Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:17:27 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Gia đình má Bảy  (Đọc 44046 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #30 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2012, 04:48:32 pm »

*
*    *

   Hai má con về đến nhà, Sâm bàn ngay:

   - Má nấu cơm, con kêu thiếu nhi tới họp nhà mình nghe má.

   - Ừ họp cho vui, bấy nhiêu năm con nít không được hát hò gì.

   Sâm rút cái loa bằng mo cau cài đầu phên, đi vòng quanh thôn. Tuy Sâm báo là “trưa tròn bóng” mới họp, nhưng các em chạy ngay theo Sâm thành một cái đuôi nhũng nhẵng, giả vờ không nghe chị hay mẹ réo gọi về ăn cơm. Sâm xua các em không được, bèn bày trò chơi:

   - Bây giờ tụi mình chạy thi, ai về nhà nấy, coi thử ai về trước. Hai, ba, chạy nè!

   Sâm vác loa chạy thoát về nhà, cười như nắc nẻ.

   Sâm được mến bởi hằng ngày thích chơi với các em, mà chơi như với bạn cùng tuổi, không ra vẻ đàn chị. Kể ra Sâm cũng chưa gương mẫu cho mấy, dễ nhắm mắt khi các em chơi những trò tếu giống Sâm hồi nhỏ, nhưng uy tín trong giới thiếu nhi thì quả Sâm có thừa.

   Mại ôm đàn măngđô đến.

   Mại biết nhạc lõm bõm, hát múa và ngâm thơ khá, ca bài chòi hạng mùi. Trong cuộc họp sáng nay, Mại chắc mẩm chị em sẽ năn nỉ mình phụ trách thiếu nhi. Tết đến sẽ có liên hoan to. Mại sẽ tập cho các em thật nổi đình đám. Khi các em lên sân khấu, người ta sẽ nức nở khen tài chị phụ trách. Chị phụ trách lúc ấy mặc áo nilông hồng viền đăng ten nhé, ra nghiêng đầu duyên dáng chào khán giả nhé, vừa gẩy đàn vừa ca những bài thướt tha, hoặc điều khiển các em múa hát, diễn kịch. Tuyệt. Vả lại trong tất cả các công tác bày ra trước mắt, Mại thấy cái công tác thiếu nhi là nhàn và ít nguy hiểm hơn cả, địch biết cũng không tội vạ gì. Ác cái chị em không tin, không cử Mại. Mại tủi lắm. May sao Sâm chưa quên Mại. Tài của Mại chưa đến nỗi bị bỏ phí.

   Mại ngơ ngác khi Sâm mở đầu cuộc họp đã dặn ngay thiếu nhi không được để trâu ăn lúa. Mại càng ngạc nhiên khi các em bàn rất hăng việc vót chông, theo dõi gián điệp, làm vườn rau ủng hộ du kích. Mại tưởng phụ trách thiếu nhi chỉ là chơi với các em thôi chứ.

   Nhưng Mại không đợi lâu. Sâm cắt:

   - Ta bàn bấy nhiêu thôi. Bây giờ chị Mại tập hát cho các em. Hoan hô chị Mại đi.

   Các em vỗ tay vừa vừa, không như khi đón Sâm. Mại không mếch lòng. Ghen với ai còn được, không bao giờ Mại ghen với Sâm, cô bạn có sức hút kỳ lạ đối với một người yếu đuối như Mại.

   Một anh bộ đội ghé vào may áo quần đã chép và tập cho Mại một bài hát mới. Mại bấm dây lựa giọng, hát trước một lần, rồi tập cho các em từng câu.

      Đây Trường Sơn oai hùng
      Đây Trường Sơn oai hùng
      Dân Việt Nam ta cất tiếng ca căm hờn
      Vì đất nước ta quân thù đang còn...


   Lứa tuổi các em từ khi biết nói đến nay chưa từng được tập hát. Các em hát say sưa, hết hơi, không kể nhạc điệu. Tiếng các em dội lên, lộn xộn và trong như một rừng khánh sành khác cỡ nhau cùng đánh, bay vang vang qua xóm trưa nắng dịu. Má Bảy đang thái chuối vội buông dao, lên đứng vịn khung cửa ngang ngắm các cháu.

      Đỉnh Trường Sơn cao ngất từng mây
      Đèo suối giăng, mây che xóa lối, ờ ớ ờ ơ ơ ớ...

   Những người lớn trong xóm lắng tai, mỉm cười, thấy vườn cây quanh nhà bỗng dưng đâm chồi xanh mướt. Tiếng hát phải đổ máu mới giành được cho con cháu, quý lạ.

      Tiếng hát trên đỉnh Trường Sơn này
      Gửi đến triệu người có trái tim anh hùng chiến đấu
      Giữ vững niềm tin yêu...


   Rừng có êm chim mới hót. Có gì an ủi và giữ tin yên cho bằng tiếng hát trẻ thơ? Một bầy chim vui quấn quít lượn trên các ngọn dừa cau. Gió cánh vuốt mát rượi trên những vầng trán nóng hổi lo toan, xoa dãn những nếp răn mà khổ nhục đã khía chung quanh các đôi mắt. Những hi sinh hôm nay còn đáng kể gì khi ngày mai đã hiện hình?

   Sâm cũng tập hát. Sâm hát được, nhưng thích ngâm thơ hơn. Sâm thức khuya cặm cụi chép thơ đăng trên các số báo Giải phóng mà anh Dõng cho mượn, vẽ thêm một ít hoa, lá, chim vào chỗ giấy thừa. Anh Bê có chép giùm mấy bài...

   Hôm kia Sâm mới khám phá một chuyện rất lạ. Cái anh chàng Bê đánh đàn độc huyền (19), mà lại đánh hay nữa mới kỳ chứ!

   Sâm gánh chông xuống nộp ở nhà ông Rạng, chợt nghe tiếng đàn thánh thót. Sâm dừng lại, nghe. Sâm thấy hay. Rồi rất hay. Rồi tiếng đàn như những sợi tơ luồn trong chân tay Sâm, rung êm êm, kéo Sâm ngồi xuống súc gỗ bên.rào, cuốn Sâm theo một dòng vui buồn lẫn lộn, khi muốn thổn thức và khi nhắm mắt mỉm cười. Tiếng đàn dứt. Sâm quảy gánh chông vào nhà. Chỉ có một mình anh Bê ngồi đấy đang vặn dây đàn. Với cái dáng muôn năm lúng túng, anh nhấc vội cây đàn lên bàn thờ, hỏi luôn việc tổ chức Hội phụ nữ. Sâm truy mãi, anh mới nói như phân trần:

   - Cha tôi ưa đờn bày cho hồi nhỏ, tôi quên ráo...

   Anh chuồn mất. Sâm gánh chông ra lò rèn, cậu Chuân hỏi có bao nhiêu chông Sâm cũng chẳng nhớ.

   Ba phát súng “cắc bụp” nổ phía Đồng Mè.

   Bẵng đi mươi tích tắc, rồi súng đủ cỡ nổi lên túi bụi. Tiếng hát vụt tắt. Tiếng súng được thể càng gào rống, nghe mà tức ói như gà nhảy mâm cỗ.

   “Tắc tắc pùng pùng. Uỳnh. Cắc cắc cắc cắc. Rò ò ò ò. Oàng!”.

   Mại hơi cuống, đưa mắt nhìn Sâm. Sâm gắt:

   - Kệ cha nó! Cái bọn biệt kích chết hụt, ngồi đâu run đó, ăn thua gì thứ thấp thấp lùn lùn nổ xa lắc!

   Các em nhao nhao:

   - Cứ hát, mình nghi là mình thua nó!

   - Đừng sợ, chị Mại!

   Sâm ghé tai Mại:

   - Tao xuống Đồng Mè theo du kích đây. Mày cứ tập, có gì tao chạy về báo cho.

   Mại yên trí, lại bắt giọng cho các em hát tiếp.

   Ông Nhâm qua sân, vào nhà bếp. Ông lật cuốn sổ, đeo kính lên mắt, lại đẩy kính lên trán để nhìn má Bảy đang lầm bầm chửi bọn biệt kích mắc dịch đến phá rối trẻ em.

   - Làm cái này cho xong rồi tôi chửi phụ với bà. Chà, con nít hát to thiệt.

   Má Bảy bưng bát nước đến mời, ngồi xuống chõng cạnh ông Nhâm. Ông nói to để lấn tiếng hát:

   - Ủy ban thấy tôi lão nông tri điền mới giao cho tôi một chân ruộng đất. Bà có mấy trăm mẫu nói tôi ghi cho lẹ. Để lui tới nhiều lần, ngồi với nhau kiểu này, người ta nghi tôi với bà tình tứ thêm rầy, hiểu chưa?

   - Không sót một cái răng mà còn học đòi đi cà lơ phất phơ... Mới mấy ngày đã thu thuế điền thổ a ông?

   - Bộ bà này lẫn sao chớ. Ruộng đất trâu bò tịch thu của thằng Phổ, bấy nhiêu công điền công thổ, bà quên rồi à? Hay chê không lấy thì nói?

   Má Bảy ngẩn người:

   - Chia gấp vậy a ông? Hồi xưa đánh Tây sáu bảy năm mới giảm tô kia mà.

   - Trước khác, giờ khác. Nghe nói Kỳ Hải chưa giải phóng mà đội công tác đã lập phương án chia ruộng công rồi. Vậy mới nói là Cách mạng hết lòng lo cho dân nghèo. Thôi tính đi bà.

   - Có gì mà tính. Ba má con có hai sào mốt ruộng cạn chó chê không ỉa đó. Đất ở sào hai. Có điều tụi hội đồng ăn gian, đẩy ruộng tôi lên ba sào, đất lên sào rưỡi, nhờ các ông đo đạc lại giùm.

   Ông Nhâm mút đầu bút chì, ghi sổ.

   Tiếng súng thưa đi một lát lại rào rào nổi lên, nghe xa hơn. Đại đội biệt kích này bị xua dần từ Kỳ Sơn xuống Kỳ Lâm, vừa rồi lại bị tống khỏi Kỳ Bường, Kỳ Minh. Chúng chết, bị thương và bỏ trốn mất non nửa số quân. Bọn còn lại khiếp lắm. Cũng như lần trước, hôm nay chúng chỉ đến ga Đồng Mè nằm bắn cù cưa với du kích, không dám băng đồng vào xóm.

   Ông Nhâm gãi chòm râu đen:

   - Hồi đánh Tây tôi cũng ở Ban ruộng đất, đo đạc mất cả tháng, bây giờ còn nhớ nhập tâm từng khoảnh, thuộc từng cái lỗ lươn. Không hỏi tôi cũng ghi đúng thước tấc. Có gì lôi thôi cứ đưa bà con bình nghị là ra hết. Nghĩ cũng tội, anh Bê lo trăm công ngàn việc, vậy chớ gặp tôi là nhắc làm cái vụ ruộng đất mau mau để bà con kịp cấy.

   Trong thôn, ông Nhâm được tiếng là người trực tính đến lỗ mãng, không biết nói dựa ai. Hồi Pháp thuộc ông đánh lại lý trưởng với tuần đinh bị tù mấy năm. Bọn tề Mỹ - Diệm ghét và gờm ông, ông không có con em thoát ly hay tập kết mà vẫn bị xếp loại A. Có lần thằng Phổ lùa lưỡi dao găm nạy răng ông bắt hô khẩu hiệu đả đảo Cụ Hồ, ông vẫn không mở miệng. Nay đối với cán bộ ta ông cũng nói ngang như cua.

   Mới đây ông đưa một anh cán bộ kinh tế của huyện xuống Đồng Mè kiểm kê tài sản của thằng Phổ. Địch ập vào ga, bắn qua xóm chiu chíu. Anh kia bắt đầu cuống. Ông cười khà:

   - Tôi còn thì anh còn, có ai sanh ra được ba lớp da đâu?

   Anh cán bộ ngượng quá, cùng với ông khóa cửa, dán giấy niêm phong hẳn hoi. Sau đó ông mới dắt anh về nhà, mổ vịt cho ăn.

   Ông đã khen ai thì người ấy không phải tay vừa. Đối với Đảng và Mặt trận ông khen hết lời. Trong ủy ban xã ông khen anh Bê, chị Năm Tân, khen anh Trưng xã đội trưởng một ít, còn bốn ủy viên kia thì ông chậc lưỡi: “Cũng vậy thôi, thiếu voi phải dùng ngựa”. Cô Hai Ngọ phải luôn luôn thay mẹ xoa dịu những cái va chạm do cha gây nên. Ông nể con gái ra mặt, thường gọi đùa là “bà chánh trị viên”.

   Ông Nhâm gấp sổ gỡ kính, ra về. Bước đến cửa, ông quay lại nói trầm ngâm:

   - Thấy hai đứa nhà bà với con Hai nhà tôi lo gánh vác việc nước, chạy chân không bén đất, tôi nghĩ thương tụi nó mà cũng áy náy cái phận mình. Phải chi sức đương trai, tôi cũng ra trận chia lửa với con cháu chút đỉnh...

   Ông chép miệng, khoát tay một cái, bỏ đi.

---------------------------------------------------------
19. Đàn bầu.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #31 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2012, 04:52:36 pm »

13

   Sâm xuống đến đầu thôn Đồng Trầu thì tiếng súng tắt hẳn.

   Các bà đi chợ quận về báo tin đại đội biệt kích đã rút. Sâm tiếc ngẩn ra. Định xuống mượn súng đánh một trận ra trò, lại hụt mất. Đành đi thăm các anh du kích vậy. Mỗi ngày một ít, các anh quen thấy Sâm ra chỗ súng đạn, sẽ tin hơn.

   Ở chợ Đồng Trầu kẻ mua người bán vẫn đông. Máy may reo tanh tách. Máy xát gạo kêu rò rò tành tành. Hai chiếc ôtô chở khách, bên sườn viết chữ sơn thật to “xe đò”, “xe chở hàng tư” để khỏi lầm với xe nhà binh địch, đang trút người và hàng trước trạm gác của du kích. Chị Năm Tân tiếp đồng bào thị xã về thăm vùng giải phóng trong trụ sở ủy ban. Các em đi học chiều đuổi nhau tung tăng trên đường cái. Mấy anh bộ đội xuống mua hàng đang cân một thùng mắm. Không có cái vẻ gì vừa xảy ra chiến đấu. Nếu Sâm hỏi, chắc bà con sẽ nói lơ đãng: “Ờ, mới tum cốc đâu đó. Chuyện cơm bữa, hơi đâu...”.

   Qua khỏi chợ, Sâm nghe Tư Sỏi gọi bên đường. Bốn anh du kích đang ăn mì Quảng trong quán bà Lành, nơi mì ngon nổi tiếng. Các bà các chị chen nhau chật quán, nghe các anh kể trận đánh biệt kích vừa rồi. Bà Lành luôn tay đơm mì, chan nước lèo, thay bát, miệng thúc giục:

   - Đồng bào ưu điểm cho anh em cũng phải đợi bắc nước mổ gà. Tao đây sẵn đồ ăn nhậu, tụi bay thiệt tình là tao ưng nhứt. Tao không đủ sức mời hết mấy chục anh em, gặp đứa nào khao đứa nấy thôi. Trận mạc binh nhung gì mới ăn vài tô mì đã kêu no! Đây bia cam tao mở sẵn, bay không uống coi như bắt tao đổ!

   Thoáng một cái, bà mở thêm bốn năm chai bia và nước cam, nắp sắt nối nhau rơi lách cách. Một chị đến giật cái cần mở bia:

   - Thôi bà ơi, để tụi nó còn liên hoan với Hội mẹ nữa!

   Tư Sỏi vấy bùn xám từ đầu đến chân, thứ bùn chỉ ruộng Đồng Mè mới có. Riêng cây các bin vẫn sạch bóng. Cây súng ấy Sỏi tước của tên tiểu đội trưởng dân vệ tóc gọng kính đã đưa đi cải tạo sáu tháng trên căn cứ. Sỏi cười ha hả với em gái:

   - Các anh bắn sơ sơ mười bảy viên đạn, tụi nó trút một bồ là ít. Ba thằng chết ngoẻo củ từ, năm thằng nữa rên ư ử như chó dàm miệng... Anh em mình hả? Không sao hết. Chỉ rách vài miếng quần. Vườn vắng chủ nhiều gai kinh... Anh Bê cũng được một thằng.

   Xã đội phó Sỏi chỉ tạt qua nhà vài ba ngày một lần, nhét túi một nắm thuốc nguyên lá nhà trồng, hỏi qua việc lúa khoai rồi đi biến. Thế nhưng má và Sâm đều thấy Sỏi gần gũi hơn, có mặt nhiều hơn. Lớp vỏ đá bọc người Sỏi đã vỡ tung. Sỏi cười luôn miệng, hát nghêu ngao bằng cái giọng cổ ồ ề. Sỏi còn xưng “con” với má, xưng “anh” với Sâm, nghe dễ thương hẳn ra.

   Như cái lò xo bị nén, Sỏi bung lên với tất cả sức nẩy của căm thù, đánh giặc như hùm. Bọn biệt kích đã biết tài bắn của Sỏi, còn bị đồng bào vẽ rằn ri thêm mãi nên hễ nghe các bin nổ chúng lại kêu om sòm: “Tư Sỏi đó, thụt đầu ép đít xuống!”.

   Các anh du kích né chỗ cho Sâm ngồi bên anh. Bà Lành ấn cốc nước cam vào tay Sâm bắt uống:

   - Tao được một đứa như con út này, tao đem treo giải cho du kích. Đứa nào đánh giỏi tao cho không.

   Các bà ngồi quanh cũng chen mấy câu đùa. Sâm cứ nhìn xuống đầu gối, nín thít, thấy như ngồi trên gai mít nhưng không dám bỏ đi, sợ vô phép. Sâm chỉ bạo miệng trước những người nhút nhát hơn mình, như anh Bê chẳng hạn.

   Sâm biết mình dễ coi, nhưng không thích - hay chưa thích - ai nhắc đến mặt mũi mình, bởi nhân đó các cô bác cứ ghẹo những sự chồng con nghe mắc cỡ chết. Hình như Sâm chưa lấy chồng thì người ta không chịu được hay sao ấy. Ra đường Sâm bị con trai nhìn chằm chằm như người có tì có tích, Sâm đi khỏi là y như rằng có tiếng cười sau lưng. Chơi thân với Chuân thì bị ghép đôi. Bực ghê. Sâm lại mắc cái bệnh hay đỏ mặt, nên càng làm nghiêm càng bị trêu già. Sâm cố nín để máu khỏi bốc lên má, nhưng tập mãi không ăn thua.

   Cũng may các anh du kích đã kể tiếp chuyện đánh giặc. Họ nói với cô bác, nhưng thỉnh thoảng liếc xéo một cái về phía Sâm. Nụ cười và bàn tay vuốt tóc trở nên duyên dáng hơn. Câu nói giỡn tế nhị hơn. Sâm chỉ nghe chăm chú mà không để ý đến những thay đổi ấy. Từ khi lớn lên Sâm luôn luôn thấy các anh con trai chưa vợ làm điệu trước mặt mình. Sâm tưởng ở đâu và lúc nào họ cũng vuốt tóc cười duyên như vậy, chỉ riêng anh Sỏi là khác mọi người.

   Sỏi hỏi em:

   - Ở nhà nghe nổ, má với em sợ không?

   Sâm xịu mặt, nói nhỏ:

   - Má không sợ. Còn em ức lắm.

   - Sao vậy?

   - Chưa được đánh thì ức chớ sao.

   Sỏi định đùa một câu, lại thôi, nheo mắt nhìn Sâm. Cái nhìn ấm áp, che chở, hơi giễu cợt nữa. Sỏi không hề sợ mình chết hay bị thương, nhưng chỉ nghĩ đến má hay em gái bị trúng đạn, Sỏi đã ớn lạnh. Bao giờ bức xúc quá sẽ hay. Lúc này còn thong thả, Sỏi chưa muốn em ra trận.

   Lựa lúc câu chuyện hơi ngớt, Sâm chào về. Sâm muốn về thật, nhưng đôi chân cứ nhất định rẽ về phía lò rèn ông Rạng, tai đã bắt đầu nghe tiếng đàn độc huyền.

   Tổ sản xuất võ khí họp ngồi xổm giữa sân nhà ông Rạng. Các kiểu bàn chông, đạp lôi, mìn giật bày la liệt giữa vòng người. Ông Rạng đang phân trần vì sao không làm được đạn ca líp 12. Xã đội có hơn hai chục cây súng săn tước của “thanh niên diệt cộng”, nhưng đạn sắp hết.

   Bê xóc xóc mấy cái vỏ đạn trên tay, nói chậm rãi:

   - Bốn trăm đạn tom xông mới lấy được, bác để một trăm làm đạp lôi, còn ba trăm bác cứ phá làm đạn ca líp. Hột nổ tom xông dễ tháo nhứt, không khó như đạn chín ly đâu. Thuốc thì hai liều rưỡi của tom xông được một liều ca líp. Ba đầu đạn tom xông nấu được chín viên chì ca líp. Ta cắt thêm ống chì ở nhà ga về, xài thả giàn...

   Sâm chen vào. Vừa thấy Bê, Sâm giật mình: anh gầy và đen đi nhiều, hai mắt đỏ hơi sưng. Khốn khổ, lại trắng ngày trắng đêm!

   Bê khẽ gật đầu chào Sâm, nói tiếp:

   - Bác cho lựa lại vỏ đạn đi. Ta làm cái bàn lùa sắt, lùa lại số vỏ nở nhiều. Cố gắng làm vỏ đạn mới. Kiếm được thứ đạn trọng liên mười ba ly hai, giũa đít đi một ít.

   Ông Rạng nhăn nhó:

   - Tổ cha thằng Mỹ, bây giờ lại xài toàn đạn đui xết (20)?

   Anh Trưng vỗ đùi reo:

   - Mẹ cha, đạn mười ba ly hai trên gò Chà Là chớ đâu! Sau cái trận ta hốt đồn Đồng Mè tụi tôi mò được bốn thùng đạn chìm dưới vũng lầy, khui ra thấy toàn thứ to bằng cán dao. Đem cho đại đội đui xết phòng không của anh Trân, ảnh không lấy, nói đạn to hơn cỡ súng một chút. Gặp hồi Tây càn đóng đồn lại, tụi tôi phải đem chôn.

   Cả tổ mừng cuống, bàn nhau đi đào ngay số đạn ấy.

   Sâm ngạc nhiên khi nghe Bê bày cách làm đạn. Con người sao mà lắm tài ngầm. Quen với anh ấy cứ như xuôi thuyền dọc con sông lạ, qua mỗi khúc lại thấy một cái gì mới. Sâm nhớ một hôm anh về ăn cơm, lấy cái giũa con và mấy mẩu nhôm trong bao ra sửa luôn cho má mấy cái xoong sứt quai. Nhoáy cái là xong, chắc như mới... Sâm hỏi anh thuộc thơ không. Không. Sâm cứ đưa cuốn vở bắt anh chép thơ hộ. Anh nghĩ một phút rồi chép thuộc lòng ba bài thơ Tố Hữu. Kỳ cục chưa.

   Đợi khá lâu, Sâm vẫn không nghe ai hỏi đến mình. Mọi người đang trao tay nhau cái đạp lôi nhỏ xíu làm bằng viên đạn các bin lắp vào mảnh gỗ. Giá như lúc khác Sâm đã xúm vào xem bằng thích, nhưng hôm nay Sâm muốn gặp riêng anh Bê. Dù ảnh không cần ai thăm hỏi, ảnh cũng phải nghe báo cáo về đội du kích bí mật chứ. Ảnh phớt lờ Sâm. Người ta coi Sâm như đứa trẻ đến quẩn chân người lớn. Người ta bây giờ là ông chủ tịch rồi mà, thiếu gì kẻ săn đón, đâu phải như hồi nằm hầm rúc bụi mà cần đến Sâm. Thế này mà không giận sao được!

   Sâm hầm hầm bỏ ra. Đến ngõ, Sâm dừng đợi một tí gọi là có nhân nhượng, quay đầu nhìn vào. Vẫn không ai chạy theo. Coi vậy mà tệ hết chỗ nói. Ra con Ngọ đùa ác. “Súng trên mình ảnh cũng cởi ra đưa...”. Sâm giả vờ không tin, nhưng đã tin thật.

   Sâm sải chân đi rất dứt khoát, đá bay luôn một khúc ngọn mía nằm ngang đường.

   - Cô Út!

   Sâm ngẩng lên. Rân bóp phanh cả hai tay, nhảy xuống xe đạp, cười tươi:

   - Tôi lên thăm cô Út, thấy nhà đóng của. Chiều nay tôi phải về trường.

   - Anh đi đâu?

   - Tôi vô lò rèn nhờ sửa cái xe. Cô cũng vô luôn chớ?

   Rất nhanh, Sâm thấy các kiểu chông mìn bày giữa sân nhà ông Rạng. Cái xe mới tinh việc gì phải sửa? Ngoài chợ có tới hai tiệm sửa xe đạp kia mà. Con lão phó đại diện giàu sụ, học ít phá của nhiều, đáng ngờ lắm. Sao anh em du kích để hắn sục lên tận nhà Sâm, vào tận đây? Sâm không được lộ mặt, nhưng phải tìm cách chặn hắn lại.

   Sâm nói vội:

   - Tôi... tôi tới đặt rèn cái cuốc. Ông Rạng đi vắng.

   Rân ngần ngừ một tí, rồi trở đầu xe. Hắn nhìn Sâm không chớp. Sâm khó chịu quay đi, thấy ngưa ngứa trên má như dính luồng mắt của hắn.

   - Cô Út về nhà để tôi đèo...

   - Tôi còn ghé mấy chỗ nữa. Anh cứ đi trước.

   Rân không lên xe. Sâm cũng không dám bỏ đi, sợ hắn lọt vào lò rèn. Cuối cùng, Sâm đành phải đi bên hắn về phía chợ.

   Con người Rân cũng mới tinh như xe. Áo téc-gan trắng, quần đoóc-giông, mũ phớt, giày da đen mõm nhái, tất cả bốc mùi thơm lựng. Hắn bảnh bao theo kiểu công tử bột với nước da trắng xanh, mái tóc sấy và cặp kính trắng không số. Đúng cái kiểu mà Sâm ghét nhất.

   Rân hỏi linh tinh, rồi thấp giọng:

   - Sao cô Út không trả lời sáu lá thơ của tôi?

   - Tôi lo cuốc đất lật cỏ, ngày giờ đâu viết thơ.

   - Mấy cái khăn voan tôi gửi, cô không nhận. Tôi cũng chỗ bạn học với anh Tư, đâu phải xa lạ mà cô... cô đành đoạn vậy?

   - Dân làm ăn, xài thứ đó người ta cười thấy mồ.

   Rân sạm mặt. Hắn tưởng Sâm im lặng lâu nay chỉ vì giữ ý. Chưa một cô gái nào từ chối hắn một cách ngạo nghễ như vậy, kể cả những cô con nhà giàu học ban tú tài với hắn. Hắn cười gượng:

   - Vậy cô Út ưng thứ gì để tôi kiếm. Một chút lưu niệm...

   - Cảm ơn, nhà tôi đủ ăn.

   Sâm dừng lại để buộc hắn đi trước. Những câu dấm dẳn của Sâm khiến Rân bắt đầu hiểu vì sao Sâm chịu cùng đi và nói chuyện với hắn. Cơn giận kéo dài lâu nay, vừa bị nén một lát đã bùng lại. Rân nói hằn học:

   - Bây giờ chắc cô tiến bộ lắm, cô khinh thằng này như rác...

   - Tôi trước sao sau vậy.

   - Tôi quý cô bao nhiêu, cô làm bộ làm tịch bấy nhiêu.

   - Kỳ chưa, làm bộ cái gì?

   - Biết mà. Tôi là con địa chủ, con Việt gian. Cô thành phần nông dân. Cảm tình với tôi là mất lập trường. Người ta dạy cô vậy đó. Lát nữa chắc cô ra lệnh cho du kích bắt tôi đưa đi cải tạo, phải không?

   Sâm đã nổi khùng, không lấp lửng được nữa.

   - Nói cho anh biết: đây là đất của Cách mạng, tôi là dân của Cách mạng. Anh ăn ở phải chăng thì lui tới bao nhiêu cũng được. Còn cứ giở cái lối xỏ xiên đâm thọc đó ra, đứa con nít cũng trói anh chớ chẳng cần người lớn.

   - À để coi ai trói ai!

   Mặt Rân xám ngắt. Bàn tay hắn run trên ghi đông. Hắn nhảy lên xe, cười gằn, ném lại một câu cuối cùng:

   - Cạn tàu ráo máng. Về sau đừng hối nghe!

   Hắn phóng thẳng về phía chợ. Sâm giẫm chân, định kêu bà con vây bắt thằng phản động. Nhưng kịp nghĩ lại, Sâm đi gấp đến trạm gác của du kích. Mỗi chủ nhật hàng năm bảy chục học sinh về thăm nhà tại Kỳ Bường hoặc đi ngang qua Kỳ Bường, gặp anh em ta đều mừng, đều săn đón hỏi chuyện Cách mạng, có ai hỗn xược như thằng này đâu. Chưa có chứng cớ để bắt hắn, nhưng phải theo dõi hắn thật sát. Hắn vừa lộ mặt một phần trong cơn tức.

   Rân về nhà lấy gói áo quần, đạp xe thẳng xuống thị xã. Khi Tư Sỏi đến nhà lão Hạnh thì hắn đã đi cách mười lăm phút.

---------------------------------------------------------
20. Mười hai ly bảy.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #32 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2012, 04:56:40 pm »

*
*    *

   - Sâm giận tôi à?

   Sâm không đáp. Bê hết vuốt quai tiểu liên lại xốc ngón tay vào mái tóc quăn:

   - Đang họp, Sâm đi hồi nào tôi không hay. Tôi ra chợ tìm Sâm rồi lên luôn đây...

   Hai người đi bên nhau trên khúc đường vắng. Sâm đã báo cáo xong việc thành lập đội du kích bí mật bằng cái giọng trăm phần trăm công tác. Bê khen mãi, hứa sẽ bàn với xã đội cấp cho vài cây súng, một số lựu đạn và mìn. Chị em nên kiếm thêm vũ khí, làm nhiều chông bẫy. Bê không cởi súng ra đưa, nhưng cũng vồn vã hết sức:

   - Sáng kiến của chị em hay lắm, tôi rất mừng...

   Xong chuyện thằng Rân, xong tất cả các việc công để nói với nhau, cả hai đâm lúng túng. Sâm còn thấy mình không nên làm lành vội.

   - Má có trách tôi không?

   Im lặng.

   - Sâm còn giận à? Tôi xin lỗi rồi mà.

   Sâm vẫn nín thinh. Sâm vừa nhận ra anh Bê không gọi “cô Út” nữa, và thấy thèn thẹn. Anh chàng lấn một bước rồi nhé. Ban nãy Sâm đi bên thằng Rân, bây giờ sóng đôi với anh Bê. Buồn cười nhỉ. Sâm dắt anh Bê đến giao cho trạm gác: “Theo dõi cho khéo, đừng để ảnh vô nhà tôi”. Ai cũng ngơ ngác, nói Sâm điên... Sâm bật cười thành tiếng, quay lại:

   - Má không trách. Em cũng hết giận. Xí xóa.

   - Hòa bình lập lại...

   - Chưa, mới ngừng bắn sơ sơ.

   Sâm cười. Mắt Sâm sáng quá, Bê không nhìn thắng được.

   Anh bộ đội về làng, phải lòng một cô nào, thường áy náy sợ chạm trán với những anh trai làng đang rắp ranh cô ấy, có khi phải đợi chuyển đi nơi khác mới dám gửi về một lá thư hỏi ướm. Bê cũng vậy. Đối với Bê tình yêu cũng như rượu, nhấp một tí là say. Hễ say thì dễ líu lưỡi đỏ mặt. Huống chi Sâm lại là một thứ rượu mạnh cháy cổ, nên từ khi cảm thấy mình đối với Sâm có cái gì khang khác, Bê bắt đầu trốn biệt. Bê còn phải công tác lâu dài ở Kỳ Bường, lỡ có điều ra tiếng vào thì phiền cho Bê mà cũng tội cho Sâm. Bê sợ má Bảy nghĩ: “Té ra mình nuôi ong tay áo”. Bê càng sợ Sâm vùng vằng: “Tôi coi anh như anh Tư, đâu có ngờ...”.

   Mới tính sơ sơ đã có non một tiểu đội con trai muốn làm thân với Sâm, trong đó có một anh cán bộ binh vận của tỉnh đã học đại học Sài Gòn, một anh cán bộ huyện đội rất đẹp người. Còn Bê... “Mình ra cái quái gì. Vụng, xấu xí, chỉ biết nghề đập sắt, học chẳng hay cày cũng dở...”. Về nhà má Bảy, Bê làm ngay một việc gì để chân tay khỏi thừa, nhưng khổ nhất là con mắt không biết đặt vào đâu, bởi khi có Sâm ở đấy thì cả cái chai bên bếp, cái cuốc đầu hè cũng ngoái cổ nhìn theo Sâm. Bê giữ ý đến mức lạnh nhạt hẳn đi với Sâm, và thấy những sợi dây tự trói mình cứ siết vào thịt đau buốt. Còn Sâm vẫn trêu không ngớt. Anh Bê dù. Anh Bê còi (Bê vẫn giữ cái còi xe ba bánh để dọa địch). Sau này Sâm đổi gọi là ông chủ...

   - Sao lâu nay anh không về nhà em?

   - Tôi... tôi bận luôn.

   Bê nói dối thảm hại, vì Bê đạp xe lên Đồng Dừa gặp chú Năm nhiều lần. Và Sâm không tha:

   - Anh bận đến nỗi qua ngõ không vô được à?

   Bê thú thực như người nhắm mắt nhảy sông:

   - Tôi sợ người ta bàn tán, Sâm không bằng lòng. Nếu Sâm đồng ý... tôi lên...

   Im lặng.

   Sâm ngắm bãi cỏ bên trái rất chăm chú như đang tìm con trâu đứt mũi đi rông. Bê xem những dấu dép trên mặt đường, nghĩ: “Mình rất ngu. Nói dối không sách... Cái mương nước chỗ xóm Đình phải sửa lại thành hào giao thông, địch từ xóm Ga bắn qua nhiều... Chắc Sâm giận ghê lắm...”. Bê liếc sang trái, thấy một cái tai đỏ ngang mào gà, một cái cổ ba ngấn trên hồng dưới trắng. Bê lại đếm dấu dép và nghĩ những điều rất chi là lộn xộn.

   Tiếng phanh xe đạp rít cùng một lần với tiếng reo:

   - Đụng rồi!

   Cả hai giật mình. Chuân nhảy xuống, hấp tấp:

   - Anh Sỏi mời anh trở xuống giải quyết cái vụ xăng. Xe hàng đem lên được sáu thùng xăng, đưa hết cho lão chủ máy xay, lão không chịu chia cho máy bơm. Anh đi xe đạp cho mau, họ đang đợi.

   Bấy giờ Chuân mới trông thấy Sâm, và ngờ ngợ đoán mình đến không phải lúc. Chuân ấp úng:

   - Ông xuống Đồng Trầu để anh Bê đèo. Mình về bộ cũng được.

   - Mình xuống làm gì.

   Sâm nguẩy một cái, đi thẳng, còn nghe Bê nói với: “Lát nữa tôi lên”. Chuân chạy theo dúi vào tay Sâm một trái lựu đạn:

   - Thằng lính quen mới gửi cho, để phần ông.

   Chuân nhảy lên chỗ đèo hàng, Bê phóng đi.

   “Ừ, tại sao mình lại đi tìm anh Bê, giận anh, hỏi vặn anh, rồi bây giờ ngơ ngẩn? Anh ấy không phải bà con, bạn bè, không phải hằng ngày làm công tác với mình như trước nữa, không phải cái gì hết. Hay là... hay là người dưng khác họ đem lòng thương nhau? Tầm bậy. Mình còn lâu lắm mới... ấy. Năm bảy năm nữa. Cấm nghĩ lung tung. Cọc đi tìm trâu. Con gái hư tàn hư tệ...”.

   Sâm tự hỏi và mắng mình như thế, thấy lòng dịu dần. Mấy anh bộ đội quen đi qua, Sâm chào niềm nở, chỉ đường. Vậy đó, Sâm sẽ thân với tất cả mọi người mà không mến riêng ai cả, có phải thích không... Sâm nắn nắn quả lựu đạn gói trong khăn tay, vui hẳn lên.

   Đến bờ sông. Quãng bãi này lác đác có người cuốc đất. Sâm đưa mắt tìm má. Chắc má đang bổ từng nhát cuốc yếu, chậm, nhưng rất bền. Bên đôi rổ sảo, má dựng cái cuốc của Sâm vừa nhờ ông Nhâm tra cho cái cán tre cũ lên nước bóng loáng, rất êm tay. Không lần nào má để cán cuốc chạm đất.

   - Ồ!

   Sâm bật kêu khi thấy cái xe nước được dựng trước mùa. Nó xinh quá.

   Cái xe nước bốn bánh nhỏ đang quay êm êm. Mặt trời xuyên nền mây quét xuống những chùm tia nan quạt, một luồng nắng to chiếu trùm trên xe nước khiến nó sáng rực giữa trời đất xam xám của chiều đông. Những ống tre ướt nẩy ánh vàng lóng lánh, kiêu hãnh rót từng vốc bạc vào máng. Làm sao hình dung được quê hương miền Trung với những con sông ngắn, sôi nổi, nước trong xanh thấy được cá bống bò trên đáy cát, nếu thiếu đi những cái xe nước thân thương này? Quãng sông lớn vui với xe nước khổng lồ mười hai bánh, khúc sông nhỏ cũng âu yếm quay cái xe nước con con ngày đêm đưa chất sống vào nuôi lúa nuôi người. Xe nước có mặt khắp nơi và cùng sống với người với lúa.

   Sâm mỉm cười, gật đầu chào cái xe nước bạn cũ. Mối tơ vò ban nãy vụt biến. Sâm bận nghe xe nước nói lại với mình bao nhiêu câu chuyện không lời.

   Trong tiếng má ru bên nôi em có tiếng nhạc rì rào kín kít của xe nước. Ba má ra đồng, em u ơ tập hóng chuyện với cái xe nước không trông thấy nhưng luôn có mặt trong căn nhà tranh. Khi đời em mở rộng hơn, em vừa đi vừa bò đến tận vườn, tìm ra sông núi ở cái mương xe (21) chảy róc rách bên ụ đất mối. Em lớn lên. Anh Tư với em trải chiếu nằm bên miệng hầm khoét vào bực sông, giữa bom rơi đạn rít em vẫn nghe tiếng xe nước vỗ về. Em nghịch lắm nhé. Những cái trò lặn dưới xe nước, hay đu người cho bánh xe nâng cao rồi nhảy tõm xuống đã để lại trên mông em nhiều con lươn đỏ. Khi đại bác giặc Pháp phá gãy xe nước, em thương quá, vừa tát nước gàu dai vừa khóc. Thế rồi ta đi địch tới. Cũng như mọi thứ khác em quí, xe nước về tay ác ôn. Em nhớ chứ., em đã nghe tiếng xe nước trong đêm chợt dội lên, nghiến răng nức nở khi xác đồng chí trôi mắc vành tre. Em đã thấy những chị tóc xổ tung chạy dọc bờ sông từ nguồn đến biển, gào khóc tìm thây chồng ở mỗi bờ cừ xe nước. Nước mắt em đã nhiều lần rơi lẫn trong những giọt lã chã của xe nước, hòa với máu mà con sông uống mặn thêm trên đường ra cửa. Cũng cái xe nước bạn đời của em đã cùng với người đưa tin vui về liên tiếp khiến em rạo rực: đồng chí ta vẫn sống trên ngọn nguồn dòng nước này, cờ đỏ bắt đầu in bóng trên đầu sông, bè chuối mang truyền đơn lặng lẽ ghé vào các bờ cừ. Cảm ơn em đã chung tay giành lại xe nước và đất trời. Xe nước sẽ gắn bó mãi với em, nuôi em đánh giặc giữ làng, giúp em ru và tập nói cho đứa con đầu lòng. Một lớp người mới sẽ ra đời bên xe nước, tất cả lại bắt đầu như trước nhưng tất cả sẽ khác trước, cũng như ngày nắng thay thế ngày mưa...

   Bê đạp xe đạp lên đến nơi. Sâm cười tự nhiên, chỉ xuống bãi:

   - Em đi làm khoai. Hồi nào rảnh, anh ghé chơi nghe.

   Sâm chạy ù xuống triền dốc về phía cái xe nước. Sâm không rủ Bê, nhưng mái tóc kẹp đuôi chồn phất mạnh trên lưng Sâm cứ vẫy Bê đi theo. Bê không dám theo. Một lần nữa, Bê không hiểu nổi Sâm nghĩ gì về mình.

   Nhưng Bê không kịp băn khoăn lâu. Mấy bác trong ban thủy lợi vừa đến gặp anh chủ tịch. Bê dựng xe, cùng các bác tính tiếp số ruộng cần nước tưới để cấy thêm vụ. Ở đây cả sông đông chợ, đồng bào thường bỏ một số ruộng cấy mùa trái để đi buôn chuyến hay làm công kiếm tiền, qua tháng hai mới lắp xe nước sửa soạn cấy vụ chính. Nông hội đang vận động bà con dựng xe vét mương ngay từ bây giờ để cấy hết diện tích mùa trái. Cần thêm máy bơm. Có máy lại phải khơi nguồn xăng dầu, thuê thợ. Bao nhiêu là việc. Ngập đầu.

   Bê xem đồng hồ, đi vội qua xóm ông Nhâm để họp với ban ruộng đất. Hôm nay duyệt phương án đây. Dòng thác công tác cứ cuốn Bê xa Sâm.

   Không còn nữa những giờ thảnh thơi dưới hầm bí mật, khi Sâm đem cơm cho Bê và nán lại hỏi chuyện Cách mạng. Bê thu người thật gọn để nhường chỗ Sâm ngồi thoải mái, không bẩn áo quần, không ngượng vì chạm con trai. Sâm vừa hỏi rủ rỉ vừa đính cúc áo cho Bê dưới ánh nến. Cho đến nay, Bê chỉ cần nhắm mắt là thấy khuôn mặt Sâm với bốn đồng tiền chấm phẩy nổi sáng trên vách hầm có những vết mai xắn lô xô như mái ngói.

---------------------------------------------------------
21. Mương dẫn nước từ xe nước vào ruộng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #33 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2012, 04:59:56 pm »

14

   Từ một nơi hẹn dồn quân trong đồng khởi, nhà má Bảy bỗng dưng biến thành một cái trạm dọc con đường giao liên từ căn cứ vùng núi xuống Kỳ Hải còn bị chiếm, trạm quan trọng vì đặt tại cửa khẩu của vùng giải phóng và ngay trên chỗ gút của đường sông, đường bộ.

   Đêm đêm nhà má đầy chật những võng buộc ngang dọc, có khi đan nhau đến ba tầng người nằm, cái võng nào vải mới dây chắc được treo trên cùng. Má Bảy dậy lúc hai giờ sáng, cầm đèn lên nhà trên đếm số võng để nấu cơm. Anh chị em cần ăn thật sớm để phòng địch càn. Ban đầu cán bộ, bộ đội trút gạo ra trả, má nhất định không lấy. Về sau họ dọa sẽ không trở lại với má nữa, và gạo nhà cũng hết, má buộc lòng phải nhận của người đi trước để nấu cho người đến sau. Trước khi ra đồng má xếp thạp gạo, hũ mắm, liễn muối, đống củi ngay bên bếp, để ai vào thì có sẵn các thứ làm cơm. Cửa khép ngăn gà chứ không khóa. Xong buổi làm, Út Sâm chạy trên bãi trên gò kiếm củi rác quẩy về, vài hôm lại đi chặt củi một chuyến trong gò Chà Là. Bao nhiêu cũng không đủ đun nấu. Sâm buộc sẵn trên mái nhà hàng chục khúc dây điện thoại có móc tre lủng lẳng để đến tối các anh chị treo ba lô và bao gạo phòng chuột cắn. Lại một tội ác nữa của Mỹ - Diệm: chúng phun thuốc diệt muỗi thế nào mà đi khắp tỉnh không gặp một con mèo sống sót, chuột sinh lu bù, rệp cũng nở ra hàng đàn bò trên vách như kiến dời tổ.

   Anh trinh sát về vùng địch gửi má Bảy một gói áo quần tài liệu. Em giao liên đưa một xấp thư dặn trao cho chú này bác kia. Tiểu đội công binh đánh xe trên đường Một giao một quả mìn và mấy khoanh dây điện. Bác cán bộ nhờ mua pin nghe đài hay thuốc tây. Các cô “mậu dịch công doanh” chèo thuyền chở quế, chè, trầu xuống bán, chở muối, vải và dao rựa về tiếp tế vùng trên, có hôm chất hàng chật nhà má. Cả các anh bộ đội về phép muốn nhắn vợ từ thị xã ra gặp, các chị ở “khu trù mậu” lên vùng giải phóng tìm chồng, đều đến tỉ tê nhờ má tìm giúp, hỏi giúp.

   Ai cần việc gì má làm việc ấy, và làm đến nơi đến chốn. Anh Dõng đùa, phong cho má cái chức “trưởng trạm liên lạc” hóa ra đúng y. Bây giờ má không xấu hổ vì ngôi nhà “nhịn ăn mà ở” như trước nữa. Má thích nó rộng, không dột, anh chị em ngủ được đông và trọn giấc. Ngôi nhà cũng có nhiều bộ mặt khác nhau. Về chiều, khi cán bộ bộ đội kéo đến ồn ã, nó quả là cái trạm. Tối đến, khi đài Hà Nội hát vang vang, đèn vịt và đèn ve rượu bạc hà thắp sáng, nó thành cái câu lạc bộ. Giữa đêm, khi đầy những người ngủ la liệt chen với bao hàng, nó giống cái ga xép đông hành khách đợi tàu. Và khi thuyền mậu dịch cắm sào dưới bến, mang bó quế và gánh chè xếp đống trong nhà ngoài sân, nó lại là một trong những cái chợ con con mà ta có thể gặp ở bất cứ nơi nào trong vùng giải phóng miền Nam.

   Má Bảy bận công tác trong Hội mẹ, Sâm bận vô số công tác “mỗi cái rờ vô một chút”, và cả hai má con đều bận thêm việc nhà. Chỉ có Tư Sỏi được miễn: Sỏi ăn, ở, đánh giặc và làm ruộng luôn với đội du kích xã, không mấy khi ngủ nhà. Nhưng má và Sâm đều mong nhà mình đông thêm mãi, vui thêm mãi, để bù lại những năm phải thu hình trong vỏ ốc, không có ai để cởi mở chuyện trò.

   Anh chị em thích đến nhà má vì nhiều lẽ. Nhà má ở gần đường cái, bến sông, nhưng cách một quãng vừa đủ  tránh pháo dập ban đêm. Đến nhà má có thể biết tin sốt dẻo về trận đánh xe Kỳ Minh và cuộc càn Kỳ Lâm, giá gạo chợ quận và nguồn mua võng nilông đầu đúng màu xanh lá cây, sức lớn của khu gang thép Thái Nguyên và những mẩu chuyện về cách mạng Cuba. Cũng có thể nhiều đồng chí trẻ muốn gặp lại đôi mắt linh lợi và nụ cười đỏ tươi của Út Sâm, biết đâu đấy... Nhưng đêm đến, khi má Bảy ngồi vá áo cho bộ đội, rủ rỉ hỏi thăm sức khỏe và dặn dò từng người: “Phải liều liệu mà giữ đừng đau ốm, đánh Mỹ còn dài đó con”, bấy nhiêu đứa con của Cách mạng tình cờ họp tại đây đều cảm thấy họ đến nhà má để thương yêu và được thương yêu chứ không vì lẽ gì khác. Họ ghé vào cái trạm này, nhận phần thương yêu của má để thêm sức đi chặng đường ngày mai. Tình  thương của má được chia rất đều, như gió mát trưa hè và hơi ấm trong căn buồng mùa đông. Tình thương ấy không hình không nét, không nói ra lời nhưng không thể thiếu đối với em giao liên lần đầu xa nhà cũng như các anh các chị thoát ly từ tóc đen đến tóc hoa râm.

   Chiều hôm ấy má Bảy đi chợ quận về. Đến ngõ, má thấy bốn năm người đứng giữa sân đang chỉ trỏ ra chung quanh. Má bật reo:

   - Trời đất, tưởng ai... Anh Chín, anh Dõng, thằng Bê, đủ hết! Bộ nhà dột sao mà đứng giữa sân?

   Anh Chín Chuyền cười khà:

   - Chà, chị Bảy trẻ lại dữ ta? Muốn đi bước nữa à?

   - Cũng bắt chước anh, rán sống coi chút thống nhứt chớ. Bọn quận rao dưới chợ bắn chết anh rồi. Nó giết anh được lần này nữa vị chi đủ chục lần đó.

   - Cất gánh đã chị. Tôi học phép Phạm Nhan, chặt đầu này mọc ra đầu khác liền. Có điều tóc bạc cứ bạc, ưng mọc ra tóc đen cũng chịu.

   Anh Chín ghé thăm má Bảy được nửa giờ sau chuyến đi họp ở Kỳ Minh. Má khóc thút thít, hốt sạch đậu xanh, gạo nếp, trứng gà trong nhà, túm một túm đưa cho cậu bảo vệ, còn thấp thỏm lo anh Chín từ chối. Nhưng anh cảm ơn và nhận. Sau má mới biết anh gửi hết về cho thương binh, nói rõ là má Bảy Son ở Đồng Dừa biếu. Riêng tại Kỳ Bường, các gia đình quen đã tặng anh Chín hai cái máy thu thanh Philíp và Xô-ni mới tinh, vô số quần áo. Hôm nay anh trở lại nhà má vẫn mặc bộ bà ba đen vá vai, đeo cái máy thủ thanh nhỏ mòn trắng vỏ da. Trên lưng anh sù sụ cái bao bột mì nhuộm ruột pin vá ba bốn lỗ chuột khoét. Tất cả đều y như cũ.

   - Đến đây thì ở lại đây, ở cho bén rễ xanh cây mới về. Anh bỏ đi bây giờ tôi đánh mõ báo động!

   - Nghe nói chị giàu, tôi về kiếm cơm tối cơm sáng rồi đi đâu mới đi.

   - Có vậy chớ! Tư ơi, thắp đèn pha nước con!

   Má gạt những bó rau trong đôi bầu gánh hàng, lấy ra một gói vuông khá nặng. Cả nhà ghé lại xem. Má vẫy Bê đến gần:

   - Con sáng mắt, coi giùm có bị móp méo gì không. Khi nãy thằng công an quận nó đá trúng y cái máy. Nhờ chị em trong tổ xúm làm dữ, nó không kịp soát. Của dân thợ ủng hộ đó.

   Bê mở gói, lấy ra một cái máy chữ cỡ nhỏ. Trong khi Bê lót giấy đánh thử, Dõng bắt đầu năn nỉ anh Chín:

   - Cả huyện có một cái máy cọc cạch, anh nghĩ thử coi...

   - Đừng tham! Các cậu có một máy Hécmét mới, một máy Ôốimpia còn tất giao cho cánh Bắc, đang gửi sửa dưới thị xã, một máy nữa lấy của hội đồng Kỳ Lâm. Cái này phải gửi lên khu, mình cũng thèm mà chịu.

   Dõng rụt đầu lại, kín đáo thè lưỡi. Má Bảy nhắc Bê:

   - Con thạo máy móc, tháo ra coi thử, hễ trục trặc thì sửa luôn cho anh em kẻo đưa lên núi không ai sửa.

   Má tin rằng Bê biết hết mọi nghề. Biết làm cách mạng đã đành, đến khó như máy bơm máy nổ mà Bê còn tháo ra sửa được thì có thứ gì không biết! Bê vừa sửa xong cái máy bơm tịch thu của thằng Phổ, đã cho bơm nước vào ruộng ở Đồng Trầu.

   - Không hư gì hết, má à..

   - Hú vía! Hôm kia tao đem về ba cái đài Nhựt Bổn thiệt xinh, nghe nói anh em khuân vác gửi. Còn nhiều thứ lắm, tổ tao nhận chưa hết. Riêng số thuốc tây của học sinh ủng hộ cũng đầy hai gánh...

   Trong khi Tư Sỏi đem máy xuống hầm giấu, má Bảy thổi lửa bắc nước sôi. Lần này má phải bắt anh Chín ăn gà bằng được. Anh trông thấy má đặt cái trã rộng miệng lên bếp, hiểu ngay, vội kêu:

   - Chị Bảy ơi, làm cá đây nè. Tụi tôi đánh được mấy mẻ lưới bảnh hết sức.

   Trên con sẻ đầu cột treo lủng lẳng bốn xâu cá lưới hai, mỗi xâu nặng chừng cân rưỡi. Thì ra mấy anh em đi thuyền đã dừng lại kiếm cá ăn. Dõng tấm tắc khen anh Chín lặn giỏi. Má nghĩ đến nước sông lạnh mà rùng mình. Tư Sỏi mổ cá với má cũng lắc đầu:

   - Kể về cần kiệm liêm chính thì ông Chín này đầu sổ!

   Anh Chín thấy cái sàng đắn dở gác trên giàn bếp, rút xuống, đeo kính trắng đan tiếp. Anh hỏi ra chỗ vại nước:

   - Con Út đâu chị?

   - Đang cày đất đỗ ngoài kia. Nó nhắc anh cả ngày. Nó nói bác Chín ăn cơm cúng nhà mình miết, chưa ăn cơm thiệt bữa nào.

   - Hèn gì tôi nhảy mũi(22) hoài. Nó tập cày lâu chưa?

   Má đợi anh hỏi để khoe con một tí:

   - Mới mấy hôm. Nhà được cấp thêm năm sào ruộng, ba sào thổ với nửa con trâu, nó mừng hết lớn. Có điều thằng Tư vắng luôn, mượn người cày cũng khó, nó với con Ngọ ngoéo tay thi đua tập cày. Ông Nhâm đẽo cho chị em nó cái cày vừa tay, khéo lắm. Nó cày sao mà gãy náng đứt nài lu bù, đường cày lỏi đầu lỏi đuôi, ví thá (23) hết hơi rồi đứng khóc ngon lành, còn con trâu quất đuôi bùn lên mặt nó cả mớ, lại nhăn răng ra cười với ông Thần Nông. Bữa nay đỡ đỡ rồi, nó cày mấy đám thổ coi cũng sạch mắt... À quên, Bê nè, mày còn miếng ruộng tự túc, nó tính mai nó cày đó.

   Bê nói với vào:

   - Để đó con cuốc cũng được má ơi. Còn nửa ang giống thôi mà.

   - Cuốc nặng công, cứ để nó tập cày ruộng nước luôn thể. Ruộng nhà cày hết rồi, đi cày cho bà con thì nó chưa dám. Nó nói cày ruộng anh Bê có lỏi ảnh cũng không cười.

   Dõng và Bê đang giăng lưới phơi ngoài sân. Dõng huých cùi tay vào Bê, gật gật, “e hèm”. Bê cứ cúi gằm mặt. Trong nhà, anh Chín cười tủm tỉm:

   - Có chút gái út tính gả đâu chưa chị?

   - Ối chào, để bom nổ chậm trong nhà làm gì. Đứa nào chịu xỏ mũi dắt đi tôi cho trớt. Giao anh đó, gả đâu thì gả.

   Dõng kêu rất khẽ bằng cái giọng ngân nga như trẻ em dọa nhau mách mẹ:

   - Má để dành đất cho thằng Bê nó trồng một cây si trước nhà, nghe má... Hự!

   Anh bị một quả đấm khá đau vào hông.

   Má bưng trã cá vào, đặt lên bếp:

   - Hai anh em nó nói một sách như nhau, tới thống nhứt mới lo chuyện vợ chồng, bây giờ lo chống Mỹ, cứu nước đã. Tôi mặc kệ tụi nó, ế thì chịu...

   Từ xa dội đến một tiếng “ùng”. Tiếp tiếng huýt dài, tiếng rèn rẹt như ai xé ngược một tàu lá chuối. Quả đạn đại bác bay chếch bên phải nhà má Bảy vạch một lằn chớp đỏ bầm, nổ sau vườn. Mái nhà bị rung mạnh kêu răng rắc, đổ mồ hóng và bụi mọt mù mịt. Má Bảy kêu: “Ớ ông trùm ông xã!”. Má chụp ngay cái vung úp lên trã cá, giục Sỏi:

   - Đưa anh Chín ra hầm, mau con!

   Nhà có một hầm nhỏ sau vườn, chỉ đủ ba người ngồi. Nhường nhau mãi cuối cùng một mình má xuống hầm. Sau nửa phút im lặng để chỉnh súng, hai cây 105 của đồn quận bắt đầu bắn gấp. Rồi thêm hai cây nữa đặt ở đường Một bắn chéo sang. Đạn rít soàn soạt như vò giấy trên cao, rơi dồn vào chỗ trường tiểu học Kỳ Lâm, nơi tối qua có mít tinh và chiếu phim. Dõng giẫm chân:

   - Lại gián điệp! Lần dây moi củ hoài mà vẫn sót!

   Tối nay đội chiếu phim của khu cùng đi với anh Chín về chiếu tại Kỳ Bường, nhân dịp tổng kết đợt tạm chia ruộng công và tạm cấp ruộng ác ôn. Tin đồn về đội chiếu phim này lan khắp huyện trong mười ngày qua. Bà con các vùng còn bị kẹp rủ nhau lên xem rất đông. Địch cũng cho máy bay và gián điệp đi lùng, nghi chiếu ở đâu là chúng bắn túi bụi vào đấy.

   Dưới cái nơm đan bằng những đường đạn pháo, anh Chín hỏi những việc má Bảy và các con đã làm trong đồng khởi, để đoán xem gia đình má sẽ nghĩ gì làm gì trong cơn thử lửa rất ác liệt sắp diễn ra trên đất Kỳ Bường, phá tung cái cảnh sống yên vui mà anh được thấy chiều nay.

---------------------------------------------------------
22. Hắt hơi.
23. Tiếng gọi trâu (vắt, riệt).

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #34 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2012, 05:03:18 pm »

*
*    *

   Máy nổ lại kêu rì rì ngoài xa. Ngọn đèn điện bật sáng, kéo theo tiếng “à” khoan khoái của mấy ngàn đồng bào ngồi chật sân đá bóng, lan cả ra những đám đất mạ mới nhổ.

   Anh thuyết minh gõ cốc cốc rồi nói trong máy phóng thanh:

   - Xin lỗi bà con, máy của tụi tôi phải khiêng vác nhiều thành thử hay bị trục trặc... Trước hết đội chiếu phim chúng tôi xin nhiệt liệt chúc mừng đồng bào Kỳ Bường đã giành được chánh quyền và bước đầu giành được ruộng đất.

   Đợi bà con ngớt vỗ tay, anh tiếp:

   - Chúng tôi xin giới thiệu bộ phim thời sự thứ nhứt “Vì miền Nam ruột thịt”. Đây là phim của miền Bắc sản xuất năm 1960, gửi tặng bà con miền Nam mình.

   Trong tiếng hoan hô kéo dài, anh trả lời một người nào bên buồng chiếu, và mấy đoạn lọt qua trong máy:

   - Dạ phải... có hình ảnh Hồ Chủ tịch... dạ, đúng bộ này.

   Đồng bào đăm đăm nhìn tấm vải trắng viền đen có những ngấn nước mưa loang vàng, lại ngó hai anh chiếu phim loay hoay dưới cái lều lợp vội bằng tấm nhựa. Bà con vừa được nghe Bác nói trên đài hôm Tết dương lịch, ngay sau đồng khởi. Ông Nhâm phàn nàn: “Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình (24)”. Bây giờ Bác sắp đến thăm. Phút chờ đợi bỗng trở nên trang nghiêm, đầy hồi hộp. Buổi chiếu phim biến thành cuộc tiếp rước.

   Một bà ngồi cạnh rỉ tai má Bảy, vẻ thành thạo:

   - Lạy trời đừng tắt máy, đừng đứt phin.

   Má gật gật, tuy không hiểu thế nào là đứt phin. Đây là lần đầu má xem chiếu bóng. Nghe nói sẽ có bộ đội đánh giặc và đồng bào biểu tình trên tấm vải kia, má nghĩ lạ lắm. Sỏi nói ta chiếu phim cũng giống xilama của Mỹ hay về chiếu lấy tiền ở quận, má “hứ” một tiếng chê con nói nhảm. Má biết tuồng xilama là đĩ với bợm ôm nhau, không bao giờ má thèm đi coi thứ đó nên không biết nó ra sao, nhưng chắc chắn nó là của Mỹ thì ắt nó xấu Chó chỉ ỉa ra cứt chó, vậy thôi.

   - Chạy rồi, hú vía!

   Máy chiếu bắt đầu lách tách. Đèn tắt, chữ hiện trên màn vải. Má Bảy vừa đánh vần được vài tiếng thì câu cũ biến mất, câu mới nhảy ra. Cái vốn học bình dân của má hồi kháng chiến đã han gỉ gần hết. Lại sắp phải mua kính đi học đêm đây... Một tiếng còi “toe” rất dài nổi lên. Cái còi của Bê được dùng để báo động cho khỏi lẫn lộn. Đèn tắt phụt. Tiếng rì rì của máy nổ vẫn còn... Không phải. Trên nền trời sao, một chấm đỏ trườn chậm, nháy nháy dòm xuống. Thằng địch đang rình. Nó không thấy gì, đi thẳng giữa tiếng chửi tục ném theo.

   Đây rồi sông núi miền Bắc, nhà cửa miền Bắc. Đây đồng bào miền Bắc. Những con người mặt sáng như gương, cười nói vẫy vùng giữa nhà máy lớn của mình, cánh đồng cày máy của mình, bầy con cháu của mình mặc áo hoa múa hát trên sân trường. Nhưng... sao mà chiếu nhanh quá vậy! Má muốn kêu các anh giữ máy hãy chậm lại một chút, dừng lại một chút để má xem trong dãy bộ đội vỗ tay kia có thằng Tùy con nuôi má không, có những bà con cùng xã đi tập kết không.

   - Cụ Hồ!

   - Bác ra kìa!

   - Đó, Bác đi giữa đó! Hoan hôôô!

   Tiếng reo bật lên từ đám thiếu nhi ngồi trước, lan rộng.

   Bác Hồ đi sải những bước dài. Bác ôm hôn đại biểu miền Nam, đứng lặng một giây, và một tia chớp nào đó bật chói trên mái tóc trắng như cước. Bác nói trước máy, chòm râu bạc rung đều đều. Bác đang nói với bà con Kỳ Bường. Bác dắt tay hai cháu miền Nam tập kết. Các em ngồi trước bật xuýt xoa, thèm thuồng.

   Má Bảy quên cả thở. Má ngắm Bác không chớp mắt, kẻo Bác biến đi mà má không kịp nhớ mặt.

   Hồi đánh Tây, những tranh vẽ Bác và những mẩu chuyện về Bác dần dần đúc lại ở má thành hình ảnh của một người cha rất gần gũi mà chưa hề gặp. Má không biết hình ảnh ấy có giống Bác thật không, vì trên tờ bạc tín phiếu (25), trên báo hay trên tường trụ sở ủy ban xã, má thấy các chân dung Bác vẽ và in rất khác nhau. Nhìn Bác hôm nay, má thấy Bác rất giống với Cụ Hồ của má, nhưng râu tóc đã bạc chứ không đen như má tưởng. Má rưng rưng sung sướng khi nhớ rằng trong những trận đòn tố cộng tàn khốc nhất má chưa hề thốt ra một lời xúc phạm đến Bác, nên lúc này má có thể ngẩng cao đầu ngắm Bác mà không phải sượng sùng.

   “Ùng... hú-u-u, oàng!”

   Mặt người lóe trắng. Màn ảnh bị xô lệch. Mảnh đạn bay rít qua đầu, một mảnh xoáy mãi vào không khí kêu vo vo rất lâu. Quả đạn 105 vừa đâm bổ xuống sau màn ảnh, cách chừng trăm thước.

   - Nằm xuống!

   - Bắn nữa đó. Đề ba(26) rồi kìa!

   Quả thứ hai nổ xa hơn một chút. Giữa tiếng lao xao bật lên giọng bực tức của Sỏi:

   - Kệ cha nó, yêu cầu cứ chiếu!

   Nhiều người hét tiếp:

   - Nó còn bắn cả đêm. Đừng chịu thua!

   - Hễ trúng người, cả xã thắp đuốc kéo lên quận lập tức!

   Hai anh du kích chồm tới dựng lại khung tre. Quả thứ ba lùi xa nữa. Địch chỉ bắn hú họa.

   Trước ba ngàn đồng bào say mê, miền Bắc vẫn reo cười, nức nở, vung những rừng nắm tay thề sống chết với miền Nam. Màn ảnh rung phần phật từng hồi theo hơi đạn thổi. Một mảnh thép xé một lỗ ở góc vải trắng. Chỗ thủng hiện thành một con mắt từ dưới dòm lên, hằn học và thất thế, cố rình những bước chân nẩy lửa của những anh hùng chống Mỹ đang đạp lên nó để đến với miền Nam.

   Một bộ phim khác. Rồi một bộ khác nữa.

   Đèn lại bật sáng. Anh thuyết minh nói những lời chúc cuối cùng. Má Bảy vẫn ngồi im, mắt không rời tấm vải loang nước mưa đã mang những cảnh kỳ diệu, thấy dội lên một nỗi thèm tiếc xót xa. Má chỉ muốn giữ Bác, giữ bà con miền Bắc lại với má một lát nữa thôi mà không được.

---------------------------------------------------------
24. Nghe tiếng mà không thấy hình.
25. Giấy bạc do Ủy ban Kháng chiến hành chính Liên khu Năm phát hành.
26. Tiếng nổ đầu nòng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #35 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2012, 09:35:21 am »

*
*    *

   Ba má con về đến nhà lúc nửa đêm.

   Soát cổng chuồng trâu xong, má hỏi:

   - Mai đi sớm hả Tư?

   - Gà gáy đầu má kêu con dậy.

   - Còn lá thơ gửi lên Trung ương?

   - À... để đó con Út viết. Chưa gấp gì.

   Sỏi nhắm mắt một phút rồi nhỏm dậy, mở bao lấy giấy bút, kê cạnh phản cái thùng đạn đại liên Mỹ có nắp khóa, mới kiếm về để chôn tài liệu. Má Bảy lặng lẽ châm hai cây nến trên bàn thờ, thắp ba nén hương. Sâm rửa chân xong vào ngồi ghé góc phản. Cả nhà đều thấy cần viết lá thư ấy trong đêm nay.

   Má nói trịnh trọng:

   - Con đề tên má là Nguyễn Thị Lượm, tuổi Thân, vị chi năm mươi lăm tuổi. Tên hai đứa bay. Cái tên Sâm là thằng Tùy nó sửa kêu cho hay, chớ ba nó đặt là con Út Sạn. Ông là ông Sành, đặt tên con là Son, Sắt, Sỏi, Sạn, tên xấu xấu dễ nuôi... Tên nào cũng được hả? Ừ rán viết sao cho thấu hiểu thì viết. Ngôn từ chữ nghĩa phải đàng hoàng.

   Sỏi bóp trán:

   - Đề trên đầu thơ sao hè? “Việt Nam dân chủ cộng hòa, độc lập tự do hạnh phúc”, được không?

   Ba má con ngẩn ra. Sâm chạy lại bàn thờ lấy mấy tờ báo Giải phóng của tỉnh đã cũ. Không thấy đề gì cả. Sâm bàn:

   - Hay là đề “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, năm thứ...”, thứ mấy hè?

   - Hồi chiều hỏi anh Dõng có phải chắc không. “Đả đảo Mỹ - Diệm” nghe gọn hơn.

   Má và Sâm gạt ngay. Không được để thằng giặc lên trên. Cuối cùng, hẵng tạm đề câu khẩu hiệu quen nhất: “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam muôn năm!”.

   Sỏi nắn nót từng chữ, cố gò lời như thế nào cho giống các tài liệu phát động đã học, mà Sỏi thấy là những bài văn hay nhất. Sâm quì gối chống tay xem anh viết, bàn thêm cái này bớt cái nọ, lắm ý kiến đến nỗi Sỏi phát gắt.

   Má can Sâm:

   - Đừng viết dông dài. Bay cứ viết là Mặt trận biểu gì má con mình làm nấy, vậy đủ rồi.

   Sâm quên rằng mình thường nói câu ấy, cãi ngay:

   - Kìa má, sao đợi “biểu” mới làm? Hóa ra hô đi hét đứng à?

   - Ừ, lựa lời sao cho đúng.

   Đợi Sỏi viết một đoạn, Sâm nhắc khẽ:

   - “Tôi xin tình nguyện cho hai đứa con tôi đi bộ đội hay là vô du kích hết”. Anh viết đi.

   - Hừ, má nói vậy bao giờ?

   - Má nói rồi. Không tin anh hỏi thử coi.

   Sỏi ngửng lên, thấy má đang quay mặt vào phía bàn thờ, lơ đãng nhìn hai ngọn nến. Mắt má sáng, nước đọng đầy mí.

   Sỏi nghĩ bùi ngùi: “Má lại nhớ rồi”. Mỗi dịp gia đình họp lại đông vui, má hay có một cơn nhớ như vậy. Má chống đũa, nghĩ đến những người đã khuất hay đi xa mà chảy nước mắt lặng lẽ. Hai anh em không dám hỏi. Sâm vẫn thì thào đòi anh viết cái câu há miệng mắc quai đối với Sỏi. Sỏi đành phải viết theo ý em gái.

   Má ngồi im. Đêm nay má nhớ xa hơn mọi lần.

   Má đang nghe tiếng thì thầm của tổ tiên từ bóng tối ngàn xưa vọng về, kín đáo như nước suối chảy trong đêm. Dò theo những câu chuyện má nghe kể từ tuổi để chỏm - những câu chuyện soi ánh chớp xanh huyền ảo trên quá khứ như đom đóm bay trên mặt nước - má đang ngược thời gian tìm trở về nguồn, và thấy nhấp nhô đến ngút tầm nhớ những cuộc đời dân cày thoắt hiện thoắt biến, những bọt nước không tên đã họp lại làm nên con sông dời núi lấp biển của dân tộc.

   Má đang nhớ lại dòng họ nghèo khổ của má, của chồng má. Bởi đã sống nửa đời trong bùn lầy như bị vùi đến nửa thân, má hiểu lắm cái phận tá điền sinh ra để cày ruộng người, đổ máu để giữ ruộng người, chết đi để bón ruộng người, kiếp trước truyền cho kiếp sau chỉ một túp lều rách với những nấm mồ. Người xưa đã dẹp hết các thứ giặc từ ngoài đến mà không trị nổi bọn giặc trong làng. Con trâu đủ sức giết cọp mà không tự gỡ được con đỉa hút máu ở cổ, đành chịu vậy đến khi ngã quỵ.

   Sợi dây xích của ngàn năm khốn cùng nối dài đến giữa đời má bỗng bị chặt đứt. Vì đâu riêng má may mắn được thấy và được làm nên cuộc đổi đời hôm nay? Vì đâu hai con má lớn lên giữa lúc đêm chuyển thành ngày?

   Vẫn nhìn lên bàn thờ, má gọi khẽ:

   - Sỏi nè?

   - Dạ.

   - Nhớ viết rõ chỗ công ơn Đảng nghe con.

   - Đảng và Mặt trận.

   - Ừ, rán viết sao cho phải.

   Má không nói được những điều má nghĩ về Đảng, hay đúng hơn là những rung cảm trong mười mấy năm biết Đảng. Má yêu Đảng theo kiểu riêng của má, của người đàn bà luôn luôn sống với gia đình, vì gia đình. Hễ nhớ đến Bác Hồ, má thấy Đảng là ông cha hiền lo dạy con cháu nên khôn. Qua lớp cán bộ đứng tuổi như anh Chín Chuyền, anh Dõng, Đảng là người anh chín chắn từng trải, quyết định được mọi việc trong nhà. Nhưng má gần gũi nhất với lớp đảng viên trẻ như Tùy hay Bê, thường họp chi bộ và ăn ngủ nhà má. Nhìn chúng nó, má lại thấy Đảng là bầy con cưng của má, hiếu thảo mọi bề. Rèn luyện cho chúng nó là việc của cấp trên, còn má chỉ mong được lãnh mãi cái phần thương yêu săn sóc bầy con ấy, trong đó đã có thằng Son má đẻ ra, và chắc sau này sẽ thêm thằng Sỏi, con Sâm. Cái gia đình nho nhỏ của má hòa trong cái gia đình lớn đủ già trẻ gái trai của Đảng. Còn má, tuy không phải đảng viên, má vẫn tự xem mình là người vợ hay người mẹ tảo tần thu vén để cho cả nhà rảnh tay lo việc nước. Bởi vậy, khi nghe bà con ca ngợi Đảng, má hớn hở như tất cả những người đàn bà đảm đang được nghe thiên hạ khen chồng con mình.

   Nông hội đã gặp một việc khó xử. Thấy bộ đội, du kích và cán bộ mỗi năm phải tự làm ra từ ba đến chín tháng ăn, bà con định trích một phần ruộng công để anh chị em làm quỹ tự túc. Cấp trên dứt khoát không cho. Mấy trăm mẫu ruộng đất được chia và cấp hết cho nông dân thiếu ruộng. Anh chị em thoát ly kéo nhau đi cuốc những mảnh ruộng đầu trâu trán khỉ mà đồng bào chê nặng công không cấy, vỡ đồi hoang trồng khoai sắn. Có một cái gì quá trọn vẹn, quá chu đáo trong sự chăm lo của Đảng đối với dân khiến má nghẹn ngào. Má nuôi con không phải để chờ con trả mình một chén cơm. Nhưng khi con nhịn ăn nhường má chén cơm giáp hạt thì tình yêu của má bừng cháy mạnh gấp trăm, hạnh phúc của má từ nay là được hy sinh vì con.

   Niềm vui được ruộng là một sự khám phá không ngừng, giống như hồi má nuôi đứa con đầu lòng. Nó ngấm về lâu về dài, hiện mỗi ngày thêm vài nét, đẹp dần lên. Qua nhà chủ nợ cũ, má chợt nhận ra rằng từ nay má được ngửng đầu giữa làng nước, dám ăn nói bằng vai ngang vế cùng mọi người, bởi không sợ có lúc phải ngồi xó cửa van nài vay ăn. Rồi lúc khác, nhân có ai nhắc đến một gia đình ly tán, má nghĩ đến các con và mừng rộn rực: chúng sẽ không vì túng quẫn mà bỏ má đi kiếm ăn xứ người, gia đình má có đất mọc rễ rồi...

   Sâm nói văng vẳng đâu đó:

   - Má ngủ để mai đi cấy, má.

   - Ờ, má đi ngủ.

   Mai má cấy thêm mấy đám ruộng mới nhận. Mới trông chẳng có gì khác xưa. Vẫn cái áo bạc cúi trên mảnh ruộng đã quen từng bụi cỏ. Vẫn tay chân sơn bùn, mồ hôi từng giọt đều đặn rời quai nón. Nhưng tất cả đã thay đổi. Biến đi rồi bà lão tá điền sấp mặt làm giàu cho địa chủ ác ôn, sống gượng từng ngày với con đeo bên mình, nợ réo đầu ngõ, quanh năm xót ngứa như nước mắm đổ trên lưng. Còn đây má Bảy nâng niu gửi xuống thửa ruộng của mình, những mùa lúa nuôi nhà, nuôi Cách mạng.

   - Nói gì trong thơ nữa không má?

   Má nín lặng không trả lời Sỏi. Má muốn nói rất nhiều mà không biết nói thế nào. Chỉ có những nếp nhăn trên mặt má khẽ rung, như nhiều cặp môi mấp máy đang nói hộ những xúc động cứ cồn lên mãi trong tim má.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #36 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2012, 09:44:35 am »

*
*    *
   
   Trong khi gia đình má Bảy viết thư, hơn hai chục cán bộ thuộc cánh Nam của huyện về họp tại nhà chị Năm.

   Anh Chín trải tấm bản đồ bồi vải gần nát, chi chít những chữ và số ghi bằng bút chì bi đỏ. Anh nói độp luôn:

   - Chúng ta sắp làm hai nhiệm vụ. Vùng giải phóng trên đường Một phải đánh thắng trận càn lớn. Vùng bị kẹp dưới đường Một phải đồng khởi ngay trong càn. Vừa giữ vững mặt sau, vừa mở rộng mặt trước, vậy đó.

   Những bộ mặt chung quanh sắt lại. Tiếng muỗi vo ve chợt nổi rõ. Các đồng chí bí thư và phó bí thư có mặt đã đoán trước những công việc này, nhưng chưa thấy rõ chúng ra sao. Hàng tháng, hàng tuần, có khi hàng ngày, họ chuyển lên trên những mẩu vụn tình hình và những ý nhỏ rải rác, giống như những túm đậu, nếp, lạc mà ngày xưa họ mang về trên núi để dành dụm ăn Tết, theo cái lệ “đi không về có”. Hôm nay mâm cỗ được lật lồng bàn: hai cái bánh to tướng. Dạ dày họ kham nổi không?

   - ...Địch định càn độ một tháng. Trong sáu xã thuộc diện càn, địch sẽ huy động từ mười hai đến mười bốn tiểu đoàn. Riêng tại Kỳ Bường, trọng điểm càn, địch sẽ dùng khoảng ba hoặc bốn tiểu đoàn, chừng mười cây pháo, máy bay chưa rõ. Chúng quyết lấn lại ba xã phía đông sông Nhỡn. Nếu bị đánh đau, chúng cũng cố chiếm cho được Kỳ Bường bằng bất cứ giá nào...

   Bê cảm thấy mặt mình thoáng lạnh rồi bốc nóng bừng bừng.

   - ...Tỉnh ủy hạ quyết tâm: chẳng những phải giữ vững vùng giải phóng không cho địch líp(27) lại, mà còn phải tranh thủ thời cơ địch sơ hở vùng dưới, mở một đợt đồng khởi mới tại các xã ven biển, chung quanh các thị trấn...

   Giọng anh Chín đều đều, không góc cạnh, như đang đọc một bài báo cũ. Anh có vẻ muốn nhắc rằng địch càn lớn là điều ắt xảy ra, khởi nghĩa là việc ắt làm tiếp, chẳng có gì mà phải cuống hay mừng cho nó mệt, chỉ cần dốc sức vào nhiệm vụ thôi các cậu ạ.

   Các đồng chí ngồi vây quanh thấy lời anh hiện trước mắt thành những cảnh chớp chớp lật trang giữa tiếng reo tiếng nổ. Những người nằm vùng sắp đồng khởi tươi mặt, tủm tỉm nháy nhau, gãi mũi để che nụ cười, rướn cổ nhìn vào bản đồ xem cấp trên cắm những lá cờ đỏ nhỏ xíu đến tận đâu.

   Còn số cán bộ sắp lãnh đạo chống càn đăm đăm nhìn anh Chín, nuốt từng con số về địch và ta. Dưới làn da mặt mới rám nắng lại, từng thớ thịt rùng chạy nhè nhẹ, như khi họ thấy thằng giặc to dần lên trong lỗ ngắm súng trường.

   Anh bộ đội hành quân trên núi rừng thường nhìn xuống con đường nhựa mà thèm, xuống đấy đi thử vài ngày mới thấy ê ẩm cả người. Các đồng chí mới giữ chính quyền chưa bao lâu mà đã sút cân trông thấy. Đang nắm trong tay mấy chục cơ sở và lo riêng một việc nổi dậy, đùng một cái họ phải ôm cả một xã mấy ngàn dân, vun quén từ cái làng chiến đấu năm bảy lớp công sự đến hòn phân bón ruộng, cái ngòi bút cho trẻ em, trong khi địch càn quét bắn phá không kịp thở. Biến thành chị chủ tịch hay anh xã đội trưởng, họ phải lăn lộn gấp bốn năm lần hồi còn là anh chị cán bộ võ trang công tác. Cái thời đêm công tác ngày ngủ hầm sao mà ung dung đến thế. Nhưng nghĩa Đảng tình dân đã thắng tất cả. Họ căng sức ra vật lộn với những khó khăn mới, rướn người lên để lớn theo kịp nhiệm vụ, học góp mỗi nơi một chút, và làm được những việc mà trước đây họ không tin mình gánh nổi.

   Bê liếc chị Năm, thấy chị cũng đang nhìn mình. Hai người nghĩ cùng một lần: “Hai người dân chống một lính địch, gay đây”.

   Anh Chín nói ngắn. Họp với cán bộ huyện xã, anh thường gợi nhiều, nói ít. Dõng thay mặt huyện ủy báo cáo tiếp. Anh ném cái đầu bàn chải ra phía trước, sôi nổi:

   - Đó, lâu nay hăm hở giết giặc lập công, bây giờ giặc nó kéo đến cho mình đánh mặc sức. Cú này làm ăn to đây bà con. Đặt mức diệt bao nhiêu địch, nói thử coi?

   Bê mỉm cười, hơi ngượng. “Tại sao mình chỉ thấy mặt ác liệt của trận đánh sắp tới? Sẽ có đổ máu, có mất mát, nhưng chi bộ và đồng bào xã mình sẽ đánh thắng và lớn vọt lên...”. Bê lại gặp luồng mắt chị Năm, lần này tươi cười.

   Cuộc họp kéo dài đến sáng. Bộ máy kế hoạch được ráp dần, mỗi người thêm một đinh ốc, sửa một bánh xe. Kỳ Bường ]à cái trục chính. Bê và chị Năm đều thấy cái trục ấy rất chắc bởi nó quay trong lòng bộ máy lớn, dưới những bàn tay điều khiển vững và khéo.

   Đến khi Dõng sắp thốt ra cái câu quen miệng “Cứ vậy mà làm” để chấm dứt các cuộc họp, anh Chín vỗ trán, quay nhìn chị Năm:

   - Khi nãy nói tới du kích bí mật, tôi quên không báo tin: Kỳ Bường đã lập đội du kích bí mật đầu tiên trong huyện. Ngon chưa? Các xã chịu thua chưa? Lo về xây dựng mau mau để kịp đánh. Chuyện phụ nữ, chắc là sáng kiến của chị Năm phải không?

   Chị Năm cười lúng túng, đưa tay che hàm răng đen nhức:

   - Dạ không. Chị em trẻ họ họp với nhau, tự tổ chức lấy.

   - Con gái Đồng Dừa hồi trước đánh Tây bảnh lắm. Chị Năm đây là tiểu đội trưởng phải không ông Dõng? Trung đội phó à? Vậy chị có vốn quân sự rồi, lo bày lại cho em út với. Có điều bây giờ phải vừa đánh vừa đấu, vừa bắn vừa “hỡi”, đừng theo nếp cũ nữa... Các đồng chí Kỳ Bường nhắm chừng có phải lùi bước nào không?

   Chị Năm mở to đôi mắt có hàng mi dài nặng, ngạc nhiên và không bằng lòng:

   - Lên ngựa phải ra roi, lên voi phải cầm vố, lùi sao được anh?

   Chung quanh cười ồ. Anh Chín gật gù:

   - Đúng cái chí khí của Bà Trưng, Bà Triệu... Ừ mà đúng cả lối nói nữa.

-----------------------------------------------------------
27. Lấn chiếm
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #37 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2012, 09:48:26 am »

15

   Trên cái cổng chợ quận bằng gạch có xây nổi một ngôi sao xanh năm cánh và con số 1958. Bọn tề nhiều lần phân trần rằng người thợ định đắp hình ba cây tre và mớ gốc lởm chởm của “quốc huy Việt Nam cộng hòa”, nhưng bị hỏng mãi phải đắp ngôi sao thay vào đấy, và sơn xanh biển cho khác với “cộng sản”. Nhiều gia đình ở chợ quận đã mua sẵn một hộp sơn màu vàng giấu trong góc tủ.

   Trước chợ, đám đông dồn ứ lại đang cãi to tiếng.

   Đồng bào các xã giải phóng xuống mua bán bị bọn cảnh sát quận chặn xét biên lai thuế. Ai nộp đủ “thuế cử tri” và “xâu cộng đồng kiến thiết” mới được vào chợ. Bà con đều nói tất cả giấy tờ đã nộp cho Mặt trận. Địch đuổi về, họ không nhúc nhích, cũng không thèm năn nỉ, cứ dồn tới và đốp chát mỗi lúc một mạnh.

   Trung sĩ Huỳnh chỉ thấy mặt những người đứng trên cùng vì hắn lùn. Hắn đưa ống tay áo quệt mồ hôi đẫm bụi chảy xuống mắt, nhăn nhó:

   - Lệnh trên buộc vậy đó hể. Tụi tôi đâu có bày đặt ra làm khó dễ cho các người. Cái sự xâu thuế thời buổi nào chẳng có...

   Bà con nối nhau đập lại sa sả:

   - Thu thuế bấy lâu có loa kêu, thôn trưởng báo, trụ sở trụ siếc đàng hoàng, chớ thời buổi nạo lại đứng đầu đường xó chợ, nắm áo đòi thuế vậy ông?

   - Các người rào làng cắm chông, ai lên thu thuế được!

   - Các ông ăn của dân rồi bỏ chạy mất xứ, bây giờ ủy ban ra lệnh rào làng thì dân phải theo. Hồi nào các ông biểu dân “ăn cây nào rào cây nấy”? Ông như tụi tôi cũng vót đủ số chông đem nộp chớ dám cãi à.

   - Chị nào nói xóc chông đó?

   - Xóc chông khó gỡ lắm ông ơi!

   - Tôi dặn rồi, cứ nhét lưng ít chục bạc xuống đây nộp là yên, các chị cứ làm lơ...

   - Nhà cửa các ông bắn đại bác cháy lu bù, cái tã con nít chẳng còn, bán chè mua mắm cũng bị đá lên hất xuống, tụi tôi kiếm tiền đâu ra mà nộp. Không tin ông móc túi bà con đây coi kiếm được trăm bạc không? Hay ông lên chợ Đồng Trầu, cái gì vơ được thì vơ lấy trừ thuế.

   Huỳnh tím mặt. Người ta lại moi cái tích quét chợ và móc túi của hắn ra rồi.

   Hồi ấy hắn biết chỉ nên cãi nhau với từng người chứ đừng dại trêu vào đám đông đàn bà. Họ nổi khùng lên, lại dựa hơi nhau đã chửi hắn nhiều trận ngập đầu, một lần quật cho hắn cả mớ đòn gánh vào lưng làm hắn phải nằm sấp mấy ngày. Đến nay hắn còn nhớ kinh nghiệm ấy, hắn cố nhịn, nhưng chỉ nhịn được bấy nhiêu. Hắn điên rồi. Hắn không kịp túm lấy cái chị vừa nhiếc cạnh khóe hắn, chị đã lẩn mất. Hắn phải đá phải đập một cái gì đó cho hả.

   Huỳnh nhìn lướt qua những gánh chuối, trầu, chợt trông thấy một gánh chè xanh. A, đúng chè núi, chè của dân Thượng. Thứ này ban kinh tế của Mặt trận giao cho đồng bào bán để mua các thứ tiếp tế cho quân lính họ. Hắn biết rõ, vì chính vợ hắn hay gánh muối, vải, pin lên chợ Đồng Trầu bán cho mậu dịch và mua chè núi về bán chợ quận. Lâu nay hắn và bọn cảnh sát cũng lặng im để giữ mối lợi. Bây giờ hắn phải đánh một đòn trúng tim đen, không người ta tưởng hắn ngốc. Hắn hét như tướng phường tuồng:

   - Cha chả, bừa nay dám buôn chè kinh tế xuống tới đây, gớm thiệt! Gớm thiệt!

   - Chè kinh tế mặt mũi nó ra sao ông?

   - Đừng cầm tôi như con nít hể. Chè núi, lá cứng răng nhọn rõ ràng đây nè. Các người tưởng tháo lạt giang thay dây chuối, mở bó nhỏ ráp bó to là tôi chịu thua à?

   - Bà trung sĩ hay làm kiểu đó hả ông?

   Hắn ngớ ra, quên cả hét:

   - Bà nào làm? Tôi ở xứ chợ Đồng Trầu, còn lạ gì chuyện buôn Thượng...

   - Nội bà con đây có ai lạ ông đâu. Chỉ có chè vườn mà ông đặt tên chè kinh tế mới lạ chớ?

   Đấy, người ta đấm vào cái nhọt của hắn. Hắn gầm lên, cố tạo cho mình bộ mặt đáng sợ nhất:

   - Bán chè mua muối cho Việt cộng mà còn lớn tiếng hỗn hào! Hỗn hể! Cãi hể!

   Hắn đá phốc hai thúng chè xanh. “Nắm đầu hết cho tao! Bắt hết!”. Bọn cảnh sát tần ngần ngó nhau, trong khi bảy tám chục bà con kêu rầm:

   - Cướp chợ rồi đó!

   - “Ba du lưu” chớ ba chục cái du lưu cũng chẳng ăn ai!

   - Nắm túi áo không được, đòi nắm đầu...

   - Tự xưng là tiểu sĩ đại sĩ mà đi giành giựt với đàn bà đi chợ, không biết dị (28)! Ê, xấu hổ!

   Câu nói lanh lảnh này là của Út Sâm đứng chén trong chỗ đông.

   Một nhóm lính mũ sắt tay không đi chơi chợ, thấy ồn ào cũng lấn vào xem. Tên cảnh sát ngập ngừng lôi gánh chè. Gánh ấy của chị Đa. Chị không bạo nói, nhưng khi chén cơm của con chị bị cướp thì chị hết biết sợ. Chị níu cái quang dây thép, giằng lại. Một tên khác nắm tay chị định bắt. Chị ngồi thụp xuống, khóc thật tình:

   - Anh em lính ngó coi, chồng tôi đi quân dịch tái đăng, ở nhà má con tôi cực nhục vầy đây! Anh ơi, con anh khóc đói, vợ anh người ta bắt, anh biết không anh ơi!

   Má Bảy kéo Sâm lại không cho chen vào. Má định nói mấy câu phải trái với trung sĩ Huỳnh.. Vừa lúc ấy một người lính cao lớn, mặt loang lổ lang ben, đã túm cổ áo tên cảnh sát và gí quả đấm sát mặt hắn:

   - Nhả ra con! Muốn ông nội cho lỗ mũi ăn trầu hả?

   Ba người lính khác đã gỡ mũ sắt, tháo thắt lưng, hai tay vung hai thứ sắp choảng. Tốp cảnh sát lùi ra sau cổng, kêu thất thanh:

   - Báo cáo trung sĩ, mời trung sĩ tới giải quyết!

   Trung sĩ Huỳnh đã lủi đâu mất. Bọn cảnh sát chạy về bót gác cầu cứu, thấy Huỳnh ngồi thần mặt trên ghế đang lẩm bẩm cái gì. Huỳnh xua tay ngán ngẩm:

   - Dẹp, dẹp, bắt với bớ! Chỗ đâu mà nhốt, cơm đâu mà nuôi! Tụi bay có miệng thì ngậm hể, đừng báo cáo lên trên lại sanh chuyến rầy rà.

   Sau khi bị đồng bào chửi, Huỳnh đang chờ đợi cơn đay nghiến của vợ hắn tối nay. Đã nói hắn sinh vào năm Sửu mà.

----------------------------------------------------------
28. Ngượng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #38 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2012, 09:51:11 am »

*
*   *

   Nhóm đi chợ của má Bảy có ba người. Mỗi người một việc. Út Sâm nhận phần điều tra một lần nữa quân số vũ khí của địch mới về quận lỵ. Hai Ngọ đi liên lạc với cơ sở thị trấn, bàn phối hợp đấu tranh chính trị. Còn má Bảy sẽ gặp trung sĩ Huỳnh để trao lá thư anh Dõng và nói chuyện với hắn. Bê gọi đùa nhóm của má là “đội giáp công ba mũi”.

   Anh Chín Chuyền, trong khi hỏi má Bảy về việc ruộng nương chợ búa, đã chú ý đến thái độ của Huỳnh. Anh cười tức bụng khi Sâm bắt chước điệu bộ Huỳnh ra oai soát chợ. “Tao là cố nông đúng bảy mươi hai phần dầu (29), cục cưng của cộng sản đây nè, mà tao chống cộng kịch liệt, oai không?”. Hắn nói vậy, nhưng không giấu được vẻ kính nể đối với những người đánh Mỹ. Hắn trầm trồ với vợ: “Mai kia thay bực đổi ngôi, ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông, họ lại cai trị mình cho coi”. Bà con bực mình và tức cười vì hắn, nhưng ít căm hắn. Trong đêm đồng khởi, hắn về quận họp nên không bị ta bắt. Hắn mất một dịp tốt để hiểu Cách mạng. Bọn quận giao cho hắn một tốp cảnh sát để “bao vây kinh tế Việt cộng”, nghĩa là soát gánh các bà đi chợ quận, hắt mắm đổ muối. Hắn chỉ làm lấy lệ. Vợ hắn hay lên buôn chợ Đồng Trầu, hắn không muốn gây thù kết oán. Có hôm hắn lục đôi bầu của má Bảy thấy có ba tá pin. Hắn đậy nắp lại ngay, nói nhỏ: “Mua ít ít chớ, để giữ đường đi lối lại nghe bà”.

   Anh Chín gợi ý cho Dõng viết thư kéo Huỳnh theo ta. Dõng ngần ngại khi giao thư cho má Bảy đi gặp Huỳnh. Vợ Huỳnh cầm thư cũng được, nhưng mụ nhát đến cái mức đi khỏi ga Đồng Mè là len lén xé vụn lá thư ném vào bụi, sợ bị kẻ xấu báo công an quận bắt mụ.

   Dõng hỏi má:

   - Lỡ hắn trở mặt bắt má thì sao?

   - Bắt vô tù tôi làm binh vận, đâu có ở không.

   Trong cuộc giằng co vừa rồi, má thấy hắn không dám để đồng bào vào chợ, cũng không dám làm dữ. Hắn chỉ đâm khùng khi người ta nhắc đến nguồn gốc của hắn. Má Bảy đã từng khuyên các bà các chị đừng đá móc kiếu đó nữa. Họ cười cười, nhận, nhưng khi nóng mặt thì nhiếc hắn được bao nhiêu hay bấy nhiêu, bà con chẳng chịu lựa lời. Cái thế trên đe dưới búa của hắn lúc này kể cũng khốn đốn thật.

   Khi tất cả bà con vùng giải phóng đã hiên ngang đi vào chợ, Út Sâm còn rỉ tai má, cãi lấy được:

   - Má vận động nó thì má nói ngọt. Con không kéo nó, con phải đấu cho nó thất kinh. Má chánh trị, con quân sự, vậy mới đủ hai chân chớ.

   - Chó cùng dứt giậu con ơi... À, thằng lính mặt lang ben khi nãy tao thấy quen lắm. Mày biết nó không?

   - Để con nhớ... Thôi chết, anh Bính, Bính mặt lang, bạn học của anh Tư mình đó má, rủ anh Tư đi tìm anh Dõng, bị xóc chông...

   - Nhỏ nhỏ chút chớ!

   - Da đen thui coi khác quá. Con đi kiếm ảnh đây má.

   Sâm dúi mủng trầu vào tay má, xách cái giỏ nilông đi quanh chợ. Tư Sỏi đã kể lại lời hẹn giữa Bính và Sỏi khi chia tay nhau, mỗi người một đường đi tìm Cách mạng.

   Mại đang mua chỉ may trong tiệm. Hay lắm. Mại có ông cậu mở tiệm tạp hóa gần trại lính, nơi trung đoàn bộ quân ngụy đóng. Sâm định cứ đến đấy, không gặp Bính cũng đếm được xe pháo của địch.

   Mại thấy Sâm hôm nay khó tính ghê gớm. Bao nhiêu gương lược bán ở chợ đều tồi cả, Sâm muốn đến tiệm ông cậu để chọn. Chiều bạn, Mại dắt xe đạp ra đường cái. Xe quân sự chạy nhiều, xốc bụi mù trời mà Sâm cứ đạp vèo vèo, khiến Mại ngồi sau sợ rúm người.

   Cách cổng trại vài trăm thước, Sâm đạp chậm lại, đếm nhẩm. Xe G.M.C. mười bánh, mở hai lỗ hổng hai bên đầu máy như mang cá. Xe bọc sắt vuông bóng như cái hộp bích qui. Rồi pháo, những khẩu pháo trùm vải bạt chỉ thò khúc càng và hai bánh. Nghe nói có xe lội nước bọc sắt chạy bằng xích, nhưng Sâm xem mãi không thấy. Sâm đạp quá cửa tiệm ông cậu khá xa. Mại rụt rè nhắc hai lần, Sâm vẫn lờ đi để đếm cho hết. Ba trăm mười tám xe vận tải, bốn xe bọc sắt, tám cây pháo lớn có lẽ là 155 ly. Chà chà, tụi nó tính ăn gỏi mình đây.

   Sâm chợt thèm được bốc một nắm đất thả vào họng pháo hay cầm kim chích vào cái bánh xe kia. Cơn thèm ấy dội lên mạnh quá, Sâm phải ngoảnh mặt nhìn nơi khác và hãm phanh.

   - Chao, mình mau quên gớm, qua khỏi tiệm hồi nào không hay. Ta trở lại hè.

   Sâm chọn gương rất lâu, xem kỹ trong gương những bộ mặt lính ra vào cổng trại. Khi đã gần thất vọng, Sâm thấy Bính lừ lừ đi tới, đút nửa bàn tay vào cái túi quân mở chéo rất chật. Sâm bước vội ra cửa:

   - Kìa anh Bính!

   - Cô Út! Ai như cô Mại trong nhà phải không?

   Mới đi quân dịch mấy tháng mà Bính đổi khác nhiều quá. Nắng gió đánh trên mặt Bính một lớp xi bóng màu nâu xám, khiến mắt và răng lồi ra trắng dã. Bộ áo quần chật bó, cái mũ sắt “dưa hấu”, đôi bốt đa xô da đen cao cổ mùi khét của nhiều lớp mồ hôi ngấm vải dày, tất cả đều làm cho Bính có cái vẻ lộc ngộc dơ dáy của lính ngụy. Vợ chồng ông cậu coi bộ thằng binh nhì này nghèo kiết nên bỏ đi làm việc khác. Mại ra sau rửa mặt. Khi chỉ còn Sâm ngồi trước mặt, Bính rầu rầu hỏi ngay:

   - Anh Sỏi có nhắc tới tôi không cô Út?

   Sâm đắn đo:

   - Có ảnh hay nói lời hẹn gì đó giữa hai anh với nhau, tôi chẳng hiểu.

   - Tôi nhớ. Cô dẫn tôi về được không?

   Sâm cau mày nghĩ, rồi lắc đầu. Đi không lọt. Sâm còn phải nắm tình hình... Sâm nói nhanh:

   - Anh Tư bây giờ làm xã đội phó. Ảnh muốn biết quân số võ khí của tụi càn về đóng ở quận. Anh coi thử.

   - Tôi để ý rồi.

   Mại đã vào, giục Sâm về. Bính hỏi xin một tờ giấy, mượn cây bút bi, nói sẽ viết mấy chữ gửi cho mẹ. Bính ngồi vào góc bàn sát vách, úp cái mũ sắt chặn ngoài, viết khá dài. Khi đưa thư cho Sâm, Bính nói nửa đùa nửa thật:

   - Cô Út coi trước rồi hãy đưa. Giấu cho kỹ, thơ lính chưa có dấu kiểm duyệt, tụi quân cảnh khám thấy xé mất.

   Lần này Mại giành đèo Sâm để tránh tai nạn. Sâm ngồi sau, mở lá thư xem mấy dòng đầu. Nó là một báo cáo tỉ mỉ về địch. Sâm mừng rơn, cuốn nhỏ lá thư nhét vào lòng cái quai giỏ làm bằng ống nhựa rỗng. Một chiếc xe gíp từ mé sau chạy tới, chậm dần. Sâm ngồi quay lưng ra phía lòng đường, không để ý đến nó.

   - Ối!

   Mại bóp phanh loạng choạng. Chiếc xe rồ máy phóng nhanh, cuốn theo tiếng cười sặc sụa. Một cánh tay trắng đầy lông còn giơ ngang vẫy vẫy. Sâm nhảy xuống, hỏi dồn. Mặt Mại tái xanh dần dần đỏ tía. Áo nilông hồng của Mại bị xé toạc một mảng to giữa ngực. Mại cuống quít ôm ngực, chửi:

   - Mấy thằng Mỹ trời đánh! Đồ chết băm chết vằm!

   Đây là lần đầu tiên Sâm nghe Mại chửi địch.


---------------------------------------------------------
29. Xà phòng loại tốt có 72% chất dầu.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #39 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2012, 09:56:13 am »

*
*    *

   Má Bảy giao gánh chè xanh và mủng trầu cho chị Đa nhờ bán hộ. Chị nhận ngay:

   - Bác bỏ đó. Tôi bán của bác hết rồi mới bán của tôi.

   Người vợ lính nhút nhát và trung hậu ấy ngày càng gắn với má Bảy.

   Khi được tạm cấp thêm hai sào ruộng và nửa con trâu, chị Đa ngơ ngác, hỏi mãi xem có phải nộp tô cho ủy ban không. Hồi đánh Pháp chị ở vùng bị chiếm, không hiểu gì về ta, nên chị chỉ dám mong Mặt trận cho chị sống để nuôi con. Bây giờ chị mới thật tin là không có lưỡi gươm nào treo trên cổ. Cuộc Cách mạng này là của chị thật rồi. Chị mừng quýnh, đâm ra nói nhiều. Có hôm chị nói toang toang giữa chợ quận rằng ai dắt được chồng chị về, chị xin sống tết chết giỗ, trước mắt sẽ tạ ngay ngàn bạc.

   Má Bảy và chị được chia chung một con trâu. Thấy nhà má thiếu người chăn, chị nhận cho thằng Túc giữ luôn không tính công. Chị được dịp đền ơn má, không chỉ cái ơn giúp đỡ khi tối lửa tắt đèn, mà còn là ơn chịu đòn chịu tù bấy lâu để đem mảnh ruộng con trâu ấy về cho chị. Chị sống mãi dưới chế độ của giặc, người đời lừa phỉnh hiếp đáp chị đã nhiều, kẻ làm ơn cho chị không có mấy, nên chị nhớ chi li những cái ơn cần trả.

   Một bà quen ở Kỳ Hải lên buôn sà vào hỏi nhỏ chị Đa:

   - Kinh tế đặt giá mới, mỗi trăm chè hạ năm đồng hả?

   - Đâu có, hạ ba đồng.

   - Cũng được, tôi đếm hết. Các chị dựa thế Cách mạng, ăn nói có gang có thép thiệt sướng lỗ tai. Dưới tôi đang bắt mỗi cử tri nộp tám chục tre với hai tháng công xây ấp chiến lược, dân đắng họng la trời.

   Chị Đa chưa hiểu “ấp chiến lược” là thứ gì, nhưng cũng buông gọn lỏn:

   - Thì khởi đi!

   - Cứ nói dễ òm. Các chị không có cán bộ về thử coi khởi được hay chưa. Bao giờ được như chỗ chị cho dễ thở chút!

   Họ bắt đầu đếm chè.

   Má Bảy xách hai cái vỏ chai đi mua dầu lạc, nước mắm. Má dạo một vòng, tìm ra trung sĩ Huỳnh đang cợt nhả với con gái bà Cẩm bán hàng xén. Chắc hắn đã quên ráo những chuyện vừa rồi. Tính hắn xưa nay không hay cả nghĩ.

   Thấy má vào mua dầu, Huỳnh lúng túng đứng dậy, vét túi trả tiền gói thuốc lá Báttô. Hắn đã thấy má Bảy đứng cạnh chị Đa khi hắn đá gánh chè. Biết Tư Sỏi con má lên chức gì đó ngang với hắn phía Giải phóng, hắn đâm nể má hơn trước, và bây giờ hắn hơi ngượng.

   Má chào hắn và bắt chuyện trước:

   - Tết nhứt đến nơi rồi, anh về ăn heo giẫy mả với bà con chòm xóm cho vui chớ. Hay biểu chị về thắp hương đi anh. Để nguội lạnh coi tội lắm.

   Huỳnh cười gượng:

   - Mả với mồ... Mụ tôi bây giờ lo đắp mả tôi là vừa.

   - Nói dại!

   - Thiệt chớ. Cáo trạng cả xấp rồi hể.

   - Bậy. Anh ăn ở với đồng bào có gì đâu.

   Huỳnh nhìn má, nghi ngờ. Hắn vẫn giữ thế thủ. Má đủng đỉnh:

   - Lâu ngày tôi xuống thăm anh, với lại cũng có chút chuyện.

   Huỳnh bắt đầu hiểu. Hắn mời má vào nhà trong vắng người. Má nói câu vào đề đã bàn trước với Dõng:

   - Trước kia anh hay dặn tôi, hễ cán bộ Giải phóng tới nhà thì phải báo cáo với anh. Hôm qua ông Dõng, ông Bê, bà Năm Tân tới nhà tôi, ở chơi cũng lâu. Tôi báo cáo anh biết.

   Huỳnh hơi biến sắc, hỏi vội:

   - Họ... họ nói gì vậy bác?

   - Nhiều lắm. Cả chuyện anh nữa.

   Má vỗ một miếng trầu vào miệng, nhai chầm chậm.

   Thấy Huỳnh sốt ruột muốn nghe, cứ hút mãi điếu thuốc quên chưa châm, má mới tiếp:

   - Các ông bà đó hỏi anh bây giờ ra sao. Tôi nói anh không phải kẻ xấu bụng, lánh hơi nóng nảy vậy chớ biết thương đồng bào, chưa bắt bớ hành hạ ai.

   - Thiệt vậy đó bác.

   - Ông Dõng khen phải. Ổng nói Mặt trận hiểu anh lắm chớ không vơ đũa cả nắm đâu. Anh cũng chỗ dân nghèo như bà con, vì đồng lương mới phải đăng lính. Nếu anh là ác ôn như lão Phổ thì anh xanh cỏ lâu rồi. Cần thí mười mạng để xử tử anh Mặt trận cũng thí, để trừ hại cho dân...

   Huỳnh đưa tay lau mồ hôi trán. Má cười thầm, vẫn nói:

   - Có điều anh không phải ác ôn, bắt được anh Mặt trận cũng thả cho về với vợ con thôi. Ông Dõng còn nói hễ anh theo Cách mạng thì ổng với anh ăn một mâm nằm một chiếu với nhau. Ổng kể hồi nhỏ ổng với anh chơi thân lắm, nuôi chung một con dế chọi to bằng ngón tay cái...

   - Cha chả, ổng nhớ dai thiệt hể.

   Huỳnh hớn hở ra mặt. Ra ông Dõng coi hắn như bạn ư? Con người gan góc tài ba mà thằng Phổ gờm nhất, ông thầy dạy chữ được cả xã kính nể, nay làm tới ông quận ông tỉnh gì phía Cách mạng rồi, lại nhớ cả con dế nuôi chung với hắn ư?

   Má rút lá thư của Dõng, trao cho Huỳnh. Dõng dặn má nói là ủy ban ra lệnh đưa thư, má phải đưa. Nhưng bây giờ má thấy không cần rào đón nữa. Ngay từ phút đầu, Huỳnh đã nhận mình là đứa thất thế.

   Huỳnh xoay ngược xuôi lá thư, lẩm nhẩm giả bộ đọc, rồi nhét vào túi:

   - Để về nhà coi tiếp. Ổng viết thiệt là hay chữ. Khi nãy bác cũng tới chỗ cổng chợ phải không?

   - Phải.

   Huỳnh ngồi thừ ra hút thuốc. Rồi hắn thở dài:

   - Tánh tôi hay nóng mũi chớ đâu phải hiểm độc làm hại đồng bào. Mua cả cây vải kaki, cả chục ký thuốc tây, tôi để cho đi hết hể. Bà con không nghĩ cho chỗ đó, cứ nhè tôi mà chửi như tát nước...

   - Nói thiệt tình, đồng bào không ghét gì anh mà ghét cái người đứng chặn chợ đòi thuế đó. Đã ghét thì còn giữ mồm giữ miệng sao được.

   Huỳnh nín lặng một lát, rồi lắc đầu:

   - Cũng có vậy, nhưng mà tại sao họ cứ moi móc hoài cái chuyện... chuyện tôi quét chợ móc túi hồi ba mươi đời? Chửi tôi là ác ôn... à không, là pạc-ti-dăng (30), là... là này nọ...

   Huỳnh cố chọn một câu chửi nào tránh được cả ác ôn lẫn ba du lưu, nhưng không tìm ra.

   - Tôi lỡ sanh làm con nhà nghèo, hồi túng quá cũng có táy máy đôi chút, việc gì đay nghiến tôi vậy? Tôi cũng dân làm ăn tay chai vai mòn, ăn bữa trưa lo bữa tối, đâu đến nỗi ba du lưu như người ta nói hể?

   Lần này má Bảy thấy hắn nói cũng gần đúng như anh Chín và Dõng đã nhận xét.

   Hắn rơi xuống bậc thang cuối cùng trong xã hội cũ, và xót xa muốn ngoi lên. Sau Cách mạng tháng Tám, hắn chưa kịp mở mày mở mặt - hắn vốn chậm hiểu, lâu chuyển - thì đã lọt vào quân ngụy, hắn cố leo vài nấc thang danh vọng để đỡ bị khinh rẻ, hoặc nếu bị đè đầu thì cũng có cái an ủi được cưỡi cổ một vài kẻ khác. Cái thang vừa bị chặt gãy. Hắn đang bối rối, khiếp sợ. Hắn cần nghe tiếng nói của ta. Bên trong hắn, cái gốc gác dân nghèo vẫn còn khá mạnh. Nếu hắn biết rằng Cách mạng sẵn sàng tạo cho hắn một kế làm ăn vững vàng, xếp cho hắn một chỗ đứng ngang hàng với mọi người, xóa cho hắn cái quá khứ mà hắn lấy làm tủi hổ, hắn sẽ quay súng trở về với ta.

   Huỳnh vẫn kể lể:

   - Cóc chết ba năm quay đầu về núi. Tổ tiên ông bà tôi nằm trên Đồng Trầu, cái thân tôi lưu lạc chưa biết sống chết ngày nào, năm hết Tết đến tôi nghĩ mà buồn thối ruột. Bác không biết chớ, tiếng là cảnh sát phó mà các ổng coi tôi như con chó xuỵt đâu chạy đó hể. Hồi xưa tôi làm rẽ ruộng nhà ông Phổ, ông Hạnh, phải gà rượu cầu cạnh miết, bây giờ các ổng coi tôi như đứa ở, khinh tôi dốt, may có cái lon trung sĩ không thì người ta bạt tai đá đít ngày năm bảy lần... Lương lậu được bao lăm đâu bác. Vợ tôi buôn gánh bán bưng thêm vô mà không đủ nuôi con. Sức tôi chống bè củi sông Nhỡn kiếm một tháng năm bảy ngàn như chơi, thả sức ăn nhậu còn đủ nuôi vợ ở nhà giữ con, mà lại không lo sống nay chết mai.

   - Sao anh không về trên ta, nhận ruộng làm ăn?

   Huỳnh nhìn má trân trân:

   - Bác nói giỡn...

   - Chị Huỳnh lên buôn bán trên đó không nghe gì sao?

   - Mụ tôi cũng nghe sơ sơ. Hôm gặp ông chủ tịch, mụ sợ quá cứ vâng dạ liên hồi, ổng nói gì quên ráo.

   - Mặt trận chia cho anh tới sáu sào ruộng ở đồng Cây Gáo, tám sào đất bãi, nửa con trâu. Bây giờ đang gửi bà con giữ giùm. Ruộng anh lúa bằng cái nơm, đất anh khoai ba lớp củ, trâu anh bốn khoáy đóng chuồng, mà anh ngồi đây than nghèo tôi nghe lạ thiệt chớ.

   - Phỉnh tôi chi vậy bác...

   Lối nói của Huỳnh là của một người đã bắt đầu tin, nhưng còn muốn nghe thêm cho chắc. Má Bảy giả vờ tức khí:

   - Tin hay không mặc kệ anh. Ủy ban để phần cho anh tôi có dính dự được củ khoai hột lúa nào đâu mà bày đặt. Hay là ngay bây giờ anh biểu chị đi với tôi lên Đồng Trầu, tôi chỉ cho coi từng đám.

   - Để thủng thẳng cái đã...

   - Ờ, cái đó tùy anh. Anh không nhận cũng lu bù người làm, ruộng Cây Gáo ăn nước đập chẳng ai chịu bỏ hoang đâu. Chỉ sợ thời buổi giặc giã này, mũi tên hòn đạn nó không có mắt, tôi mới tiếc giùm cho anh vậy thôi.

   - À, bác coi thử... mụ tôi lên... ngày kia được không bác?

   Bị má duỗi ra, Huỳnh lại vồ vập. Hắn đã tin hẳn rằng Cách mạng không thù hằn, có chia gì đó cho hắn, nhưng được như lời má Bảy hay không thì còn phải xem tận mắt, đặt tận tay.

   Má Bảy bỏ trọn buổi chợ hôm ấy ngồi nói chuyện tình nghĩa với Huỳnh. Hắn hỏi nhiều điều mà má Bảy tưởng hắn đã biết từ lâu, hoặc vợ hắn đã nói lại với hắn. Về sau má vỡ lẽ ra: vợ hắn rất nặng tai. Mụ giấu cái tật này hệt như Huỳnh giấu mù chữ. Anh em du kích không cho mụ đi quá chợ Đồng Trầu nên má chưa lần nào gặp mụ.

   Cuối cùng, Huỳnh nhờ má báo lại với ông Dõng mấy tin quan trọng. Ba ngày nữa trận càn lớn sẽ nổ, tất cả trung đoàn 17 đánh vào Kỳ Bường. Sau khi chiếm lại xã, địch sẽ đưa ra hội đồng mới: lão Hạnh bị buộc làm đại diện, Huỳnh làm cảnh sát trưởng, thằng Rân làm ủy viên thanh niên. Rân là gián điệp lợi hại của ty công an tỉnh, và ủy viên thanh niên là chức mới đặt ra cho những tên cầm đầu mạng lưới “công an chìm” trong xã.

   Má đã hiểu vì sao Huỳnh chưa nói gì đến việc bỏ cái lon trung sĩ để theo Cách mạng. Hắn còn đợi xem ai thắng ai thua trong trận càn này.


---------------------------------------------------------
30. Lính ngụy theo Pháp.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM