Em xin được chỉnh sửa lại chuyên đề này. Chuyên đề này xin giới thiệu sơ lược một số tư liệu về Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu từ những năm 1937/1939 cho đến khi kết thúc vào năm 1945. Do còn nhiều hạn chế nên có gì sơ suất mong các bác giúp đỡ thêm.
Các bài viết do em tham khảo từ 100 câu chuyện chiến tranh thú vị nhất chưa từng kể của Rick Beyer và Bách khoa toàn thư về chiến tranh của Robin Cross.
I. BUỔI BÌNH MINH CỦA MỘT KỶ NGUYÊN CHIẾN TRANH MỚI – KỶ NGUYÊN ĐEN
Xét về mặt chiến lược, Chiến tranh thế giới lần nhất chỉ là một cuộc xung đột mang tính chất chuyển tiếp vào buổi bình minh của một kỷ nguyên chiến tranh mới, một kỷ nguyên đen tối của lịch sử lòai người, nhưng những gì mà Chiến tranh thế giới lần thứ nhất để lại là vô cùng quan trọng. Mặt trận phía tây trong suốt nhưng năm 1914 – 1918 đã cho thấy sự vượt trội của chiến lược phòng thủ so với chiến lược tấn công. Không một ai muốn lặp lại những trải nghiệm đắt giá của chiến tranh chiến hào. Tuy nhiên, vào giai đọan cuối của cuộc chiến, sự xuất hiện của xe tăng và lực lượng bộ binh xung kích của Đức đã được xem như một làn gió mới thổi vào vùng đất khô cằn. Hai lọai vũ khí khác cũng cho thấy tiềm năng mang lại chiến thắng chóng vánh trong các cuộc chiến tương lai. Ở trên biển, tàu ngầm Đức đã trấn áp vành đai an tòan của Hải quân Anh, trong khi ở trên không, nhưng cuộc oanh tạc của máy bay Đức vào Luân đôn đã ảnh hưởng rất nhiều đến tinh thần của dân chúng bất chấp quy mô của cuộc tấn công có như thế nào.
Tầm quan trọng của những lọai vũ khí này đã được quân Đồng Minh nhận ra khi họ quyết định ký kết Hiệp ước Versailles. Hiệp ước này đã chính thức kết thúc cuộc chiến kéo dài với quân Đức. Ngoài yêu cầu cắt giảm quân chủng hải quân xuống 15.000 người và giảm quy mô quân đội xuống 100.000 người, Đức còn bị cấm điều động quân chủng không quân. Xe tăng, tàu ngầm và chiến hạm chủ lực cũng bị gạt bỏ. Về phần mình, quân đồng Minh cũng đã nhanh chóng giải giáp các lực lượng vũ trang thời chiến. Quân Mỹ rút về vị thế trung lập như trước chiến tranh. Còn quân Pháp và Anh, đặc biệt là Anh, lại một lần nữa chuyển hướng chú ý sang các đế chế. Niềm tin cho rằng Chiến tranh thế giới thứ nhất là “cuộc chiến để chấm dứt mọi cuộc chiến” đẽ khiến tinh thần chủ nghĩa hòa bình lan rộng khắp nơi. Điều naỳ được phản ánh thông qua hy vọng của mọi người về việc các bên tham chiến nhanh chóng giải trừ vũ khí. Dấu hiệu tích cực đầu t6iên cho họat động này chính là Hiệp ước Hải quân Washington vào năm 1922. Trong bản hiệp ước này, những cường quốc hải quân đồng ý tạm ngưng việc đóng mới tàu chiến trong 10 năm, cũng như chấp nhận duy trì hạm đội tàu chiến của mình với lực lượng cân xứng với các nước khác. Trong thời gain 1927 – 1933, một số hội nghị yêu cầu gải trừ vũ khí khác cũng đẽ diễn ra ở Geneve, Thụy Sĩ, nhưng chỉ thu về được những kết quả khá khiêm tốn, ngọai trừ thỏa thuận cấm sử dụng hơi độc.
Không nao núng trước tình trạng giải trừ vũ khí hàng lọat, một số nhà lý luận quân sự vẫn tính tóan đến hình thù của một cuộc chiến trong tương lai. Họ ghi nhận những ảnh hưởng mang tính cách mạng mà xe tăng và máy bay có thể mang lại. Ở Anh, Tướng J. F. C Fuller (1878 – 1966), người đã tham gia vào Quân đòan Xe tăng tại Pháp trong suốt cuộc chiến , cùng với Đại úy Basil Liddell Hart (1895 – 1970), hai người đã viết rất nhiều về cách mà những cỗ máy cơ giới có tểh cách mạng hóa chiến trường, cho phép phe tấn công đánh bại kẻ thù một cách dễ dàng. Mặc dù quân Anh và quân Mỹ đã từng thử nghiệm với những lực lượng cơ giới hóa , nhưng việc khó khăn về tài chính và bầu không khí quốc tế vào thời điểm đó đã ngăn không cho thành lập các lực lượng này, dù với bất kỳ cấp độ nào. Nhiều ghi chú trong các bản viết tay của hai người đã được chú ý, đặc biệt là của Fuller, bởi hai quốc gia bị châu Âu ruồng bỏ : Đức và Liên Xô. Thông qua những điều khỏan bí mật trong Hiệp ước Rapolla năm 1922, Liên Xô cho phép Đức bí mật tái trang bị vũ khí và xây dựng các căn cứ hấun luyện không quân ở nước mình. Đổi lại Liên Xô sẽ được Đức chuyển giao các công nghệ mới. Vào đầu những năm 1930, Hồng quân Liên Xô, phần lớn chịu sự điều khiển của Tổng tham mưu trưởng Mikhail Nikolayevich Tukhachevsky (1893 – 1937), đã phát triển được những lực lượng quân sự khá lớn. Ngay khi Hitler lên nắm quyền, người Đức cũng đã lập tức làm điều tương tự.

Dãy công sự hầm xây cuốn Maginot trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Được đặt theo tên của Bộ trưởng Chiến tranh Pháp thời bấy giờ, công trình này đã khởi công từ 1928. Phần lớn công sự được chôn sâu dưới đất. Ở nhiều vị trí tất cả những gì có thể nhìn thấy từ phiá đông chính là một lọat vòm bát úp nhỏ làm bằng thép. Điềm yếu của hệ thống công sự này là có thể bị tấn công từ mạn sườn thông qua nước Bỉ trung lập.
Những nhà lý luận không quân còn có một lập trường cực đoan hơn nữa. Được dẫn đầu bởi vị tướng người Ý, Giulio Douhet (1869 – 1930), họ cho rằng chiến tranh trong tương lai sẽ có tểh được quyết định thắng bại thông qua sức mạnh không quân. Mya 1bay sẽ có thể thực hiện những hiệm vụ mà lục quân và hải quân không tểh làm được, chẳng hạn như tấn công trực tiếp vào chính phủ, nền công nghiệp, hay thậm chí là thường dân. Ở Mỹ, tướng Billy Mitchell (1879 – 1936) tuyên bố rằng máy bay có thể páhh hủy các tàu chiến và khiến cho lực lượng hải quân bị suy yếu trước không quân. Quan điểm của họ được tóm gọn bởi Stanley Baldwin (1867 – 1947), vốn trở thành thủ tướng Anh ngay sau đó, trong lời nhận xét của ông vào năm 1932 được trích lại ở đây :
“Những kẻ đánh bom sẽ luôn thắng thế”.Khi lên nắm quyền ở Đức vào năm 1933, Adolf Hitler (1889 - 1945) nhanh chóng xóa bỏ những rang buộc còn lại trong Hiệp ước Versailles, thông qua một chương trình tái thỏa thuận trên diện rộng. Hải quân Đức được trao quyền hợp pháp thông qua bản Thỏa thuận Hỉa quân Anh – Đức vào năm 1935. Thỏa thuận này buộc Đức phải giảm lực lượng atù chiến trên mặt biển xuống còn 2/3 so với Anh, nhưng bù lại thì hai bên được toàn quyền phảt triền lực lượng tàu ngầm, trên cơ sở các hạm đội áp tải, ASDIC (thiết bị dò tìm tàu ngầm Sonar). Ngòai ra, các thỏa thuận về những cuộc chiến tàu ngầm hạn chế (Nghị định thư Luân Đôn năm 1936) đã làm giảm đáng kể mối đe dọa từ loại vũ khí này. Quân đội Đức đã có một quá trình bành trứơng thế lực rầm rộ, trong khi Không quân Đức (Luftwaffe) phát triển từ chỗ chẳng có gì đến trở thành một trong những lực lượng không quân lớn nhất của châu Âu chỉ sau vài năm.

Hitler quan sát lực lượng Sturmabteilung (SA), đội quân xung kích chính trị của ông, ở Dortmund vào năm 1933. Sức mạnh của họ khiến cho quân đội và ngay cả bản thân Hitler phải khiếp sợ. Chính vì vậy, ông đã loại bỏ vai trò lãnh đạo của họ trong Tuần lễ Thảm sát (Nights of the Long Knives) đầy ô nhục của Đức. Hành động này cùng với sự tuân thủ nghiêm ngặt trước bộ luật truyền thống của Phổ về Trách nhiệm, Danh dự và Lòng trung thành đã trao quyền chỉ huy quân đội tối cao cho Hitler.
Vào giữa thập niên 1930, sự căng thẳng ngày một gia tăng ở châu Âu, phần lớn do Hitler gây ra, buộc Anh và Pháp phải nhảy vào cuộc để tái thỏa thuận một số điều khỏan. Quân Pháp tỏ ra tin tưởng vào hệ thống phòng thủ ở biên giới Pháp với Đức, dãy công sự Maginot. Họ cho rằng hệ thống này thừa sức ngăn chặn những cuộc tấn công bất ngờ. Về phần mình, người Anh lại đặt ưu tiên hàng đầu trong việc duy trì sự vượt trội của hải quân. Họ cũng quyết tâm củng cố quân chủng Không quân Hoàng gia Anh (RAF) để tương xứng với lực lượng Luftwaffe của Hitler. Quân đội gồm khỏang 1/3 lực lượng bán quân sự, với những họat động chính nhằm vào các lọai súng phòng không. Nhưng trong giai đọan này thực chất là tìm cách thay thế sức ngựa bằng động đốt trong. Tuy nhiên, trong khi quân Đức cơ giới hóa từ phía trước thì quân Anh lại làm điều đó từ phía sau. Đối với Liên Xô, sự tiến bộ ấn tượng của Hồng quân đã khiến cho những khái niệm phat triền về chiến tranh thiết giáp bị phá sản. Trong cuộc đại thanh trừng vào cuối những năm 1930, Chủ tịch Liên Xô Iosif Vissarionovich Stalin (1879 - 1953) đã lọai bỏ tất cả những bộ óc tốt nhất trong lực lượng quân đội và các đội hình xe tăng phần lớn bị phá bỏ.

Tinh hoa của Quân đội Ba Lan chính là kỵ binh. Napoléon Bonaparte (1769 – 1821) đã từng đánh giá rất cao đội kỵ binh dùng thương của người Ba Lan. Những người kế vị họ cũng đã chứng tỏ được bản lĩnh trước kỵ binh Hồng quân vào những năm 1920 – 1921. Tuy nhiên, họ không thể sánh với những sư đoàn thiết giáp của Đức.