Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:12:42 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Gia đình má Bảy  (Đọc 44044 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #20 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2012, 04:15:12 pm »

*
*    *

   Hầm đã đào xong.

   Bê chui xuống nằm ngồi thử, gật đầu:

   - Bấy nhiêu đủ độn thổ rồi, sau khoét thêm.

   Bê mở cái gói dài lục cục trong bao lưng, lấy ra một bộ nắp hầm bằng gỗ mới tinh. Trong khi Bê ráp khung, Sỏi nhớ hôm kia đến nhà Hai Ngọ, thấy ông Nhâm đang đục một thanh gỗ mít vàng tươi cũng to ngần này. Sỏi hỏi:

   - Ai làm nắp hầm cho anh?

   Bê tủm tỉm:

   - Hầm bí mật, nắp cũng bí mật chớ.

   Sỏi ngượng, bỏ vào nhà vác ra hai tấm ván mỏng, kê đáy hầm làm chỗ nằm. Sâm bưng ra một thúng nặng:

   - Anh Bê mang về hay gửi lại để em giấu.

   - Cô đưa số giấy tôi đem về trước in truyền đơn. Lớp giấy sau để anh em viết bích chương, cắt khẩu hiệu. Được bao nhiêu cô gói vô nhựa, giấu luôn xuống hầm.

   Sâm mở cái gói to, giũ thóc dính ở tấm nhựa. Hôm nào Sâm cũng gánh thóc xuống thuê xay xát ở chợ Đồng Trầu. Thóc đem đi thì ít, gạo cám gánh về lại nhiều bởi giấy và vải nhét dưới. Mua lụa đỏ và vàng còn dễ, đến màu xanh thì chọn thật khó. Từ khi lớn lên Sâm chưa bao giờ được thấy màu xanh hòa bình, chỉ biết đó là màu của trời mùa thu mênh mông. Sâm cứ thấp thỏm sợ sai màu. Cũng may gặp buổi nắng đẹp, Sâm xem lụa rồi bước ra xem trời, cuối cùng mua trúng màu đẹp nhất.

   - Lụa may cờ lấy chưa anh Bê?

   Bê đang đặt khung vào miệng hầm, ngừng tay:

   - Chết cha! Tôi tính đem về căn cứ nhờ may máy, bây giờ mới nhớ cái máy hư mất. Cô Út may tay được không?

   - Được. À mà em may vụng lắm, má rầy luôn.

   Từ ngày ở chợ Đồng Trầu máy xay và tiệm may mọc lên nhiều, các bà mẹ Đồng Dừa mắng con không ngớt. Ai đời con gái Đồng Dừa mà may vá kém, lại quên cả sàng giần! Sâm mươi ngày một lần gánh thóc xuống chợ thuê xay, ném quần áo rách vào nhà cô Mại, vừa đi vừa nói với lại: “Trưa về tao lấy”. Mại xếp các thứ may dở, lo vá cho cô bạn ngỗ nghịch mà Mại rất phục, phục nhưng không dám theo, hoặc chỉ theo lẽo đẽo cách một quãng xa.

   - Hay để em dỗ con Mại may cờ, được không anh?

   Bê đã biết chuyện nhà Mại. Cha mẹ Mại vốn nghèo, vài năm nay trúng mấy chuyến buôn quế mới khá giả lên, đang muốn được yên thân để làm giàu. Phần Mại thì mềm như bún, sợ từ con gián sợ đi.

   - Cô nói, Mại chịu may không?

   - Chịu chớ. Nó vừa may vừa run vừa rên vầy nè: “Mình sợ lắắắm. Đừng giận mình tội lắm, Sâm ởi Sâm ơi!”.

   Bê phì cười:

   - Sao cô dám chắc vậy?

   - Bồ bịch lâu mà. Nó ưa đọc tiểu thuyết chàng với nàng, đọc rồi khóc sưng mắt, mở miệng là nói chuyện mây chuyện gió. Năm kia nó qua sông bị chìm đò. Em nhảy ào xuống cứu, uống với nó một bụng nước no. Bữa sau nó dắt em ra miếu âm hồn nó thề, hễ quên ơn em thì sét đánh chết. Em biểu nó: “Mày khấn giùm tao khỏi vô thanh niên cộng hòa”, nó cũng khấn y vậy.

   Cả ba cùng bịt mồm cười. Sâm sợ mình cười to, vội nhét góc khăn trùm đầu vào đầy miệng.

   Một bóng đen đi lom khom đến gần. Sâm ngửi mùi trầu hỏi luôn:

   - Má không ngủ à?

   - Tụi bay còn thức, tao ngủ sao được. Nghỉ uống nước đã. Chao, lạnh dữ ác!

   - Má vô nhà đi, sắp xong rồi.

   Má đặt cái mủng xuống. Một rổ sắn luộc nổi màu trắng nhờ nhờ, tỏa thơm ấm. Má gõ ngón tay vào cái ấm nhôm:

   - Nước đây, rửa sơ cái tay rồi ăn.

   Má bẻ tấm đường phổi Quảng Ngãi đưa cho từng người, nói với Bê:

   - Tao sắm đủ đồ nghề cho mày về nhà mới đây Bê.

   - Thứ gì má?

   Má lấy trong mủng ra từng món, dúi vào tay Bê:

   - Chai đựng nước uống nè. Chai gạo rang phòng khi đưa cơm không kịp nè. Gói đèn sáp mày thắp. Cái bình này làm gì, mày biết rồi.
   Vật cuối cùng là một cái bình nhựa mềm to, miệng rộng có nắp vặn. Má đựng đậu xanh nấu xôi cúng, bây giờ đem cho Bê làm đồ dùng đi giải và đi ngoài. Bê nghĩ: “Mình chặt cái ống tre được rồi”. Nhưng Bê vẫn đón cái bình trên tay má, không nói gì, vì biết nói sẽ nghẹn lời.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #21 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2012, 04:16:54 pm »

10

   Những tin “cộng về, cộng nổi, cộng đánh” truyền theo đường xe lửa và đường ô tô đổ về Kỳ Bường, chỉ thì thầm miệng ghé sát tai mà mạnh như sóng ngầm.

   Ở chợ Đồng Trầu:

   - Cá chuồn muối bây giờ cao giá chị ơi... Nè, nghe nói Cách mạng nổi trên Kỳ Sơn hả chị?

   - Giải phóng rồi, biệt kích lên xóc chông lu bù... Mỗi chục bà bớt cho hai đồng hử?

   - Đâu được. Chị gặp Sáu Dõng không?

   - Gặp. Mập mạnh lắm, qua nhà tôi luôn.

   - Vậy chị lấy hết hai chục cá đi, không tiền nong chi. Về đưa ảnh một chục, nói tôi gửi... Thôi nể chị quá, bán lỗ cho xong trớt, chợ với búa!

   Trên sân ga Đồng Mè:

   - Ủa, thằng Hai. Đi quân dịch sao được về đó?

   - Chú giỡn chi vậy, cháu đi bao giờ... Cháu nói nhỏ đây. Đại đội cháu hành quân trên núi Trà Bồng, chết, bị thương gần hết, cháu trốn luôn.

   - Khoan về nhà đã, tụi nó gác dọc đường nhiều. Để tao dẫn tới nhà quen cho ở tạm, tối nay má mày tới đón. Má mày biết mày về nhất định xẻ con heo lứa ăn mừng.

   Trong bữa cơm gia đình:

   - Con gà mái để lại, đừng bán.

   - Tiền đâu mua gạo?

   - Hết gạo ta ăn khoai. Giã sẵn vài lon nếp giống nữa. Bộ đội đằng mình sắp về rồi.

   - Vậy mà còn úp úp mở mở?

   Cơn lốc đồng khởi bốc lên từ Bến Tre đã ra đến miền Trung, đang từ núi rừng Tây Nguyên đổ xuống biển Đông, đi tới đâu cuốn đất lên trời tới đấy.

   Lòng người dân Kỳ Bường cồn lên, cồn lên. Câu to tiếp câu nhỏ, cái đầu gật gù, chân tay rậm rật. Ngọn đèn thắp hạt đậu đợi chờ được vặn to trong mắt. Những đôi mắt ấy nháy nhau hí hửng, rồi xoi xói nhìn theo bọn ác ôn, tìm sẵn chỗ trên thân chúng để xóc một mũi dao bén ngọt, hay ít ra cũng quật một khúc củi tạ. Nghĩ bấy nhiêu cũng đủ sướng rân cả người.

   Đến khi nghe nói trong Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam có nhiều ông bà chưa hề nghe tên, lại treo cờ xanh đỏ sao vàng, không ít người thấy ngờ ngợ. Coi chừng kẻo lầm với Quốc dân đảng, Đại Việt, cái bọn tranh ăn với Diệm, tự xưng là cách mạng nhưng giết dân không kịp đếm. Trong cái xã hội tạp nham lừa lọc này, hễ một thứ hàng tốt ra đời là có ngay năm bảy thứ hàng giả bắt chước rất giống. Thế là đồng bào ùn ùn đi tìm Cách mạng, coi thử, nghe thử, nếu nhận ra đúng cán bộ “đằng mình” thì cố mà rước về. Khi biết rành mạch trong Mặt trận tỉnh nhà có ông Chín Chuyền - tỉnh ủy viên Đảng Lao động Việt Nam ngày trước - ở cấp huyện lại có anh Sáu Dõng cùng xã, bà con Kỳ Bường mới tin hẳn là “Cách mạng thứ thiệt, Cách mạng chánh hiệu”.

   Bọn tề sợ mất máu. Lão đại diện hội đồng đập bệnh bỏ việc ít lâu sau bị công an tỉnh tống giam. Lão Hạnh phó đại diện thấy vậy không dám từ chức. Mỗi buổi trưa lão đến trụ sở ngồi lơ láo vài tiếng, rồi trốn về quận ngủ nhờ.

   Ba Phổ cảnh sát trưởng nhảy lên kiêm luôn chức đại diện. Hắn leo lên ngôi độc tôn trong xã và quyết giữ ngôi bằng được. Hắn giàu nhất xã, không thể bỏ ruộng đất mà chạy tháo thân. Hắn húc như trâu điên. Hắn bắt toàn xã “đình công học tố cộng” nửa tháng, bắt quì “sám hối” trắng đêm hết bốn cây nến chứ không cho “đứng một đèn” như trước. Hắn tự tay đánh chết và mổ bụng hai người dám cãi trước lớp. Hắn buộc từ trẻ em mười bốn tuổi tới ông bà già sáu mươi tuổi đeo mõ đi gác. Cảnh sát phó Huỳnh mở miệng can, hắn rút súng đòi bắn ngay giữa trụ sở.

   Trong buổi lễ “Toàn dân trích huyết ăn thề trung thành với Ngô tổng thống”, Ba Phổ gầm dữ dội. Vì cố gầm nhiều quá nên giọng hắn khản đặc:

   - Đồng bào ngó lại cái mặt hai mươi năm diệt cộng đây (trước hắn chỉ nói mười lăm năm). Hễ Việt cộng về ám sát cán bộ quốc gia thì sao? Thì hết thảy các gia đình nhảy núi, tập kết, đảng viên cũ, tôi cho ba tấc đất lấp mặt là yên, còn lại bao nhiêu phải di dân hết. Thằng này có chết cũng nửa xã chết theo. Dưa gang đỏ đít thì cà đỏ trôn. Đừng tưởng dễ ăn mà mừng. Ai theo Việt cộng tôi cứ để cho tự do, chỉ xin một miếng gan làm kỷ niệm!

   Hắn rút dao găm cắm phập xuống bàn, để con dao rung rung lại đấy, bước xuống. Trong cái bộ hùng hổ ấy hiện rõ sự khủng khiếp. Vẻ “máu lạnh Ănglê”, của hắn không còn nữa. Hắn bắt đầu nghi kỵ, đay nghiến, chửi đánh bọn đàn em. Mới ba tháng trước, chính hắn còn nói “Việt cộng ăn lá cây ỉa cứt bò, bảy đứa đeo một cộng đu đủ không gãy, đẽo cọng dừa làm súng”. Bây giờ nghe ai nhắc vậy là hắn bạt tai, ghép tội “nói mỉa quốc gia”.

   Hắn hung đến nỗi bọn tề xã thôn và lũ theo đóm ăn tàn cũng lánh xa hắn. Chúng đi phân trần với những người có con em theo Cách mạng:

   - Phần ổng làm ổng chịu, bọn tôi có gì không phải nhờ bà con xí xóa cho. Chẳng qua dùi đánh đục, đục phải đánh săng...

   Vài tên “Cần lao nhân vị” nhiều nợ máu với đồng bào bám riết Phổ, xui hắn đánh giết gắt hơn nữa. Chúng họp thành một nhóm, thề “không đầu hàng cộng sản”. Chúng đào nhiều hầm bí mật, một đêm đổi chỗ ngủ ba bốn lần, rải một mạng lưới cộng tác viên chuyên đưa tin hỏa tốc cho chúng tránh Quân giải phóng. Một số dân vệ thân tín nhất mang cả trung liên và bộ đàm đi ngủ lang với chúng, được chúng cho ăn nhậu thả cửa. Trong số đó đồng bào ngạc nhiên thấy có Tư Sỏi. Sỏi mới tập đánh bạc uống rượu mà đã mê tít, có đồng nào ném vào quán thịt chó với sòng bài hết. Thằng Phổ nói với tay chân:

   - Cả trung đội dân vệ có một mình nó lì lợm nhứt. Thằng đó nói như cóc cắn, đánh thì thấu trời. Anh nó theo Việt Minh chết từ bảy mươi đời rồi, cả nhà nó không ai dính với cộng sản... Nó bướng hả? Nó không phải cộng sản mới dám bướng. Chó sủa không mấy khi cắn. Mà trò đời, hễ sa vô cái vụ đớp hít với xìlát cáctê, đố thằng nào nhả ra được mà theo cộng sản.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #22 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2012, 04:19:25 pm »

*
*    *

   Tùng tùng, tùng! Tùng tùng, tùng!

   Tiếng trống cái từ trên Kỳ Lâm cuộn về, hằn rõ trên tiếng mõ lao xao khắp nơi, như ếch ộp kêu chen với nhái sau mưa. Xa hơn nữa, phía Kỳ An, Kỳ Chính cũng râm ran trống mõ. Địch đặt ra cái lệ báo động liên hoàn này ban đầu là để đốc dân ra vây bắt cán bộ ta, gần đây biến thành hiệu báo cho bọn tề kịp chạy trốn Quân giải phóng. Nhưng đêm nay đồng bào Kỳ Bường hiểu ngay: các xã mé trên sông Nhỡn kéo cờ khởi nghĩa!

   Cũng tiếng trống mõ đau lòng của mẹ đuổi bắt con năm xưa, sao bây giờ giục giã rộn ràng đến thế!

   Bọn dân vệ gác cầu sông Nhỡn thổi còi rút chạy. Nửa giờ sau súng nổ loạn ở chợ Đồng Trầu. Mấy viên đạn lửa đỏ lừ bay chậm, ngoáy đuôi loằng ngoằng đến tận ngọn tre trước cổng nhà má Bảy. Má đang đun nồi nước vội chạy ra sân xem. Chưa có lệnh khởi ở Kỳ Bường, ai đã đánh vào chợ Đồng Trầu?

   Tư Sỏi luồn cửa sau vào bếp. Áo quần Sỏi mặt trước đẫm bùn, mặt sau khô. Sỏi hổn hển.

   - Anh Bê tới... má nói... tôi tìm ra hầm bem thằng Phổ rồi. Chiều mai cho con Út xuống quán bà Lành lấy tin. Tôi không về được.

   - Súng nào bắn dữ vậy con?

   - Biệt kích bắn lầm dân vệ. Bên nào cũng hoảng tam tinh, quên ráo mật khẩu. Thằng Quỳ chết rồi. Tổ cha nó, ham ba đồng lương miết. Đang lộn xộn tôi chạy về một chút, phải xuống gấp. Má còn tiền không?

   Má móc túi, còn bốn chục đồng đưa hết cho con:

   - Tiêu gì vậy?

   - Đánh bạc. Tốn gần ba trăm rồi, cay quá.

   Sỏi đâm đầu ra vườn, biến mất. Má lại ngồi đun nước. Con cái vắng cả, má làm sao nhắm mắt được. Út Sâm chống xuồng qua sông lúc sẩm tối, lên Kỳ Lâm gặp đội anh Dõng, chắc ham vui ở lại luôn trên ấy.

   Nghĩ đến hai con, má cứ nửa mừng nửa lo. Chúng nó trên nuôi hai mươi tuổi đã biết gánh việc dân việc nước, không đến nỗi xấu hổ với lớp đàn anh. Thế nhưng má cứ nhớ những sự khờ dại của con từ khi ẵm ngửa đến giờ mà ngại. Tư Sỏi còn khá, đến như Út Sâm dỗ ba câu là nghe,  thốt ba tiếng là hớ, làm sao cho khỏi hỏng việc lớn? Chuyện binh đao mà Sâm cứ giỡn cười như không...

   Má nhớ đến thằng Quỳ. Cũng tội nghiệp. Nó chết dễ dàng, gọn lỏn, như cái chén rớt xuống đất, người ta thuận chân đá luôn mảnh vỡ vào đống rác. Nó có họ với má. Nhà nghèo trời dòm qua mái, nó đánh bạc thua hết lúa bồ lúa non, tham lương nhảy vào dân vệ đã bốn năm nay. Nó không độc hại gì, chỉ ranh vặt, hay xin xỏ bòn mót của những người dễ tính như má. Nó chết, người ta không rủa nó ác nhưng cũng nhiếc nó dại... Ừ, hai con má dù khờ dại đến đâu cũng còn khôn gấp trăm lần những đứa như thằng Quỳ. Có lẽ má sống mãi với con nên không thấy con lớn khôn. Mà chưa khôn đã có Cách mạng dạy. Ai dạy mau khôn cho bằng Cách mạng?

   Gà gáy nửa đêm eo óc. Rồi bìm bịp gọi trở canh. Má đang bỏ trấu rấm bếp, út Sâm rón rén vào lúc nào không biết, “hừ” một tiếng bên tai má. Má giật mình:

   - Ớ ông trùm ông xã... Đứa nào vậy?

   Má không nhận ra con ngay. Sâm cầm súng gỗ, mặc bộ đồng phục “thanh niên cộng hòa” màu xanh biển của anh, đội một cái mũ trẻ con bằng vải chỏm tròn, vành mềm sụp xuống che mắt. Quanh lưng Sâm thắt một nịt đạn to rách tướp, đeo lủng lẳng một cái chuông xe đạp và hai hộp sắt gỉ, khi Sâm cựa mình chúng kêu lục cục rổn rảng. Mặt và cổ bôi lọ nồi đen nham nhở, khiến hàm răng cười nổi trắng lóe.

   Sâm cười, nói khao khao:

   - Oai không má? Giống ông Giải phóng chưa? À mà má thấy Giải phóng bao giờ đâu?

   - Làm trò gì vậy Út?

   - Trò giành chánh quyền. Vui ghê lắm. Con đi bắt ác ôn Kỳ Lâm, tụi nó lạy con như rái giỗ cha. Con kêu loa muốn đứt gân cổ. Tối mai đến lượt xã mình. Còn cơm nguội không má?

   Sâm ăn ngốn ngấu mấy tảng cơm cháy, đi rửa mặt qua loa, thay áo quần xong lăn ra ngủ. Má phải soi đèn, lấy khăn ướt lau mặt và cổ con cho thật sạch lọ.

   Chợt nhớ ra, má lên nhà trên xem thử. Quả nhiên Sâm vứt bừa cái nịt đạn giả, cái mũ vải và cây súng gỗ trong góc nhà. Má chép miệng, đem tất cả ra hầm bí mật giấu. Sâm làm cách mạng nhẹ nhõm như đi chơi. Nhẹ quá nên dễ tròng trành, dễ vấp ngã.

   Cũng như hầu hết bà con, má tưởng đồng khởi là việc rất đơn giản: trống đánh, loa kêu, đồng bào biểu tình giành chính quyền, kéo cờ tuyên bố độc lập như năm Dậu. Nhưng cái ngày đồng khởi hôm nay lại nhốn nháo, lắt léo, dài chưa từng thấy.

   Sâm thức dậy, đâm bổ qua nhà chị Năm. Còn lại một mình má ngơ ngẩn, vá chưa xong cái áo lại vất đấy đi nhen lửa nấu cám heo, giống hệt Sâm khi lên cơn đãng trí và bị má mắng: “Lãng lãng như con gái sảng chồng”. Chốc chốc má lại ra xem bóng nắng. Bóng cau xõa trên mặt sân cứ ì ra, hồi lâu chỉ ngắn lại được một gang tay, hình như nó ngại cái giờ quyết liệt đến mau quá.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #23 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2012, 04:22:28 pm »

   Trên đường tỉnh, đồng bào Kỳ Lâm lũ lượt kéo xuống quận báo cáo cái vụ tối qua: Quân giải phóng về làm chủ toàn xã, nắm đầu hết những người làm việc quốc gia, cử ủy ban Mặt trận xong xuôi cả. Quân giải phóng đông lắm, súng ống to nhỏ đủ cỡ, chỉ ở ngoài đồi hoang chứ không ở làng, gặp ai cũng giở bản đồ ra hỏi đường xuống quận xuống tỉnh.

   Một chị quen má Bảy ghé vào uống nước, nói ỡm ờ:

   - Lính giải phóng có một con nhỏ dễ thương lắm, nhà nó ở Đồng Dừa...

   Má chột dạ. Chị kia nheo mắt:

   - Ông Dõng đẩy nó vô nhà tôi, nhờ tôi trét lọ nồi cho nó... Tôi đi đây bác. Hù bọn quận một mẻ chơi cho sướng miệng, mà cũng chặn luôn cái chuyện ném bom bắn pháo vô làng.

   Má cười, nhẹ người. Thì ra cũng đằng mình cả.

   Rồi cô Mại đến tìm Sâm. Tuy đang hoảng nhưng Mại vẫn diện đồng hồ mạ vàng to bằng cúc áo, hoa tai nở lập lòe, áo nilông hồng nhạt viền đăng ten ở tất cả những chỗ có thể viền được.

   Mại cất giọng nhõng nhẽo của đào cải lương:

   - Ối, cháu khủng khiếp quá bác ơi!

   - Việc gì mà khiếp?

   - Cháu đa cảm lắm bác ạ. Cháu sợ mọi sự lưu huyết trên đời. Ôi, cuộc đời ngang trái!

   Mại thở dài một cái rõ dài, moi trong cái làn nhựa đỏ ra một gói giấy to:

   - Cháu may cờ cho Sâm đây. Giấu đi bác. Cháu không chối từ một hy sinh nào vì Sâm. Thưa bác cháu về ạ.

   Mại vuốt lại rèm tóc buông trên trán theo kiểu tóc “bà Nhu” trong ảnh, nghiêng đầu chào má. Má cố nín cười. Má vẫn không hiểu vì sao con nhỏ đỏng đảnh này lại mến Út Sâm được.

   Tiếp tới chị Đa đem con sang gửi má. Đầu tóc của chị quanh năm rối bù, hôm nay thêm mấy chùm trái ké mắc vào. Tối qua nghe súng nổ chị khiếp quá, ban đầu chui xuống phản, sau sợ đạn lửa cháy nhà lại ôm con chui vào hàng rào ngồi run. Chị tất tưởi quảy gánh trầu xuống chợ bán. Sợ thì vẫn sợ, nhưng bụng đói đầu gối phải bò, để héo cả gánh trầu buôn thì hốt đất mà ăn à.

   Chị Đa đi chừng một tiếng đồng hồ lại thấy hộc tốc người không chạy về, mặt cắt không ra giọt máu:

   - Trốn... trốn bác ơi! Chết sạch trơn!

   - Gì đó chị?

   - Việt cộng về... soạn gánh đi bác!

   - Đâu, Việt cộng đâu?

   - Về trên Kỳ Lâm. Nghe nói họ làm tội người nhà lính quốc gia trên đó. Dọn đồ đi bác. Tôi có bà thím dưới Kỳ Hải, xuống đó ở tạm. Kìa, mau lên bác!

   Chị Đa được cái miệng ít lời nhưng phải đôi tai quá mỏng. Chị hay nghe, hễ nghe là tin răm rắp, bởi chị nghĩ ai cũng khôn hơn mình. Trộm cắp, trai gái, giặc giã, cờ bạc, chuyện gì chị cũng ham nghe. Chị rất mê hóng “chuyện Việt cộng”, vừa hóng vừa rùng mình như nghe chuyện ma hiện hồn. Mới đi một quãng đường mà chị đã hứng vào tai khối tin đồn trái ngược. Cách mạng chiếm quận rồi, trương cờ búa liềm, mặc áo quần đen hết. Sư đoàn số mấy đó của chính phủ đang đánh lên Kỳ Sơn. Một đại đội bảo an của tỉnh theo Giải phóng, một “ông núi” đeo hai súng lục đứng ra phất cờ, hô một tiếng dạ rắp thiệt đều. Và cuối cùng, độp một cái: “Việt cộng sẽ trừng trị những người có chồng con đi lính cụ Ngô”. Lạy Trời, lạy Chúa, lạy Phật!

   Người vợ lính ngụy quanh năm tất bật hớt hải ấy sợ tái xanh tái xám, chỉ còn đủ trí khôn để gửi gánh trầu nhờ nhà quen ở chợ bán hộ, rồi ríu chân chạy về với con. Trong óc chị rối tinh những phe những cánh đang kéo quân về Kỳ Bường, sắp đánh nhau loạn đả xà ngầu như tuồng Chiến quốc, dân sẽ nát như tương. Cách mạng với giải phóng chắc là phía tốt. Việt cộng với cộng sản trị vợ lính kiểu ấy thì ác quá. Chưa biết bên nào hơn, hẵng cứ lánh nạn cái đã.

   Má Bảy xẵng giọng:

   - Ai nói bậy bạ vậy?

   - Ông Ba Phổ. Ổng biểu tản cư về quận, ổng phát gạo cho ăn.

   - Tôi không chạy. Anh Sáu Dõng về đây không chặt đầu tôi đâu mà lo.

   - Việt cộng chớ đâu phải ông Dõng!

   Trong lúc cuống cuồng, chị quên rằng chính chị thường trầm trồ với má Bảy về ông Dõng “Việt cộng nằm vùng”.

   - Ngán chị lắm. Vô ra cũng cha bầy trẻ, lại còn chia ra cha thằng Túc với cha con Thừa!

   Má nói lấp lửng vừa đủ cho chị đỡ sợ, và nghĩ thầm kiêu hãnh: “Cách mạng nằm ngay trong nhà tôi đây chớ ở đâu mà về?”. Chị Đa nghe lời má ở lại, không phải vì đã hiểu mà vì có người cứng bóng vía hơn để chị dựa hơi. Con má Bảy vô dân vệ, thấy má không sợ chị cũng đỡ lo.

   - Lỡ bên cụ Ngô cho tàu bay ném bom hay bắn đại bác, ta làm sao bác?

   - Đào hầm mà núp. Hồi đánh Tây chín năm, bom đạn vãi như trấu, nhà tôi có sứt mẻ gì đâu. Mà hễ họ giết dân thì mình phải kêu kiện gắt chớ.

   - Thôi trăm sự tôi nhờ bác. Bác còn tôi còn.

   Chị ở luôn trong nhà má Bảy, dỗ con ngủ rồi thái chuối, giúp má.

   Bóng cau lùi ra khỏi sân, nhường bóng dừa từ sau nhà nhích tới. Một chiếc “tàu rà” xõa đôi cánh vuông quần bốn năm vòng trên Kỳ Bường, bay lên Kỳ Lâm. Tiếp tới hai chiếc trực thăng hình chuồn chuồn bay dọc sông Nhỡn, sà thấp xuống Đồng Dừa, bánh xe gần chạm ngọn tre. Tiếng phành phạch nhức óc làm trâu ngoài đồng bứt mũi nhảy lồng, chó sủa đứt hơi. Chúng đỗ xuống bãi đá bóng gần chợ Đồng Trầu.

   Má Bảy bắt đầu lo. Giữa bấy nhiêu chuyện rối bời, Út Sâm có nhớ xuống quán bà Lành lấy tình hình không? Má dặn nó hai lần, nhưng nó nói trước quên sau, biết đâu. Má gửi nhà cho chị Đa, xách cái vỏ chai bảo xuống chợ mua dầu lửa. Má cứ muốn luôn luôn có mặt bên con để nhắc nó nhớ. Con chim mới ra ràng, để nó bay một mình má không yên bụng.

   Ra đến đường ô tô, má dừng lại. Đại đội biệt kích của quận từ Đồng Trầu kéo lên phía cầu sông Nhỡn, kẹp súng dò dẫm đi dưới vệ cỏ, tránh mặt đường đắp cao. Mấy tên dân vệ dẫn đầu, trong đó có Tư Sỏi. Đến gần má, Sỏi nháy mắt nói to:

   - Má về xếp gánh chạy giặc mau lên! Triệt để tản cư, vườn không nhà trống, mai mốt dẹp cộng sản xong rồi về.

   - Con Út đâu?

   - Má đánh nó một trận cho tôi. Sáng giờ cứ quanh quẩn chỗ quán chợ, chơi rông hoài.

   Gần cuối hàng quân, má thấy thằng Phổ, mấy đứa lạ mặt có lẽ ở quận về, rồi hai thằng Mỹ. Bọn Mỹ mặc đồ đen, đội mũ bê rê giống hệt biệt kích. Chúng chống gậy cong đầu đi lom khom cho đỡ cao, trông như đang đóng vai ông già trên sân khấu. Một tên ngước đôi mắt thau nhìn má, xì xồ cái gì. Má thấy đầu gối mềm ra, nghĩ “Nó nghi, nó bắt...”, nhưng vẫn gân mặt nhìn trả. Tên Mỹ kia đáp lại xì xồ, đưa gậy chỉ về phía gò Chà Là. Chúng đi thẳng. Má ngó theo, còn thấy hai cái cổ đỏ như cổ gà chọi cố thụt sâu vào vai.

   Má trở về nhà, thấp thỏm nghĩ đến cuộc nổi dậy tối nay. Bọn Mỹ đem quân lên, định dựa vào sông để chống ta. Má biết rõ không có “sư đoàn 305” nào kéo về cả. Nhân bọn ngụy dựng đứng lên chuyện ấy, đồng bào thổi phồng thêm để dọa lại chúng thôi. Còn Quân giải phóng thì hầu hết cũng giống Út Sâm, chỉ có súng gỗ và chuông xe đạp đeo lưng. Phải hoãn đồng khởi mất. Má bỗng tiếc xót xa, tiếc quặn cả người. Trông mãi mới tới cái ngày mở mặt...

   Sỏi chạy vọt qua ngõ. Má ra đón ngoài sân để chị Đa khỏi nghe lỏm.

   - Má giả soạn gánh mà đừng đi. Ai hỏi, nói đau bụng, đợi tôi về gánh. Báo cho anh Bê: biệt kích đưa Mỹ đi coi địa thế rồi rút về giữ quận, không ngủ trong xã. Tụi nó để ba lô ở quận, không đem cơm chiều.

   Má thở phào.

   - Thằng Phổ ngủ lại Đồng Mè, hễ động là chạy qua đường sắt xuống Kỳ Hải. Nó đi đâu tôi theo đó. Cóc cắn trời gầm không nhả. Tôi biểu con Út ở lại dưới chợ, đợi lấy tin chót.

   Đôi mắt Sỏi long lên, rồi cặp mí sưng dày lại cụp xuống, che kín ánh thép nhọn. Sỏi ra khỏi ngõ, gọi với vào:

   - Má nhớ nhét gói áo quần tôi vô trong gánh, nghe má!

   Đại đội biệt kích dàn ra ven sông. Bọn Mỹ và tề không dám lên cầu, chỉ đi dọc bờ, bàn tán. Trong đám mía bên kia sông bỗng bật lên bốn năm tiếng súng liền liền. Một tên lính từ trên bực đất cao lộn đầu nhào xuống bãi như đuổi theo cây súng rơi trước nó. Hai tên nữa lăn gô ra đất. Súng chỉ bắn hai loạt, tiếng còi toe toe như kèn lính tiếp liền theo, rồi tiếng loa nổi: “Hỡi anh em binh sĩ...”.

   Bọn biệt kích kêu thét, chạy nhốn nháo tìm chỗ nấp:

   - Chủ lực Việt cộng!

   - Chết cha bay ơi rút, rút...

   - Bắn! Kìa, ống ầm (15) nổ đi!

   Thằng Phổ gào lạc giọng:

   - Vì Chúa vì dân, tiến lên! Xung phong! Đèo mẹ, có tiến không?

   Không một tên nào dám nhô ra đến bờ sông. Chúng bắn một hồi như trút đạn cho nhẹ, rồi rút chạy. Mấy tên nhào vào nhà má Bảy, đứa rút dao chặt tre, đứa tháo nghiến cái võng đay. Bị má níu tay, chúng thở hồng hộc:

   - Bà cho mượn... bồi thường sau... ông Mỹ bị rồi, ông cố vấn...

   Má nhớ lại, không đòi võng nữa. Cái võng của má bở lắm. Nó sẽ ném thằng Mỹ xuống đất.

   Bọn lính khiêng lủng lẳng qua nhà má một thằng Mỹ rống ò ò trong họng. Thằng Mỹ kia đi sau, hết khóc sụt sịt lại giơ gậy dọa đánh lính. Máu chảy xuống, vẩy một tràng chấm sẫm lượn sóng trên đất khô. Trẻ em trong xóm ùa theo xem Mỹ rên Mỹ khóc. Một lát sau, thằng Túc chạy về lí láu kể với má: võng bị đứt, thằng Mỹ rơi xuống đường ôtô như mít rụng, rú một tiếng khủng khiếp. Thằng bạn nó quất gậy túi bụi vào bọn biệt kích. Cuối cùng, chúng đem nhau đến chợ Đồng Trầu và lên trực thăng.

   Trận đánh Mỹ - ngụy đầu tiên trên đất Kỳ Bường diễn ra như vậy.

--------------------------------------------------------
15. Súng cối.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #24 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2012, 04:23:58 pm »

*
*    *

   Cái ngày dằng dặc đầy những mừng lo nối tiếp ấy rồi cũng qua hết.

   Đến giờ lên đèn Sâm mới về, nhăn nhó kêu đau bụng kinh. Má bắt Sâm lên giường nằm, pha một mo đài nước nóng đặt trên bụng con cho đỡ đau. Nhưng vừa nghe ba tiếng cú rúc sau vườn Sâm đã chồm dậy, hất mo nước đổ lênh láng cả chiếu. Sâm dặn má trước khi đâm bổ ra vườn:

   - Ai tới nói “tôi đi cà lơ phất phơ”, má chỉ ra thẳng vạt dừa nghe má. Người nào nói khác thì biểu họ về ngay, nói xã có lệnh giới nghiêm, cấm tụ họp.

   Trời tối hẳn. Những người “cà lơ phất phơ” lục tục kéo đến.

   Ông Nhâm mặt hồng hơi men, tay cầm cây mác mới mài, tay vê chòm râu đen: “Tôi mới học tố cộng trên quận về, bị cùm xà lim ngứa cẳng quá, cũng bắt chước họ đi cà lơ phất phơ một chút”. Chị Năm khoác vai một tay nải to, cười hết hai hàm răng đen lánh, dắt theo bốn cậu “thanh niên diệt cộng” ở Đồng Trầu vác gậy và đeo lựu đạn. Tới một nhóm “thanh niên cộng hòa” ba trai hai gái, xách cây thuốn sắt được xã phát để xăm hầm, đi với cô Hai Ngọ con ông Nhâm. Rồi anh Trưng thôn đội phó cũ, thằng Chuân con ông Rạng, ơ kìa con Trấu ôm cái loa to tướng nữa. Người mình hết. Làm cách mạng hết.

   Má sướng muốn múa lên. Mấy lần má hỏi Bê và chị Năm về số người đằng ta, họ cứ cười cười lấp lửng: “Cách mạng miền Nam ai làm nấy biết!”. Kín miệng ghê. Bây giờ tim má đập như trống báo động. Má chỉ đường cho gần ba chục người. Qua câu chuyện của họ, má biết ở các thôn còn nhiều nhóm đang đợi. Họ không kéo lên, sợ đông quá sẽ lộ, bọn ác ôn trốn mất.

   Khi ngớt người đến, má Bảy mang vò nước chè và rổ chén ra vườn, rót đưa cho bà con uống. Dõng đang nói trong bóng cây:

   - Cho Đồng Mè đi trước. Tránh chó sủa. Nhớ kỹ ám tín hiệu chưa?... Ờ, tốt. Đừng để sẩy con thịt bự. Đi đi Bê, liên lạc ngay với T.61. Hốt cho gọn nghe.

   T.61 là tên mật của Sỏi. Út Sâm là T.73.

   Khu vườn dừa tối nhấp nhô những bóng đi lại, thì thào. Chất nổ cứ dồn ứ ở nơi thiếu ánh sáng và tiếng động này. Quả mìn đen và im lặng chứa đầy sấm lửa bên trong.

   Một đoàn người tuôn ra phía bờ sông. Má Bảy nhận ra Bê nhờ cây tiểu liên báng rút vác vai. Má túm áo Bê:

   - Mãn cuộc rồi, kêu anh em về ăn cháo gà nghe con!

   - Dạ.

   Trên cổ Bê đeo lủng lẳng một vật gì sáng loáng như con dao găm. Má sờ thử, nhận ra cái còi hình loa mạ kền của xe Lam. Thì ra tiếng kèn của Quân giải phóng hồi chiều là do Bê thổi.

   Lại nhóm nữa ra đi, vác rất nhiều ống loa bằng tôn, giấy, mo cau. Dõng đi với nhóm này. Má vội kéo tay anh:

   - Con Út đâu anh?

   - Má đó à? T.73 vừa đi với Bê xuống Đồng Mè. Nó khá lắm.

   - Còn tôi, tôi làm gì, đi đâu?

   Dõng cười:

   - Má làm trưởng trạm liên lạc của ủy ban khởi nghĩa. To lắm. Chị Năm ở lại đây với má.

   Vườn dừa đã vợi người. Chỉ còn một nhóm của Đồng Dừa với chị Năm Tân. Khi bộ phận của Bê bắt xong ác ôn, nổ súng làm hiệu, họ sẽ vét nốt bọn tề điệp tôm tép trong làng và phát loa gọi đồng bào đi mít tinh. Má Bảy vào nhà đợi những người đến sau, nhân tiện đun nước hết nồi này đến nồi khác đổ vào vò. Má đang sống lại những phút bồn chồn mà say người của đêm xưa bộ đội kéo đi đánh đồn Pháp, má thức đun nước nấu khoai và đợi nghe tiếng bộc phá đầu tiên mở rào thép gai.

   Chừng một giờ sau, súng trường nổ ba lần đĩnh đạc phía Đồng Mè. Mấy chục cái loa cùng một lần nổi lên râm ran.

   Lệnh khởi nghĩa đã phát!
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #25 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2012, 04:26:25 pm »

11

   Hai ngàn người là ít.

   Bãi đá bóng bên chợ Đồng Trầu đã gần chật, các thôn vẫn còn từng tốp kéo tới, cầm những cây đèn gió cháy to như đuốc.

   Trong lúc này, ai chú ý xem kiểu đi và nghe lối nói của từng người, có thể nhận ra họ thuộc hạng nào. Các gia đình “tình nghi can cứu” đi vội vàng cho mau đến nơi, kín đáo len vào tìm một chỗ hơi xa ánh đèn nhưng trông thấy bàn chủ tọa rõ nhất, ngây người ra ngắm lá cờ Mặt trận óng ánh màu lụa mới dưới đèn măng sông, đọc nhẩm những câu khẩu hiệu chữ đỏ trên vải trắng, nhưng lại ngậm miệng không nói gì hoặc chỉ xuýt xoa kêu lạnh để người bên cạnh nghe. Ngược lại, gia đình bọn tề điệp đã bị bắt hoặc trốn từ trước lại luôn mồm chào hỏi các anh cán bộ và bộ đội giải phóng, ca tụng Cách mạng nghe êm tai như đàn bầu, nhưng đứng thậm thụt mé ngoài để khi có động thì chạy thoát thân, hoặc khi chồng con bị đem ra xét xử thì lăn vào níu khóc cho nhanh.

   Sâm, Ngọ, Trấu mặc giả Quân giải phóng, vẽ râu đàng hoàng, cầm súng gỗ đứng nép vào bóng cây bên cổng chợ, giữ trật tự. Mụ vợ tên thôn trưởng Đồng Mè sán lại, van xin “quí ông giải phóng” tha cho chồng mụ vừa bị bắt. Mụ nói dẻo như kẹo mạch nha, Sâm nín cười không lên tiếng. Tưởng ba ông chịu chuyện, mụ rút ra ba tờ giấy bạc trăm, khúm núm đưa “mời ba ông nhậu sơ sơ”. Sâm cáu quá, phải cố rặn giọng è è, gắt thật ngắn:

   - Hừ, đi! Vô!

   Sâm ngoáy mũi súng gỗ, đập tay vào cái chuông xe đạp đeo lưng. Mụ hớt hải cầm tiền đi biến. Chắc mụ ngạc nhiên khi nghe ông Giải phóng râu quai nón kia nói giọng eo éo như con gái.

   Má Bảy ngồi bên chị Đa trong chỗ đông. Chị ẵm con Thừa trên tay, ru khẽ, mắt dòm quanh sợ sệt.

   Khi trong thôn dậy tiếng loa khởi nghĩa, má Bảy sang rủ chị Đa và mấy gia đình thuộc loại lừng khừng nữa đi mít tinh. Chị Đa đang cuống quít, nửa sợ không tuân lệnh Cách mạng sẽ bị trị, nửa lo nếu đi “hội họp với Việt cộng” sẽ bị hội đồng xã trở lại đánh nhừ xương. Thấy má đến, chị mừng quá đỗi. Tất nhiên chị đi vì có má đi.

   Chị hỏi dồn dập:

   - Cách mạng về ở luôn không bác?

   - Các ông Giải phóng có làm tội mẹ con tôi không bác?

   - Sáng mai quốc gia về, ta khai sao đây bác?

   Má Bảy giảng giải nhiều, nhưng cái điều làm chị yên bụng nhất là má cũng chỗ đồng tình đồng cảnh mà coi bộ dạn lắm. Một số người nhút nhát thấy chị Đa đem con đi, cũng dắt díu nhau đi hết. Họ còn móc xích thêm chòm xóm đi thật đông để giữ cái thế cá đối bằng đầu trước mắt địch.

   Má Bảy liếc nhìn những bộ mặt đăm chiêu chung quanh mình. Mấy người quen gật đầu chào má. Chỗ bạn tù với nhau cả. Họ hỏi đôi câu lấy lệ: Cấy xong chưa thím? Khoai củ êm rồi chớ? Chà, đêm hôm rét mướt quá hè... Họ tránh không nói gì đến trận đánh ban chiều, cuộc mít tinh tối nay.

   Đồng bào đến đông, nhưng trong nhà họ bản “Tóm tắt luật 10/59” in chữ to đang phơi những lời dọa hung ác trên vách. Câu đậm nét nhất là XỬ TỬ HÌNH VÀ TỊCH THU TOÀN BỘ GIA SẢN. Cái án chém nằm sẵn trong nhà. Lưỡi dao máy chém lấp ló đằng sau tấm giấy chữ nhật. Họ cứ đi mít tinh vì cái giờ ao ước, thèm khát, trông ngóng mãi đã đến. Tiếng súng và tiếng loa của Cách mạng giữ cho họ. Sáng mai, nếu Cách mạng rút và địch trở lại, họ có cớ để ăn nói.

   Giữa đám đông còn lẫn nhiều gián điệp và người nhà bọn ác ôn, họ phải cố giấu những mừng tủi đang bừng bừng trỗi dậy trước lá cờ đỏ xanh sao vàng mới thấy lần đầu mà quen quá, thương quá. Đôi người ngồi đây,  trong những lúc tuyệt vọng nhất, đã từng nghĩ đến những ngày oanh liệt đánh Tây đuổi Nhật như nhớ tuổi trẻ của mình đã qua và không bao giờ trở lại. Họ thiết tha tìm hỏi về Cách mạng như hỏi tin người thân bị cấm cố ở Côn Đảo, biết còn sống thì họ mừng, nhưng không dám mong được sớm đoàn tụ. Và lúc này họ thở hồi hộp theo nhịp cờ gió rung, cúi xuống gẩy nhẹ một giọt nước mắt vui.

   Anh Bê đeo tiểu liên bước ra hô chào cờ. Đồng bào xì xầm hỏi nhau về anh cán bộ lạ mặt mà trẻ quá. Khi Bê giới thiệu “Ông Tạ Dõng, thay mặt ủy ban Mặt trận huyện”, tiếng xôn xao nổi to hẳn. Nhiều người nhổm hẳn lên xem cho rõ anh xã đội phó kiêm giáo viên, tuy “nhảy núi” mới về nhưng mấy năm qua không lúc nào vắng mặt vắng tên tại Kỳ Bường.

   Chị Đa ghé tai má Bảy:

   - Ông Dõng mập trắng ra. Ở núi ăn lá cây mà coi bộ khỏe hơn bà con mình ăn cơm, ngủ nhà.

   - Ờ, khỏe óc thì khỏe người chớ sao.

   Đó cũng là một chuyện lạ của miền Nam. Ai thoát ly một thời gian cũng trẻ hẳn lại, thường béo ra tuy ăn ngủ không bằng lúc ở nhà.

   Má Bảy muốn nói tuột ra những lời tự hào. Lá cờ đại kia do Sâm mua lụa và má may tay đấy, con Mại chỉ dám may cờ nhỏ thôi. Ba câu khẩu hiệu lớn ấy do Tư Sỏi cắt dán đấy. Và anh Dõng khỏe mạnh một phần cũng nhờ sữa hộp, trứng gà, cá kho của má đấy. Nhưng má chỉ lặng thinh, lắng tai.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #26 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2012, 04:28:52 pm »

   Dõng đọc lá thư của ủy ban tỉnh kêu gọi đồng bào vùng lên phá kẹp. Má nghe câu được câu chăng. “...Sẽ tống cổ bọn xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm xuống biển Đông...”. Chị Đa vỗ lưng con Thừa, nựng: “Ngủ đi con, ờ má xương má xương”. Thằng Túc gục đầu trên đùi má Bảy, bắt đầu ngáy. “... Chúng ta quyết làm chủ nông thôn đồng bằng...”. Má giũ tấm nhựa choàng ra đắp cho thằng Túc.

   Không khí chung vẫn trầm trầm.

   Đọc xong lá thư, Dõng bắt đầu nói về các chính sách lớn của Mặt trận. Với bộ quân phục còn nếp gấp, khẩu súng ngắn, cái tật vung tay trái về phía sau như chỉ lên bảng đen, Dõng vẫn giữ dáng dấp của cả người chỉ huy lẫn ông thầy dạy trẻ. Chị Đa ngửng đầu nghe chính sách đối với gia đình binh sĩ ngụy. Một cặp vợ chồng ngồi trước mặt má nghe xong phần chính sách ruộng đất, ghé tai nhau nói gì rất lâu.

   Má Bảy sững sờ nhìn quanh.

   Má nghĩ khởi nghĩa phải rầm rộ như năm Dậu kia chứ. Mà chính Dõng và Bê cũng hứa với má sẽ có “trống giục, cờ bay, người đổ ra đường”. Sao cuộc khởi nghĩa này nguội lạnh quá vậy? Đồng bào ngồi yên nghe anh giáo viên giảng một bài chính trị. Chắc họ sẽ vỗ tay, hô khẩu hiệu, chào cờ bế mạc, rồi về ngủ nốt hết đêm. Sáng mai thằng Phổ dẫn quân về, đội anh Dõng chặn đánh một lúc rồi rút. Đâu lại hoàn đấy. Nếu có tên chỉ điểm nào mách rằng Cách mạng họp rất đông tại nhà má trước khi gọi đồng bào đi mít tinh... Một luồng lạnh chảy loang trên lưng má như nước dột chui qua cổ áo. Cuộc phát động bị “sượng” rồi chăng?

   Má sốt ruột tìm trong đám đông một vài cử chỉ hay lời nói hưởng ứng anh Dõng. Má chỉ thấy những cặp mắt trừng trừng, những bộ mặt chăm chú và khép kín, khó hiểu hết sức. Má bực mình. Má tức. Rồi một cơn giận lặng lẽ bốc nóng trong người má.

   Làm sao xốc tung được khối người im lìm này lên bây giờ?

   Chị Đa bỗng thở dài:

   - Ông Dõng nói đâu trúng y đó, chẳng có lời nào sai. Có điều tôi sợ...

   - Sợ cái gì?

   - Sợ Cách mạng bỏ đi. Cách mạng ở lại đây, nhất định dân mình theo hết.

   Má đang cáu, bật gắt:

   - Rút đi đâu? Làm chủ kia mà! Lấy chánh quyền, rồi lại xách chánh quyền lên núi, mài ra mà ăn à?

   Chị Đa cười xấu hổ. Chị vẫn ôm con ngồi thu lu, mắt không rời anh Dõng.

   Lúc này Dõng bỗng cau đôi mày rậm, đổi giọng nói như hét:

   - Bây giờ bà con tính sao? Thằng nhỏ không đáng cháu mình nó đánh trên đầu đánh xuống, cô bác cắn răng mà chịu sao? Cứ xách nón đi “tố cộng” quanh năm suốt tháng, con khát sữa khóc tắt tiếng, lúa chín rục ngoài đồng không được gặt, cứ chịu vậy sao? Tụi Mỹ - Diệm cưỡi trên cổ, bắt ta làm trâu ngựa. Ta không dám cựa quậy sợ nó quất roi, hay ta vùng lên lật nhào nó xuống?

   Má Bảy nuốt khan nước bọt. Chuyện khổ nhục kể mấy tháng cho hết. Hình Dõng vung tay trước lá cờ nhòa dần đi, mà những tiếng chan chát như đập búa vẫn dội trong tai má:

   - Con trai đi quân dịch, vô dân vệ chết thay cho Mỹ, chết mất xác, mất giỗ. Con gái đi lính Lệ Xuân làm đồ chơi cho Mỹ. Ở nhà thì cha mẹ bị bắt lên bắt xuống, ruộng đất trâu bò lần lần vô tay ác ôn hết. Cửa nhà tan nát. Mất nước thì còn nhà sao được!

   Má Bảy đưa tay quệt nước mắt. Cách mạng đang kể chuyện gia đình má đó. Hơi nóng ứ lên cổ, má nấc khẽ một tiếng, lại nhếch môi cười theo lối các bà già khi khóc hay cười hổ ngươi. Má không để ý đến những dãy đầu đen chung quanh má ngửng cao dần lên, mắt long lanh đọng những giọt ánh đèn. Tiếng rì rầm nổi, chìm, lại nổi, như một bầy chim mía lượn quanh. Một chị bịt khăn tang ngồi mé trước má bỗng ôm mặt, nhét vội góc áo vào miệng, mà tiếng nấc vẫn trào qua kẽ môi.

   Cực quá rồi. Nhục hết chỗ chịu rồi. Cây muốn lặng gió chẳng đừng. Càng nhịn nó càng đạp mình xuống bùn. Hồi đánh Tây xã mình hy sinh có bốn mươi bốn người. Mới mấy năm ngừng tiếng súng, Mỹ - Diệm đã giết sáu mươi bảy mạng, vừa mổ bụng giữa chợ vừa nhét bao thả sông. Nó cắt đầu con đặt trên mâm, bắt mẹ bưng mà không cho khóc...

   - Ối trời!

   Ai đó rú sau lưng má. Một bóng áo đen ngã vật xuống. Tiếng ồn lan ra thành vòng tròn, như một hòn đá vừa rơi xuống chảo nước đang nóng dần. Trong chỗ tối, một người bỗng kêu khàn khàn, hình như cố uốn lưỡi cho khác giọng:

   - Còn nhiều nữa!

   - Phải, tháng trước thằng Phổ còn mổ bụng anh Ơn công giáo. Mới cách đây mười ngày, chính nó đánh chết bà Tuất với anh Sáu Nhẫn, máu chảy từ trại khai thác tới trụ cờ...

   Đám đông trong ngồi, ngoài đứng thành hình một lòng chảo khổng lồ đã sôi sùng sục. Tiếng bàn tán nổi to hẳn. Mấy câu chửi rít răng bật ra.

   Dõng đấm xuống bàn:

   - Các đồng chí du kích đâu, giải thằng Phổ ra đây?

   - Cóóó!

   Những hàng người trên cùng rướn cổ, nhổm dần lên. Các hàng sau ngồi xổm, đứng lom khom. Đằng sau nữa kêu: “Ngồi xuống! Ngồi xuống kìa!”. Rồi đồng bào đứng lên hết, gọi nhau lao xao:

   - Coi kỹ, đúng Ba Phổ không?

   - Mười mấy chú dân vệ hóa ra du kích rồi!

   - Còn nữa, còn một xâu một xốc tụi nó kia, trói ké hết...

   - Mô Phật, chạy trời không khỏi nắng!

   Tiếng Dõng nổi lên vang vang:

   - Ai biết tội ác thằng Phổ, mời lên vạch mặt!

   Câu mời của Dõng rơi xuống như thùng nước lạnh đổ vào chảo nước cuồn cuộn. Đồng bào lẳng lặng ngồi xuống như cũ, liếc nhau ấm ức, lại trừng trừng ngó tên ác ôn. Lên kể tội thằng Phổ là cầm chắc cái án tử hình trong tay, coi gia đình như không có. Nếu địch trở lại... Nếu Quân giải phóng cản địch không nổi...

   Một ông già đứng bật dậy, nói to:

   - Yêu cầu Mặt trận cứ xử!

   Dõng lắc đầu:

   - Muốn kết án phải nêu rõ tội trạng. Mời đồng bào lên tố cáo!
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #27 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2012, 04:32:07 pm »

   Thằng Phổ mặc sơ mi trắng, quần đùi, hai tay trói quặt ra sau, tóc đổ xuống rung rung. Cổ nó còn đeo cái thập ác bạc. Miệng nó lẩm nhẩm cầu kinh. Sắp cầm đũa gắp miếng gan người, không lần nào nó quên làm dấu chữ thập. Mới hồi chiều nó còn gào: “Vì Chúa vì dân”, tiến lên!”. Không vạch tội nó, Mặt trận sẽ không xử, thả nó về. Tức quá. Mạng đổi mạng cũng được, cứ lên, phải lên... Bốn năm người cùng một lần chồm dậy, vung tay xin nói. Anh Dõng chỉ vào một người đứng gần nhất.

   Người ấy đi vòng sau lưng anh Trưng và Chuân đang cầm ngang súng giữ thằng ác ôn, bước ra trước bàn thờ Tổ quốc. Một cái đầu tóc tém đít vịt. Bộ mặt đen hốc hác. Chị Đa kêu:

   - Anh Tư kìa bác!

   Má Bảy giật mình. Thói quen của người mẹ đẩy má rướn về phía con khi thấy nó sắp gặp nguy hiểm, như leo cây hay tắm chỗ nước sâu. Nhưng má kịp nghĩ lại, ngồi yên. Con má nổ phát súng đầu là phải. Nó nuốt bao nhiêu tủi cực để theo thằng Phổ, tự mình vật trói thằng Phổ. Phải để nó nói trước.

   Sỏi lúng túng khịt mũi. Hai tay chắp trước bụng rồi duỗi đứng nghiêm. Sỏi ấp úng nói gì với anh Dõng và Bê. Bà con bắt đầu sốt ruột. Thình lình Sỏi xoay mình ra phía đèn, trợn trừng con mắt, hét:

   - Phổ, coi tao đây! Tao... tao vạch tội mày! Đầu tao có rớt xuống đất, tao cũng trị mày cho được, hà!

   Sỏi nói lộn xộn, nhưng ngón tay Sỏi xỉa vào mặt thằng Phổ nói nhiều hơn. Thằng Phổ rủn chân quì sụp xuống. Năm năm qua, đồng bào Kỳ Bường phải quì “sám hối” trước mặt hắn. Một tiếng gầm trong đám mít tinh vọt lên, dội như sấm. Cái nút chặn cổ đã bật.

   Má Bảy thở hổn hển, khắp mình bốc lửa. Con má biết một má biết mười. Roi ba cạnh của thằng Phổ hai lần rạch thịt má. Họng má còn cay xé mùi nước xà phòng mà hắn đổ vào bụng, giẫm chân cho phòi bọt trắng lốp. Ruộng trâu má chính hắn cướp ngang. Cha thằng Phổ, cha thằng Phổ này đây, đã phá nát đời má... Phải để má nói, trời ơi, để má nói! Má gạt vai chị Đa, muốn bước ào tới. Hàng chục dãy lưng và đầu chen chúc ngăn má lại.

   Mấy người nữa liên tiếp lên thay Sỏi. Họ đứng trước đèn, gào những lời cháy lửa, nước mắt rời cằm từng chuỗi giọt lấp lánh.

   Mé trên kêu rất to:

   - Chị Ơn lên rồi.

   - Im lặng! Im lặặặng!

   Chị bịt khăn tang nhét áo vào miệng lúc nãy lừ lừ bước tới, mặt xanh nhợt, cây thập ác lóe một chấm sáng trên ngực. Chị rút trong túi ra một gói vải nhỏ loang những vệt đen. Mọi người nín thở. Chị chỉ hơi máy cặp môi cũng trắng như khăn tang, nói âm thầm và rời từng tiếng:

   - Đây ông cảnh sát nè. Ông nghĩ tình con chiên Chúa với nhau, ông đưa tôi miếng gan anh Ơn, mời tôi ăn. Tôi chưa ăn, gói để dành đợi Cách mạng về. Giờ tôi đem nộp ông, để làm chi, ông ăn cho hết kẻo nữa chết còn thèm gan người. Gan chồng tôi có ngon không ông?

   Chị ngừng lại, hít một hơi dài, cười khẩy một tiếng nhọn như kim:

   - Quỷ Xa tăng ác chừng nào tôi chưa thấy, mà thấy ông ác quá chừng đi, ác trên đời có một... Phổ! Mày cướp hết vườn dừa nhà tao chưa đủ sao, mày hiếp tao cả chục lần chưa đủ sao, mày còn mổ bụng chồng tao nữa hả Phổ?

   Câu nói cuối cùng xé ra thành từng tiếng rú nức nở. Chị túm tóc thằng Phổ, ấn gói gan người vào miệng hắn, đạp một đạp giữa mặt.

   Ngòi lửa đã bén tới thuốc súng.

   - Trời ơi là trời!

   - Phổ, trả cha tao đây!

   - Con không về mà coi, con ơi...

   - Để nó cho tôi. Đừng ai rờ vô mà, để đó!

   Má Bảy òa khóc hu hu như đứa trẻ trong khi hai ngàn người chồm dậy, đẩy lưng nhau xô lên phía tên ác ôn, gạt nhào mấy anh du kích sang bên văng cả súng. Hai cây cọc treo đèn bị chạm, hai ngọn măng sông chao mạnh, lắc lư soi trên những nắm tay, cây gậy, chiếc guốc vung lên tới tấp. Tiếng thét làm rung các mái lều chợ lợp tôn.

   Từ lúc ấy má Bảy say đi giữa đám đông choáng váng, ngây ngất.

   Loáng thoáng trước mặt má mấy chục tề điệp ra chắp tay gục đầu xin má tha tội. “Ừ thì tha, tao không khát máu như tụi bay, tao tha làm phước, phải bỏ cái nghề bán nước hại dân đi nghe không.” Khi Dõng đọc lời thề đoàn kết đấu tranh, má giơ tay rõ cao: “Xin thề!”

   Đến lượt bầu ủy ban tự quản của xã. Dõng đề nghị anh Bê chủ tịch, chị Năm Tân phó chủ tịch, anh Trưng xã đội trưởng và bốn vị nữa. Không đợi hỏi ý kiến, bà con đã vỗ tay reo ầm: “Hoan hô ủy ban! ủy ban ra mắt đi!”. Ủy ban ra tuyên thệ, anh chủ tịch đeo tiểu liên trên lưng và chị phó chủ tịch còn cầm cái loa trên tay. Đội du kích hơn ba mươi người cũng ra tuyên thệ, trong đó có mười bốn dân vệ quay súng. Hoan hô! Hoan hô! Ta có Đảng bấy lâu, nay lại có Mặt trận, chính quyền, có súng cầm tay!

   Chị Năm vung cái loa lên miệng:

   - Cuộc biểu tình bắt đầu! Mời đồng bào thắp đèn, xếp hàng!

   Lá cờ đại bay phần phật đi trước. Hai anh du kích vác hai cây cọc đèn cố rướn thật cao để ánh măng sông soi rõ màu cờ. Bốn cái trống lớn, mỗi cái hai người khiêng một người đánh, đổ dồn từng hồi như núi lở. Hai mươi sáu cái cổng chào đục sẵn từ trước, giấu mỗi nơi một cây tre, vừa được dựng gấp trên đường lớn, dang rộng những cánh cờ và biểu ngữ đón đoàn biểu tình cầm đèn gió sáng rực. Con trăn lửa dài hơn một cây số trườn về ga Đồng Mè.

   Ra khỏi xóm, chị Đa gọi má:

   - Sướng chưa bác, Kỳ Minh cũng khởi rồi!

   Bảy tám đống lửa lớn cháy rừng rực mé Kỳ Minh, nơi có nhiều lô cốt và bót gác. Trống mõ bên ấy rùng rùng vọng sang đáp lại Kỳ Bường. Xa hơn nữa, suốt dải đất mé trên đường sắt và đường Một, ánh lửa nối ánh lửa và tiếng trống dội tiếng trống, to nhỏ, gần xa, họp thành đêm hội cách mạng rung trời đất.

   - Đả đảo Mỹ - Diệm!

   - Đả đảảảo!

   - Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam muôn năm!

   - Muôn năm! Muôn năm! Muôn năm!

   Những khuôn mặt chung quanh má Bảy tươi nở, cười hỉ hả, bừng bừng sắc đỏ. Khởi nghĩa Ất Dậu đây rồi. Ta vùng dậy khắp nơi. Ta mạnh. Ta thắng. Hãy khạc ra cho hết những hòn than cháy uất hận nuốt vào bụng bấy lâu. Hãy nắm tay những người cùng đau khổ như mình, xé toạc những hàng rào hiềm khích nghi kỵ do giặc bủa ra, hãy ôm nhau ta với ta. Hãy tin sức mình, tin bà con, tin Cách mạng. Ai cũng muốn hò hét, múa vung lên, nói những lời thương yêu nhất với người bên cạnh và chửi địch cho thật khoái miệng.

   - Quyết tâm giữ vững chánh quyền nhân dân!

   - Quyết tâm!

   “Ai đó còn sợ Cách mạng rút đi? Ai nghĩ bậy vậy? Cách mạng là tao đây nè, rút đi đâu cả mấy ngàn dân Kỳ Bường, cả trăm ngàn dân đêm nay nổi dậy?”. Những người vài giờ trước đây còn rụt rè đang cãi nhau với chính mình, với con người cũ như thế đấy sau khi lột vỏ. Ông Nhâm hô một câu tếu:

   - Bà con mình theo Việt cộng muôn năm!

   - Muôn năm!

   Bà con vừa hô theo vừa cười rầm. Phía quận lỵ, đạn lửa vọt lên từng chùm cuống quít như nối nhau bỏ chạy khỏi cái đồn sắp mất. Đèn dù bùng cháy liên tiếp, mở những con mắt lạc tròng. Đường ray dội “ưng ưng” dưới chân. Rồi mặt nhựa của đường Một đón bốn ngàn bàn chân rầm rập.

   Không hiểu má Bảy về nhà lúc nào mà lại cầm lá cờ ba que xé một cái rẹt nghe sướng tai quá. Má xé nữa, xé nữa, để nghe những tiếng nghiến răng của giặc yếu dần đi, tắt hẳn.

   Út Sâm đánh bật lửa đốt ảnh thằng Diệm. Sâm thui từng chỗ, cười khanh khách, hàm răng lóe trắng giữa bộ râu quai nón chưa lau:

   - Con mắt rình rập nhà tao nè. Cái miệng táp hết của tao nè. Coi hay chưa má! Giống y cái đầu heo luộc bị móc mắt... Chà, kiếm đâu ra hình Mỹ tổng thống, cho nó chết chùm với Ngô tổng thống...

   Sâm chạy loăng quăng xem những tranh ảnh dán che phên rách, xem xong lại xé toàng toạc, miệng nghêu ngao cái bài hát “tri ân Ngô tổng thống” được Sâm đặt lời lại khi hát trong các buổi lễ: “Đầu cha ác ôn Ngô tổng rống... Ngô tổng rống muốn nằm...”.

   - À, Mỹ đây!

   Sâm lột tấm tranh quảng cáo viện trợ Mỹ, có ảnh tổng thống Mỹ và hai bàn tay túm nhau. Sâm vò hai tờ giấy chung với nhau, sọc xanh quấn lấy sọc đỏ, trịnh trọng châm lửa:

   - Cho bay chết đủ cha con, bay khỏi thắc mắc!

   Đừng ai bàn chuyện đi ngủ trong cái đêm nay. Má Bảy đun liên tiếp cả chục nồi nước chè, rút cọc chuồng lợn chụm cho mau sôi. Đồng bào phá đường uống nhiều ghê. Sâm, Ngọ, Trấu mỗi lần chạy về gánh nước lại phì phò: “Được trăm thước. Trăm rưởi thước. Cầu gần sập rồi...”.

   Trống mõ vẫn râm ran khắp các ngõ xóm như đêm xưa từ Kỳ Lâm dội về. Không, đêm xưa nào, mới tối qua đấy thôi. Vậy mà má nhớ đâu như chuyện năm ngoái. Thì ra má cùng với bà con vừa nhảy vọt qua một vực sâu ngăn cuộc đời làm đôi. Không thể lùi. Lùi là rớt xuống vực Chỉ có dấn tới, nhào tới, đè bẹp quân giặc mới sống nổi.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #28 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2012, 04:40:06 pm »

PHẦN HAI

12

   Chiếc xuồng nhỏ gắn máy đuôi tôm chạy qua khỏi khúc sông ngoặt. Dõng quay đầu lại:

   - Ghé vô chỗ gốc sung đầu vườn chị Năm, nghe Bê..

   - Xuống bến dễ ghé hơn chớ.

   - Cho anh Chín coi lại chỗ cũ một chút.

   Bê đẩy đầu cây lái sang bên phải. Xuồng lừ lừ rẽ vào gần bờ sông dốc đứng. Bê tắt máy, cho xuồng ghé dưới bóng cây sung to duỗi cành trên mặt nước, đeo trái trên thân như những chùm trứng ếch.

   Anh Chín Chuyền níu một cành sung, bước qua bực đất. Anh đến thẳng chỗ bụi lau mọc giữa những cây rù rì đầy rác khô móc vào gốc. Hồi đấu tranh đòi hiệp thương, anh đã lót ổ nằm trong bụi lau này hơn một tuần trước khi về ở hầm của má Bảy Son. Chị Năm giấu cơm trong thùng gánh nước, xuống gặp anh mỗi ngày hai lần để báo cáo và nhận chỉ thị.

   Dõng hơi cụt hứng. Anh tưởng anh Chín sẽ xem rất kỹ chỗ nấp hồi xưa và nhắc nhiều kỷ niệm. Nhưng anh Chín chỉ nhìn nó một loáng, gật gù, rồi leo thẳng lên bờ dốc, đi vào ngõ nhà chị Năm. Anh đã ở hàng trăm nơi như vậy. Bởi không nghĩ đến mình nên anh không nhận ra hơi hám của mình vương lại những nơi ấy. Mỗi chỗ ở chỉ nhắc anh nhớ đến các đồng chí cùng làm việc với anh, những đồng bào đã đem cơm và đưa tin cho anh.

   Chị Năm và hai con đi vắng cả. Anh Chín tần ngần nhìn cái nong dựng thay cánh cửa nát, khoảnh sân hẹp bị cỏ lấn vào lún phún, những sợi tranh bị chuột xốc xới nổi vàng tươi trên mái nhà đã ngả màu xám sẫm của tro củi tre. Anh nói với Bê, thấp giọng như sợ ai trong nhà nghe được và tưởng anh làm ơn mọn:

   - Thỉnh thoảng các cậu tới giúp chị Năm một chút. Chị em cán bộ cực hơn tụi mình nhiều, nhất là chồng đi xa...

   - Dạ.

   Anh Chín không xuống thuyền mà đi bộ dọc bờ sông. Miền Trung đất nghèo có những chiều đông đẹp lạ, khi trời trở lại xanh trong như mùa thu, nắng tỏa vàng màu mật ong mới rót, gió chỉ đủ lạnh để giục trẻ em chạy nhảy chung quanh bầy trâu và không khí đượm mùi men rượu nếp. Anh Chín bước chầm chậm, nhìn quanh. Mảnh mặt trời bẻ đôi đặt trên núi nhả một luồng lửa cháy rừng rực qua sông, xoay theo anh như một ánh mắt cười lấp láy.

   Dõng và Bê đã báo cáo về cuộc nổi dậy, tưởng anh Chín đang xem các hầm chông hay bãi khoai, đợi nghe anh nhận xét. Nhưng anh cứ lặng im. Anh đang tự cho phép mình trong một lúc tách khỏi những lo toan hằng ngày để hưởng cho hết nỗi say sưa của người cách mạng thắng trận đang cảm thấy đất dưới chân là đất của mình, trời trên đầu là trời của mình. Khi đã về ta, trời đất đã đẹp càng thêm đẹp.

   Giải phóng rồi.

   Anh Chín quen lắm với khúc sông và đoạn đường mòn này, nhưng nhìn lại vẫn thấy khác. Mới cách đây một tuần, anh còn phải nép trong bãi dâu bên kia sông, đợi đến nửa đêm mới dò dẫm ra bờ sông, tìm chấm đèn nhà chị Năm báo hiệu vắng địch. Phải bơi thật nhanh mà không cho nước dội sóng, một tay ôm gói áo quần túm trong tấm nhựa làm phao, một tay giơ súng ngắn sẵn sàng bắn. Qua con đường mòn anh phải cởi dép, bò thật êm lên vệ cỏ, ngón tay đặt trên cò súng, nghe ngóng một lúc trước khi vọt nhanh ba bước, đâm vào bụi rậm. Năm kia anh bị giặc bắn ở đây, đúng chỗ gốc cây bạc lá này. Một tiếng còi rít. Mấy chục cái bếp lò cùng một lần bật nắp, hắt than hồng rào rào giữa mặt anh. Anh vừa bắn trả vừa lăn, trườn. Bao giờ bị phục kích anh cũng cố bắn lại, để giết được thằng nào hay thằng ấy và chặn không cho địch xung phong. Bốn viên đạn xuyên qua bao lưng, một viên xé thịt bên hông, nhưng anh thoát.

   Cây bạc lá lúc này đang vẫy rối rít những chiếc lá mặt xanh mặt trắng, chấp chới như ngàn con bướm chơi hội. Anh ngắm nó một chút, chân vẫn đi.

   Giải phóng rồi.

   Sức dân đảo ngược thế cờ nhanh đến chóng mặt. Mảng đỏ trên bản đồ từ trên núi ập xuống sát đường Một, bọc kín những chấm xanh trơ trọi đánh dấu các đồn bót địch sót lại trong vùng giải phóng. Chỉ qua một tuần, những hớp không khí hầm hập mùi lá mục lọt qua ống thông hơi xuống hầm bí mật đã biến thành bầu trời lộng gió. Các cậu giao liên dẫn anh mò mẫm đêm nào, nay hai tay dắt hai xe đạp đến tận thềm: “Bác một, cháu một”, hoặc giơ tay đón ô tô chở khách đưa anh sang xã khác. Hôm qua Dõng đi xuồng máy lên gặp anh ở Kỳ Lâm, đã “mượn tạm” của anh cây gậy bằng cau rừng lên nước bóng, cái ruột tượng gạo và cái ănggô nấu cơm, gửi nhà quen cất hộ: “Hồi nào trở về núi anh ghé lấy”. Các cô du kích soát giấy trước chợ cười khúc khích khi thấy trên bao lưng của anh nhô ra một túm thuốc lá xanh để xoa chân chống vắt: “Cho cháu xin làm kỷ niệm đi bác”. Một tổ bộ đội địa phương huyện đi cõng gạo, hai trai một gái, còn mặc bà ba lụa đen Mỹ Á từ nhà mang theo, đã tập cho anh cách tránh tàu rà, tránh pháo bầy.

   Anh Chín không cười, không trêu. Anh ngoan ngoãn làm theo mọi lời chỉ dẫn, với cái thú của người mẹ được con bày cách câu cá hay gài bẫy chim.

   Những bước nhảy vọt của phong trào đối với anh Chín không phải mới. Anh đã dẫn tự vệ đi lấy tỉnh trong Cách mạng tháng Tám. Phối hợp với Điện Biên, anh đưa bộ đội đánh thốc vào vùng tạm chiếm, một ngày chẻ tre ba bốn xã. Chính anh chứ ai, trước đồng khởi anh đã nhiều lần nhắc cán bộ các huyện và xã: “Một ngày bằng hai mươi năm các đồng chí ạ, bằng hai mươi năm...”. Anh nói và làm như vậy, để rồi hôm nay trở lại Kỳ Bường, anh nhìn quang cảnh mới với đôi mắt của đứa trẻ lần đầu về quê ngoại, thấy gì cũng vừa quen vừa lạ. Thực tế Cách mạng ngàn lần giàu hơn những kế hoạch mà anh tự tay thảo và đưa ra bàn trong ủy ban tỉnh. Anh vẽ nên bộ xương, này đây là cuộc sống đỏ da thắm thịt đang lớn nhanh như thổi.

   Anh Chín già rồi. Anh đang ghi những trang cuối cùng của một bản lý lịch dài hơn nửa thế kỷ, từ những dòng vụng dại của buổi đầu biết đấu tranh, đến những lời cô đúc của phần tổng kết. Những cảm xúc và suy nghĩ của anh, rút ra từ chiều sâu tầng tầng lớp lớp của đời chiến đấu, được chắp thêm đôi cánh bay cao của triết học Mác - Lênin mà anh học rất nhiều, đôi lúc có vẻ khó hiểu đối với các đồng chí trẻ. Anh biết vậy, vì trước kia anh cũng không mỗi lúc đã hiểu được hết những điều căn dặn của người đi trước.

   Vì thế, đi dọc bờ sông Nhỡn lúc này, anh không nói gì với Dõng và Bê. Anh đang tìm chất thơ trong những câu khẩu hiệu chi chít trên vách đất, nong nia, cửa gỗ, mảnh ván, do đồng bào tự tay viết ra.

   Những lời phải thì thầm rỉ tai nhau hôm nào, nay đã bùng lên rạng rỡ giữa ban ngày, reo vui khắp nơi. Mỗi người dân nói với anh một câu thơ bằng giọng của mình. Đây giọng trầm khỏe của bác nông dân hiện trên nét chữ to đậm, vuông như tảng đất xắn. Kiểu chữ lả lướt viết bằng sơn xanh lá trên tấm gỗ quét vôi rất trắng kia ắt là tiếng nói của một cô gái duyên dáng. Anh Chín mỉm cười khi nghe giọng ngượng nghịu của trẻ em: vài dòng viết bằng phấn trắng trên giấy đỏ, hẹn thi đua học giỏi và “giúp Cách mạng luôn luôn”.

   Anh Chín thấy rõ, như mới hôm qua, tỉnh ủy bị đứt liên lạc với cấp trên đang họp nằm sấp trong đám mía, tự đề ra khẩu hiệu đấu tranh trong tình hình mới. Anh thấy chi bộ nhà tù búng cho nhau mảnh giấy hút thuốc vê tròn để truyền khẩu hiệu cho đợt nhịn ăn sắp tới. Bác Tư Râu trúng đạn giữa bụng, ngã ngồi xuống, hai tay vẫn ghì cây tre mang khẩu hiệu dẫn đầu biểu tình. Ôi những đồng chí đồng bào bị đem đi mổ bụng giữa đêm đen, nhìn quanh chỉ thấy những hàm răng ác ôn ngập máu cười nhăn nhở, đã thét lên câu khẩu hiệu cuối cùng để gửi chí hướng lại cho người sau!

   Trí tuệ và quyết tâm của Đảng được gói gọn trong những lời ngắn nhất ấy. Chất anh hùng của dân tộc ta chói sáng trên những chữ quen tai ấy. Câu khẩu hiệu có một bộ mặt riêng, một lý lịch như người. Nó sinh ra, lớn lên, sống một cuộc đời sôi sục trước khi đi vào lịch sử, nhường cho khẩu hiệu mới vươn lên giành chiến thắng mới.

   Như kho thuốc súng nổ đã biến một đốm lửa thành triệu đốm lửa, cuộc đồng khởi đã nhân các khẩu hiệu lên triệu lần, xếp dọc con đường mòn ven sông Nhỡn này một chuỗi dài những câu thơ tự do không vần điệu của bài anh hùng ca chống Mỹ để đón anh Chín. Trong cái đẹp lồng lộng của đồng bằng miền Trung mới giải phóng, anh lặng lẽ buông thả mình theo dòng thơ ấy...

   - Anh Chín ơi, nghỉ lại hay đi luôn?

   Anh giật mình. Như cái máy, anh giơ tay xem đồng hồ, và mấy giây sau anh mới hiểu câu hỏi của Dõng. Anh xem đồng hồ lần nữa. Đến bến đò rồi.

   - À phải đi luôn mới kịp.

   Bê nói nghiêm:

   - Anh nghỉ một chút đã. Làm việc căng quá.

   Bê nói như hồi nào còn đi bảo vệ anh Chín. Anh gầy đi nhiều. Dưới mái tóc trắng xóa, đôi gò má rỗ hoa nhô lên cao hơn, da anh sạm hơn và pha đậm màu vàng của sốt rét.

   Anh cười, lắc đầu. Sáng mai ủy ban huyện họp tại Kỳ Minh. Địch đang dồn quân sắp càn lớn, giành dân chiếm đất lại. Buổi đầu nắm chính quyền, cả một núi công việc dựng lên trước mặt, khá nhiều đồng chí cán bộ Đảng và Mặt trận chưa quen cứ hai tay cặm cụi nhặt từng hòn đá. Chưa phải lúc anh được nghỉ xả hơi, ăn hút, khề khà ôn chuyện cũ... Anh nói với Bê:

   - Cậu nói chị Năm, bà Bảy với số bà con mình quen, để họ khỏi trách. Chuyến về mình mới ghé thăm được.

   Bê lại nèo cách khác:

   - Với lại phong trào đang nở nồi (16), chi bộ có mấy chỗ bí gỡ không ra, nhờ anh ở lại cho ý kiến...

   Bê cố đánh vào chỗ yếu của anh Chín. Buộc anh nghỉ mới khó, chứ muốn anh làm việc đến nửa đêm hay gà gáy thì quá dễ. Phải viện đến công tác mới giữ anh được.

   Anh Chín cười to:

   - Chà, ông bạn ranh quá ta! Mình nhắn chi bộ một câu thôi: đã leo lên xe đạp thì phải đạp mạnh tới, hễ dừng lại là ngã lăn chiêng. Hết ý kiến!

   Thấy Bê nhăn mặt, anh búng vào tai Bê một cái:

   - Đừng làm điệu. Cậu bây giờ đóng đô ở Đồng Dừa này, vui với pơluya cácbon (17) rồi, đâu có nhớ tới đám lão thành như mình... Để Út Sâm nó còn thì giờ làm cách mạng với nghe!

--------------------------------------------------------
16. Phát triển ngoài mức dự kiến.
17. Giấy mỏng và giấy than, ý nói các cô áo trắng quần đen.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #29 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2012, 04:44:02 pm »

*
*    *

   Giữa tiếng cười đùa, Út Sâm nói rang rảng:

   - Báo cáo tổ trưởng, cho tôi phát một cái biểu. Tổ đã nhất quyết giao tôi phụ trách thiếu nhi, tôi xin xung phong nhận, có điều tôi hát không ra hồn. Bài hát tôi học hồi kháng chiến bị chôn lâu quá, mối gặm mất từng khúc, mỗi bài còn sót vài câu thôi. Tính đem chắp nối lại mà hát nhưng sợ người ta kiện. Đề nghị cho một vị nữa hát hay, hay là hay hát cũng được, để tập cho các em... Mại, mày mần cái thiếu nhi với tao nghe?

   Mại giật mình, há miệng định nói gì đấy. Thấy Sâm nhìn mình nghiêm khắc, Mại nín tắp, chỉ dám vê vê cái đuôi tóc rất dài và nặng, thắt nơ hồng.

   - Đồng chí Mại ưng rồi. Vậy là một. Còn điểm thứ hai: hễ có súng nổ cục cục hòn hòn là tôi giao các em lại, tôi đi gõ đầu Mỹ - Diệm. Được không?

   Cả tổ nữ thanh niên ồn ào:

   - Người ta không cho vô du kích, mày đánh bằng cùi chỏ à?

   - Thua ai chớ nhất định không thua đàn ông!

   - Được cầm súng mới bằng đàn ông, bà ơi!

   Cô Ngọ tổ trưởng cắt ngang:

   - Đồng ý. Xong mục thiếu nhi. Đề nghị bàn thêm phần đấu tranh chánh trị. Tổ mình mười tám người mà chỉ có bốn đồng chí nhận đi đấu tranh, ít quá, các bà các chị lại chê chị em mình thiếu tinh thần... Nè, cất giùm mấy chuỗi cườm đi cái đã, săm soi hoài!

   Các cô gái Kỳ Bường có một lối diện mới. Thấy các anh chị thoát ly từ vùng núi xuống thường đeo trên tay những chuỗi cườm nhiều màu của đồng bào Thượng cho, các cô đua nhau xin hoặc mua cườm về đeo, vừa làm đỏm lại vừa tỏ ra mình đã hoặc sắp xông pha trăm sông ngàn núi.

   - Chẳng lẽ tụi mình thấy đấu tranh khó mà đẩy hết cho các bà các chị?

   Các cô đang cười bỗng lặng im.

   Chị Năm Tân phó chủ tịch đã nói suốt một buổi, các cô vẫn tranh nhau xin vào du kích và tránh “đi trực diện”. Hễ nghĩ đến lúc gặp bọn ác ôn, chúng nó nói như đấm vào tai, quất roi trên đầu, bóp vú, xé áo, các cô đã tức lộn ruột lên rồi. Ấy là chưa tính đến chuyện bị bắt, bị hiếp. Cầm súng vác chông đi đánh chúng là sướng nhất. Ác cái xã đội chỉ chọn con trai vào du kích. Các cô thắc mắc om lên. Nhiều cô tự ý may mũ kaki của Quân giải phóng, mua tấm dù ngụy trang bảy chục đồng, mượn lựu đạn đeo lưng, đi dạo một vòng quanh chợ quanh ga rồi về báo cáo với xã đội: “Đằng nào tôi cũng lộ rồi, bất hợp pháp rồi, không đi trực diện được. Phải cho tôi vô du kích!”. Vẫn không ăn thua.

   Ngọ năn nỉ, thúc giục. Một cô nói lùng bùng như dỗi:

   - Hồi hiệp thương cũng đấu tranh chánh trị đó, cả nhà tôi còn sẹo trên lưng. Tôi là tôi oánh chết bỏ. Sẹo đạn vinh quang hơn sẹo roi!

   - Chị Năm nói rồi: tình hình trước khác, bây giờ khác...

   - Ai đi được cứ đi. Gia đình tôi tình nghi can cứu, cô lập loại A quản thúc tại xã, hồ sơ dày cả tấc, hễ tôi ló mặt khỏi ga Đồng Mè là tụi nó băm làm mắm liền.

   Liên tiếp mấy người nữa bàn ra.

   Sâm ngẩng lên, thấy đôi mắt Ngọ đang cầu cứu mình. Sâm là tổ phó. Các cô bạn gái thích Sâm vui tính, lắm sáng kiến mà lại ngang tàng không biết sợ thứ gì. Từ cưỡi trâu quất chạy đua, leo cây lấy tổ sáo đến chửi tụi ác ôn, Sâm đều dám làm. Sâm biết nếu mình nhận đi đấu tranh chính trị thì chị em sẽ theo nhiều đấy, nhưng sợ mất chân du kích nên Sâm cứ lờ đi. Bây giờ không lờ được nữa.

   Từ đêm đồng khởi đến nay, Sâm bị cuốn trong cơn lốc của phong trào, hay đúng hơn là Sâm cuốn theo mình một cơn lốc nho nhỏ mà vui rộn ràng. Mỗi lần tạt qua nhà, nghe má hỏi ăn cơm chưa, Sâm phải nghĩ một tí mới nhớ ra mình đang đói. Tóc đầy gió, mắt đựng mặt trời, tim sủi tăm, còn cái dạ dày thì chẳng biết nó đi đằng nào. Má mắng: Mày cứ chạy loắng biết nó đi đằng nào. Má mắng: “Mày cứ chạy loăng quăng, công tác gì cũng rờ vô một chút”. Sâm cười. Đúng là cái gì Sâm cũng muốn mó vào một chút, như người mới tìm được kho vàng. Chỉ có má rầy thôi, chứ không ai nghiêm khắc với cô gái đang ở cái lứa tuổi thích hát hơn nói, thích chạy nhảy hơn đi, hăm hở đến tận mười đầu ngón tay ngón chân, chưa muốn làm người lớn hẳn nhưng lại không thích bị xem như trẻ con, vừa khám phá ra cả thế giới nên chưa biết dồn hết ham mê cho cái gì. Nghĩa là cái lứa tuổi rắc rối lủng củng nhất mà cũng dễ thương nhất trong đời người đàn bà, từ bó tã u ơ đến bà cụ ẵm cháu.

   Con chim mới sổ lồng chuyền cành mãi không chán mà vẫn có một góc riêng gắn bó. Sâm làm đủ thứ công tác nhưng vẫn thèm được đánh giặc.

   Hôm trước anh cán bộ tuyển quân về lấy hơn ba chục thanh niên vào bộ đội tỉnh. Sâm lựa lúc vắng, nói ngọt với anh xin nhập ngũ. Anh ghi tên vào sổ tay, rồi đi biến chẳng thấy tăm hơi. Chán không. Sâm nhờ các anh du kích dạy bò, bắn, tháo lắp súng, đặt mìn. Bò rách cả đầu gối quần và cùi tay áo, Sâm vẫn không được vào du kích. Anh Sỏi nói ngang phè: “Địch đuổi, mày quăng súng chạy, ai ở đó lượm cho”. Sâm giận suốt một ngày, sau thấy không ăn thua mới thôi làm lẫy, lại nghĩ mẹo khác để được đánh giặc.

   Làm công tác nào cũng là giết giặc, mọi người đều nói vậy. Nhưng Sâm cứ muốn thấy rõ thằng giặc mình biết kia. Tất cả những khổ nhục trong mấy năm qua - của Sâm một ít và của má nhiều hơn, còn phần anh Sỏi để anh ấy lo - Sâm muốn đem đúc lại thành một thằng giặc có đủ đầu mình chân tay, cựa quậy la hét càng nhiều càng tốt. Rồi Sâm cắm giữa ngực nó một viên đạn. Hả ơi là hả. Nếu Sâm vớ được những đứa đã treo má lên đánh thịt lộn với da thì còn gì bằng. “Hồi nào mày đánh má tao hả?”. Nghĩ bấy nhiêu đã sướng rùng mình.

   Anh Sỏi lý sự:

   - Mày cứ tưởng tượng cuốc một lát cuốc là bằm đầu một thằng giặc. Báo Giải phóng nói đây nè.

   Anh đưa hẳn tờ báo ra. Sâm liệu cãi không nổi, hỏi má:

   - Hồi má ở tù, tụi nó đánh thiệt hay má tưởng tượng?

   Anh em lại hục hặc. Sâm giận qua loa vài phút gọi là, bởi sau đó Sỏi chịu nhường:

   - Hồi nào anh em du kích đau ốm, dư súng, anh đưa cho mà đánh.

   Ngoéo tay cẩn thận. Sâm nhận may cho anh một cái ba lô. Sỏi đi rồi, Sâm nghĩ lại mới biết mình hớ to. Hơn năm chục du kích mà chỉ có hai mươi tám cây súng, bao giờ mới dư súng để đến lượt Sâm?

   Còn một lẽ nữa khiến Sâm thích đánh giặc, là Sâm rất ham vui. Đánh giặc là một điều vui không thể tả. Anh Tùy, anh Son, các anh bộ đội và du kích xưa cũng như nay, bùn và mồ hôi đẫm áo xita xám hay bà ba đen, đều hoa chân múa tay và cười rung mái nhà. Thắng được một trận là cả làng hò reo mở hội ăn mừng, gói bánh mổ vịt. Không có cuộc vui nào to hơn. Cách mạng trăm công nghìn việc, Sâm muốn lãnh việc vui nhất. Tất nhiên nó có nguy hiểm, vì cái thằng địch cựa quậy la hét kia cũng bắn Sâm. Bắn chưa chắc trúng, trúng chưa chắc chết, mà chết thì... thì thôi chứ sao nữa, coi như đứt nôi hồi mới đẻ! Nằm nhà chắc gì đã khỏi ăn bí đao với kẹo đồng? Sâm nghĩ thế, nhưng sợ sai nên chỉ dám nói nhỏ với một số bạn thân.

   Bây giờ đôi mắt của Ngọ cứ khẩn khoản. Sâm buột miệng “à” một tiếng. Ngọ tươi mặt, đón ngay:

   - Đồng chí Sâm có ý kiến.

   - Chết cha, để yên... mình mới nghĩ ra cái gì đó, quên mất rồi.

   Chị em đợi một tí. Cô nào cũng có những lúc quên như thế, mở miệng xong không nhớ mình định nói gì.

   - À mình tính vầy nè. Vừa ở du kích vừa đi trực diện là tiện nhứt.

   Chị em nhao lên:

   - Mày khùng hả Sâm?

   - Bắn nó rồi tay không đi xáp mặt nó, nó xẻo ăn tái!

   Sâm khoát tay:

   - Yên, yên, đừng rối, mình quên hết... Giả sử cứ làm như hồi ta khởi, đánh giặc thì bôi mặt giả đàn ông, đánh xong giấu súng đi đấu tranh, đố tụi nó biết mình là du kích!

   - Vậy nàng không đi gác đường à? Nàng không soát ôtô, xét giấy tờ à? Lộ đứt đuôi đi chớ!

   - À cái vụ đó phải cho mình miễn, để người khác lo.

   - Nhắm chừng xã đội đồng ý không?

   Sâm nói liều:

   - Toàn dân đánh giặc mà, sao lại không. Có điều chị em mình phải giữ kín, lỡ tới tai gián điệp thì...

   - Cái đó khỏi dặn. Đứa nào để lộ coi như phản chị em, chống Cách mạng, tụi mình không thèm ngó mặt!

   Ừ xong làm ngay, bàn lâu chỉ thêm rối, các cô gái đều thích vậy. Nửa giờ sau, đội nữ du kích thành hình gồm mười một người. Sâm được bầu làm đội trưởng. Mỗi cô trong đội phải đánh giặc cả quân sự lẫn chính trị, không được tránh mặt nào. Ai sức yếu không chiến đấu được hoặc chưa thông đấu tranh chính trị thì chưa vào vội, lãnh việc khác. Hễ xã đội ừ một tiếng, chị em sẽ ra tay luôn. Trong khi chờ đợi, mỗi cô sẽ vót hai trăm chông tre và làm hai bàn chông sắt cho đội.

   Trước khi ra về, chị em còn dặn đi dặn lại Hai Ngọ cố xin vài cây súng, một ít lựu đạn và mìn. Đợi khi nhà vắng hẳn, Ngọ mới cắn nhẹ một miếng vào tai Sâm:

   - Thương mày quá! Mày không bày ra cái kiểu du kích bôi mặt đó thì tụi mình mang tiếng nhát gan, sợ trực diện.

   - Đâu phải tao nghĩ. Anh Bê chị Năm nói hoài phải đấu tranh cả hai chân, không nhớ sao? À, mày rán xin cho được súng nghe.

   Ngọ cười, nhìn vào mắt bạn:

   - Mày xin.

   - Hứ, mày ở chấp hành xã, các ảnh nể hơn.

   - Mày xin cái gì anh Bê cũng cho hết.

   Sâm hỏi luôn: “Sao vậy?”. Chợt hiểu, Sâm vùng vằng:

   - Tầm bậy tầm bạ, ghét mày lắm, tao không chơi nữa.

   Ngọ ôm Sâm, hôn đánh chút vào cái cổ ba ngấn đang đỏ nhanh:

   - Tao hở với ai đâu. Báo cho mày biết thôi chớ. Anh con trai nào không thương mày, có họa anh đó vừa đui vừa điếc.

   Mặt Sâm như bồ quân chín. Ngọ vẫn không tha:

   - Mày nói vầy nè: “Anh Bê không cho súng, em giận bây giờ”. Mày cười một cái đủ bốn đồng tiền cho ảnh coi, rồi háy (18) một phát, hứ một tiếng, đi luôn. Súng trên mình ảnh cũng cởi ra, chạy theo đưa.

   - Thôi, quỉ sứ!

   Sâm bịt tai, chạy vọt ra cổng.

   Gió bấc vuốt đôi má nóng. Sâm mỉm cười, lẩm bẩm: “Nói bậy không ai bằng”.

   Tự nhiên Sâm bước chậm dần, rồi dừng cạnh một gốc duối. Sâm táy máy bẻ một cành duối, rứt từng lá nhám, nghĩ: “Hay ta quay lại, bàn công tác thêm...”. Đằng sau ý nghĩ kiếm cớ ấy là cái tò mò rất rạo rực mà Sâm cố gạt đi, nó cứ thủ thỉ: “Nghe cho hết. Có sao Ngọ mới nói chớ. Hay anh Bê nhờ Ngọ ướm thử...”.

   Sâm bỗng bật cười, vất cành duối, thoăn thoắt đi xuống bãi sông. Má đánh luống ở đấy từ sớm, vác luôn cuốc để Sâm họp xong ra làm khoai với má. “Bỏ đi rồi trở lại, Ngọ nó cười chết. Để đến mai, à không, chiều nay. Tao cấm mày nói bậy. Bậy đâu, tao nghe anh Bê nói rõ ràng. Vậy là mình biết hết. Thích không. Biết cho vui thôi, cứ làm lơ, coi ảnh ăn ở ra sao. Anh chàng hay mắc cỡ ghê...”.

   Sâm tự phản mình mà không biết. Mọi lần các bạn mách anh này anh nọ phải lòng. Sâm chỉ cười khì rồi quên gọn hơ. Thằng Rân con lão Hạnh gửi thư tán tỉnh, Sâm đem đọc toang toang cho các bạn nghe, làm tuồng, ca vọng cổ “sáu câu đứng tim, phựt đèn màu, đờn nổi rộ”, rồi đốt. Chưa bao giờ Sâm bối rối như hôm nay.

----------------------------------------------------------
18. Nguýt.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM