Trong phân đội 10 ai cũng biết và tán thành mối tình giữa đôi bạn trai tài gái sắc quê Hải Phòng này.

        Tha hương ngộ cố tri, còn gì sung sướng hơn. Chẳng những là cố tri mà còn là đồng hương, đồng chí, đồng đội nữa.

        Bộ chỉ huy, khu 7 cần được bảo vệ, phải có một đơn vị làm nhiệm vụ này. Khu trưởng Nguyễn Bình chọn Phân đội 10 của Hoàng Thọ. Trước nhất vì phân đội 10 đánh giặc khá hơn các phân đội khác. Khi chiến trường trở nên ác liệt, anh Ba quyết định nâng Phân đội 10 thành đại đội. Ngày 5-10-1946 anh Ba ký quyết định cho Hoàng Thọ lấy thêm binh sĩ trong Chi đội 13 lập đại đội lưu động Tây Ninh, nghi trang dưới cái tên Đại đội 52, hoặc Chi đội 57. Nhưng tên phổ biến nhất là bộ đội Hoàng Thọ. Vùng hoạt động của bộ đội Hoàng Thọ là Gò Dầu Hạ và Trảng Bàng.

        Mặt mạnh của Hoàng Thọ là đánh giặc gan lì. Ngay loạt kèn xung trận, họ Hoàng đã lao tới trước, lia tôm-xông vào bọn lính Pháp đang hoang mang vì địa lôi đã khoá đầu khoá đít đoàn xe của chúng.

        Hoàng Thọ trở thành một hung thần của bọn lê-dương là binh chủng sừng sỏ nhất của đoàn quân viễn chinh Pháp.

        Nguyễn Bình không chỉ xem phân đội 10 là đơn vị bảo vệ bộ chỉ huy Khu mà còn xem là đơn vị bảo vệ cá nhân Nguyễn Bình. Tất nhiên chỉ huy trưởng Hoàng Thọ được đặc biệt đối xử. Từ lâu Hoàng Thọ xem Nguyễn Bình là người đáng cho mình tôn thờ, nay lại được anh Ba xem như em út, họ Hoàng mừng rỡ vô cùng. Ngoài công cứu nguy, Hoàng Thọ được anh Ba sủng ái là nhờ tánh tình có vài điểm hợp nhau, như tánh khí hiên ngang, dám nghĩ dám làm, không để “bó rọ” trong nguyên tấc. Hai thầy trò gặp nhau ở quan niệm “ngựa chứng là ngựa hay”, chỉ lấy hiệu năng mà đánh giá cán bộ, chứ không căn cứ vào tác phong gương mẫu.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #26 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2008, 11:17:25 am »

Chương 26

Trị Ba Nhỏ, Nguyễn Bình nêu dũng khí
Giới Bình Xuyên trên dưới phục tùng



 
        Khi Tây đánh lên các tỉnh miền Đông, các bộ đội rút lui để tránh mũi nhọn. Một số chỉ huy bộ đội đã không lo đánh giặc mà còn tác oai tác quái nhũng nhiễu dân lành. Hai nhóm thổ phỉ bị dân chúng gởi thư hoặc làm đơn thưa tới khu trưởng Nguyễn Bình.

        Đó là nhóm Phạn Tấn Đạt và nhóm Ba Nhỏ. Nguyễn Bình quá bận việc lớn không thể tới tận nơi điều tra được Anh nhớ ngay Hai Trọng là người anh giao liên lạc giữa Bộ Tư lệnh Khu và các lực lượng Bình Xuyên. Anh viết giấy triệu tập Hai Trọng về giao nhiệm vụ tới tận nơi đóng quân của Ba Nhỏ và Phan Tấn Đạt.

        Đang theo cánh quân của Ba Dương về Long Thành, được thư anh Ba Bình, Hai Trọng rất mừng. Anh không thể quên thú uống trà nói chuyện tâm tình với anh Ba về quê hương miền Bắc và về văn chương thi phú.

        Anh Ba Bình vô đề ngay:

        - Có chuyện cấp bách đang chờ anh đây. Hãy đọc xấp đơn này trước đã rồi ta bàn cụ thể sau.

        Hai Trọng đọc xấp thư và đơn thưa hai tay Phan Tấn Đạt và Ba Nhỏ đã làm tình làm tội đủ thứ chuyện trên đời khi đóng trong vùng hành quân.

        Xem xong, anh hỏi:

        - Anh Ba định giải quyết như thế nào?

        - Anh đi ngay tới nơi hai tay đó đóng quân điều tra xem những đơn thư này có đúng không. Rồi về báo cáo cho tôi. Nếu đúng thì phải trừng trị ngay. Bộ đội phải có kỷ luật. Bộ đội mà vô kỷ luật là quân phiệt rồi.

        Hai Trọng nhận giấy giới thiệu để thi hành ngay, anh Ba nói:

        - Tôi phong cho anh chức Thanh tra quân sự miền Đông để dễ làm việc.

        Hai Trọng cười:

        - Tôi nghĩ rằng chức đó không “linh” lắm đâu. Vì Thanh tra chính trị miền Đông Dương Bạch Mai đang bị các đơn vị Bình Xuyên coi không ra ký nào.

        Anh Ba cười:

        - Đúng. Với các tay giang hồ thì chức tước không có nghĩa gì. Với họ phải là bản lãnh. Phải là tay hảo hớn mới đáng cho họ quan tâm. Mà về phương diện này thì anh có thừa. Anh Ba Dương phải nhắm tướng của anh trước khi nhận anh làm liên lạc giữa Bộ Tư lệnh Khu và Bình Xuyên.

        Hai Trọng nói:

        - Có lẽ cái chức bí thư của anh Ba Bình “linh” hơn cái chức thanh tra quân sự miền Đông. Kiêm luôn hai chức càng hay.

        Hai Trọng được Ba Nhỏ, Phan Tấn Đạt tiếp nồng hậu. Cả hai đều nhờ “anh Hai” nói với “anh Ba” là bộ đội cần được tiếp tế. Có ăn no mới đánh khỏe. Nhà nước nghèo, phải nhờ dân. Dân cho thì tốt, bằng không phải vay mượn. Chuyện chỉ có vậy mà một số người đặt điều nói xấu anh em chúng tôi.

        Trong hai tay này, Hai Trọng chú ý Ba Nhỏ nhiều hơn. Lúc đó Dĩ An còn chưa bị chiếm, Ba Nhỏ đã cho một xe Ford tới đón Hai Trọng đi thăm các đơn vị đóng ven bờ sông Đồng Nai. Ba Nhỏ nổi tiếng từ cuộc biểu tình khổng lồ ngày 25/8 và 2/9 ở Sài gòn. Đi biểu tình mà cỡi ngựa mang gươm kiểu Lương Sơn Bạc giữa Sài Gòn. Sau đó Ba Nhỏ càng nổi tiếng miệt Bà Chiểu, Thị Nghè và Giồng ông Tố, cũng mang gươm cỡi ngựa cộng thêm thói quen chém giết không gớm tay những kẻ tình nghi là Việt gian. Chuyện giết một người đàn bà ở bến đò qua Tân Định làm dư luận công phẫn: người xấu số này chết vì mang hai ký thịt cho hai đứa cháu ngoại vì sợ chúng không có gì ăn trong lúc ta phong toả nội thành. Tên bà là Madame Fondean, con gái và cháu ngoại ở cư xá Héraut, Tân Định. Không cần nghe giãi bày, Ba Nhỏ tuốt gươm chém kẻ vi phạm lịnh cấm tiếp tế địch để làm gương.

        Từ lâu nghe tên, nay Hai Trọng mới gặp Ba Nhỏ.

Anh ta là một tay giang hồ người miền Nam, vóc dáng nhỏ thó nên được gọi là Ba Nhỏ. Nhỏ người nhưng to tham vọng. Từ dân anh chị, hắn muốn làm lãnh chúa. Nhưng Ba Nhỏ chỉ ra oai với dân, còn Tây tới thì xách súng chạy dài. Bộ đội hắn chạy ra Phan Thiết rồi quay về Bà Rịa theo sát Liên Chi 2-3 Bình Xuyên.

        Vài tháng sau, anh Ba Bình lại giao cho Hai Trọng giải quyết vụ Ba Nhỏ bị dân chúng Bà Rịa thưa về hành động thổ phỉ. Nguyễn Bình quyết định xử Ba Nhỏ để giữ thanh danh của bộ đội. Nhiệm vụ của Hai Trọng là tiếp xúc các lãnh tụ Bình Xuyên để thuyết phục họ nghiêm trị Ba Nhỏ. Hai Trọng lần lượt gặp các ông Tám Mạnh, Ba Dương, Năm Hà, Mười Lực. Theo đề nghị của anh Ba Bình, Liên chi 2-3 tổ chức Toà án quân sự còn Chi đội 7 cho người đi bắt Ba Nhỏ. Ai cũng biết bắt Ba Nhỏ không phải dễ, Ba Nhỏ luôn luôn thủ súng sáu và thêm một cây mi.

        Theo sát Ba Nhỏ còn có một bảo vệ thiện xạ. Chuyện khó khăn này phải do “Hùm Xám” Hai Vĩnh đảm trách. Dùng võ lực chắc chắn không được, Hai Vĩnh thi hành nhiệm vụ bằng thuật giang hồ hảo hớn.

        Được biết Ba Nhỏ cùng tên vệ sĩ ở trong chùa Cao Đài tại thị xã Bà Rịa, Hai Vĩnh trao súng cho bảo vệ

        Cách rồi đi một mình tới gặp Hai Nhỏ. Từ xa Ba Nhỏ thấy Hai Vĩnh đi tay không tới, hắn cũng giao cây mi cho tên bảo vệ, bước tới đón:

        - Anh Hai. Anh đi bắt tôi phải không?

        - Làm gì có chuyện đó? Bắt Ba Nhỏ đâu có phải chuyện chơi!

        - Vậy chớ anh Hai đi đâu đây?

        - Tới nói chuyện đời với anh. Được không?

        Ba Nhỏ cự nự:

        - Tôi làm gì mà Thanh tra chánh trị miền Đông Dương Bạch Mai bắt tôi? Tôi chưa bắn nó là may!

        Hai Vĩnh cười:

        - Đừng nóng anh Ba? Theo tôi thì chuyện ai đúng ai sai cần phải bình tĩnh mà xem xét. Chuyện của anh không phải do Dương Bạch Mai quyết định đâu.

        ông ta chỉ ký giấy bắt cho đúng luật pháp. Người quyết định bắt anh là khu trưởng Nguyễn Bình.

        Ba Nhỏ thất sắc:

        - Anh Ba ra lịnh bắt tôi à! Có chắc không?

        - Chắc mà! Cho nên tôi mới tới đây gặp anh. Không phải là đi bắt mà là mời anh đến gặp anh Ba để anh giãi bày mọi việc. Nhiệm vụ của tôi có vậy. Bây giờ tuỳ anh quyết định: Gặp anh Ba hay bỏ ra đi như Phan Tấn Đạt...

        Ba Nhỏ suy nghĩ hồi lâu rồi gật đầu:

        - Tôi đi theo anh. Để gặp anh Ba.

        Hai Vĩnh đã thành công trong việc bắt Ba Nhỏ nhờ đánh trúng tâm lý: Ba Nhỏ chỉ phục có Nguyễn Bình. Không mượn oai Nguyễn Bình thì cả trung đội chưa chắc đã bắt sống được Ba Nhỏ.

        Giết một tay giang hồ cỡ Ba Nhỏ không phải là chuyện dễ. Thố tứ hồ bi, các tay anh chị không ai phục ai, nhưng đều rung động trước cái chết của người cùng giới. Nắm tâm lý đó, Nguyễn Bình đã phái Hai Trọng “dọn đường trước” trong giới chỉ huy Bình Xuyên. Dù vậy mà khi đưa Ba Nhỏ ra trước toà án, có mấy tay giang hồ làm kiến nghi xin giảm án cho Ba Nhỏ. Người ký tên trên đầu danh sách là Mười Lực.

        Ngồi ghế xử án Ba Nhỏ có ba vi: Nguyễn Bình, Ba Dương, và Tám Mạnh. Đọc bản kiến nghị, Ba Bình hội ý với hai ông Tám Mạnh và Ba Dương. Cả ba đều nhất trí với bản án tử hình vì tội Ba Nhỏ đáng chết.

        Vụ án này nhằm mục đích răn dạy ba quân tướng sĩ đồng thời thoả mãn dân chúng trong vòng đã bị Ba Nhỏ ức hiếp. Đa số những người ký tên trong kiến nghị ở Liên chi nên Ba Bình nhờ Ba Dương đi gặp những người này thuyết phục họ rút tên vì “Khu trưởng Nguyễn Bình đã quyết định giữ vững bản án tử hình thì dù cho có mười bản kiến nghị cũng như không”. Mười Lực nghe Ba Dương, đồng ý xoá tên mình trong kiến nghị. Anh em khác cũng làm theo.

        Sau khi nghe khu trưởng hỏi tội và tuyên án tử hình, Ba Nhỏ thành tâm nhận lỗi:

        - Tội tôi làm, tôi xin chịu. Cám ơn anh Ba đã chỉ dạy cho tôi. Xin anh Ba cho tôi một đặc ân: được tự xử lấy mình.

        Nguyễn Bình gật:

        - Chiến sĩ cách mạng đã nhận tội, đồng chí sẽ được một cái chết xứng đáng. Tôi cho phép đồng chí dùng khẩu súng đã gây tội ác của đồng chí để tự xử.

        Ba Nhỏ được giao trả khẩu súng của anh. Anh cầm khẩu súng quen thuộc rồi ngước mắt nhìn đám đông nói:

        - Các bạn hãy lấy tôi làm gương. Xin đừng đi con đường của tôi.

        Nói xong, Ba Nhỏ tay mặt cầm súng tay trái vuốt ve nòng súng. Lúc đó cả trăm người nín thở, trăm mắt nhìn nòng súng lo sợ cho ba vị ngồi trên bục cao. Mục tiêu số một chắc là khu trưởng Nguyễn Bình.

        Nhưng anh Ba vẫn điềm nhiên nhìn xuống Ba Nhỏ đứng trước vành móng ngựa. Lúc đó Hai Trọng thấy Hội chống gươm đứng cách anh Ba Bình mấy bước phía dưới bục. Đây là loại gươm Nhật dài và nặng. Mắt Hội ngó lom lom Ba Nhỏ. Nhưng Ba Nhỏ không nhìn ai, từ từ đưa họng súng từ bụng đi lên tới ngực, khẽ nhích qua bên trái một chút, ngay trái tim. Một tiếng tách vang lên. Nhưng đạn không nổ. Ba Nhỏ cười nói to lên:

        - Hồi nào tới giờ mầy theo tao, sao bây giờ mầy lại phản tao.

        Ném súng xuống đất Ba Nhỏ nói với chánh án:

        - Anh Ba, anh cho tôi mượn cây súng của anh.

        Mọi người quay lại nhìn Nguyễn Bình xem phản ứng. Anh Ba móc súng trao cho Hội đem lại cho Ba Nhỏ. Ba Nhỏ chĩa lên đầu, ngang vành tai, bóp cò.

        Súng nổ vang. Ba Nhỏ gục xuống tắt thở.

        Vụ Nguyễn Bình xử Ba Nhỏ là một thời sự lớn trong những ngày đầu kháng chiến. Trong vụ này có hai nhân vật nổi bật: chánh án ba Bình và tử tội Hai Nhỏ. Cả hai đều nêu gương dũng cảm hơn người. Nếu không phải là anh Ba Bình, chánh án không đời nào cho Ba Nhỏ tự xử với cây súng của anh ta. Và nếu không phải là Ba Nhỏ thì khẩu súng kia đã chĩa vào các mục tiêu khác hơn là bắn vô đầu mình. Đúng là anh hùng lại gặp anh hùng.

        Ba Nhỏ đền tội rồi, lại xảy ra một cái chết thứ hai khiến Hai Trọng xốn xang: Hội bị giết trong trường hợp khó hiểu. Trong một cuộc hành quân của Pháp ở Long Phước Thôn, Thủ Đức, Hội bị du kích bắt vì trong mình không có giấy tờ. Anh khai là trưởng ban liên lạc miền Đông của Khu trưởng Nguyễn Bình, giấy chứng minh đã chôn giấu vì Hội lọt trong vòng vây. Nhưng thay vì đưa anh đi tìm lại giấy tờ, xã đội trưởng cả quyết anh là Việt gian và bắn tại trận, xác được chôn nơi một ngôi chùa gần đó. Hai Trọng nghi Long Phước là đất của Ba Nhỏ, xã đội trưởng cố tình giết Hội để trả thù cho Ba Nhỏ bị Nguyễn Bình “giết oan”. Đây chỉ là giả thuyết, thời buổi nhiễu nhương, những điều vô lý đều có thể xảy ra. Hội chết rồi, Hai Trọng vẫn ngậm ngùi nhớ bạn một thời gian dài.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #27 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2008, 11:20:01 am »

Chương 27

Miếu Thiền Quang, địch ta thương nghị
Đùa Tám Nghệ, xấu hổ Fehler




Sau sơ ước Sit-mạc (gọi theo Tây Six Mars) ký ngày 6-3-1946, ta tranh thủ thời gian hưu chiến để củng cố thực lực. Thằng Tây cũng nhân thời gian này để tăng cường quân sự quyết đánh lớn theo chủ trương “tốc chiến tốc quyết” của bọn chủ chiến như đô đốc Đạc-dăng-li-ơ (D argenlieu) và tướng Lơ-cờ-le (Leclerc). Trong ba khu của Nam bộ, Khu 7 là chiến trường chính. Nơi đây Tây bung ra trước tiên khi chiến được Sài gòn - Chợ Lớn. Các tỉnh lỵ Biên Hoà, Thủ Dầu Một là hai mục tiêu quân sự hàng đầu.

        Chúng đã gặp sức chống trả ác liệt tại hai nơi này. Tên tư lệnh Khu Đông (Zone Est) là đại tá Fe-lơ (Fehler) quyết thăm dò thực lực của miền Đông. Cách duy nhất là đề nghị hai bên gặp gỡ để thương nghị. Đích thân hắn cầm đầu phái đoàn Pháp để trực tiếp nắn gân vị chỉ huy Khu 7 là Nguyễn Bình mà tình báo phòng Nhì cung cấp nhiều tin tức gần như huyền thoại. Một bức thư của tên quan năm này được gởi tới Bộ tư lệnh Khu 7. Nhận được thư, anh Ba Bình liền mời một số anh em thân cận họp bàn. Trong số này có bên phía quân sự Chánh văn phòng Bộ tư lệnh Võ Bá Nhạc, khu phó kiêm chỉ huy trưởng Chi đội 10 Huỳnh Văn Nghệ, bên chính trị có chính trị bộ chủ nhiệm Trần Xuân Độ, trưởng phòng Quân pháp Lê Đình Chi, chủ nhiệm tờ báo Vệ Quốc, giáo sư Phạm Thiều.

        Anh Ba mở đầu cuộc họp bằng cách đọc bức thư của tên đại tá Fehler. Thư viết bằng tiếng Pháp.
        Những người trong cuộc họp đều là trí thức trừ một mình ông Độ. Rất tế nhị, anh Ba Bình dịch ngay tiếng Việt lá thư vắn tắt đó.

        Ông Độ phát biểu trước:

        - Với tư cách chủ nhiệm, tôi phải có ý kiến trước, nhưng trong cuộc họp này, tôi thấy rất nhiều nhà trí thức, nên tôi xin nhường lời cho các vị.

        Anh Ba Bình cười nói:

        - Chánh uỷ nói sau cùng là phải vì thường thì chánh uỷ là người quyết định, chứ không phải là tư lệnh. Bây giờ xin mời các nhà trí thức, tinh hoa của dân tộc. Xin giáo sư Phạm Thiều cho ý kiến.

        Giáo sư Phạm Thiều xoa hai bàn tay theo thói quen:

        - Vấn đề bàn ở đây là nên hay không nên thương nghị với thằng Tây. Theo tôi thì nên. Tại sao? Đây là dịp ta tìm hiểu nó. Để biết nó muốn gì. Đánh tới hay muốn giải quyết chiến tranh bằng cách thương thuyết...

        Lê Đình Chi gật gù:

        - Tôi đồng ý với cụ Phạm. Thành công thì tốt, còn thất bại thì ta chẳng mất gì.

        Võ Bá Nhạc nói:

        - Thằng đại tá Fehler này là thằng điếm. Tự nó không dám nghĩ ra chuyện thương thuyết với Việt Minh đâu. Theo tôi, nó được chọn để thi hành độc kế của hai thằng Đặc-dăng-li-ơ với Lơ-cờ-le. Chúng nó muốn tạm thời hoà hoãn với Khu 7 để đánh hai khu 8 và 9. Sách của chúng là chia để trị đã quá xưa. Cái tẩy của chúng nó là như vậy. Theo tôi, hội nghị này, ta nên đi dự, nhưng phải biết trước ý đồ của nỏ.

        Mọi người gật gù. Anh Ba Bình nhìn ông Độ:

        - Giờ thì xin chánh uỷ cho anh em nghe tôn ý.

        Ông Độ chậm rãi nói, như cán nhắc từng chữ:

        - Tôi thấy các vị vừa phát biểu ý kiến đều nhất trí với nhau về một điểm là nên đi dự hội nghị thằng Tây đề ra. Riêng tôi thì dứt khoát là không.

        Mọi người đều bất ngờ nhìn ông Độ trân trân.

        Ông Độ nói:

        - Tôi giải thích tại sao không. Thằng Tây là thằng thực dân, muốn nuốt chứ không bao giờ nhả. Nó bày truyện thương lượng với mình là tính cầm chân mình ở Khu 7 để đánh chiếm hai khu 8 và 9. Đó là kế bẻ đũa từng chiếc như anh Nhạc vừa nói. Biết tẩy của chúng rồi, tại sao chúng ta lại đi thương thuyết với chúng làm chi cho mất thời giờ? Với thực dân thì chỉ có đánh với đánh thôi!

        Để không khí lắng lại một lúc, anh Ba Bình nói:

        - Cuộc họp có hai ý đối chọi nhau. Trong bốn vị đã phát biểu, có ba vị cùng một ý là nên đi hội nghị, chỉ có một vị chống lại. Tôi với tư cách là tư lệnh tán thành ý nên dự hội nghị đó. Đây là ý của riêng tôi mà cũng là ý của đa số.

        Ông Độ đứng phắt dậy:

        - Nguyên tắc dân chủ tập trung là thiểu số phải phục tùng đa số, nhưng trong trường hợp này, tôi xin bảo lưu ý kiến. Tôi khẳng định là đi họp với thằng Tây không có lợi gì hết. Cho nên tôi xin báo cáo vụ này ra Trung ương để ngoài đó quyết định ai đúng ai sai.

        Anh Ba Bình nửa đùa nửa thật:

        - Ông già Độ đúng là “ông già Ba Tri”. Hai anh em chúng tôi đã biết nhau từ năm 30 ngoài Côn Đảo. Các đồng chí lãnh đạo đã biết chuyện đó nên mới bố trí ông Độ về Khu 7 với tôi. Chánh uỷ cứ điện ra Bắc hỏi, nhưng trong khi chờ đợi thì chúng tôi phân công thành lập phái đoàn dự hội nghị Thiền Quang. Tôi đề nghị anh Võ Bá Nhạc thay mặt tôi làm trưởng đoàn. Trong đoàn sẽ có anh Tám Nghệ, cụ Phạm và anh Chi. Để đoàn có tư thế, trung đội hộ tống phải ăn mặc tươm tất. Các vị cứ hội ý với nhau, cần gì cứ nói, tôi sẽ giải quyết.

        Ngôi nhà nhỏ bên bờ sông Đồng Nai, xã Đại An, không ngờ đi vào lịch sử với cuộc hội nghị giữa địch và ta trên chiến trường miền Đông Nam Bộ. Phái đoàn quân sự Khu Đông do đại tá Fehler cầm đầu ăn mặc chinh tề, huân chương đầy ngực, huy hiệu Rin ét Danube lấp lánh trên quân phục, bộ vó kênh kiệu, nghênh ngang của một sĩ quan vừa chiến thắng trong đệ nhị thế chiến. Ngược lại, phái đoàn khu đến hội nghị trong tư thế của những người cách mạng, có gì mặc nấy. Chỉ có trung đội hộ tống là mạc sắc phục Vệ Quốc đoàn đúng quân phong quân kỷ.

        Một sáng kiến của anh Vò Bá Nhạc làm bọn Tây lác mắt. Trung đội hộ tống được chọn toàn anh em to cao, và điều này mới là độc đáo: giọng hát rất tốt. Lúc đoàn ta tới, trung đội đứng dàn chào hai hàng danh dự cất tiếng hát bài Diệt phát xít dưới sự chỉ huy của anh Quốc Hương:

        Việt nam bao năng ròng rên xiết lầm than.
        Dưới ách quan tham tàn đế quốc sài lang...

        Dàn quân nhạc của Pháp chi có kèn đổng, mà kèn đồng thì nước nào cũng có, còn đội hợp xướng thì tìm đỏ con mắt không ra... Trước khi vô bàn hội nghị, Tây đã thấy Việt Minh không giống ai. Vô hội nghị chúng còn gặp nhiều bất ngờ nữa. Đúng như anh Nhạc nhận định, thằng Fehler là thằng điếm. Nó đề nghị hai bên kéo dài ngừng bắn đồng thời tìm hiểu nội bộ bên ta. Nhưng ý đồ của hắn không lường gạt được ai. Chẳng hạn nó hỏi:

        - Tôi hy vọng sẽ gặp trưởng đoàn các ông là tướng Nguyễn Bình từ Bắc vào, không ngờ ông chánh văn phòng đi thay. Chắc là ông tướng không được khỏe?

        Anh Thạc đáp:

        - Cám ơn đại tá đã hỏi thăm sức khỏe vị tư lệnh của chúng tôi. Chuyện gặp gỡ các ông là chuyện của chúng tôi...

        Fehler vẫn tiếp tục:

        - Theo tôi được biết thì chính những người miền Bắc lãnh đạo cuộc kháng chiến của các ông?
        Anh Nhạc cười:

        - Chúng tôi là một khối đủ ba miền Bắc Trung Nam. Tư lệnh chúng tôi là người Bắc, ông giáo sư Phạm Thiều đây là người Trung, còn tôi và anh Tám Nghệ đây là người Nam.

        Fehler quay qua anh Tám Nghệ:

        - Tôi nghĩ ông là người Bắc chớ?

        Tám Nghệ gật đầu giữa sự ngạc nhiên của mọi người. Thằng Fehler đắc chí hỏi gằn:

        - Vraiment vous êtes Tonkinois? (Có đúng ông là người Bắc?)

        Tám Nghệ vẫn gật:

        - Mai ouil Je sui Tonkinois... mai depuis trois cent anh (Đúng vậy! Tôi là người miền Bắc... nhưng từ ba trăm năm trước).

        Tên Fehler đang tươi rói bỗng tái lại. Khu phó Tám Nghệ vừa xỏ ngọt hắn ta. Trong hội nghị, hai bên ăn nói lịch sự, lễ độ với nhau vì dù ở cấp nhỏ, dù là nhà binh, nhưng hai bên đều khoác áo ngoại giao.

        Cho nên “ăn miếng trả miếng” ngọt xớt, mà ý nhị thâm trầm. Không rõ thời Chiến Quốc, các thuyết khách cỡ Trương Nghi, Tô Tần miệng lưỡi thế nào để rao bán thuyết Hợp tung và Liên hoành, nhưng cái cách xỏ ngọt của Tám Nghệ là một đòn điểm huyệt tuy hết sức nhẹ nhàng mà vô cùng nhức nhối. Thâm ý của tên cáo già Fehler là chia rẽ Bắc Nam ngay trong phái đoàn thương thuyết quân khu 7 nhưng Tám Nghệ đã đập tan ý đồ ngay khi Fehler mới thò ra.

        Cuộc họp không đem lại kết quả như tên Fehler mong muốn. Nó muốn ru ngủ Khu 7 trong khi nó dốc hết sức đánh hai khu 8 và 9. Nhưng ngay phút đầu đã lòi tẩy nên hắn kết thúc sớm. Dù cuộc họp chỉ một buổi phù du, nhưng tên tuổi hội nghị Thiền Quang đã được ghi vào sử sách truyền thống miền Đông.

        Phái đoàn ta qua sông Đồng Nai trở về căn cớ Lạc An báo cáo diễn tiến của cuộc họp cho anh Ba Bình và ông Độ nghe. Cả hai ông đền đoán trước kết quả “không đi tới đâu” nên không bất ngờ. Riêng ông Độ thì thất mình hữu lý khi không tán thành việc phó hội ở Đại An. Sau đó ông đi tới một quyết định quan trọng: xin đổi về Bà Rịa làm công tác thích hợp với khả năng của mình...

        Nghĩ sao làm vậy, ông Độ xin Xứ uỷ Nam Bộ cho ông về Bà Rịa là địa bàn thích hợp với khả năng ông hơn là Phó tư lệnh Khu 7. Xứ uỷ thấy đề nghị đó hợp lý nên tìm người khác thay. Người được chọn tha ông Trần Xuân Độ là ông Nguyễn Văn Trí tức Hai Trí.

        Hai sự kiện chứng minh ông Độ chống cuộc hội nghị Thiền Quang là có lý. Hai ngày sau cuộc hội Tây dốc hết toàn lực tấn công Tân Uyên: quét tóm bắt đầu não kháng chiến Khu 7. Đây là cuộc tấn công thuỷ bộ: không quân, nhảy dù dữ dội nhất ở Nam Bộ. Kế đến điện của Trung ương cho biết ý kiến của Chánh trị bộ chủ nhiệm Trần Xuân Độ, tuy thiểu số, là đúng.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #28 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2008, 11:22:38 am »

Chương 28

Lần thứ hai Nguyễn Bình vào hang cọp
Nửa tháng an toàn cậy Chính Heo




Liên lạc thành đưa một người miền Bắc vô gặp Khu trưởng Nguyễn Bình. Vừa thấy người này anh Ba bước tới ôm hôn thắm thiết:

        - Thế nào! Đội trinh sát quân chính của Chính Heo làm ăn ra sao?

        Chính Heo đổi nét buồn:

        - Nguyễn Ngọc Sớm vừa bị bắt,. Tôi vô đây cho anh Ba hay. Hai việc cần làm ngay: mướn luật sư lo cho Sớm. Hai là chọn người thay Sớm nắm Ban công tác.

        Anh Ba Bình nói:

        - Lo cho Sớm thì anh em ngoài thành tự động lo. Ngoài đó không thiếu mạnh thường quân có nhiều tiền và giao thiệp rộng với cò bót...

        Chính Heo gật:

        - Đó là báo cáo cho anh Ba biết thôi, chớ tôi đã nhờ anh Giao và chị Gái rồi. Hai vợ chồng này là đồng hương Nguyên Xá của tôi, vào Sài Gòn kinh doanh nghề buôn “sơ mi gỗ” có cửa hàng lớn ở đường Mayer (Võ Thị Sáu) gần chợ Tân Định. Còn về việc chỉ định người thay thế Sớm...

        Anh Ba Bình chỉ vào ngực Chính Heo:

        - Trưởng bị bắt thì phó lên thay. Chuyện đó các đồng chí tự giải quyết lấy cũng được mà.

        Chính Heo:

        - Nguyên tắc là như vậy, nhưng tôi muốn chánh thức hoá cho danh chánh ngôn thuận. Nếu anh Ba chỉ định tôi làm trưởng Đội trinh sát quân chính thì tôi xin đề nghị đổi tên...

        - Tên gì?

        - Ban công tác Thành. Đội trinh sát quân chính sẽ là Ban công tác số 1, dần dần sẽ lập thêm các ban số 2, số 3 tuỳ theo thực lực của mình.

        Nguyễn Bình trầm ngâm:

        - Tại sao đổi tên? Có lợi gì?

        - Có nhiều cái lợi Thứ nhất là giữ được bí mật.

        Cái tên đội trinh sát quân chính tự nó để lộ bí mật cho Tây biết mục đích yêu cầu của ta. Còn cái tên Ban công tác Thành thì kín đáo hơn, mặc dầu anh em ta vẫn làm nhiệm vụ trinh sát và trừ gian trong thành.

        Anh Ba Bình gật gù:

        - Cũng được. Vậy kể từ ngày hôm nay, tôi bổ nhậm Nguyễn Đình Chính làm trưởng Ban công tác số 1. Đồng thời giao nhiệm vụ đầu tiên cho các đồng chí là tạo điều kiện để đưa khu trưởng đột nhập Sài Gòn một chuyến nữa để nắm tình hình và làm một số việc trước mắt.

        Chính Heo kêu lên:

        - Nguy hiểm? Có cần phải xuất tướng không? Anh Ba cần gì khó khăn mấy anh em tôi sẽ cố gắng.

        Nguyễn Bình cười:

        - Có những việc tướng đích thân giải quyết mới được. Chớ xe pháo ngựa tuy hùng hậu mà vẫn không ăn thua gì.

        Chính Heo tò mò:

        - Những việc gì xin anh Ba nói rõ hơn...

        - Chẳng hạn như một số trí thức trùm mền - nói theo miền Bắc là trùm chăn. Họ đang theo sách của người ăng-lê là “chờ và xem họ xem gió chiều nào để tuỳ cơ ứng biến. Các ông bác sĩ, trạng sư đó rất kén người tiếp xúc. Phải là tôi tới gặp họ thì họ mới chịu nghe.

        Chinh Heo gật:

        - Đúng? Anh Ba nắm tâm lý giới trí thức trùm chăn rất sát. Tôi nghe nói trong giới thầy kiện có ông tiến sĩ luật Trịnh Đình Thảo là người có rất nhiều uy tín trong luật sư đoàn. Tây đang cố mua chuộc nhưng ông Thảo vẫn trùm chăn. Theo tôi trùm chăn là tốt, vì trước dịa vị và tiền bạc Pháp đưa ra nhử mà họ không thèm. Anh Ba nên tiếp xúc với mấy vị trí thức đó.

        Nguyễn Bình gật:

        - Trong danh sách những người tôi sẽ tiếp có luật sư Trịnh Đình Thảo và vài vị khác như Ngô Sách Vinh. Trong giới bác sĩ có Trần Nam Hưng. Trong giới công chức cao cấp có ông đốc phủ Phan Văn Chương. đô trưởng Sài Gòn- Chợ Lớn... Nhưng bao giờ tôi có thể vào Sài Gòn?

        - Để tôi rà lại các cơ sở của mình trong thành phố đã. Hiện có khá nhiều nơi an toàn ở Sài Gòn cũng như trong Chợ Lớn.

        - Nên bố trí trong Chợ Lớn tiện hơn. Tôi dễ hoà mình trong giới Hoa Kiều. Địch cũng không đặc biệt ruồng bó Chợ Lớn như Sài Gòn.

        - Thứ nữa là tỏi phải rà lại đường dây từ bưng ra thành. Phải bố trí nhiều đường dây để thay đổi tuỳ tình hình.

        Anh Ba nói:

        - Trở lại Ban công tác số 1. Theo binh thư, trận đầu phải toàn thắng. Kỳ khai đắc thắng, mã đáo thành công. Tôi đề nghị trận đầu của Ban Công tác số 1 phải là cú đấm vang dội. Phải đấm vào mặt thằng thượng sư đô đốc D argenlieu, một thằng tu xuất hung hăng háo chiến. Mục tiêu số hai là thằng Hiền Sĩ, chủ báo Phục Hưng. Phải diệt cái ống loa tuyên truyều phản động này để cảnh cáo những thằng bồi bút.

        Một tuần sau, liên lạc thành đưa anh Ba đột nhập Chợ Lớn. Anh Ba đóng vai người Tàu tới ớ một nhà cơ sở của Ban công tác số 1. Chủ nhà là người Quảng Đông ở trong tổ chức Huê Kiều vụ thường ra khu dự hội nghị. Bọn thực dân đang dựng lên cái gọi là chánh phủ Nam Kỳ tự trị. Anh Ba muốn trực tiếp chỉ huy Ban Công tác số 1 cùng với Nguyễn Đình Chính. Từ “tháp ngà” trong Chợ Lớn, anh theo dõi các hoạt động của Ban công tác số 1. Hãng ngày Chính Heo đều gặp anh Ba vào những giờ giấc khác nhau để báo cáo công tác. Có nhiều trận đánh không thành công như mong muốn, nhưng anh Ba bình tĩnh khuyến khích anh em: Vạn sự khởi đầu nan. Các vụ tấn công đầu tiên đó là vụ ám sát tên chủ báo Tân Việt. Tờ báo này cùng với tờ Phục Hưng nói xấu kháng chiến. Chủ báo Tân Việt ở trong hẻm đường Paul Blanchy (Hai Bà Trưng), gần chợ Tân Định. Số thằng này chưa chết nên đạn không nổ. Anh Vũ Trung Thám tiếc húi hụi vì đã chĩa súng vào ngực tên Việt gian này. Đạn lép thành thử phải rút nhanh. Anh Hoà xung phong lãnh xử tội thằng bồi bút này lần thứ hai. Lần này cực kỳ nguy hiểm vì nó đã biết nên đề phòng. Đi đâu cũng có thằng gạc-đờ-co Chà theo hộ vệ. Lần này bắn ba phát mà đạn vẫn lép. Tên Chà hộ vệ lập tức quay cây súng Mút bắn anh Hoà chết tại trận. Ta mất cây súng sáu. Anh Ba Bình nghe báo cáo ghi ngay vô sổ tay: “Cải tiến binh công xưởng, kiểm tra đạn do ta chế tạo”.

        Vài ngày sau có tin vui: Lan Mê Linh và chị Bông ném hai lựu đạn vô quán rượu Impérial góc đường Catinat - D ormay (Đồng Khởi - Mạc Thị Bưởi) gây thương vong cho một số binh sĩ Pháp. Anh Ba nghe báo cáo vui vẻ hỏi:

        - Lan Mê Linh? Tên nghe hay quá? Người thế nào?

        - Tiểu thư Sài Gòn ra bưng vào mùa thu tháng Tám. Gia đình Lan quê miền Bắc chuyên làm bánh kẹo, có cửa hàng trong chợ Bến Thành. Học viên hai khoá quân chính, khoá sau của Xuân Diệu và Mạnh Liên tổ chức ở Vườn Thơm.

        - Còn Bông?

        - Bông là cô gái miền Nam, quê Hốc Môn nổi tiếng Mười tám thôn vườn trầu. Cũng là học viên quân chính. Đây là bộ ba Lộc- Lan, Bông. Lộc cũng là nữ sinh miền Bắc, cha mẹ Bắc sanh cô ta tại Sài Gòn, có của hàng giày dép trong chợ Bến Thành, ngay dưới tháp đồng hồ ba mặt. Lan và Lộc là bạn thân từ nhỏ.

        Vài ngày tới đây cặp Lan Lộc sẽ trừng trị tên thầy tu hiếu chiến như anh Ba đề nghị. Thằng thượng sứ này sẽ nói chuyện với đám công chức cao cấp trước sân dinh Phó Soái (Bảo tàng Cách Mạng). Hai cô sê ăn diện thật sang lẫn vào đám đông.

        Tin tức không vui dồn dập: vụ ném lựu đạn diệt tên cao uỷ D Argenlieu bất thành vì Lộc và Lan đứng xa, không thể ném lựu đạn tới lão tu xuất được đành rút lui êm. Vài ngày sau, chị Lộc và em Tám 14 tuổi bị bắt trong vụ ném lựu đạn vào toà soạn báo Phục Hưng. Rồi đến Lan Mê Linh bị bắt khi lãnh nhiệm vụ trừng trị tên bồi bút Hiền Sĩ ngay trước cửa toà soạn. Trong lúc nó đi bộ để lên xe hơi thì Lan Mê Linh nổ liền ba phát. Súng lại kẹt. Hiền Sĩ chỉ bị thương. Nó hoảng kinh hồn vía chạy về phía chợ Bến Thành. Lan đuổi theo nện báng súng vô đầu nó. Chị bị tên vệ sĩ của nó bắt. Bọn lính ập tới áp giải Lan về bót Catinat, cách đó vài trăm thước.

        Trước những thất bại dồn dập, anh Ba buồn bực.

        Lòng dũng cảm có thứa nhưng súng, đạn và lựu đạn ta chế quá tồi. Mấy thằng bồi bút như chủ báo Tân Việt Phục Hưag bị mưu sát mấy lần mà không chết là vì súng đạn, lựu đạn quá kém. Phải đặc biệt chăm sóc Binh công xưởng. Cần có kỹ sư về chất nổ phụ trách khâu chế đạn và lựu đạn mới được.

        Song song với việc theo dõi các hoạt động của Ban công tác số 1, anh Ba bí mật tiếp xúc với các trí thức yêu nước còn kẹt trong thành phố. Có một số bác sĩ đã tham gia kháng chiến trong những ngày đầu nhưng vì hoàn cảnh gia đình phải hồi cư về thành sống qua ngày chờ thời cơ. Đó là những địa chỉ tốt cho kháng chiến trong nội thành. Anh Ba biết một số bác sĩ bị Nguyễn Hoà Hiệp, Đệ tam sư đoàn bắt theo bọn chúng tại Cao Lãnh, nhưng các vị này trốn về thành trùm mền chớ nhất định không làm đồng loã với quân thổ phỉ. Đó là các bác sĩ Trần Quang Đệ, Võ Duy Thạch... Còn bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng thì về thành bí mật làm trạm liên lạc giữa anh em trí thức trong thành và anh em trí thức ngoài bưng. Tổ chức của bác sĩ Hưởng đóng một vai trò quan trọng vào bậc nhất vì đây là đường dây tiếp tế thuốc men mà trong khu rất cần. Nhưng còn một điều quan trọng, gấp mười lần là cán bộ. Anh em tri thức thành tài và sinh sống bên Pháp, nghe lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, sẵn sàng bỏ cuộc sống nhung lụa về nước ra bưng kháng chiến. Trạm đầu tiên của họ tại Sài Gòn là phòng khám bệnh của bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng.

        Giới giáo sư thì có ông Nguyễn Văn Chì, dạy trường Pétrus Ký. Sau ngày hồi cư, ông Chì không trở về trường cũ mặc dầu Tây cho lãnh “rấp-pen” khá nhiều tiền. Ông chỉ dạy tư và có lúc đi bán kim chỉ trong chợ Bến Thành để tẩy chay nền giáo dục ngu dân của địch.

        Lần lượt anh Ba đến gặp các vị này bàn chuyện công tác.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
baogt
Thành viên
*
Bài viết: 771



« Trả lời #29 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2008, 11:38:01 am »

Chương 29

Nhà bị vây Nguyễn Bình vẫn thoát
Về khu suýt chết dọc đường




Anh Ba ẩn náu trong Chợ Lớn thấm thoát đã hai tuần, chị Thanh ít thấy khi nào anh Ba ở lâu một chỗ như thế. Chị khéo léo nhắc chiến khu để gợi ý:

        - Thành phố vừa có bài hát “Nhớ chiến khu” nghe hay quá. Bài hát vừa mới tung ra mà thiên hạ đã hát nghêu ngao ngoài đường “chiều nay xa chiến khu trong rừng chiều, êm đềm tiếng suối reo, ngàn thông reo...”

        Anh Ba Bình gật:

        - Tôi có nghe, không rõ tác giả là ai? Còn tác giả Hồn vọng phu là nghệ sĩ lớn. Nhạc hay mà lời còn hay hơn. Tiềm tàng dưới lớp văn chương trau chuốt là tấm lòng yêu nước thương nòi... Chúng ta rất cần những chiến sĩ trên mặt trận văn hoá như Lê Thương.

        Chị Thanh bật cười. Chị nhắc tới bản nhạc “Nhớ chiến khu” Đâu phải để bình thơ văn hay ca nhạc. Chị chỉ muốn gợi ý là đã đến lúc nên rời thành phố Sài Gòn. Đành phải nói thẳng ra thôi:

        - Mình ở đây đã hai tuần rồi...

        Anh Ba chợt hiểu ý:

        - Đúng ra thì nên về bưng ngay, nhưng phải nán lài vài ngày để chờ xem trận đánh quan trọng nhất.
        Tây tính đưa tên bác sĩ Trần Tấn Phát lên ghế thủ tướng chánh phủ Nam Kỳ tự trị. Chính Heo đã bố trí anh em diệt tên này.

        Mười bảy ngày sau khi Lan Mê Linh trừng trị Hiền Sĩ thì bốn chiến sĩ Ban công tác số 1 là Đường, Khẩn, Bào và Ba Mủ thi hành bản án tên Việt gian Trần Tấn Phát. Đó là ngày đáng ghi nhớ: 29-3-1946.

        Chinh Heo cấp tốc báo tin vui với anh Ba:

        - Chuyến đột nhập sào huyệt Sài Gòn của anh Ba đã được đền bù: Ban công tác số 1 dã diệt gọn thằng Trần Tấn Phát.

        Anh Ba vui mừng bắt tay anh trưởng ban công tác:

        - Đầu đuôi thế nào, kể nghe.

        - Anh em trinh sát luồn sâu vô hàng ngũ địch sau đợt hồi cư cho biết là Tây ráo riết chọn người để lập chánh phủ bù nhìn gọi là Nam Kỳ tự trị. Những người được chọn là trí thức dân Tây, giàu có lớn như bác sĩ Trần Tấn Phát, Nguyễn Văn Thinh, Lê Văn Hoạch, hay công chức cao cấp như đại tá Nguyễn Văn Xuân, toà áo đỏ Trần Văn Tỷ, đốc phủ Nguyễn Văn Tâm... Trong danh sách này, Tây đưa Trần Tấn Phát lên hàng đầu. Vừa ký sơ ước Sít Mác ( 6 tháng 3) là chúng lật lọng lập chánh phủ Nam Kỳ tự trị. Trần Tấn Phát sẽ là thủ tướng. Nhưng ta đã kịp thời ra tay trước.

        - Sau những thất bại dồn dập, các đồng chí mình đã làm nên chuyện. Xin hoan hô. Bốn đồng chí vừa lập chiến công đó là những người thế nào?

        Chính Heo hân hoan nói:

        - Hai anh Đường, Khẩn là mãi nhọn, còn hai anh Bào và Ba Mủ là hỗ trợ. Hoàng Minh Đường là dân Bắc lưu lạc giang hồ vô Nam rất sớm cũng như hai anh em mình. Người nhỏ thó nhưng là lực sĩ điền kinh và quyền Anh. Anh sở trường chạy bộ và là võ sĩ hạng lông. Có một thời đóng đô tại hẻm Chùa Chà...

        Anh Ba gật:

        - Tôi có biết hẻm này. Nó nằm trên đường Pellerin (Pasteur), ngang sở Công Chánh. Đó là nơi quy tụ người Bắc buôn bán trong chợ Bến Thành. Có đúng không?

        Chính Heo cười:

        - Trí nhớ của anh Ba thật tuyệt vời. Đúng là hẻm Chùa Chà ngay góc Pellerin - Ohier (Pasteur -Tôn Thất Thiệp). Căn nhà số 102/3 là nhà trọ của anh em người Bắc. Đó là nhà cha mẹ chị Lộc, đã bị bắt khi ném lựu đạn toà soạn báo Phục Tùng. Hoàng Minh Đường xuất thân từ lò đó. Khẩn, Bào cũng trong nhóm đó. Còn anh Ba Mủ xuất thân là dân cạo mủ cao su nên có cái tên Ba Mủ.

        Anh Ba gật:

        - Tôi sẽ tuyên dương công trạng bốn đồng chí này. Tôi cũng viết thư động viên các chị Lan Mê Linh, Lộc và an ủi gia đình các liệt sĩ như anh Hoà...

        Anh Ba nói tiếp:

        - Tôi ra đây đã ba tuần rồi. Đã đến lúc ra bưng thôi. Cám ơn các đồng chí trong Ban công tác số 1 đã hết lòng bảo vệ tôi. Chiều mai, đồng chí cho liên lạc tới đây đưa tôi về. Đi đường dây nào thì do các đồng chí chọn.

        Chính Heo bắt tay anh Ba nói nửa đùa nửa thật:

        - Chúng nó mà đụng tới người anh Cả của Ban công tác số 1 thì trước tiên chúng phải giẫm lên xác của Chính Heo này...

        Chinh Heo đi rồi, anh Ba nói với chị Thanh:

        - Một thằng em dễ thương. Chính Heo đã từng là lính Marine (Hải quân), rồi làm lính thợ Ba Son. Đã có đầu óc dám nghĩ dám làm chuyện đại sự như tranh thủ đội Thăng đưa mìn xuống chiến hạm Suffren định đánh chìm chiếc tuần đương hạm này.

        Rất tiếc là chuyện lớn không thành. Sau đó Chính Heo đã cùng năm đồng đội đột nhập căn nhà số 218 Lagrandière (Lý Tử Trọng) diệt bằng dao găm tất cả sáu tên chỉ điểm mà đầu đảng là tên Nguyễn Trọng Hiền đã bỏ khu về làm tay sai cho thằng cò Bazin.

        Anh Ba tính trở vô khu vào chạng vạng nhưng bọn mật thám đã đánh hơi được. Chúng cho cả tiểu đội tới bao vây khu phố có Nguyễn Bình trú ẩn. Xe nhà binh vừa tới thì chủ nhà đã được báo động. Lập tức anh Ba bảo chị Thanh rút trước theo ngả sau, còn anh thì mặc vội bộ côm-lê thật sang. Cô gái con chủ nhà nhanh nhẩu cặp tay anh Ba bước ra khỏi nhà đúng lúc thằng Tây trên xe jeep bước xuống đường.

        Anh Ba vạch tay áo xem đồng hồ rồi bước ngay tới thằng Tây, lễ phép hỏi:

        - Excusez-moi Monsieur, quelle heure est-il? J ai oublié de remonter ma mon tre. (Mấy giờ rồi thưa ông? Tôi quên lên dây đồng hồ.)

        Thằng Tây phản ứng thật tự nhiên, cúi xuống nhìn đồng hồ của mình, trả lời theo phép lịch sự. Anh Ba móc túi đưa ra bao thuốc Ách chuồn mời thằng Tây một điếu. Cô gái cũng nhanh tay bật quẹt lửa cho thằng Tây đốt thuốc. Hắn chưa hít hết hơi đầu tiên, anh Ba đã cám ơn và tiếp tục đi, tay vẫn choàng qua chiếc lưng thon của cô gái. Thằng Tây ngó theo và nghĩ tới cảnh tối nay hắn sẽ vô vũ trường để có thể cặp tay một cô xẩm xinh đẹp như cặp tình nhân vừa hỏi giờ và mời thuốc hắn. Hắn không ngờ con người lịch thiệp hào hoa kia lại là con mồi thanh tra mật thám Bazin đang lùng sục từ mấy tháng nay.

        Vừa qua ngã tư, anh Ba kêu xích lô đi ngay. Anh thay xe nhiều lần để cắt đuôi mật thám, nếu có.

        Để con mồi xổng, mật thám tức điên lên. Chúng điện các bót nút chân ven đô cấp tốc tổ chức tuần tiễu để tóm bắt khu trưởng Nguyễn Bình trên đường trở ra chiến khu.

        ***
        Tại ấp 4 xã Vĩnh Lộc trung đội của Ly đang đóng trong nhà đồng bào sát đường số 1. Như thường lệ Ly giăng võng ngoài vườn lim dim nghe tiếng chim kêu trên cành. Ly là con đầu lòng của anh Mười Trí; chi đội trưởng Chi đội 4. Mới 17 mà Ly đã to cao gần bằng cha. Con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh, Ly khoái đánh giặc nên làm quen với súng đạn ngay từ lúc vừa đủ sức “vọc” súng. Lúc đó anh Mười giao cho Ly một trung đội mạnh, ngoài mấy cây tiểu liêu tôm-xông còn có một cây Brenu gọi là FM đầu bạc. Trời nhấp nhem tối, trong nhà đã lên đèn. Dưới bương ếch nhái đã hoà tấu bản nhạc muôn thuở của đồng quê. Một ngày sắp chấm dứt như mọi ngày. Bỗng một loạt súng vang lên ngoài đường số 1. Ly nhảy xuống võng nhanh như sóc. Cậu chạy ra mé vườn. Trong bóng chiều nhập nhoạng một người to cao đang chạy băng vô đồng. Phía sau là một toán lính Pháp đang đuổi theo. Quãng cách chừng hai bờ ruộng, độ năm chục thước. Người đang bị săn đuổi vai đeo sác cốt, đúng là một cán bộ cao cấp. Phải giải vây ngay cho ông ta. Ly chụp cây FM trong tay xạ thủ, cặp nách nổ một loạt về phía toán lính Tây.

        Tiếng súng xuyên hông bất ngờ làm bọn Tây nằm rạp xuống. Nhờ tích tắc đó người đeo sắc cốt chạy thoát, hoà nhập vào đêm tối. Bọn Tây hướng hoả lực về phía trung đội của Ly trước khi rút. Chạm súng với Tây là “chuyện cơm bữa”. Ly và các bạn không nhắc tới chuyện giải vây cho người cán bộ đêm ấy. Nhưng hai ngày sau Ly được tin vui: Anh Mười Trí nhận được thư cám ơn của khu trưởng Nguyễn Bình.

        Không có loạt đạn FM giải vây đầu hôm ngày đó ở ấp 4 Vĩnh Lộc thì khu trưởng khó thoát khỏi cuộc phục kích của địch. Khu trưởng gởi hai trăm tặng đơn vị của trung đội trưởng Ly đã lập chiến công lớn mà không biết.

        Chừng nhận thư khen và tiền thưởng Ly mới biết người cán bộ vai đeo sắc cốt đêm ấy không ai khác hơn khu trưởng Nguyễn Bình. Ông vừa đi thị sát chiến trường nội thành về thì bị phục kích. Cả trung đội đều vui mừng trước tin vui mà không ai nghĩ tới: giải vây cho khu trưởng. Lập tức số tiền thưởng được mua gà vịt tổ chức liên hoan. Rượu vào lời ra, nhưng trong tiếng cười nói ồn ào đó đọng lại một điều đáng suy nghĩ: Tại sao khu trưởng đi một mình trong khi có thể đem theo vài tiểu đội hộ tống? Nội chi tiết nhỏ đó cũng đủ nói lên cái dũng của người tướng.

        Chuyến về thành đó mãi mãi sống trong ký ức chị liên lạc thành Hoàng Thị Thanh. Gặp lại anh Ba trong bưng, chị Thanh không chế ngự được cơn mừng. Chị ôm choàng lấy anh Ba như một đồng đội vừa thoát khỏi một cuộc bao vây chữ O của địch. Thêm một kỷ niệm chung để hai thầy trò gắn bó với nhau trong tình đồng hương, đồng chí và đồng đội.
Logged

Nhờ trời! Không yêu cầu cũng được ra
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM