Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:35:10 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Gia đình má Bảy  (Đọc 44028 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #40 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2012, 09:58:37 am »

*
*    *

   Ở nhà anh Trưng tối hôm ấy, trong khi “đội giáp công ba mũi” báo cáo với anh Dõng và mấy cán bộ khác, chiếc máy bay C.47 quần mãi dọc sông Nhỡn và đường ôtô như một chùm sao giả. Các đèn hiệu xanh đỏ vàng lừ lừ bay qua, nhả xa dưới bụng và chếch về mé sau từng cục lửa trắng lóa. Kỳ Bường biến thành một trong những thị trấn nằm duỗi dọc đường Một với chuỗi đèn điện treo trồi sụt không đều dọc hai phố chữ thập. Địch dò tìm Quân giải phóng qua sông và đi đường lớn.

   Dưới những con mắt lơ lửng dòm xuống, một ngàn rưởi đồng bào Kỳ Bường đang đào thêm hầm hố, rào làng, cắm chông, gỡ nốt những thanh ray trên đường sắt và chặt nát đường Một. Trong các cuộc mít tinh ngắn ở thôn, đồng bào đã giơ tay thề một lần nữa sẽ giữ vững Kỳ Bường. Và cái không khí đáng lẽ nặng trĩu lo âu trước một trận đánh không cân sức, đã biến thành khí thế hăm hở của một cuộc tiến công mới.

   Út Sâm tranh báo cáo trước. Xong phần mình, Sâm lẳng lặng ra hè, biến luôn. Mọi người đang nghe má Bảy nói, không để ý. Chừng nửa giờ sau Sâm bước vào, tung ra giữa phản ba bốn cái dù đèn bằng nilông trắng, nói hối hả:

   - Phần các anh các chị. Em đi lấy nữa, nó thả cả trăm đèn. Nhuộm xanh, phát cho du kích ngụy trang...

   Sâm xắn quần đến bẹn, vấy bùn quá đầu gối, hai bàn tay có vết gai cào. Sâm vớ cái đèn pin của chị Năm: “Em mượn”, đâm đầu chạy. Anh Trưng đang ngồi góc phản, hai tay bó gối, vội chồm theo hét:

   - Sâm, Sâm, trở lại! Mày xóc chông què chân đó Út?

   Thì ra trong khi Sâm đi chợ, ở nhà bà con đã đào thêm gần một ngàn hố chông trên các gò các bãi, cắm chông và lấp miệng xong cả.
   Sâm trở lại nhưng sợ bị mắng không dám vào nhà. Sâm đứng ngoài tối gọi nhỏ, giọng khổ sở:

   - Ngọ, trả giùm tao cái đèn.

   Cả nhà phì cười. Chị Năm phải ra lôi Sâm vào, bắt báo cáo thêm về Bính mặt lang. Tìm ra cậu trai làng này thật may. Má Bảy được giao nắm luôn Huỳnh và Bính.

   Má hỏi chị Năm:

   - Hai đứa nhỏ đâu chị?

   - Gửi mỗi nhà một đứa, yên rồi bác à.

   Má lấy trong gánh ra một gói thuốc rê chia cho anh em, đưa chị một túi kẹo xanh đỏ:

   - Phần hai cháu. Chợ búa không mua được gì!

   Chị Năm cầm túi kẹo, cười không tự nhiên, rồi đi vội ra vườn. Chị đứng dựa gốc chuối, ngửa đầu, cắn môi để khỏi bật khóc, nhưng nước mắt bỗng tuôn rất mạnh qua mí mắt nhắm, tràn xuống má.

   Dung, đứa con gái lên tám của chị, ốm nặng đã ba hôm nay. Chị đem con xuống gửi nhà bà thím ở một xóm lẻ cuối thôn Đồng Mè, để một anh y tá tư xem bệnh và tiêm thuốc cho nó với giá năm đồng tiền công một mũi kim, không kể tiền thuốc mà anh tính rất đắt. Mấy người của xã cử lên tỉnh học lớp y tá còn lâu mới về. Nhà không còn gì đáng tiền, chị phải rút cái nhẫn vàng một chỉ của chồng để lại, đưa cho bà thím nhờ bán trả tiền thuốc. Ba hôm nay, chị không rảnh giờ nào để đi thăm con, cũng không gặp ai để hỏi tin con sống chết ra sao. Nghe ai gọi “má ơi!” là chị giật mình, thấy con nằm thở khò khè trước mặt, máy cặp môi tím gọi chị.

   Bên cạnh Bê chưa vợ, Dõng vợ con bị bắt di dân, chị cảm thấy có lỗi vì đã dành một phần lo lắng cho con. Giữa lúc chuẩn bị chống càn rất căng thẳng này, chị càng cố giấu đứa con ốm, giấu cái giật mình, cười luôn miệng để đồng bào thấy cán bộ vững vàng trước giờ chiến đấu, mãi đến bây giờ mới khóc vội một chút cho đỡ nhớ con.

   Khi chị vào, hàng mi dài nặng trĩu trên mắt chị còn dính chập vào nhau từng hai ba sợi một. Má Bảy và hai cô gái đã ra về. Chỉ ngồi ghé vào một góc phản xa đèn, nói bằng giọng ngạt mũi:

   - Coi như mọi việc trôi chảy. Đêm nay ta đi bố phòng với bà con, kiếm cái điểm gương mẫu. Tôi lãnh đám phá đường sắt.

   Chị thấp thỏm. Một trắc trở ở phút cuối cùng có thể ngăn không cho chị xuống gần con để tạt vào một tí.

   Bê đứng dậy:

   - Chỉ còn một việc: xã đội cần chia võ khí cho nữ du kích kịp đánh giặc.

   Chị Năm cau mày, trở về ngay với công tác:

   - Đồng chí Trưng bằng lòng rồi mà... Chị em nao nức lập công lắm. Đội nào cũng năn nỉ xin cho đủ mỗi cô một súng. Liệu giải quyết được bao nhiêu?

   Xã đội trưởng Trưng ngồi bó gối, nín lặng.

   Bàn thì thông, ra về anh lại do dự. Anh vẫn không muốn giao súng cho con gái. Xã đội phó Sỏi dựa vào anh, cản Sâm không cho đi chiến đấu. Nhưng anh đắn đo vì những lẽ khác với Sỏi: anh sợ các cô làm hỏng việc, không đánh được giặc mà lại quẩn chân anh em, bị giặc bắt chịu đòn không nổi sẽ khai lung tung, và nguy nhất là để mất súng.

   Hồi đánh Pháp, Trưng ở bộ đội chủ lực trong bốn năm, sau ốm nặng phải giải ngũ, mới nhận một chân thôn đội phó thì đã ngừng bắn. Anh chỉ kịp thấy một tổ nữ du kích bị địch giết sạch và lấy mất súng, trong trận chống càn cuối cùng của cuộc kháng chiến trước. Ra khỏi nhà tù Mỹ - Diệm, anh lấy vợ, có con. Vợ anh quanh năm ốm vặt, nhút nhát đến nỗi ban đêm không dám đi đái một mình, phải ẵm con theo cho đỡ sợ.

   Con người hay chịu ảnh hưởng của những ấn tượng không tiện nói ra. Chúng dần dần ăn sâu vào nếp nghĩ như gỉ sắt, biến thành một ám ảnh khó xóa. Muốn tẩy chúng đi phải có những ấn tượng mới. Nhưng anh Trưng đã đánh trên ba chục trận lớn nhỏ mà chưa thấy con gái giết được giặc bao giờ, để khỏa lấp cái hình ảnh đau đớn của ba cô gái trần truồng mất đầu. Anh không đoán được những cô em mà anh rất mến sẽ đánh chác thế nào cho ra hồn. Thà để các cô ấy động viên, băng bó, đem cơm nước cho anh em còn lợi gấp mấy. Thà người cầm súng ít mà tinh...

   Trưng ngước nhìn Dõng, chờ đợi. Dõng biết cái nhìn ấy có nghĩa gì. “Tôi ngần ngại vì lo việc chung, đâu phải vì lợi lộc riêng tôi. Nhưng đồng chí bí thư trẻ quá chưa qua kháng chiến, phó bí thư là phụ nữ ắt bênh chị em. Ở đây anh là người đủ uy tín để quyết định...”. Hiểu như vậy nên Dõng ngậm miệng. Anh muốn Trưng tôn trọng những đồng chí lãnh đạo mà chi bộ mới bầu lại.

   Bê bật ngón tay đánh “tách” như hạ một dấu chấm hết:

   - Đồng chí Trưng đắn đo cũng có lý. Nhưng thận trọng mà phải tin chị em. Không phát súng thì chị em không lấy gì đánh, đâm chán. Phát nhiều, chị em dễ ỷ lại cấp trên, còn coi thường các thứ chông bẫy...

   Dõng gật đầu. Một lần nữa anh thấy Bê là một bí thư chi bộ hạng vững. Bê nhìn Trưng:

   - Tôi đề nghị giao cho mỗi đội nữ du kích vài cây súng, thêm bốn năm lựu đạn và một ít mìn. Coi như cái vốn đầu tiên khi ra ở riêng. Cố đánh lấy thêm súng của địch, binh vận mà lấy đạn, vót chông đặt bẫy thiệt nhiều. Sau này hễ đội nào đánh khá ta thưởng. Đồng chí coi thử được chưa?

   Trưng thấy giải quyết vậy là hay. Nhưng để cho thật chắc, anh nèo lại một sự xác nhận cuối cùng:

   - Tin thì tôi vẫn tin, có điều... các đồng chí thấy về mặt tinh thần, đạo đức...

   Chị Năm không tiện nêu mình làm gương nên nói khéo:

   - Ai chớ bộ ba Sâm, Ngọ, Trấu, bảo đảm tụi nó dám chặn đánh một đại đội. Các thôn kia cũng nhiều tay cứng. Tôi bây giờ chịu thua xa đám trẻ rồi đó. Không mất súng đâu anh ơi, cứ phát đi!

   Trưng biết tiếng chị Năm đánh giặc giỏi. Anh chịu hẳn:

   - Đồng ý thôi. Để rồi tôi giao anh em cũ kèm thêm các cô

   Dõng phì cười khi nghe tiếng “thôi” sau đuôi:

   - Ông muốn cứu nước một mình à? Không chịu chia phần vinh quang cho nửa thế giới à? Mời ông đi họp nữ du kích với tôi mà nghe kiện cáo. Phong kiến, độc đoán, gia trưởng, bao biện... gì nữa chị Năm?

   Chị Năm che miệng khúc khích:

   - Đưa ít súng đạn là êm hết, anh anh em em ngọt xớt cho coi.

   Bốn người sửa soạn ra chỗ bố phòng. Dõng móc túi đưa chị Năm một lọ thuốc và một mảnh giấy:

   - Anh Chín gửi cho cháu thêm một bình ôrêômixin đây chị. Cho uống đúng như trong giấy của thầy thuốc.

   Chị Năm sửng sốt:

   - Sao anh Chín biết...

   Dõng thắt súng ngắn vào lưng, mở đèn pin ra trở đầu viên pin:

   - Biết chớ. Hồi chiếu phim, ảnh gặp chị y sĩ của tỉnh về đặt mua thuốc, nhờ chị xuống thăm cháu Dung. Sưng phổi nặng lắm.

   Bê chen vào:

   - Hồi chiều tôi ghé vô, nó ngồi chơi được rồi, cười toe toét.

   - Con nít mà, mau bệnh mau lành... Nè Bê, nhớ soát lại các hầm bem nghe. Coi bộ sụt lở nhiều đó. Các ông tướng, hễ nhảy lên mặt đất được là bỏ hầm cho rắn ở.

   Dõng bước ra sau lưng Bê, mặt đăm chiêu.

   Mấy chữ anh Chín gửi về lúc chiều đã cho anh thấy những khó khăn mới. Cuộc đấu tranh chính trị của toàn tỉnh còn năm ngày nữa mới châm ngòi được. Các xã vùng dưới phải mất chừng nửa tháng để chuẩn bị đồng khởi. Bộ đội tỉnh đang đánh ở cánh Bắc, rút vào đây cũng mất hơn tuần. Bước đầu sáu xã bị càn sẽ tự mình chống giặc chưa được các nơi giúp sức. Với tất cả cái táo bạo của một cán bộ đi tới đâu xốc xới phong trào lên tới đấy, Dõng vẫn nhận rằng trận chống càn sắp đến sẽ gay go hết sức. Kỳ Bường đánh lại một trung đoàn địch. Hai dân một giặc. Cái tỉ số ấy anh chưa hề gặp...

   Đèn dù từ chiếc C.47 rắc xuống đã thưa hơn, nhưng không phút nào ngớt. Một ngàn rưởi bà con vẫn cuốc, cào, gánh, đóng, buộc, sùng sục rần rật như đêm nào nổi dậy, chỉ bớt đi tiếng trống mõ và tiếng hô khẩu hiệu. Sáng mai máy bay L.19 của địch sẽ chụp những ảnh khác hôm nay.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #41 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2012, 10:00:45 am »

16

   Sương mù phủ trắng trời đất. Đứng trong nhà nhìn ra chỉ thấy những ngọn dừa cau xõa tóc bơi trong nước gạo.

   Con gà trống đĩnh đạc bước tới góc sân, đập đôi cánh màu lửa, rướn cổ gáy chào sáng. Tiếng vui mở đầu một ngày vụt đứt. Quả đạn đại bác rắc rắc xé sương đâm xuống bên nó. Chớp trắng, sét nổ. Đám lông gà bay thốc. Tre lảo đảo gục trong khói. Một cây cau bị chặt đầu, tán lá nhảy lên lơ lủng một giây, xoáy tròn rơi đứng như cái cầu lông.

   Chó trong xóm sủa rú lên. Một quả đạn nữa nổ tiếp. Rồi trận mưa đạn 105 và 155 ly băm vằm đổ xuống Đồng Dừa. Sau một đêm nghỉ bắn cầm canh ước chừng tám khẩu pháo đang khạc đạn đến đỏ nòng.

   Căn hầm nhỏ biến thành cái trống nẩy bần bật dưới vô số dùi nện. Trên đầu má Bảy và Sâm, bầu trời là cái thúng úp một lũ mèo hóa điên vì tiếng trống, vừa gào rít vừa cấu sần sật các nan tre.

   Mặt còn nhợt, Sâm quờ tay tìm gói áo quần trong góc hầm tối. Thấy tay mình run, Sâm cáu tiết đập nó xuống đất. Sợ à? Mày đòi cầm súng mãi, bây giờ được đánh mày lại run? Tay Sâm hết run. Sâm giật ra bộ áo quần xanh của anh Sỏi, cái mũ vải Quân giải phóng Mại vừa may và đính cho những mảnh dù lất phất. Má Bảy ghé miệng vào tai Sâm hỏi to:

   - Gì đó Út?

   - Con ra kêu du kích...

   - Khoan, đợi đã.

   Một quả đạn 155 xoáy sâu xuống đất, bưng cái hầm lắc mạnh như sẩy gạo. Nồi niêu chén đĩa nhảy rổn rảng. Sâm đang đứng lom khom mặc lồng quần của anh ra ngoài quần đen, bị xô ngã dúi. Một mảng đất sườn hầm bung theo. Sâm moi đất lấy cái áo bị lấp, mặc thêm, gấp tay áo và ống quần lên cho đỡ dài. Má ngồi mé ngoài chặn không cho Sâm chạy ra dưới đạn pháo, gắt:

   - Mày nhởn nhơ kiểu đó lại tốn người đi khiêng thôi.

   - Chị em đang đợi, má ơi...

   - Đợi dưới hầm chớ đâu. Đang bắn túi bụi tùng bùng, địch nào đã tới mà ngoi lên!

   Mươi phút sau, đạn rơi nhích về phía bãi sông và dọc đường ôtô. Má Bảy co chân cho Sâm bước ra. Má ra theo, vuốt tóc Sâm và nói nhỏ sau lưng:

   - Con đánh thì đánh, mà phải có ý có tứ, nghe lời các anh chị nghe con. Nhắn chừng chừng cho má nghe con...

   - Dạ. Con đi đây má.

   Sâm chạy ù luôn để má khỏi bịn rịn.

   Khói thuốc nổ còn bốc khét cay. Cây đu đủ bên vại nước bị tiện ngang hông, gục xuống đập vỡ cái chậu. Sâm vòng tránh nó, lên chỗ hầm bí mật, nhấc nắp, rút vội cây súng săn và cái thắt lưng đạn mà Sâm phá cặp da ra tự may. Chỉ có sáu viên đạn, một lựu đạn của Chuân cho, hai bàn chông sắt nhỏ buộc úp vào nhau. Rồi Sâm chạy băng giữa xóm, nhảy qua những thân tre cau đổ ngang đường, đến chỗ ngã tư.

   Ngọ đợi sẵn ở đấy, lăm lăm cây súng trường 86/93 dài ngoẵng. Chị em khác kéo đến, mang mìn muỗi, lựu đạn, xách những bó chông cau đã hun khói giàn bếp.

   Ngọ hỏi:

   - Con Xuyến đâu rồi Sâm?

   - Tao rủ, nó khiếp không dám ra. Miệng hùm gan sứa. Để tao sạc cho xấu cho dị...

   - Đừng, nó làm việc khác cũng được.

   Trấu chạy đến, thở như thổi bễ:

   - Con Nhơn đòi ra mà má nó khóc bù lu bù loa. Để nó lén ra sau.

   Chị em kéo xuống cuối thôn, dàn ra dọc con hào đào sau lũy tre, trông ra cánh đồng lớn giữa hai thôn Đồng Dừa và Đồng Trầu.

   Tiếng súng nhỏ bắt đầu dậy phía ga Đồng Mè. Không còn phân biệt được từng loại súng như những lần đánh biệt kích quận. Địch bắn như mấy trăm cái cối xay cối giã cùng một lần rào rào bịch bịch. Sâm leo lên một cành khế, rướn cổ nhìn. Không thấy gì ngoài những búng khói nhỏ từ những tán lá xôm xốp như đĩa xôi phì lên. Lửa đốt ruột Sâm. Pháo bắn sau lưng, quân bộ đánh trước mặt, đội du kích của Sâm phải nằm bẹp đây à?

   Sâm tụt xuống gặp Ngọ:

   - Mày nắm chị em, để tao xuống Đồng Mè coi thử.

   - Các ông xã đội lại chỉnh cho...

   - Ông Trưng, ông Sỏi đang cuống cà kê dưới đó. Lỡ các ảnh bị thương ai băng cho? Cơm nước ai đem? Mày cứ máy móc...

   - Ừ, mày dẫn theo một tổ, có chị có em.

   - Tao với con Trấu thôi. Pháo ngừng rồi kìa, đi Trấu ơi. Hai, ba, chạy!

   Hai chị em chạy nhanh trên đường ruộng. Trấu nhắc hổn hển:

   - Đừng kêu tên thiệt... bí mật mà...

   - Tao quên... Kim Hương... Chạy mau Kim Hương ơi, tàu bay đụng đầu bây giờ!

   Hai cô vừa đâm sầm vào bờ tre đầu thôn Đồng Trầu, một chiếc tàu rà đen trũi bay rất thấp chợt nhô lên khỏi ngọn tre, như con quạ vừa bị động tổ xõa cánh bay ra. Sâm kéo bạn vào một nhà bên đường. Người nhà ngồi dưới hầm cả. Sâm úp cái niêu đất, xoa đầy một bàn tay lọ nồi, bôi lên mặt và cổ.

   - Giả làm Mỹ đen đi, bớ em bậu Kim Hương!

   Trấu ngần ngại một tí, rồi quệt một ngón tay vẽ râu mép râu cằm lên bộ mặt lấm tấm tàn hương. Vào du kích bí mật, Trấu rất khoái được đổi tên nhưng không thích bôi mặt chút nào. Trấu nghĩ: “Xinh như con Sâm thì vẽ rồng rắn trên mặt nó cũng cứ xinh. Còn mình thêm lọ nồi nữa thì ma nó nhìn”. Nhưng kỷ luật trong đội nghiêm lắm, Trấu phải theo.

   Ra khỏi nhà, Trấu bật kêu run run:

   - Chết, nó thả trái mù xóm Sông!

   Chiếc L.19 ngoi lên, hứng mặt trời dưới bụng sáng lóa. Dưới đất phụt lên một cột khói trắng rất đặc. Xóm Sông, đúng xóm của Sâm!
   Bốn chiếc AD.6 quần trên cao. Một chiếc nghiêng cánh, vòng xuống tận chợ Đồng Trầu, xuôi ánh nắng đâm bổ qua đầu hai chị em. Máy nó rống rung đất. Trấu nhào sấp xuống cái rãnh bên đường. Sâm đứng trân trân, xoay đầu nhìn theo nó. Quả bom rơi tròn như trái dừa, nhô đầu dài dần thành trái bí đao, chúi xuống rặng cây xa. Trong vầng khói bùng lên, Sâm tưởng thấy những mảnh lá dừa của nhà mình vẫy gọi chới với. Tiếng nổ đập vào ngực Sâm tức thở.

   - Má ơi!

   Sâm không hiểu chính mình hay ai vừa gọi má. Má ngồi một mình trong hầm. Ai bới hầm cứu má, ai băng cho má, má ơi!

   Chiếc máy bay thứ hai nhào thẳng hướng Sâm. Cánh quạt quay tròn xoe thành một tròng mắt trắng dã. Sâm bẻ búa súng, chĩa vào nó. Phát đạn nổ xa lắc trong tiếng gầm. Nó sà qua đầu Sâm, nhả bom. Vẫn xóm Sông. Nó không biết đến chín viên chì mới bay lên chưa chạm bụng nó đã rơi. Sâm hạ súng. Biết mình bắn phí đạn, nhưng Sâm thấy đỡ tức một chút.

   Trấu giật tay Sâm:

   - Đừng bắn, nó thấy bây giờ. Đợi hết tàu bay ta về coi thử.

   Sâm rút cái vỏ đạn đút túi, lắp viên khác, bóp chết cò. Không giết được thằng giặc trên trời cũng phải giết thằng dưới đất. Sâm nói lạnh như một anh chiến sĩ lâu năm:

   - Trên đó để chị em lo. Tụi mình xuống Đồng Mè kiếm ít con thịt.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #42 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2012, 10:06:32 am »

*
*    *

   Pháo ngừng bắn. Bà con Đồng Dừa vừa ra khỏi hầm xem lại nhà cửa thì máy bay đã đến.

   Bom tạ bốc từng cụm hai ba nóc nhà ném lên trời tơi tả. Bom napan nổ bịch bịch như ai đập nong, dựng những cây nấm khói đen quằn quại với dây lửa quấn quanh thân, gốc phình to rất nhanh. Rốc kết từ cánh máy bay phụt xuống kéo theo một sợi khói mỏng, rít lên tiếng cưa sắt rởn gáy, xói đất nổ sâu từng chùm “rééét-ùng”. Đến trọng liên cục cục, pình pình, rạch ngang chém dọc. Máy bay Mỹ thường giết người theo thứ tự ấy, có thay đổi chăng chỉ là đốt bằng napan trước hay xé bằng bom tạ trước.

   Má Bảy và mẹ con chị Đa ngồi trong hầm bị vật qua ném lại. Sườn hầm sụt như bờ sông lụt. Những khúc cây to đỡ trần hầm nẩy răng rắc, tưới đất bột từng vốc xuống đầu. Ban nãy chị Đa nhân lúc ngớt pháo mang hai con chạy qua núp chung với má Bảy. Chị cần người để dựa. Chị cầu Chúa, Phật, Trời không ngớt miệng nhưng cảm thấy các vị ấy không gần bằng bà hàng xóm cứng bóng vía.

   - Há miệng ra chị! Bịt tai lại!

   Phút hoảng sợ đầu tiên đã qua.

   Khi sống và chết cách nhau một sợi tóc, má tỉnh hẳn, má khỏe lại. Những thói quen hồi đánh Pháp vụt sống dậy. Bình tĩnh là thoát. Thằng Mỹ trên máy bay cố giết má, giết mẹ con chị Đa. Má đang đánh nhau với nó trong cái hầm này. Giữ được bốn mạng người là má thắng, nó thua. Má đã che chở cho Sỏi và Sâm nhiều năm, má biết tránh bom đạn, má biết cả những cái vụng dại của người chưa quen bom đạn.

   - Đừng dựa thành hầm, đất xô nhào bây giờ! Ngồi chồm hổm vầy nè!

   Một búng xăng đặc giống muối bột văng qua miệng hầm, xòe lửa xanh bên chân thằng Túc. Nó chồm tới ôm ghì má Bảy.

   - Ngồi yên, thả ra cháu!

   Má bốc đất dập lửa. Mùi pháo xiết xốc vào mũi ngạt thở, ngả sang mùi nồng của ô tô qua đường. Má chưa nghĩ rằng quả bom napan ấy ném vào nhà má nên xăng đặc mới vãi đến tận đây.

   Má cháy ruột lo cho hai con má, nhất là cho Sâm. Hễ Sâm bước ra khỏi nhà là mang đi mất nửa người của má. Nó mới tập bắn hai buổi chiều đã ra trận. Nó chịu xuống hầm, hay lại nô giỡn với tàu bay đại bác? Má không giữ, không khóc, để nó ra đi cho bằng chị bằng em, nhưng trong lúc gay go thế này má muốn nó nhỏ xíu lại để má ghì nó vào lòng tránh mảnh, má muốn má trẻ lại để chạy bên con trong hào giao thông. Ở đây xa địch mà còn điếc tai long óc vậy, nơi con má đang đánh giặc còn dữ dội gấp bao nhiêu lần? Chao ôi, sao má không theo được con?

   Một tràng trọng liên quét ngang miệng hầm bùng bục, phun những tia đỏ bay cong queo vào tận ngách trong. Chị Đa rú lên, ôm đầu hai đứa trẻ ép vào ngực, bịt tai chúng. Má Bảy đập tay chị:

   - Bắn đui xết đó, hết bom rồi. Hầm tôi đui xết gãi ngứa thôi.

   Chị Đa khóc sụt sịt, cái khóc dãn gân sau cơn sợ kéo dài. Đang lúc nhớ con, má gắt:

   - Khóc lóc cái gì? Khóc cho rớt được tàu bay thì khóc!

   Tre nổ từng tiếng rời rạc, như ai dậy sớm còn ngái ngủ đang gõ chốt tháo cổng chuồng trâu. Khói xám từ từ bò vào miệng hầm, cuộn tròn trong khung sáng. Không phải khói cay của chất nổ hay khói nồng của napan. Má ngửi cái mùi đăng đắng, nhớ lại búng xăng và tràng trọng liên, hiểu ngay:

   - Cháy nhà rồi. Lá dừa nước của thằng Tùy mà cũng cháy hè... Coi bộ tàu bay Mỹ bắn dai hơn thứ cổ rùa cổ ngỗng của Tây, Mỹ giàu hơn Tây mà. Bây giờ nó bắn người chữa cháy đó.

   Má nói một mình, dửng dưng như kể chuyện gì không dính dáng tới má. Má đã coi như nhà cửa bỏ đi, thân má không còn. Chỉ cần con má sống để trả thù, để truyền cái thù cho năm bảy đời sau đời nào cũng trả. Má phải đi tìm con. Nếu quân giặc vây nó, má sẽ cào cắn cản giặc cho con má thoát. Giặc bắt nó, má đánh tháo, má chết thay...

   Sau một loạt đạn mới, má thò đầu ra dòm. Nhà trên sụp hẳn. Nhà bếp đang cháy, nhả từng tấm tranh rần rật lửa lọt qua đòn tay rớt xuống nền. Lửa bắt đầu bén sang chuồng heo. Con heo húc chuồng eng éc. Má chợt thấy thương nó buốt ruột, không tiếc của mà chỉ thương nó chết oan. Má nhảy mấy bước tới rút cây gài, đạp cửa chuồng heo, vọt qua một thân dừa đổ, trở về hầm, vừa kịp thoát một chùm đạn quạt xuống sân tóe lửa và mảnh. Chiếc máy bay hụt mồi sầm sầm lướt qua sát ngọn tre rít một tiếng dài cáu kỉnh. Má lại nhô lên. Con heo đã chạy tới ngõ, khúc đuôi nhỏ tí vắt tròn trên cái mông đen. Một chiếc máy bay khác bắt đầu chúc mũi.

   Má lùi lại, cười gằn:

   - Dễ gì ăn heo của tao!

   Đến khoảng chín giờ sáng, tiếng máy bay mới tắt hẳn. Nhà má Bảy cũng vừa cháy hết, chỉ sót vài cây cột gỗ đứng giữa than hồng, lửa bò lem lém dọc thân. Một cây cột to đội ngọn lửa cháy phần phật trên đỉnh như khúc nến.

   Má xăm xăm đi tìm con. Chân tay má giậm giựt. Con dao phay văng ra hè, cạnh xác con chó con lòi ruột còn quẫy nhẹ chân sau. Má nhặt con dao cầm tay. Gặp địch là chặt. Lựa thằng Mỹ mà chặt. Mạng đổi mạng. Một tấm vỏ bom napan nằm đầu sân như tờ giấy thiếc vò nhàu. Má đá nó sang bên, đạp luôn hai đạp. Hết chỗ nói. Súng nhỏ nổ như bắp rang phía Đồng Mè. Giặc đang ùa tới. Con má đâu rồi? Con má đâu? Con má đâu?

   Một anh du kích từ cuối thôn chạy lên, mặy trắng như bẹ chuối, ống quần toạc ngang gối gần đứt rời. Anh líu lưỡi:

   - Nó vô... ba cánh... chạy, chạy mau...

   - Du kích đâu hết rồi? Thằng Sỏi con Sâm đâu?

   - Còn dưới đó... nó bọc đông quá...

   Má trợn mắt:

   - Anh em bị bọc mà mày trốn về? Mày lủi phần mày à? Đánh thí xác cho tao, chết tao đẻ đứa khác tao đền!

   Ông Nhâm đi tới, cầm lăm lăm cây mác, máu mũi nhỏ giọt xuống râu:

   - Bay giết cho tao một thằng, chục thằng... Rút dù hả? Về nằm với vợ, đưa súng đây tao. Tháo nịt ra. Tao biểu tháo là tháo!

   Ông giằng cây súng trường 86/93. Ông thắt nịt đạn vào bụng, cười khẩy:

   - Mày không dám đánh thì tẩu cho xa, để bạch đầu quân ra trận. Đ. mẹ, nó lên được Đồng Dừa cũng phải đạp xác tao mà lên. Nội bà con đây, ai muốn đánh ta đi luôn thể?

   Từ các nhà cháy, các vườn cây đổ, các hầm hố bị cày xới, đồng bào túa ra đông chật ngõ, gào chửi giặc, khóc, gọi nhau ơi ới. Bà con tìm cán bộ, du kích, hỏi nhau giặc càn đến đâu, bây giờ làm gì. Một số quẩy gánh chực chạy lên Kỳ Lâm, qua Kỳ Minh.

   Chị Năm Tân quần vo quá gối, đeo túi bên hông, đứng trên một thân dừa trốc gốc, vành tay lên miệng làm loa:

   - Anh em du kích đang đánh giặc ở Đồng Mè, ở Đồng Mè. Tụi nó chưa vô Đồng Trầu được... Tản cư về Kỳ Minh, Kỳ Lâm không xong đâu, ở đó cũng đang chống càn. Bà con đem chông ra cắm thêm mặt trước! Phụ lão với thiếu nhi lo săn sóc người bị nạn, dập lửa cứu lúa, còn tất cả bà con đem chông xuống bố phòng mặt trước!

   Ông Nhâm thét mấy người đứng gần:

   - Tìm chông đi cắm mau, lơ ngơ cái gì? Bỏ con em đánh một mình à!

   Nhiều tiếng kêu tiếp liền:

   - Chín, xách cái mác ra đây cho anh!

   - Thằng Hai, con Tám, nghe chị Năm nói gì không?

   - Bà ơi bà, về tìm trâu để cháu đi!

   Súng máy quét rào rào dưới kia. Súng cối 81 và 60 ly nện những tiếng đập thùng tôn, thùng gỗ. Các tổ du kích vẫn quần với hàng ngàn địch trong các vườn dừa. Súng trường bắn lẻ gõ từng phát “cắc bụp” chắc nịch. Lắng tai nghe còn nhận ra cả súng săn nhả đạn một tiếng “phịch” như vập cái thúng.

   Hai Ngọ và mấy chị em nữa kéo lên gọi thêm người. Ban nãy Ngọ bắn máy bay liên tiếp bốn phát không trúng, bị nó thổi lại mươi quả rốc kết. Ngọ cầm mõ đánh báo động tam liên, rảo qua các xóm:

   - Cốc cốc, cốc! Bớ thanh niên, ra xung phong đánh giặc giữ làng! Hy sinh vì nước đây bớ thanh niên!

   Chừng ba trăm bà con Đồng Dừa xách chông vác mác theo chị Năm đổ xuống tiếp sức cho du kích, uất đến cái mức ghé răng cắn cổ giặc. Má Bảy chen trong đám đông, tay cầm dao giơ hờ ngang vai giống hồi tháng tám đi lấy huyện. Người má hừng hực như đuốc. Má cùng đánh với con.

   Đến một khúc đường ven đồng, má trông thấy địch đổ bộ trực thăng ở Kỳ Lâm. Bốn chiếc AD.6 lặn hụp sau dãy đồi Chà Là lượn sóng, bên kia sông Nhỡn. Bầy trực thăng từ tỉnh lên đấy bay từng tốp ba chiếc một, cánh quạt lưng rung nắng như cánh chuồn chuồn. Những chiếc bay đầu sà xuống chỗ khói trắng đang bốc. Chúng đổ bộ sau lưng Kỳ Bường, chặn hết đường lui. Má “hự” một tiếng, nhổ nước bọt. Ai lui mà bay chặn? Càn cho rộng để chết cho nhiều, cứ càn đi!

   - Bớ đồng bào, ra chia lửa với con em đây bớ đồng bào!

   Dưới một cụm dừa xòe bóng rợp, một chị quần xắn đến bẹn, hai tay ẵm con, đang lấy bàn chân lật cái chõng tre nhỏ nằm ngửa dưới đất. Trông như chị mới đi cấy về, vừa cho con bú xong, đang đặt con ngủ để rảnh tay nấu cơm. Đám đông kéo đến. Chị quay ra, và mọi người thấy chị Ơn bế một cái xác. Đứa bé bị mảnh bom sả giữa mặt. Chị đặt con xuống chõng, cởi chuỗi thánh giá ở cổ mình đặt trên ngực con. Chị nói gì với bà thím đang sụt sùi, bước lại cầm con dao thái chuối to bản, nhập vào dòng thác người với cái áo trắng loang máu trước ngực. Đôi mắt chị vẫn trầm lặng như mắt mẹ Maria trong tượng ảnh, nhưng một khóe môi chị cứ nẩy từng lúc thành một kiểu cười cay đắng và dữ tợn.

   Ở cuối thôn, chị y tá huyện đang băng cánh tay trái cho một ông già tóc trắng. Một luồng nắng xuyên kẽ lá soi trên gò má rỗ hoa. Những người đi đầu reo truyền lại sau: “Ông Chín kia! Anh Chín đó!”. Chị Năm Tân chạy vọt tới. Khối óc của phong trào hiện lên lúc này như một cây đèn biển lớn trồi lên giữa các đèn nhỏ. Anh Chín kéo vội ống tay áo bà ba trùm lên chỗ băng. Anh chỉ cho chị Năm các hướng địch có thể đánh vào, cần rào thêm và cắm chông dày hơn.

   Chị em du kích đón bà con dẫn tràn ra đồng, vừa cắm chông vừa lùi dần vào lũy tre. Chỉ nửa giờ sau, cánh đồng đã chơm chởm những chông cao thấp không đều, cấy chen với các bụi lúa mới bén gốc.

   Tiếng mõ báo động vẫn đổ hồi, bay qua các ngõ, kéo nốt những người cuối cùng ra trận:

   - Bớ làng trên xóm dưới, ai còn sống ra đánh giặc cứu nước! Thà chết không làm nô lệ đây bớ bà con! Cốc cốc, cốc!
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #43 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2012, 10:10:11 am »

*
*    *

   Bọn biệt động quân đã tiêu hết tiền tử trước khi ra trận. Chúng đeo mỗi đứa hai bi đông rượu, rút dao găm cắn ngang miệng, dẫn đầu cánh quân đánh vào Đồng Mè.

   Chúng tỉnh rượu khá nhanh khi đạp trên chông, ngã ngồi trên chông, lăn ra giữa chông để tránh súng săn khạc chì giữa mặt, chạy lại còn bị đạn súng trường đuổi theo cắm vào lưng. Khoảng ba chục tên nằm cứng đờ hoặc ngắc ngoải giữa ruộng, trên bờ, chân tay vặn vẹo trong những kiểu nằm rất trái thói, áo sổ hết ngoài quần, máu loang trên vải rằn ri và cái huy hiệu “cọp trắng giữa rừng xanh” hình lá mộc đeo bên vai. Bầy cọp không nuốt nổi con nhím dựng lông.

   Tít đằng xa, sát bờ xương rồng của xóm Ga, có lác đác vài cái xác mặc đồ xanh tây di của quân chính qui. Bọn này hầu hết là lính quân dịch. Chúng chỉ dò dẫm theo sau thật xa, động nghe nổ là nằm úp mặt, chổng súng Garăng lên trời lẩy vội từng kẹp tám phát cho mau hết đạn, nhẹ lưng lại được về sớm.

   Khi đợt xung phong thứ ba bị đánh bật lùi, du kích bắn yểm hộ cho nhau vọt ra lấy được hơn chục cây súng. Anh em đang chia lại vũ khí thì Sâm và Trấu chạy tới, nhảy xuống hào, hỏi ba hơi nhập một:

   - Anh Sỏi đâu? Anh Bê đâu? Các anh can gì không?

   Anh em cũng xúm lại:

   - Đồng Dừa cháy ra sao? Pháo dập xóm nào?

   Sỏi thấy mặt Sâm đen loang lổ, giật mình ngỡ em trúng bom cháy. Nhưng nhìn lại bộ râu trên mặt Trấu, Sỏi bật cười to:

   - Tụi này mần tuồng hả bay? Thôi để hai đứa nó thở đã, coi bộ mệt đứt hơi... Nước đây, uống đi, rồi nói nghe thủ trên mình hề hấn gì không. Tổ cha thằng Mỹ, nhè sau lưng mình cắn miết từ sáng tới giờ!

   Thì ra trong khi bà con ở mặt sau lo cho du kích, anh em ở đây lại nhức nhối theo dõi đại bác rồi máy bay đánh phá Đồng Dừa. Bọn địch lầm to. Chúng tưởng quân bộ sẽ ập vào hai thôn dưới rất dễ, nên dành bom đạn cho khu vực sông Nhỡn để chặn chủ lực ta đến cứu Kỳ Bường. Những đơn vị mang súng “hai chân ba cẳng”, đã hốt trên mười xã đồng bằng trong một đêm, chắc còn lảng vảng đâu đấy.

   Thấy các anh bồn chồn, Sâm đưa mắt cho Trấu rồi nói bừa:

   - Trên đó không sao hết. Cháy sơ sơ mấy cây rơm. Thiệt mà... Cháy đâu hả? Không biết, em chạy gấp xuống đây...

   “Pắc pắc pắc pắc!”

   Một loạt tiếng nổ đầu nòng súng cối bật lên phía ga. Sỏi hô anh em tản ra, túm vai hai cô ấn ngồi thấp xuống. Hơn chục quả cối 60 nổ mé sau con hào chừng năm chục thước, mảnh bay đan nhau veo véo.

   Sỏi dúi vào tay em một cái gì lạnh. Sâm nhìn xuống, chưa tin mắt mình. Đó là một cây súng săn Mỹ có ổ đạn lắp được sáu viên, nhẹ như các bin, lên đạn bằng tay trái rất nhanh, nước mạ xanh xám còn mới tinh. Chị xã đội phó Kỳ Minh mang một cây thế này qua họp. Chị bày cho Sâm cách bắn và tháo lắp, Sâm mê lắm.

   Sâm ghé tai anh, hỏi trong tiếng nổ của loạt đạn cối khác:

   - Cho luôn chớ anh?

   - Phát luôn. Đạn đây nè. Đâu sáu chục viên, còn ăn hết nhịn.

   - Hoan hô! Phần con Trấu cái gì anh?

   - À à... đưa cây calíp của em cho nó. Bù một trái lựu.

   Sỏi quay lưng lại để Sâm rút lựu đạn. Thấy anh có đến bốn quả cài bằng mỏ vịt vào thắt lưng, Sâm rút luôn hai quả. Chà chà, mới đánh một trận đã phát tài to. Sâm chỉ đi thăm cũng được hưởng cái mà phường săn gọi là “phần hờ”. Sâm bỗng thấy thương anh ghê quá. Sâm vỗ vỗ vào lưng anh. Sỏi quay lại:

   - Gì đó?

   - Hoan hô ông xã đội chút thôi... Tên nó là súng gì anh?

   - Nghe kêu là đờ-mi-tông(31). Ưng chớ?

   - Ưng số dách!

   Sỏi cười khì. Loại súng ấy dùng bắn tỉa hay bắn máy bay không được, ban nãy anh em đùn mãi cho nhau. Sỏi để dành nó cho em gái. Khi biết chi bộ đồng ý để chị em ra trận và liệu bề không ngăn nổi Sâm, Sỏi muốn giữ em yên lành với một cây súng bắn tự vệ rất tiện.

   Đạn to quá. Sâm lồng thêm hai cái bao vải nữa vào thắt lưng mới đựng hết phần đạn của mình sau khi chia cho Trấu. Vừa giật khóa nòng cho đạn nhảy thử xuống mũ, Sâm vừa hỏi chuyện đánh nhau. Trung đội du kích xã chia hai cánh. Cánh của Bê và Sỏi giữ Đồng Mè. Cánh Đồng Trầu do anh Trưng chỉ huy, có anh Dõng cùng đi. Cả hai bộ phận đều đánh gắt từ sáng sớm đến giờ.

   - Bên ta can gì không anh?

   Sỏi liếc nhìn Trấu đang rút ngắn bớt cái thắt lưng Mỹ dài đủ khoanh hai vòng quanh bụng, nói nhỏ:

   - Anh Bề hy sinh. Bị thương hai. Xuống hầm hết rồi, tối chuyển đi.

   Mặt Sâm lạnh ngắt. Đang lúc ồn ào, Sâm nghe ra anh Bê. Sỏi chép miệng:

   - Ảnh đánh khá lắm. Ba con mà xung phong vô du kích, thiệt tội.

   - Anh Mười Bề phải không?

   - Chớ ai nữa.

   Sâm thở phào. Qua cơn sợ, Sâm lại thấy xấu hổ vì thương anh Bê hơn anh Bề. Sau càn Sâm sẽ cấy giúp chị Bề, rủ mấy đứa nữa đến an ủi chị. Còn bây giờ Sâm phải gặp anh Bê một tí cho công bằng. Anh ấy nắm một tiểu đội bố trí dọc con hào này, cách chừng ba trăm thước. Chính nhờ tiểu đội bên ấy bắn lướt sườn mà anh Sỏi lấy được súng chia cho Sâm. Gặp anh Bê là phải. Ai dám nói cọc đi tìm trâu? Nói tầm bậy tầm bạ...

   Sâm đi một mình dưới hào, lý sự như vậy. Thỉnh thoảng Sâm rướn cổ nhìn qua lũy tre mé bên trái, xem địch bên kia cánh đồng. Địch trốn đâu mất. Súng to súng nhỏ im hết. Chắc chúng rút rồi, hay nghỉ ăn cơm trưa. Chỉ có tiếng loa binh vận đằng trước, nơi Sâm đang đi tới. Giọng nửa trống nửa mái của cậu Chuân gọi lính địch quay súng. Chẳng biết có phải nghe tiếng loa không mà chiếc tàu rà xuống thấp dần, quần những vòng số 6, số 8 qua đầu Sâm, lấc láo tìm cái gì.

   Một con chó bật sủa bên phải Sâm, Sâm nhìn lên. Một cái mũ sắt nhô lên sau hàng rào chè tàu, xoay qua lại. Anh du kích nào đội mũ địch dại vậy, dễ bị bắn lầm lắm. Cái ngực áo vằn vện lòi ra. Thêm một mũ sắt thứ hai...

   Sâm buột miệng: “Úi!”. Tên biệt động quân quay mặt lại, vừa gặp họng súng săn của Sâm chĩa lên, phun lửa. Nó bật ngửa như bị đạp giữa ngực. Sâm chưa kịp tì, bị báng súng thúc vào vai đau tức thở.

   Tay trái Sâm lên đạn như máy, tay phải cũng bóp cò như máy. Phát thứ hai xả vào giữa đám mũ sắt lố nhố. Tiếng rú nổi lên rồi tiếng gào:

   - Biệt động, sááát!

   - Bắt sống Việt cộng!

   - Đ. mẹ, tiến, xung phong!

   Sâm đâm đầu chạy. Phát thứ ba nổ lên trời, Sâm vô ý bóp cò. Chúng xung phong rồi. Sắp bắt sống rồi. Ôi khiếp quá! Ríu chân ngã dúi, lại chạy. Đạn bay qua đầu Sâm bốp bốp rắc rắc. Một tảng đất rơi trên vai Sâm như quả đấm. Sâm rên một tiếng, vùng mạnh vai cho tên địch nào đó chụp trượt, chạy ào tới, tay túm dây súng kéo lê theo. Sâm húc đầu vào sườn một người đứng trong hào đang bắn. Anh nhảy lùi lại. Anh Bê!

   Bê vung cây tiểu liên sắp quật. Sâm ngã ngồi, lắp bắp:

   - Em... em đây mà!

   - Ai?

   - Em... Sâm đây... nó đuổi...

   Bê chĩa súng vào ngực người mặt đen, chợt nhận ra Sâm. Suýt nữa... Bê chồm lên chỗ bậc bắn:

   - Lựu, ném lựu mau!

   Một quả tròn xám bay vút khỏi tay Bê về phía hàng rào. Địch không ùa tới được. Trong lòng cái hàng rào chè tàu hiền lành ấy có lồng những sợi thép gai rất khó thấy, móc thịt chúng lôi lại. Chúng nằm xuống hò hét, bắn xối xả vào con hào mà chúng định đánh úp sau lưng. Đạn chỉ ném văng những cành tre.

   Sâm tạm hoàn hồn, rút lựu đạn giơ lên quá vai. Chợt nhớ ra, Sâm rụt tay lại, cắn chốt, rút chốt, ném, nhô đầu nhìn theo. Quả lựu đạn rơi cách hàng rào một quãng, còn chịu khó lăn thêm đến chân rào mới nổ. Sâm nhoẻn cười. Thích rồi. Mệt ghê.

   - Rút, Sâm!

   Bê đẩy Sâm chạy trước mình, theo một cái lưng áo ướt sũng mồ hôi.

   Phía xóm Ga, quân địch ùa ra đen đồng đang tràn tới, hai gọng kìm khép lại. Hai làn đạn cùng quét vào khúc hào và lũy tre, nhưng chúng chưa đến gần được. Tiểu đội của Bê lọt vào giữa, vừa rút vừa bắn cản địch. Chạy chừng năm trăm thước, họ thoát khỏi cánh quân bọc sau.

   Anh du kích trước mặt Sâm nhảy lên bờ hào, đứng bắn hai phát ra đồng. Sâm nhận ra Quảng, cũng một cậu bạn chăn trâu. Sâm nhảy theo, trượt ngã ngửa vào người Bê. Chân tay dại cả. Chạy nhiều quá từ sáng đến giờ. Bê xốc Sâm lên, hỏi dồn:

   - Em bị thương đâu?

   - Không... mệt...

   Bê nhấc bổng Sâm, đặt ngồi trên bờ hào. Cả hai không kịp xấu hổ. Sâm chống súng đứng dậy, trong lúc Bê đưa cái còi lên thổi một hồi toe toe. Mấy tên địch đến sát lũy tre vội nằm bẹp xuống ruộng, kêu nhốn nháo. Thằng sau cấn thằng trước, chúng không dám bắn thấp.

   Tiểu đội du kích rời khỏi hào, nối đuôi nhau chạy sâu vào vườn dừa. Tiếng gào của giặc xa dần. Yên ổn cả. Qua hết quãng vườn này và một cánh đồng hẹp nữa sẽ đến tuyến bố phòng thứ hai đặt ven xóm Đình.

   Bê nhìn lên, kêu:

   - Quảng, mau lên chút! Đứt xa rồi kìa!

   Quảng đi lảo đảo mươi bước nữa, dừng lại. Sâm kêu khẽ, nhảy lại đỡ Quảng. Mặt Quảng xanh nhợt. Một vệt máu nhỏ trên ngực loang chậm. Quảng chặn tay trên ngực, thều thào với Bê:

   - Anh... lấy súng... đi trước..., đưa tôi trái lựu...

   - Mình dìu đi.

   - Địch theo... Để tôi lại...

   Tay Quảng run khi đẩy cây súng trường vào người Bê, rồi quờ vào thắt lưng Sâm định rút trái lựu đạn. Như bị cánh tay nặng kéo mất đà, Quảng ngã chúi luôn. Bê kịp quì xuống, ghé vai nâng:

   - Níu cổ mình cho chắc.

   - Kệ tôi... rút đi mà...

   Quảng lịm trên vai Bê. Bê móc quai súng của Quảng vào khoeo tay trái, túm hai tay Quảng, xốc đứng lên. Sâm vội rút cái khăn quàng, buộc cổ tay Quảng ôm quanh cổ Bê. Để Bê cõng đồng chí bị thương đi trước, Sâm lấy chân gạt một mớ lá khô phủ vội hai bàn chông sắt vừa đặt trên đường mòn. Vừa chạy theo Bê, Sâm vừa lắp thêm đạn vào súng. Đỡ mệt rồi. Chỉ cần dừng lại thở một tí là Sâm khỏe ra ngay. Tiểu đội du kích chạy hàng dọc nên không biết Quảng bị thương, lúc này đã mất hút.

   Sau một bụi ngũ sắc bỗng có tiếng kêu hoảng:

   - Nó đây!

   - Bắn, bắn đi!

   - Việt cộng! Báo cáo, đụng Việt cộng!

   Bê và Sâm đã gặp cánh quân địch thứ ba cắt đường bọc sâu sau lưng. Một tiểu đoàn bảo an. Chúng đang đi nối đuôi nhau qua các vườn hoang rất nhiều gai, chưa kịp tản ra.

   Tổ đi đầu cuống quít giơ súng giật cò. Một viên đạn xẹt qua cổ Sâm nóng rát. Bê gầm trong họng, xoay lộn người lại, kẹp cây Tuyn dưới nách phải, quạt luôn. Hai loạt tiểu liên quật gọn bốn tên lấp ló cách mươi bước. Bọn đi sau nhào sấp, gào: “Báo cáo trung sĩ... báo cáo thiếu úy...”. Chúng bắn trả lác đác. Bị thít cứng trong vườn rậm, cả tiểu đoàn nằm bẹp xuống tại chỗ, chĩa súng ra hai bên mà bóp cò lấy tiếng nổ. Chỉ có tiểu đội đi đầu vừa trông thấy Bê đã ăn đạn ngay, đang khiếp hồn.

   Sâm nhảy đến quì nép vào gốc dừa. Chân tay Sâm mỏi nhừ vụt cứng lại. Địch chặn khắp nơi. Ba anh em bị dồn vào chân tường, không chạy được, không kêu được. Giết chúng mới thoát.

   Cả người Sâm lồng lên như con ngựa non bị quất. Sâm long mắt tìm những bóng mũ rừng chúi dưới lá. “Vây à? Chực bắt giết à? Giết nè! Bắt nè! Việt cộng đây! Việt cộng đây!”. Sâm nện sáu phát chắc nịch. Bắn xả vào quân giặc dồn đống ngay trước mặt, cây súng săn trở nên dữ dội như đại liên. Từng chùm đạn chì xòe rộng như nơm chụp lấy bọn bảo an. Giữa hai tiếng nổ, Sâm nghe rõ những cây thịt đổ bịch, rống, giãy, kêu cứu. Hả vô cùng. Sướng tay vô cùng.

   Búa súng đập một tiếng cốc. Hết đạn. Tiếc quá, Sâm muốn bắn nữa. Sâm quờ tay móc bao, chạm phải quả lựu đạn thứ hai đựng trong túi vải. Sâm giật tung cả lựu đạn lẫn túi, rút chốt, đưa mắt chọn chỗ rất nhanh, rồi lẳng ngang vào chỗ có tiếng thằng chỉ huy. Ném cao sợ trúng cành cây bật lại. Lựu đạn nổ gần quá, một mảnh cắm phập vào gốc dừa Sâm núp. “Còn vây nữa thôi? Biết tay Việt cộng chưa?”. Sâm chạy vọt theo Bê, lại lắp đạn.

   Bên phải Sâm, mấy cây dừa bỗng rung bần bật như nổi sốt rét, phun vỏ ra chung quanh. Một khẩu trung liên địch đang xổ hú họa vào đấy hết băng này đến băng khác. Sâm quay lại, thấy một lùm cây cách chừng năm chục thước đang phụt khói. Sâm ngắm cẩn thận, lẩy ba viên. Khẩu trung liên tắc họng. Địch chạy sàn sạt như trâu trong bụi. Một cái lưng đeo ba lô vuông bỗng nhô ra. Chúng tắc tị như cá vào lưới, loạn hướng, loạn đội hình. Sâm bóp cò. Cái lưng thụp vào bụi, nhường cho cặp chân mang giày rừng thò ra đạp, giãy.

   Sâm bật cười thành tiếng. Hễ anh Bê hô xung phong, Sâm nhào tới giật súng địch ngay cho coi? Nhưng Bê vẫn cõng Quảng chạy lúp xúp. Sâm một mình chặn địch, giữ cho cán bộ và thương binh rút khỏi vòng vây. Thích không, Sâm thắng trận đầu rồi đây nè. Sâm thành chiến sĩ thật đây nè.

   Sâm kẹp súng dưới nách, đi mươi bước lại quay đầu  xem mặt sau và hai bên, như một anh bộ đội lão luyện đi hậu vệ. Đâu đó, mắc trong đám gai không gỡ nổi, tụi bảo an vẫn bắn vung tàn tán và gào to cho đỡ sợ.


----------------------------------------------------------
31. Đọc chệch tên hãng sản xuất Remington.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #44 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2012, 10:14:51 am »

*
*    *

   Họ thoát vây.

   Hai anh du kích gác mặt sau của thôn Đồng Mè, bị súng cối bắn rát, đã bỏ chạy về Đồng Dừa từ sớm. Đồng bào núp dưới hầm, không kịp báo cho Bê khi hai cánh quân địch bọc lưng ập đến.

   Đường về tuyến hai bị chặn. Bê quyết định ở lại Đồng Mè đợi tối. Băng qua các lớp rào, các bãi chông, hầm chông được đánh dấu theo lối riêng, Bê vào một khu vườn hoang khác cũng chi chít những gai bớm, bàn lồ, vầng châu. Đồng Mè là thôn bị bắt đi dinh điền nhiều nhất nên có nhiều vườn vắng chủ nhất. Bê dùng tiểu liên làm nạng nâng gai cho Sâm chui qua trước, Sâm lại đỡ gai cho Bê cõng Quảng luồn theo.

   - Em ngồi đây nghe.

   Bê đặt Quảng ngồi dựa gốc cây. Sâm đỡ một bên. Quảng vẫn nửa mê nửa tỉnh, thở nặng nhọc, có cái gì kêu rò rò trong họng. Sâm lấy khăn tay lau máu ứa ra ở khóe miệng Quảng, cũng ứa nước mắt theo. Bây giờ Sâm mới kịp thương Quảng.

   Bê chui vào bụi chè to úp tròn như mâm xôi, tìm cái hầm bí mật cũ. Đánh bật lửa soi qua loa xong, Bê leo lên đón Quảng.

   - Em xuống trước, đỡ giùm cậu ta.

   Sâm níu tay Bê, trụt xuống cái lỗ vuông tối om, lạnh, nồng nặc mùi lá mục. Chân vừa chạm đất, Sâm chợt nhớ đến rắn, cóc, chuột, giun, những thứ khủng khiếp nằm chực sẵn trong những hầm bỏ lâu không  dùng. Sâm rủn người muốn ngoi lên ngay. Nhưng hai chân Quảng đã thò qua miệng hầm. Sâm cắn răng đỡ lấy, cố quên sợ. Sâm xốc nách Quảng kéo vào trong sâu. Thế là hết hoảng. Bê xóa dấu xong cũng trèo xuống, đậy nắp.

   Căn hầm này do đội võ trang công tác và cơ sở Đồng Mè đào trước đồng khởi, đủ chỗ bốn người nằm, có cả ngách phụ và cửa gỗ chống lựu đạn thả.

   Bê châm cái đèn ve rượu bạc hà, trải tấm choàng, đặt Quảng nằm trong ngách kín, cởi áo xem vết thương. Sâm hỏi:

   - Nặng không anh?

   Bê bận lẩm nhẩm đếm mạch, không đáp. Sâm bắt đầu run. Bê quay lại.

   - Trúng phổi bên phải. Mau lành thôi.

   - Trời, em lo quá!

   Bê rửa vết thương bằng nước chè trong bi đông, bôi cồn, cắt băng dính ra băng. Bê còn lấy ống tiêm luộc sẵn trong bao ra tiêm cho Quảng một mũi kháng sinh. Sâm cầm đèn ngồi nhìn rầu rĩ. Sâm không làm được gì để giúp Quảng cả. Sâm vụng dại quá, anh Bê lại giỏi quá.

   Xong việc, Bê tắt đèn ngay. Đèn dầu lửa bốc khói nhiều, khó thở và dễ lộ hầm. Quảng đã ngủ yên, thở đều.

   Sâm ngồi đối mặt với Bê nhưng không thấy anh. Tối ghê. Sâm dựa đầu vào vách hầm, nghĩ lơ mơ, chợt nhớ câu chuyện anh Dõng kể hôm nọ. Anh nói xuống hầm bí mật hai gái một trai thì trai mệt, hai trai một gái thì gái mệt. Nếu chỉ một trai một gái... Anh nói đứng đắn nhưng Sâm tưởng bị trêu, chạy mất. Sau Sâm hỏi lại chị Năm, chị cũng nói y vậy. Chẳng kể nhiều ít, hễ số trai và gái bằng nhau thì cả hai bên đều dễ thở. Có lẽ vì thế mà hồi trước đồng khởi Sâm ngồi hỏi chuyện anh Bê dưới hầm cả buổi không bị ngạt. Sâm mỉm cười, tự dưng thấy ngường ngượng.

   Lúc này một khối gì bắt đầu chặn trên ngực Sâm. Nó nặng dần. Sâm thở gấp dần. Phổi Sâm nhỏ lại hay Sâm ngạt mũi? Đầu Sâm quay quay. Sức sống của thân thể dồn cả lên đầu. Chân tay càng rã rời, đầu càng quay nhanh, nổi tiếng gió vo vo.

   - Sâm nè!

   Sâm cố mở to mắt, bóp hai thái dương cho đỡ chóng mặt.

   - Địch vô Đồng Mè, chắc sắp sửa xăm hầm. Bây giờ em ở đây trông Quảng, anh ra ngoài cản tụi nó. Ra bớt một người cũng dễ thở hơn. Ba ống thông hơi, mối đùn lấp mất hai rồi.

   Sâm suýt kêu lên ngạc nhiên.

   - Anh núp trong bụi cây cách hầm năm bảy chục thước. Hễ địch đến xăm hầm, anh vừa bắn vừa nhử tụi nó đuổi theo. Em giữ tiểu liên, đưa...

   - Không! Em ra, anh ở lại!

   - Em mệt chạy sao nổi...

   Sâm giẫm gót chân:

   - Chạy được! Anh phải lo cả xã. Tụi nó đông quá, anh ra anh chết mất. Em là du kích, em phải giữ cho anh, cho Quảng.

   Giọng Bê lạc đi:

   - Em nghe anh...

   - Không, không, để em ra. Anh kỳ lắm!

   Sâm tức mình, nhoài người qua chân Bê, định bước tới miệng hầm. Bê vội nắm cổ tay Sâm giữ lại. Sâm vùng vằng giật ra. Giật không nổi, Bê nắm rất chắc. Và Bê lẳng lặng nâng bàn tay Sâm áp vào ngực mình, nơi vừa dội lên một tiếng nấc trầm, sâu.

   Sâm giật thót, nghĩ vội: “Gì vậy? Hay mình mê ngủ!”. Sâm há miệng, nhưng tiếng “á” không bật ra. Tay phải Sâm rời súng đưa nhanh lên định chống đỡ, dừng lại, ngập ngừng đặt trên đầu gối Bê, êm như một lời an ủi. Sâm ngước mắt, muốn hỏi: “Thật à? Thật không anh?”. Đôi mắt người con trai cháy lóng lánh. Câu trả lời nồng nàn không chịu nổi. Sâm lả đi trong ánh mắt ấy. Hồi hộp, sợ nữa, Sâm bắt đầu trôi bềnh bồng trong một đám mây vui.

   Căn hầm chìm sâu vào lòng đất. Cái vắng và tối dày đặc trong hầm bí mật vẫn rất lạ đối với Sâm, vốn quen nghe những tiếng động và thấy những ánh sáng không bao giờ dứt trên mặt đất. Nó giống cái vắng tối của chiêm bao. Sâm chập chờn thấy mình đang sống trong mơ, không xấu hổ, không muốn thức dậy.

   Một tiếng rên từ góc hầm vẳng đến. Sâm và Bê cùng bị điện giật, cùng bước ngay lại chỗ Quảng. Bê đánh bật lửa sờ trán, xem mạch.

   Quảng đã khỏe, đòi uống nước. Quảng hỏi mấy câu, quờ tay nắn cây súng của mình bên vách hầm, xong lại thiêm thiếp ngủ. Bê nâng đầu Quảng cho ghé gần ống thông hơi chưa bị lấp, tháo tấm dù quàng cổ ra đắp trên mình Quảng.

   Một lần nữa, Sâm và Bê lại ngồi đối mặt nhau mà không thấy nhau.

   Sâm vòng tay thoăn thoắt búi lại tóc. Sâm lặng im, nhưng những ý nghĩ tròn và trong trong như một chuỗi hạt trai cứ tuôn trong óc Sâm. “Chúng mình đang chơi ú tim. Đố anh biết em đang nghĩ gì? Em nghĩ: anh yêu em. Tội nghiệp. Lâu nay em đã ngờ ngợ, nhưng anh cố giấu. Còn em, em cũng... ưng anh mà anh không biết. (Sâm nhoẻn cười, chớp đôi mắt rất nóng). Quảng đang nằm với một viên đạn trong ngực. Chúng mình phải thương Quảng nhiều, thương Quảng trước rồi mới thương nhau. Anh biết không, lúc này em muốn hát ghê...”. Sâm đội mũ lên đầu, xách súng định bước ra.

   - Sâm ơi!

   Sâm dừng lại, khổ sở. “Để em ra chớ anh. Anh cứ gọi bằng cái giọng thương thương vậy đó, em đi sao được?”.

   Tụi nó tới rồi. Lộ thì đánh dưới hầm thôi.

   Tiếng giày đạp cành khô đến gần. Chúng nó đi chậm, nói lao xao. Gậy và thuốn sắt chọc đất phầm phập. Chúng vừa dò chông vừa tìm hầm.

   Bê quì một chân cạnh miệng hầm, áp tai vào vách, nghe. Sâm cũng quì và đơm súng, nhưng dửng dưng không thèm để ý đến bọn giặc, chỉ nhìn cái khối đen vững vàng của Bê. “Anh thương Quảng và liều chết cứu Quảng. Anh yêu em, muốn ra ngoài cản địch cho em. Sao anh tốt vậy, giỏi vậy? Em vừa giành của anh cái hạnh phúc được quên mình. Em sẽ đền...”.

   Bê quay lại thì thào:

   - Em đừng giận...

   Sâm mỉm cười, muốn thổn thức và rất bực mình. Thì ra từ nãy anh tưởng Sâm giận. “Anh biết tất cả, nhưng anh khờ lắm, không hiểu em gì hết”. Sâm vẫn nín thinh để Bê áp tai nghe tiếp.

   - Báo cáo trung sĩ, có dấu máu!

   Bê ghé tai Sâm nói vội:

   - Hễ tụi nó nạy nắp hầm, anh ném lựu đạn ra, nhô lên bắn ngay. Đánh phủ đầu nó mới khiếp. Sau đó tụi mình vô chỗ Quảng, đóng cửa chống thả mìn. Lính leo xuống, lại mở cửa bắn. Em nhớ chưa?

   - Em nhớ.

   Một tên kêu gần:

   - Báo cáo trung sĩ, báo cáo...

   Ai đó vừa quát vừa chồm tới, tiếng to lên rất nhanh:

   - Mụ nội mày, báo cáo với báo chồn! Mày không dám đuổi hể! Mày la om lên cho Việt cộng nó nghe nó chạy hể?

   Cái tát kêu “bốp” khá mạnh.

   - Tiến mau, truy kích, bao vây Việt cộng! Đứa nào rù rờ, tao cho đạn dùi áo lập tức!

   Một vật gì rơi sạt cạnh nắp hầm. Tiếng thuốn và gậy xoay sang phía khác.

   Nhiều cánh quân địch kéo tới. Giày giẫm đất rậm rịch gần có xa có. Nghe tiếng chân, hai người biết chỉ có bọn dẫn đầu mỗi cánh sục tìm, cả đơn vị đi sau chỉ theo con đường đã mở, không tên nào dám bước chệch khỏi dấu mòn. Chúng sợ chông mìn. Gần nửa giờ chúng mới qua hết.

   Bê nhấc nắp hầm.

   Vầng sáng đục ùa qua cái miệng vuông, mang theo luồng không khí ngọt lịm và tiếng súng nổ xa. Bê né chỗ ngay cho Sâm nhô đầu lên mặt đất mà thở. Sâm không quen ở hầm, mệt hơn Bê, mặt đầm đìa mồ hôi. Bê còn ngại cái lúc nhìn Sâm giữa ánh sáng. Sau cơn liều lĩnh kéo dài chừng ba mươi giây ấy, Sâm cứ ngậm tăm. Bê đâm sợ Sâm gấp đôi. Bê luôn luôn thấy hai bàn tay đập sắt của mình đang đánh vỡ một cái gì đẹp, quí và mỏng mảnh quá.

   Sâm thò tay nhặt cái vật rơi ban nãy nằm bên gốc chè, đưa xuống cho Bê. Nó là cái bật lửa của Quảng, có lẽ rơi ra khi Quảng ngồi cạnh hầm, đợi Bê đỡ xuống. Trung sĩ Huỳnh đã cố ý đá nó vào bụi cho mất dấu, thúc lính đi thẳng.

   Bê nhìn nơi khác, nói rụt rè:

   - Yên rồi. Anh vô xóm nắm tình hình, lấy cơm nước, kiếm sữa cho Quảng nữa.

   - Để em đi.

   May quá, hình như Sâm tha lỗi. Bê năn nỉ:

   - Em đang mệt...

   - Em đi hợp pháp dễ hơn. Gặp tụi nó, em nói tìm trâu lạc.

   - Ngó coi, em bôi mặt đen thui, lại mặc áo quần đàn ông...

   - Ve ve lột vỏ đây nè!

   Sâm cởi cúc cái áo sơ mi xanh lấm lem. Bên trong, áo bà ba đen của Sâm vẫn sạch. Bê không can được nữa.

   Sâm rút lược chải tóc thật kỹ. Cái gương con trong bao đạn rơi mất. Sâm ngần ngừ, rồi đưa khăn tay cho Bê, nói cái điều Bê đang ước:

   - Anh lau mặt giùm em.

   Hai người ngồi sát miệng hầm. Bê dốc ít nước sót trong bi đông vào khăn, lau mặt cho Sâm, dặn Sâm đến gặp chị đội trưởng du kích bí mật Đồng Mè. Phải đánh tiếp trong lòng địch và báo tin địch cho ủy ban. Chuyện công tác thật là dễ nói. Chưa bao giờ Bê giao công tác một cách thú vị như lần này. Mặt và cổ Sâm đen loang lổ dần dần trở lại trắng hồng dưới tay Bê, và Bê nghĩ rằng tình hình vẫn sáng sủa lắm, đời vẫn tươi lắm.

   Bê nhớ ra ban nãy Sâm có thể tạt vào nhà đồng bào giấu súng, rửa mặt, thay áo quần, rồi ung dung đi về Đồng Dừa hay ở lại tùy ý. Sâm đã cùng rút với Bê, bắn chặn địch để Bê và Quảng thoát. Bê đắn đo, thấy không nên nói những lời biết ơn với Sâm. Sâm có thể cho là “đồng chí bí thư động viên chị em, nâng đỡ phụ nữ”. Chao ôi, hai nửa thế giới từng giờ từng phải sống bên nhau mà sao khó hiểu nhau đến thế!

   Mặt Sâm đã sạch. Cả hai người bỗng hết việc, hết chuyện nói, ngẩn ra nhìn nhau. Không hiểu vì sao Sâm vụt đỏ hai má, ngoảnh đi:

   - Em lên, trưa rồi.

   Sâm đạp trên gối Bê, leo lên mặt đất, vạch bụi chè chui ra. Cởi bộ quần áo mặc ngoài và lột mũ đưa lại cho Bê, Sâm ấp úng nói, má còn đỏ:

   - Lau cổ đi anh. Lọ nồi lu bù...

   Quân địch kéo qua vườn hoang đã để lại những con đường mòn khá rộng và nhẵn, nhưng chúng thường gài mìn gíp (32) phòng ta đuổi, nên Sâm phải tránh đường. Sâm luồn qua các bụi rậm, túm đuôi tóc ra trước tránh gai níu. Khúc cổ ba ngấn thon thon hiện thành một mảng trắng nghiêng qua nghiêng lại trên nền lá sẫm, biến mất. Bê đứng ngây người trông theo. Bê chưa dám tin những gì vừa xảy ra là có thật. Chợt nhớ lời Sâm dặn, Bê đưa tay xoa cổ, rồi nhìn vết lọ nồi pha mồ hôi lạ dính trên tay mà mừng đến ngợp thở.


---------------------------------------------------------
32. Mìn cỡ nhỏ, giống hộp thuốc đánh răng Gibbs.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #45 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2012, 10:19:31 am »

17

   Ánh trăng lọc qua mây mỏng phủ lụa mỡ gà trên xóm cháy. Những chòm cây sém nâu chìm vào màu lá xanh sẫm chung quanh. Con mắt nhìn đỡ nhức, nhưng mũi vẫn phải thở cái mùi khét tanh cuộn tròn trong gió. Hình như gió biển càng thổi sâu vào đất liền qua vùng bị càn, các thứ mùi tàn phá càng trộn vào nhau thêm đậm chứ không tan.

   Súng cối đánh trống chầu đều đều ở Đồng Trầu, Đồng Mè. Pháo 105 từ quận lỵ bắn lên treo đèn trên đường ôtô và dọc sông Nhỡn. Một khối lửa xòe sáng trên không, tiếp tiếng “pung” của đạn nổ, rồi tiếng “pình” đầu nòng súng vẳng đến sau cùng. Chiếc dù trắng giống con sứa đeo chân lửa bập bềnh trôi xuống. Từng lúc xe ủi đất rồ máy ở chợ Đồng Trầu. Trung đoàn địch đã lọt được vào hai thôn dưới. Chúng đang hối hả sửa đường cho xe tiếp tế kéo lên. Chúng quyết cắm rễ, chiếm đến đâu xây “ấp chiến lược” đến đấy.

   Đồng bào thôn Đồng Dừa họp ở một chỗ khuất gần sông, để tiện tụt xuống hào giao thông tránh pháo. Hơn ba trăm người ngồi trên cái sân đất rộng bị đạn máy bay rạch nhiều đường lỗ chỗ. Bóng lá dừa lá cau không ngớt chạy lừ lừ qua sân dưới ánh đèn dù. Mặt người hết tối lại sáng.

   Lần họp này không có đèn măng sông, cờ, băng, chỉ có một khẩu hiệu viết vội bằng phấn trên cái nong dựng đứng: “Thà chết quyết không làm nô lệ!”. Nến cháy leo lét bên trong đài tử sĩ - một cái nơm to phủ màu trắng - ghim mảnh giấy đề năm cái tên. Anh Mười Bề du kích, một đôi vợ chồng già, hai em nhỏ đã hy sinh trong ngày chọi sức đầu tiên.

   Bê ghé sổ tay vào sát mặt vải màn; cúi đầu bên mảnh giấy đề năm tên, đọc những con số trả thù:

   - Bộ phận đồng chí Sỏi đánh tại Đồng Mè diệt khoảng ba mươi bốn tên, lấy mười một súng. Sau khi giặc vào Đồng Mè, du kích thôn hạ được mười ba tên nữa. Ở Đồng Trầu, bộ phận đồng chí Trưng đánh chung với du kích thôn, diệt chừng bốn chục tên. Trận đánh của du kích thôn khi mới tối chưa có báo cáo. Nghe hai trái mìn của ta nổ trước, coi bộ chắc ăn...

   Trong cái xô bồ của trận đánh, mỗi chiến sĩ thường chỉ thấy chiếc xe mình lật nhào, thằng giác mình đâm. Anh cũng kinh ngạc như tất cả mọi người ngoài trận khi nghe những con số cộng to tướng. Niềm vui diệt địch của anh lớn vọt lên theo bản thành tích chung. Ngay Bê cũng vậy. Vừa đánh giặc vừa lãnh đạo cả xã chống càn, Bê vẫn bồi hồi khi báo cáo chiến công trước bà con Đồng Dừa.

   Bê gập sổ, nêu những người lập công đầu. Ba người được đề nghị lên trên khen thưởng: Mười Bề đã quật nhào bốn tên địch trước khi hy sinh, Tư Sỏi luôn luôn xốc tới tìm giặc mà đánh, và cái cậu Chuân có vẻ lờ đờ lòng khòng mà ra trận cứ nhanh như cắt. Bê không đả động đến mình, bởi quen thấy anh Chín Chuyền chỉ nhận lỗi chứ không nhận công. Một cái tên nữa nóng chảy trên lưỡi Bê. Đồng chí Út Sâm. Em Sâm. Phải nín lặng.

   Chị du kích bí mật Đồng Mè lên tìm Bê lúc chập tối đã trầm trồ kể lời bọn lính bảo an: “Đụng một tay Việt cộng người Thượng thiệt dữ dằn, gan quá chừng chừng là gan. Biết người Thượng bởi thấy nó búi tóc mà mặt đen. Nó bắn thứ súng gì năm bảy nòng của Nga Xô Trung Cộng chẳng biết, hắt đạn như trấu vô mặt tụi tôi. Bị thương hơn chục đứa đây nè”. Sâm bưng bát nước đến mời chị, cười: “Bộ đội Tây Nguyên đó chị ơi”. Chi ủy giấu tên Sâm để Sâm có thể đánh lâu dài trong lòng địch.

   - ...Qua đấu tranh chánh trị và binh vận. Bà con hai thôn dưới vây giặc không cho đốt nhà, giựt lại được hai bò, bảy heo, hàng trăm gà tụi nó ăn cướp. Một số lính nghe lọt tai đã chặn tụi ác ôn không cho phá phách...

   Lại một thành tích nữa phải ngậm tăm: lời má Bảy khuyên nhủ trung sĩ Huỳnh đã thấm.

   Trong chỗ tối, dưới một lùm chuối, hai người mang bao lưng và đeo súng ngắn ngồi nghe Bê nói, đôi lúc vành bàn tay lên tai để theo dõi những câu bàn tán của đồng bào đang khoái hay còn lo. Đó là anh Chín và Dõng.

   Anh Chín cho đồng chí bảo vệ tìm gọi hai lần. Dõng mới chịu rời đội du kích, về Đồng Dừa. Dõng cau đôi mày rậm, hậm hực:

   - Tôi bỏ đi bây giờ, đồng bào chửi cho thối tai thối óc.

   - Trời mưa có đất chịu. Ai chửi nhờ cậu Bê nghe giùm, gói gửi theo.

   Anh Chín nói vui, nhưng cũng bị dằn vặt không kém Dõng.

   Có lần về khu họp, anh được tin địch càn lớn ở tỉnh mình, giết đốt tràn lan, cán bộ tỉnh mất liên tiếp bốn người. Suốt đêm anh mở chong mắt. Xa đồng bào đồng chí giữa lúc gay go, không làm gì được để góp sức chỉ đạo chống càn, anh thấy như mình đang mê một cơn mê dữ trong đó chân tay anh tách rời khỏi thân. Anh không cựa quậy được, không níu chúng lại được, chỉ còn một cái đầu để hiểu rằng mình hoàn toàn bất lực. Gần sáng anh tháo võng nhét vào bao, lên báo cáo với cấp trên xin về tỉnh ngay. Anh Sáu, người chủ trì cuộc họp, can một hồi rồi gắt một mẻ. Anh Chín đành thức một đêm nữa viết thư góp ý với tỉnh, buồn rầu nghĩ rằng thư phải đi bộ hơn nửa tháng mới đến nơi. Anh lên văn phòng, chỉ xin một phong bì đóng dấu thượng khẩn. Anh Sáu đi qua, nói ngay: “Ông coi lại, gạch bớt cái số thì, mà, là, vậy, để cho điện hỏa tốc về tỉnh. Đánh toàn văn”. Anh Chín ngượng, mừng, biết ơn quá đỗi. Anh Sáu trẻ hơn anh Chín đâu mười tuổi. Họ là bạn tù Ban Mê Thuột hồi Pháp, đến nay họ vẫn dúi trà thuốc cho nhau, khi cần cũng cãi nhau những keo nẩy lửa về công tác.

   Tiếng gọi của tình cảm mạnh lắm ở anh cán bộ tóc bạc này. Nó kéo anh trở lại Kỳ Bường, giúp cán bộ xã tận tay trong ngày mở màn chống càn, như người mẹ hồi hộp đưa hờ đôi tay theo đứa con lần đầu bước chập chững. Nhưng anh buộc mình đi xuống vùng biển. Đợt đồng khởi dưới đó sẽ đánh một đòn phá càn rất chắc ăn. Còn Dõng phải đi đón tiểu đoàn bộ đội địa phương của tỉnh đang kéo về đây, giúp tổ chức đánh vài trận lớn cũng để phá càn. Anh Chín phải mang cả cái tích xưa Tôn Tẫn cứu Hàn bằng cách lôi địch sang hướng khác để dỗ ngọt Dõng. Anh hiểu vì sao Dõng khổ. Quê ở Kỳ Bường, lãnh đạo khởi nghĩa tại Kỳ Bường, không ngớt kêu gọi bà con Kỳ Bường đánh giặc giữ làng, giữa lúc giặc càn ác nhất lại bỏ Kỳ Bường mà đi! Cay lắm chứ!

   Bây giờ anh rỉ tai Dõng:

   - Cậu Bê cứng rồi. Dám xông xáo mà lại biết nhìn hết các mặt, thấy không? Chị Năm cũng vững. Bộ sậu Kỳ Bường đủ sức làm ăn.

   Dõng gãi mớ tóc bàn chải:

   - Dễ nướng lắm anh à. Phải chi tôi được ở lại...

   - Bộ ông với tôi thay da sống ba đời được sao? Mời ông thu hình lại một chút để cán bộ xã cầm cương phong trào, ông tướng ơi!

   Tổ cảnh giới kêu ngoài xa:

   - Tàu bay! Đầm già đó!

   Ông Nhâm ngồi bên đài tử sĩ vội vén góc màn, thổi nến. Chiếc L.19 bay thấp giăng những đèn màu hình chữ thập. Đôi cánh đen kịt, vuông góc như lá chuối xén hằn trên nền mây trắng, lừ lừ xoay nghiêng. Có tiếng “rảng” lên đạn các bin. Tư Sỏi định bắn, Bê gọi:

   - Khoan bắn, đợi họp xong đã!

   Qua tiếng động cơ rè rè như xe gắn máy, một giọng đàn ông eo éo nổi lên: “Hỡi toàn thể anh em binh sĩ Việt cộng! Hỡi toàn thể dân chúng!”. Bà con giật mình, rướn cổ. Rõ ràng tiếng loa từ dưới đất dội lên, như địch đã tới đầu xóm. “... Chúng tôi khẩn thiết kêu gọi ông Bê, ông Trưng, ông Sỏi, bà Tân, cùng tất cả những người khác đã lầm lỡ đi theo Việt cộng...”.

   Anh Trưng ở đâu gọi vào, giọng tỉnh khô:

   - Họp tiếp đi, hễ kịp ta khoèo thằng này xuống coi mặt!

   Ba bốn người nói to:

   - Giọng thằng Rân con lão Hạnh rõ ràng.

   - Giả bộ lưng chừng miết!

   - Cháy nhà ra mặt chuột, cháy làng thì lòi Việt gian!

   Chiếc máy bay quần những vòng rất hẹp như vướng một đầu cánh vào ngọn tre. Thằng Rân chuyển sang mời “toàn thể dân chúng hãy hợp tác với quân đội cộng hòa và chánh quyền, hầu vãn hồi trật tự an ninh...”. Tờ truyền đơn chưa đọc hết, máy bay đã ném luôn bốn cái đèn dù chung quanh cầu sông Nhỡn. Nó lên cao, mở vòng rộng hơn. Một quả đạn 105 huýt sáo như chích chòe cất giọng, bật chớp trắng cách chỗ họp vài trăm thước.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #46 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2012, 10:24:57 am »

   Anh Chín và Dõng ra đi lặng lẽ trong khi đồng bào tản ra tránh pháo. Chừng ba chục quả 105 rơi dồn dập xuống bãi sông cạnh cầu, nơi có nhiều con bù nhìn đứng giơ chổi cùn đuổi chim đến phá đỗ. Tư Sỏi nói oang oang:

   - Tụi Mỹ mời đám bù nhìn của mình ra làm tổng thống. Bù nhìn không đi, nó tức nó bắn.

   Phần sau cuộc họp bỗng nổi sóng gió.

   Cần mở gấp một đợt đấu tranh trực diện lớn chống máy bay đại bác phá làng giết dân. Đi ngay sáng mai. Trừ du kích và mấy cán bộ ra công khai, còn bao nhiêu đi cả. Khi bàn việc này, chị Năm và ủy ban đều thấy trước sẽ có nhiều thắc mắc. Nhưng không ai ngờ bà con sẽ chống lại gay gắt như bây giờ.

   Trong khi chị Năm Tân nói, tiếng rì rầm đã nổi lên to dần. Vài câu sừng sộ bật ra. Một người cười khẩy.

   - ...Tóm lại, bà con ta sáng mai sẽ kéo xuống vây bọn chỉ huy, bắt chấm dứt phi pháo, bắt bồi thường nhà cháy người chết. Đồng bào cảm thông chưa?

   Nhiều giọng cùng ồ lên:

   - Thông như ống thổi lửa!

   - Đang đánh ngon, lại xui đi nạp mạng chỗ hàm chó vó ngựa!

   - Nó đang xúc dân(33), xúc không được thì giết, ủy ban quên rồi sao chớ?

   - Có phải chị biểu xuống để nó khỏi mất công bắt, phải không?

   - Bỏ bao thả sông. Nó bỏ bao thả sông hết?

   Chị Năm ngẩn ra trước những lời sấn sổ ấy không kịp đáp. Tư Sỏi nổi khùng, quát:

   - Làm gì kỳ vậy? Ai phát biểu giơ tay coi!

   Một người ngồi thu lu cạnh miệng hào đưa tay lên. Khi người ấy nói, bà con mới nhận ra ông Mại. Suốt ngày nay ông bám chắc đáy hầm. Cô Mại “đa cảm” phải lên nhen lửa nấu cơm, bưng xuống cho cha. Ông thưa gửi rất lễ phép, và nói những lời rất không ngờ đối với cả những người tán thành cũng như phản đối chị Năm:

   - Dạ, chị xong chưa để tôi xin nói hớt. Cấp trên bày vậy thiệt chí phải. Để đồng bào ở lại đây vướng vít, quí anh em du kích ném chuột còn sợ bể lộc bình. Tản cư lên mấy xã trên thì kẹt cái vụ đổ bộ Kỳ Lâm, đi không lọt. Chi bằng bà con mình lánh đỡ xuống dưới, lựa lời ăn nói với bên kia sao cho trôi chảy, họ nới tay cho chừng nào hay chừng nấy. Mình làm cách mạng chớ đâu có liều mạng...

   Từ đầu cuộc họp, má Bảy vẫn ngồi chen giữa đám đông cho đỡ rét, vạch khăn trùm đầu để hở một bên tai, tóp tép nhai trầu.

   Khi bà con cãi lại chị Năm, má không bằng lòng mà chẳng lấy làm lạ. Chính má cũng ngờ ngợ thế nào. Mọi hôm bà con đi chợ đã từng lời một tiếng hai với địch, đâu có chịu bị ăn hiếp. Nhưng lần này khác hẳn. Bọn Mỹ cầm quân đi càn, cố xúc dân và giết dân càng nhiều càng hay, bì sao được với trung sĩ Huỳnh và bọn lính còn nhớ tới Nam quốc Nam nhân! Đi đấu tranh lúc này e lợi chẳng bù hại, má tính như thế.

   Tuy vậy, khi nghe giọng nỉ non của ông Mại, má bực mình muốn đập lại ngay. Ông Nhâm đã hầm hầm cắt ngang khi má định giơ tay:

   - Nè, ông Mại, thằng Rân rao loa miết chưa đủ sao mà anh xía thêm vô?

   - Chết, bác cứ...

   - Anh muốn tránh né thì cuốn gói lủi một mình, chớ có dụ dỗ người ta! Trực diện kiểu anh là cõng con thỏ trên lưng, trói mình ra hàng! Thử hỏi bấy nhiêu bà con đây có ai chịu lạy giặc xin sống không?

   Ông Mại co mình như con tôm luộc, nín thít, trong khi mấy anh trẻ tuổi chồm dậy đòi ủy ban “nắm đầu tụi phản động lọt lưới”. Chị Năm phải can, và lái cuộc họp trở lại bàn việc chính: đồng ý với nhau cần tiến công địch, nhưng đánh cách nào đây? Nên hay chưa nên tiến công chính trị?

   Chị Ơn đứng trong góc tối, mắt long lanh. Ngọ vẫn kèm bên chị.

   Nỗi đau của người đàn bà công giáo mất chồng mất con này có cái gì dễ sợ. Chị không khóc, không cầu kinh, cũng không cho chôn đứa con. Sau lúc đi cắm chông với chòm xóm, chị lại về ngồi trên cái chõng nhỏ, bồng xác con, trừng trừng nhìn ra ngõ như đợi chồng về ăn cơm. Nghe bà thím đọc đi đọc lại kinh “Kính mầng” trước tượng Đức Mẹ, chị cười gằn:

   - Bà hỏi thử Mẹ Maria có bị hiếp không?

   - Nói bậy...

   -  Mẹ bao lớn...

   - Thôi thôi, Giêsu Maria, lạy Chúa tôi!

   Đến tối, sau khi nghe anh du kích kể một thằng Mỹ chỉ huy biệt động quân bị cây súng săn của anh bộ đội mặt đen cắm đủ chín viên chì giữa ngực, chị Ơn cúi nhìn vết bom chém mặt con, ngẫm nghĩ một lát, rồi đem con đi chôn sát bên mả chồng.

   Bây giờ chị đột ngột giơ tay xin nói. Cũng như trong đêm vạch tội thằng Phổ, bà con im hẳn để nghe chị. Chị níu tay vào vai Ngọ, hơi nhô đầu:

   - Tôi xin theo lệnh ủy ban đi trực diện. Có điều xuống đó tôi làm gì nữa thì một mình tôi chịu. Báo cáo trước vậy đó.

   Chị chỉ nói bấy nhiêu bằng cái giọng khô và lạnh. Ngọ hiểu ngay chị muốn gì. Sau khi chôn con, chị lấy con dao xếp cỡ to của anh Ơn ra mài. Anh Ơn mua dao sau khi cha Phức dặn con chiên sắm vũ khí để “chống Việt cộng vô thần về giết công giáo”. Chị mài nó đến khi cạo thử lông tay thấy đứt mới thôi. Chị hỏi một anh đã đi quân dịch: “Thằng tướng Mỹ đeo lon ra sao, chú vẽ tôi coi”. Rõ ràng chị định theo bà con đi đấu tranh để đổi mạng với giặc.

   Chị Năm trả lời qua quít: “Để giải quyết sau”, và đưa mắt cho Ngọ. Ngọ khẽ gật đầu.

   Má Bảy đã nghĩ xong. Má dặng hắng, bàn góp:

   - Tôi nói sai nhờ bà con bỏ qua... Hồi khác không kể, bây giờ hễ mình xuống đấu tranh thì nó đánh trâu. Đánh chết trâu còn sợ mất vốn, đánh chết dân tụi nó được tăng lương. Hai nữa là cứ ở đây cự với tụi nó. Cự được đôi ba ngày rồi tụi nó cũng vô được, giết một mớ, đánh một mớ, rồi bắt dân rào ấp chiến lược, canh gác báo động. Hóa ra mình chống lại Cách mạng, chống lại mình. Cũng không xong. Chi bằng bà con mình bồng con ẵm cháu, đi tản cư tuốt một hơi lên Kỳ Sơn, lập cái chiến đấu khu, dựa thế núi mà chống chọi với tụi nó. Nhà cửa thóc lúa đem được gì thì đem, còn ta đốt hết, ta làm tiêu thổ như dạo xưa... Nói chung bấy nhiêu, còn phần tôi xin sống gửi nạc thác gửi xương cho Cách mạng, theo anh em nấu cơm nuôi heo, như hồi chín năm vậy đó.

   Má nói một hơi, tin chắc rằng số đông bà con sẽ đồng ý với mình. Thật là giản đơn. Suốt chín năm kháng chiến ta làm vậy mà thắng Tây, thì bây giờ cứ vậy mà làm ắt thắng Mỹ. Cãi chi cho mệt!

   Nhưng liên tiếp mấy người bác ngay má. Một chị nói sa sả:

   - Con bà Bảy lớn chớ con tôi ẵm ngửa, tản cư lên đó lấy gì ăn? Mà tụi Mỹ bây giờ nhiều trực thăng, chỗ nào nó cũng hăm he đổ bộ, mình cứ bỏ đất cho nó mà tẩu miết à? Tôi không chạy lên cũng chẳng chạy xuống, cứ ở lì đây cuốc đất lật cỏ nuôi du kích bộ đội đánh giặc, nuôi bầy con tôi thôi!

   - Nó vô được, chị làm sao?

   - Nó vô tôi chống. Đốt nhà tôi níu tay. Đánh bà con tôi la làng. Làm ấp chiến lược tôi phá. Làm mất công chớ phá chẳng mấy hồi!

   Má Bảy chưng hửng, rồi nhận ra chị kia nói cũng có lý.

   Suốt một giờ bàn cãi rối rắm ấy, Bê ngồi im trên góc thềm nhà bị mảnh bom xói lở, cố ý không trông thấy những cái đưa mắt cầu khẩn của chị Năm. Trong chi ủy và ủy ban, chị nắm mặt đấu tranh chính trị, chị đứng ra giải thích là phải. Khi chị bí, Bê cũng đang bí, dù muốn nói thay cũng không biết nói sao cho đúng. Bí nhưng không thấy khó chịu. Bí mà vẫn tin có thể tìm ra lối thoát.

   Giả sử cuộc họp này diễn ra ở Kỳ Thượng chẳng hạn, nơi khí thế quần chúng rất yếu do phát động kém, Bê biết đồng bào sẽ nghe chị phó chủ tịch một cách kiên  nhẫn, đưa ra đôi câu hỏi gọi là, vâng ngay để đi ngủ sớm, và sáng hôm sau ước chừng một nửa số người được gọi đi đấu tranh sẽ lên cơn đau bụng và đau chân, đắp chiếu nằm rên.

   Đây không phải thế. Quần chúng ở đây thực sự đã động. Ý chí giải phóng thấm sâu vào mỗi người dân, làm rung động tim óc họ, đẩy họ xốc tới đánh giặc giữ làng. Rất khó chia ra trong việc làm hằng ngày của người dân đâu là việc công đâu là việc tư. Lửa đốt nhà hôm nay đã đốt thêm những khối căm thù nóng sẵn. Bà con ầm ầm đòi đánh, và ùa ra cùng đánh với du kích. Nhưng họ thấy địch ác mà không thấy - hoặc đã quên - địch yếu. Cái yếu của thằng nói dối bị cùng đường phải gọi pháo bắn vào bù nhìn. Cái yếu của một tiểu đoàn bảo an nằm chết gí giữa gai để ăn đạn của Út Sâm một mình chặn đầu. Cái yếu do sự chán ghét, uất ức của những Huỳnh hay Bính đang cầm cây súng Mỹ... Bê sẽ làm sao đây để vạch cái vết nứt nằm giữa súc gỗ, và lái mũi dao đấu tranh chính trị nạy vào đấy? Làm sao để đồng bào thấy mình đánh nổi một trung đoàn giặc đang càn dữ dội vào cái xã nhỏ này, nếu biết đánh bằng cả hai quả đấm?

   Khi Bê đứng dậy, ông Nhâm vừa giơ tay. Ông co chân ngồi xổm lên. Vẫn cái lối ề à nửa giỡn nửa thật khi bàn những việc lớn:

   - Chẳng nhắc cũng nhớ, hồi đấu tranh đòi hiệp thương, bà con mình được tụi ác ôn mời ăn các thứ roi, uống nước vôi nước ớt đã đời. Chị phó chủ tịch chắc bây giờ còn no tới cổ. Phần lão đây, mới viết sơ sơ một bài văn kiến nghị, “quốc gia” đã chấm cho đậu tú tài, nghĩa là tái tù hai lượt, đóng thêm mấy con triện nướng đỏ trên lưng cho đủ bằng sắc ấn tín...

   Tiếng cười bật lên chung quanh:

   - Phải đó bác.

   - Thiệt y sì sì vậy.

   Ông Nhâm xoắn chòm râu đen, lắc đầu:

   - Để khoan, chưa phải đâu. Mới nghe chị Năm kêu đi trực diện, tôi cũng có ù tai chút đỉnh. Nghĩ lui tới nãy giờ mới thấy chị nói đúng, ủy ban nói đúng. Hồi xưa mình tay không, nay mình có súng có chông, mạnh hơn. Thằng  Phổ bị mình khử, bọn tiểu yêu khiếp hồn bỏ việc ráo, dân vệ rã hết, quân chính quy mới tới một ngày đã khiêng về hơn trăm đứa. Khác nhiều chớ. Bây giờ địch không ăn được mình, mình chưa thắng được nó, đang cù cưa. Tôi đoán bọn tướng Mỹ tướng ngụy họp đâu ở ga Đồng Mè, bàn thảo vầy nè: “Cái dân Kỳ Bường là cộng sản nòi, gan to hơn cóc, khó trị chớ chẳng chơi. Đánh hao quân lắm. Để ta dụ dân ra hàng, rồi ta nhốt hết vô ấp chiến lược, bọn du kích đói nhăn răng không đánh cũng thua. Diệu kế chơn diệu kế!”. Tụi nó cho thằng Rân ngồi tàu bay kêu thương dân rầm trời, khóc được trong loa chắc nó cũng giả khóc rồi.

   Mấy người tiếp ngay:

   - Bởi vậy mới đừng xuống!

   - Là cái kế nó xúc dân đó bác!

   Má Bảy vạch cả hai tai ra khỏi khăn trùm đầu. Má cau mày, chưa hiểu ông Nhâm bày mưu thầy mẹo thợ gì, hay lại bàn ra. Ông cứ đủng đỉnh:

   - Xì, các chú nói vậy là hữu dõng vô mưu. Biết nó gài bẫy cò ke thì mình bước tránh, mình đẩy nó lọt xuống bẫy chớ. Tôi tính nó đã làm ra màu mè độc lập dân chủ vậy, ta cứ đi, có điều đi sao cho khéo. Trước hết ta cử ít ông già bà lão xuống kiện cái sự đốt nhà giết dân thử nó nói sao. Coi như đi sứ. Nghề đời đánh không nổi mới dụ hàng, mà đang dụ hàng không ai dại gì chém sứ, tuồng tích xưa nay vẫn vậy. Liệu bề nó không đủ sức hốt dân thì còn bao nhiêu chị em xin mời ra quân hết, kéo đại binh xuống tiếp sức. Nó lâm thế bí mới phải kêu thương dân, ta bắt nó nói sao phải làm vậy, hễ nó không chịu thương ta oánh què cẳng. Mất gì mà ngại, cứ đi. Với lại...

   Ông Nhâm bỗng cúi đầu, nín lặng mấy giây. Giọng ông trầm xuống:

   - Tôi thấy lũ trẻ mới lớn lên giành nhau ra trận, người hy sanh kẻ bị vít (34), tôi thương đứt ruột mà nghĩ cứ tủi cho cái thân già ăn thêm sống rán. Thôi thì cầm súng không nổi cũng còn chút hơi thở đây, tôi xin đi giằng co níu kéo thằng giặc, đỡ tay cho anh chị em du kích được bao nhiêu hay bấy nhiêu... Đảng với Mặt trận kêu gọi ta chia lửa với con cháu, chẳng lẽ bà con mình nỡ làm thinh hay sao?

   Mấy lời cuối cùng của ông già ăn ngay nói thẳng kéo bật mọi người trở về với cảnh chiến đấu trong ngày. Má Bảy kéo góc khăn thấm nước mắt. Má thấy Út Sâm băng qua các cánh quân giặc, trở về với tay chân đầy vết gai rạch. Má thấy Tư Sỏi đưa bàn tay vấy bùn và máu bốc nắm cơm, vừa nhai vừa chạy dọc hào. Má phải ra trận, đánh theo kiểu của má. Má phải tiếp sức cho con.

   Má nói chậm rãi:

   - Tôi dốt đui dốt đen, chẳng biết cãi lý sự với bọn chỉ huy, có điều sợ giặc thì dứt khoát không sợ. Cần trực diện tôi xin đi trước.

   Cuộc bàn cãi xoay hẳn sang hướng mới. Trong khi chị Năm và Bê nói nhỏ với nhau, ông Nhâm đứng dậy gọi tên các ông bà già, rủ họ cùng đi. Họ nhận cả. Cũng còn đôi người gượng gạo, nhưng thấy má Bảy đã tình nguyện trước nên họ ngượng miệng không dám từ chối.

   Chị Năm đề nghị ông Nhâm làm “đội trưởng xung kích”. Ông vê râu, nhìn quanh:

   - Ờ, gì chớ cái sự kẹp dù đi kiện tôi cũng đã từng, mà roi vọt lắm phen nó cũng dày da lưng rồi. Cốt nhứt bà con mình đồng lòng thì trận này ăn chắc. Tôi xin ủy ban một điều thôi: ai lén khai báo với giặc về cuộc họp đêm nay thì trước hết bị trời tru đất diệt, sau nữa cho tôi mượn cái đầu. Vậy được chớ?

   Bê hỏi ngay:

   - Bà con mình thấy sao?

   - Đồng ý! Đồng ý!

   Bê đột ngột cười xòa giữa lúc không có gì đáng cười cả. Nhưng bà con đều cười theo, hỉ hả. Gỡ được chỗ bí rồi. Mặt trận chính trị sẽ mở, sức ta tăng gấp đôi, Kỳ Bường không thể bị mất. Chắc chắn như vậy, vì Đảng bày như vậy. Mấy ngàn trái tim nóng của bà con vẫn gắn liền với khối óc tỏa sáng của Đảng, trong cái thân thể đầy vết thương là mảnh đất Kỳ Bường.

   Có một điều Bê và chị Năm biết rõ nhưng không được phép nói ra để bà con mừng: cuộc đấu tranh có vẻ trái cựa đối với Kỳ Bường này nằm trong đợt tiến công chính trị lớn của toàn tỉnh. Ủy ban tỉnh đồng ý với anh Chín Chuyền, đã châm ngòi cho nó nổ sớm hơn ngày định trước. Ước chừng mười tám vạn đồng bào sẽ kéo vào các thị xã thị trấn, vây chặt “tỉnh đường” và “quận đường”, xô vào đồn giặc, cùng chống càn với Kỳ Bường ở cả những nơi đồng bào Kỳ Bường chưa hề đi đến hoặc nghe tên.


----------------------------------------------------------
33. Bắt dân phải rời làng đi ở các khu tập trung.
34. Bị thương
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #47 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2012, 10:29:49 am »

*
*    *

   Đến nửa đêm má Bảy mới ra về. Sau cuộc họp thôn, “đội xung kích” ở lại bàn với ủy ban những câu đối đáp khi gặp địch. Bê và chị Năm còn giữ má lại một lát để giao công việc mới cho Huỳnh và Bính.

   Má đi một mình trên con đường ven sông rắc đầy những lá tươi mới rụng, cành gãy, mảnh tranh, khúc tre. Dưới bóng cây, những hạt xăng bột của bom na pan vãi ra chưa cháy hết nổi sáng xanh lốm đốm như lá mục, xòe lửa xanh khi bị chân chà mạnh. Từng lúc, má hoa mẩu củi than tìm đường vòng tránh một hố bom khuất trăng. Người má nhẹ và ấm. Cái uất ức bó tay khi ngồi trong hầm nghe súng nổ bên ngoài đã tan hẳn khi má được ra trận với các con.

   Sắp rẽ về nhà, má bỗng ngồi thụp xuống, dúi mẩu củi vào một gốc chuối. Có thuyền qua sông. Hai, ba, bốn chiếc đò rẽ trăng sóng sánh, chở đầy những bóng đen có tia trắng lóe trên súng. Má men bụi rậm đến gần bực sông, nhô đầu dòm.

   - Ai? Khẩu hiệu?

   Má hớt hải:

   - Ớ ông trùm ông xã, tôi, tôi đây...

   - Má hả má?

   Út Sâm hạ nòng súng. Hàm răng cười trắng nhởn trên mặt đen. Lại lọ nồi, hết rửa lại bôi!

   - Sao không ngủ chút đã con?

   - Bộ đội về chống càn đó má. Coi ngon chưa. Có đủ ông ầm nè, thấp thấp lùn lùn nè. Chắc đánh to lắm. Con không được đi theo, tiếc ghê.

   - Thôi ở nhà với má, nghỉ một bữa.

   Sâm cười ngặt ngoẹo:

   - Má kỳ lắm. Nhà đâu nữa mà ở? Mà má đâu có ở nhà? Mai má đi xung kích, con theo chủ lực xuống sau. Con Ngọ ra nói má xung phong trước hết, thiệt bảnh. Anh Tư coi bộ không ưng...

   - Sao vậy?

   - Ảnh nói tụi ác ôn biết ảnh, thù ảnh, sợ tụi nó bắt má làm con tin để buộc ảnh đầu thú. Con hẹn hễ má bị bắt thì con kéo bà con nhào vô níu xé, thả thả hết, bắt bắt hết.

   Ngọ từ dưới bãi đi lên, báo tin bộ đội qua sông xong xuôi, đang đi dọc bãi về phía Kỳ Minh. Anh em đi rất êm và tránh xóm để chó khỏi sủa. Má phàn nàn:

   - Ông Dõng ác quá, không cho anh em vô xóm nghỉ một lát, bà con mời ăn khuya chén chè tô cháo rồi hãy đi.

   - Để con nói bác Chín cử má làm chánh trị viên!

   Đêm ấy má với Sâm nằm trên bộ ván mọt kê sát đất, bên miệng hầm, trên che tạm mấy cái nong. Đồ đạc trong nhà được giấu rải rác ngoài vườn, còn nguyên cả. Từng luồng khói nóng từ đống tre gỗ cháy ngún theo gió tuôn vào đầy lều. Ngôi nhà còn nhớ chủ, đưa những hơi thở ấm cuối cùng theo chủ trước khi hóa kiếp, để lại đống tro bón ruộng và mớ than nấu cơm. Má nằm nghĩ lan man, tiếc cái nhà giữ non hai chục năm đến nay bị cháy, thương chồng dành dụm làm nhà, rồi nhớ thằng Tùy vắt vẻo trên mái lợp từng tấm lá dừa đánh dày cộp.

   Trên ngọn dừa cao nhất, con tắc kè thấy vắng bắt đầu đếm tuổi: “Cắc... kè!”. Sâm bật kêu mừng rỡ:

   - Nó còn sống má ơi! Tội nghiệp, chẳng ai nhớ nó hết mà nó nhớ mình, thấy mình về nó chào.

   Má cười.

   - Tao với nó thi đua sống dai, tao còn nhứt định nó còn. Mà nó ưa chọc tao. Đêm nào nó cũng kêu: “Bác già, bác già”. Chao, đau lưng gớm đây Út.

   Sâm đấm lưng cho má xong, bật ho một hồi:

   - Khói khét như quỉ!

   - Chửi Mỹ chớ sao lại chửi nhà mình?

   - Con tập chửi, để mai chửi Mỹ cho tơi bời khói lửa.

   Má nằm nghiêng, im một phút rồi hỏi Sâm:

   - Con biết thằng Bê tên thiệt là gì không?

   Sâm giương mắt:

   - Là Bê chớ tên là gì nữa?

   - Dốt! Nó là Bái, Biên, hay cái gì đó cũng một vần B, má quên... Má hỏi đây Út. Nghe không?

   - Dạ.

   Khi sắp nói chuyện “người lớn” với Sâm, má thường mào đầu như vậy. Sâm chợt sợ rúm người. Chết, anh Bê đã nói với má cái chuyện hồi trưa, dưới hầm bí mật... Má bẻ ngón tay rắc rắc mà Sâm tưởng xương mình gãy vụn. Con gái trắc nết nè. Tao nuôi tao dạy bấy lâu mà mày không nói sơ với tao một tiếng nè. Từ rày tao cấm cái này cái nọ... Sâm muốn chồm dậy, chạy biến thật xa. Nhưng má đã thủ thỉ:

   - Má coi bộ thằng Tùy còn lâu mới về được. Thôi má không nuôi có bà khác nuôi, cũng mừng cho nó được ở gần Cụ Hồ mà học cái đức thánh hiền của Cụ. Má tính vầy Út à. Thằng Bê mồ côi ba má, tội nghiệp lắm, má muốn nhận nó làm con nuôi. Con thấy sao?

   Sâm quẫy một cái không nói. Má thấy lạ. Má nghe Sâm khen Bê luôn, tưởng nghe vầy Sâm vồ vập mới phải chứ. Hay Sâm xin súng đạn gì đó không được rồi giận?

   Má nói tha thiết hơn:

   - Không phải má nuôi nó để về sau nhờ cậy gì. Có điều hết thảy cán bộ du kích ai cũng có chỗ bà con lui tới, sót lại một mình nó đầu không chằng chân không rễ, nó vun đắp cho cả xã mà rách cái áo cũng phải lui cui ngồi vá lấy, má nghĩ xót ruột quá đi. Thôi thì không có công sanh thành cũng góp một chút dưỡng dục, má sống chẳng mấy năm nữa, má xin với cấp trên lãnh nó làm con nuôi, lo cơm áo cho nó để nó vui bụng mà làm việc nước. Như vậy thằng Tư với con cũng được phước về sau nữa. Hay con chê nó chưa xứng làm anh thì nói thiệt đi.

   Sâm lật mình quay lại, quàng tay ôm má, dụi cái trán nóng rực vào cổ má. Sâm lúng búng trong miệng như ngậm cháo:

   - Con... con có chê ảnh đâu...

   - Coi bộ chưa ưng ý hả?

   - Con ưng... Mà không, đừng, khoan đã má, để con ngủ.

   - Út à...

   - Con buồn ngủ muốn chết. Con ngủ đây má.

   Sâm lại trở mình úp thìa với má, thở phì phò. Vì Sâm ngáy cẩn thận quá nên má biết con chưa ngủ, chỉ tránh trả lời. Lớp trẻ bây giờ lắm cái rắc rối má không hiểu được.

   Má kéo chăn đắp cổ cho con, trùm thêm chiếc chiếu ra ngoài che sương. Sương mù từ dưới sông tràn lên bắt đầu phủ kín cây vườn. Tiếng lựu đạn và súng nhỏ cũng bắt đầu dậy lên phía Đồng Trầu. Du kích đợi trời đất trắng xóa cả mới đánh vào những nơi giặc đóng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #48 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2012, 10:35:01 am »

18

   Ông Nhâm rót rượu đưa mời má Bảy và các ông ngồi quanh:

   - Ta nhấp cho ấm bụng rồi đi. Kinh Kha nhập Tần phải có chút men mới hay... Phàm lãnh ấn đi sứ là không được làm nhục quốc thể, cái đó xưa bày nay làm. Dù tụi nó giết nữa cũng đáng số, mình bớt vài năm sống dai để con cháu nó sống đời, phải không bà con?

   Đội xung kích gồm năm người. Một ông tối qua đã nhận, sáng nay thú thật là về nằm nghĩ mãi đâm khiếp, xin đi sau với số đông. Một chị bị mẹ chồng mắng té tát và đẩy con vào tay, phải ở nhà. Chị Năm đã giữ khéo không cho chị Ơn đi tuy chị đòi nằng nặc. Ông Nhâm cười: “Hai thóc được một gạo là thường. Tụi mình thuộc hạng thóc tốt, tám người còn lại tới năm”.

   Lúc gần sáng trời đổ mưa to, bây giờ còn lâm râm. Bùn nhão có răng cắn chân má Bảy xéo lấm. Thỉnh thoảng má lại rùng mình dưới tấm choàng, không rõ vì lạnh hay hồi hộp.

   Đường lớn phải bỏ vì hầm chông bãi chông chi chít. Bà con băng vườn chui rào lâu mới ra khỏi thôn Đồng Dừa. Đến giữa ruộng trống, má Bảy rùng mình liên tiếp mấy cái, lần này má thấy rõ không phải vì lạnh. Má rờn rợn. Giặc đang dàn sau lũy tre Đồng Trầu kia, chĩa súng vào má, sắp bóp cò... Má quay đầu lại. Ông Nhâm rấp rào xong đi vượt lên, mặt tỉnh khô như khi dạo xem ruộng. Tháng trước, ông với anh thư ký ủy ban đi căng dây đo mấy khoảnh ruộng của thằng Phổ cạnh đường Một. Bọn biệt kích ập tới, vây hỏi. Ông cười khà, chỉ vào anh thư ký: “Con cái vậy đó, nó kêu chia gia tài không công bằng, phải đo lại cho nó coi thực mục sở thị”. Má Bảy thầm mắng mình trẻ con, hăm hở bước nhanh đến bìa xóm. Má lật nón lá ra vẫy, kêu:

   - Đồng bào đây, anh em đừng bắn!

   Bốn năm bóng đen từ trong một bụi cây nhô ra. Lá ngụy trang rung rinh chung quanh đôi tai to và mái tóc quăn. Má bật cười:

   - Quỉ, vậy mà cứ tưởng tụi nó! Xuống bao giờ đó Bê?

   - Con xuống hồi khuya. Tụi nó bị bắn bia nhiều, rút về chung quanh chợ rồi.

   - Chị Năm đâu?

   - Chị xuống Đồng Mè... Chào các bác!

   Bê đợi tại đây để tiễn đội xung kích. Bê nhìn năm bà con từ đầu đến chân, muốn nói những lời động viên cuối cùng đầy thương yêu và tin cậy. Nhưng trước cái vẻ rất ăn chắc của ông Nhâm, má Bảy, Bê chỉ buông đôi câu giản dị.

   - Ủy ban đợi tin thắng trận của các bác. Các bác xuống trước, đồng bào cả xã sẽ tiếp sau.

   Du kích đánh tại đây khá lâu. Vỏ đạn của địch vung vãi như mù u rụng. Mặt đất chi chít những dấu giày “răng chó” cắn sâu vào đất nhão. Những ống bìa đen đựng đạn cối nằm lăn lóc. Nhà trong xóm chỉ bị đốt hay sập một ít, nhưng bị địch cướp tràn lan. Lông gà, ruột heo, vỏ trứng vất từng đống bên những bếp nấu ăn kê giữa nhà, đun bằng bàn thờ bẻ gẫy hay ván hòm nạy ra. Đồng bào trong xóm này sợ pháo đã chạy xuống chợ. Chỉ đi vắng vài tiếng đồng hồ mà nhà cửa tan hoang hết.

   Qua khỏi tổ du kích cuối cùng có Tư Sỏi đứng dưới hào đưa tay vẫy, qua cánh đồng khoai lỗ chỗ những hố đại bác xoáy tròn như lỗ con cun cút, bà con gặp vọng gác đầu tiên của địch.

   Sau một đống những cây cột kèo gỗ kê cao che đạn, hai tên lính địch trải tấm vải dầu(35) xanh nằm sấp, úp mặt trên báng súng, ngủ chập chờn. Nghe tiếng chân lép nhép đi đến, một đứa ngóc đầu, hấp him mắt, rồi nhảy tõm xuống cái hố bắn sát bên hông. Nước tóe lên mình thằng thứ hai đánh thức nó dậy. Nó chụp súng nhưng không bắn, chỉ ôm súng nằm bẹp sát đất sau đống gỗ, kêu ú ớ.

   Ông Nhâm khoát tay:

   - Đồng bào đây, đừng bắn!

   - Đứng... đứng lại! Giơ tay lên! Kìa đứng lại chớ!

   Phải mất vài phút, hai tên lính mới thật tin là không có gì nguy hiểm. Chúng gắt bà con bắt đứng xa ra, rồi lại gọi bà con đến ngồi bên chúng để du kích khỏi bắn. Lập tức chúng xin thuốc hút.

   - Các bác ở đâu lù lù ra đây?

   - Tụi tôi đi tránh bom đạn, giờ thấy yên về coi heo gà ra sao.

   - Hỏi thiệt các bác, có dẫn cộng theo sau không vậy?

   - Chà, đố ai biết họ ở đâu mà dẫn.

   Sáu bảy tên nữa chui ra khỏi ngôi nhà ngói, xách súng chạy lom khom đến chỗ bà con, ngồi thụp xuống. Năm người dân được xem như cái hàng rào chống bắn tỉa tốt nhất. Mặt bọn lính hốc hác như mới ốm dậy. Bùn ướt phủ trên bùn khô làm áo quần chúng dày cộp như mo nang. Một thằng tới sau đeo chữ V hạ sĩ trên tay áo, nhét luôn gói thuốc rê của ông Nhâm vào túi:

   - Chút nữa tao chia... Ê ông già, xin cả gói hủ. Cái xứ gì quán xá như chuồng heo, kiếm không ra bao thuốc. Thằng Châu dẫn đám này về trình đại úy, nghe chưa?

   - Còn khuya!

   - Tổ cha mày, trở chứng hả? Đây về chợ, đi chen với dân cũng sợ cắc bụp hả?

   - Đi luôn, khỏi trở lại đây thì được.

   Một tên mé sau chen lên:

   - Tôi đi nghe xếp. Kiếm ít bao thuốc hút chơi. Có tuy-ô(36) mà.

   Má Bảy nhận ra Bính mặt lang, mừng quá. Má đang lo không tìm ra nó giữa đám hỗn quan hỗn quân này.

   Tên lính gác nhảy xuống hố bắn ban nãy tháo giày ra trút nước. Nó hậm hực:

   - Đồng bào đây sao dữ dằn quá vậy?

   - Dữ sao cậu?

   Thấy cả tiểu đội đã chạy theo gói thuốc về cái nhà ngói, nó hạ giọng:

   - Có cái lối đâu cứ bắn như cò mổ kiến, thấy lính nào cũng bắn. Ba cái thằng lính rằn ri, tức là biệt động quân, nhảy dù, lực lượng đặc biệt, thủy quân lục chiến, hết thảy bọn nhà nghề đó, cứ đánh cho tiệt cái nòi ăn cướp hiếp dâm đi. Hay là... ừ, hay là lựa đứa nào cao lòng thòng, mũi bằng nắm tay, dọn bớt cho tụi tôi đỡ cực. Còn thứ lính quân dịch như tụi tôi thì giết làm gì mang tội. Đồng bào Kỳ Minh vậy mà khá, cứ kêu loa “anh em quân dịch nằm xuống”...

   Má Bảy vờ sửng sốt:

   - Các ông Giải phóng bắn, chớ đồng bào súng ống đâu có?

   Tên lính nhăn mặt:

   - Đồng bào nói giùm các ổng không được à? Cũng anh em bà con của tụi tôi cả chớ ai vô đó.

   Bính xốc súng lên vai, tủm tỉm:

   - Nói ngu lắm. Cầm súng Mỹ đi đánh người ta, biểu người ta đừng bắn mình sao được.

   - Mày ngu thì có. Bên Giải phóng họ đặt ra chánh sách hẳn hoi, cấm không được giết ẩu, biết chưa?

   Bính cười khà khà, dẫn năm bà con xuống chợ.

   Trong đội xung kích không ai biết nhiệm vụ riêng của má Bảy là tìm gặp Huỳnh và Bính. Má Bảy chen đi sát sau lưng Bính. Nhân lúc các ông kia dừng lại nói chuyện với một tên sĩ quan, má nói vội với Bính:

   - Cái thơ cháu gửi, thằng Tư coi mừng lắm. Ủy ban xã, ông Dõng nữa cũng khen cháu, nhắn cháu làm dấn tới cho mau.

   Bính đảo mắt nhìn quanh:

   - Bác nói giùm cháu nắm được sáu đứa, có trung liên. Mang súng về hay là tiếp tay cho anh em hốt một cú lớn?

   - Làm nội ứng. Nghĩa là...

   - Hiểu rồi. Mỗi ngày cháu tới quán bà Lành một lần, khoảng mười hai giờ trưa. Đi đâu cháu cũng nhắn lại đó. Bác hay cô Út xuống lấy tin, đừng cử người khác mà lộ.

   Khi ông Nhâm đến, họ nói qua chuyện khác.

   Má Bảy không ngờ lính địch đông và nhiều súng nhiều xe đến thế. Má cũng không ngờ mới đánh nhau một ngày một đêm mà chúng xơ xác đến thế. Trước đây có lần chúng tập trận giả dọc sông Nhỡn, tiến lùi theo lớp lang hàng ngũ hẳn hoi, má cứ tưởng chúng càn vào Kỳ Bường theo kiểu ấy.

   Lều vải dầu xanh to nhỏ căng rải rác đầy các vườn, bãi, gò. Chúng chặt gần trụi cây chuối và cả một số cau, chất quanh lều che đạn. Trong lều chúng ngủ vùi hoặc kê mũ sắt ngồi đánh bạc. Mấy tên biệt động quân say níu tay nhau đi xiêu vẹo dưới mưa, hát lè nhè một bài gì có câu “ế mam-bô, ế mam-bô” lặp đi lặp lại. Một khẩu súng cối ngồi há miệng giữa sân như con cóc, hai thằng lính mang ba lô vác thùng đạn bò chung quanh súng, thằng sĩ quan đeo một bông mai vàng trước ngực đứng trên thềm chửi ra. Đến hai xe ủi đất, rồi dãy ôtô ngập bùn nằm rải dọc đường. Một chiếc đổ nghiêng đè bẹp rào, đầu máy méo như bị ai đạp mạnh. Một chiếc nữa chúi mũi xuống ao rau muống bên đường.

   Bùn và máu. Rất nhiều máu chảy trên đường lầy, đọng trong vết bánh xe, rưới chung quanh cái hầm chông toác miệng và mấy khúc chông bẻ gẫy. Máu lẫn với óc trắng như đậu hũ(37) trong cái mũ sắt bị dùi một lỗ tròn. Máu hòa nước mưa thành vũng hồng hồng dưới đáy cái hố bắn đào vội.

   Ông Nhâm ghé tai má:

   - Rách áo lủng giày nhiều, hèn gì tụi nó chịu nói nhơn nghĩa với mình.

   Má cười. Càng coi càng sướng bụng. Đáng kiếp cái bọn giết dân... Má nhìn cái mũ sắt sùm sụp trên đầu Bính, bỗng thấy lo. Chết thằng Bính thì uổng quá. Bao nhiêu đứa nữa có thể nghĩ và làm như Bính trong đám quân này? Đờ đẫn, cam chịu, chúng đang lội bùn ra trận, ngủ trên bùn, bị phạt bò trên bùn, chết vùi xác dưới bùn mà tay còn dính máu đồng bào. Làm sao kịp cứu chúng bây giờ? Má muốn túm lấy tất cả những tên lính gặp dọc đường, nói to: “Nhảy qua bên Cách mạng đi, bỏ về nhà đi, bay chất nhục chết thối đến nơi rồi!”.

   Bính đưa năm bà con vào tiệm buôn Hoa kiều. Tên đại úy đang bận ve gái, khoát tay bảo sang trường học tìm ban chiến tranh tâm lý. Đến đấy, một thằng sĩ quan say rượu quát: “Việc dân sự đem qua trạm chiêu hồi, ngu như bò!”.

   Trạm chiêu hồi đặt trong ngôi nhà ngói lớn của lão Hạnh, phó đại diện cũ.


---------------------------------------------------------
35. Vải phủ cao su.
36. Nguồn mua hàng.
37. Một thứ đậu phụ lỏng (tào phớ).

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #49 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2012, 10:39:21 am »

*
*    *

       Một tên trung sĩ đứng tuổi nằm khoèo trên phản, dưới những ngăn kéo đựng thuốc bắc đề chữ sơn trắng. Hắn ngồi dậy, ngáp, dụi mắt, nhoẻn nụ cười cầu tài của con buôn rước khách, kéo ghế mời bà con ngồi. Mặt ghế đầy bụi, thì ra chưa ai ghé đít cả. Hắn bóc gói thuốc Quân tiếp vụ thượng hạng, mở hộp bánh bích qui, rót bia mời đon đả, và ăn uống trước để làm mẫu.

   Khi biết bà con từ Đồng Dừa đến, hắn đâm cuống, ngừng nhai bánh. Hắn hỏi giấy tờ. Quân giải phóng thu hết rồi. Hắn nghĩ một lát, uống hết chai bia mới gọi lão Hạnh từ nhà dưới lên, cất giọng kẻ cả nói chữ:

   - Nè, ông đại diện hội đồng, dân của ông thỉnh nguyện cái gì đó, ông lo cứu xét thực thi để mà hầu cho yên lòng dân chúng, nghe chưa?

   Hắn hấp tấp mang các bin đi ra. Hình như hắn rất gờm cái tên Đồng Dừa.

   Bà con trông lão Hạnh lúng túng như gà mắc tóc mà tức cười. Lão kêu con pha nước. Lão quét phản, trải chiếu. Hết việc, lão gãi hai chòm râu quặp, ngoáy móng tay lá lan vào tai rồi búng tanh tách. Đợi mãi không nghe các ông bà nói gì, lão phải khúm núm lên tiếng:

   - Dạ thưa quí bác, các ổng cả vú lấp miệng em, bắt tôi làm đại diện... dạ, các ổng còn nói là dĩ độc trị độc, dùng cộng chống cộng, thiệt kêu trời không thấu. Thôi trăm sự nhờ quí bác thưa giùm với ông Dõng, ông Bê, bà Năm, xin cho tôi được trắng án là may. Bên kia rút quân ngày nào, tôi trở lại làm dân của Cách mạng ngày đó...

   Không ai trả lời. Ông Nhâm ngắm mãi bao thuốc Quân tiếp vụ màu xanh lá có vẽ một tên lính đâm lê, nhưng giống hệt như bị xóc chông đang nhảy cẫng la làng. Ông quấn một điếu thuốc rê, nhả khói, nói ngọt ngào:

   - Cụ Ngô có tàu bay đại bác cả đống, có Hoa Kỳ phát giấy đô la cho lu bù, đem chằm tơi (38) không hết, sao ông sợ Việt cộng quá vậy?

   - Dạ, bác nói chi tội vậy bác. Tôi được Cách mạng tha cho một lần, mừng hơn cha chết sống dậy, lẽ nào dám phản đồng bào nữa sao. Có điều chối từ riết nhất định họ bùm. Các ông Mỹ coi im im vậy chớ họ... họ quân sự lắm. Tôi thấy một lần... khiếp vía...

   Mặt lão nhợt đi. Lão ấp úng lảng sang chuyện mùa màng để khỏi bị vạ miệng. Đây là lần thứ ba lão bị lôi ra làm tề cho Mỹ - Diệm. Thứ tề như lão là tề khốn khổ, bị địch chửi lên mắng xuống và hạch sách đủ điều. Lão chỉ muốn lạy cả Cách mạng lẫn Mỹ - Diệm để được yên thân, thu tô được bao nhiêu hay bấy nhiêu, không thì lão cắt thuốc bắc cũng thừa một ngày hai bữa gà rượu. Tuy vậy bọn quận bọn tỉnh cứ nhìn lão mà gật một cái khi nói trước đồng bào: “Thưa các vị thân hào, nhơn sĩ...”. Sau đó “vị thân hào nhơn sĩ” lại méo mặt đãi khách, và cắp ô ra ngồi trụ sở hội đồng để làm bung xung cho bọn ác ôn giết người cướp của.

   Má Bảy muốn dò xem thằng Rân có nhà không. Má vờ xuống bếp tìm ống vôi ăn trầu. Lão Hạnh lật đật chạy theo má, hỏi khẽ:

   - Anh Tư Sỏi được bình yên không bà?

   Má muốn đòn lại ngay nhân lúc lão còn sợ:

   - Con tôi khôn lớn, nó tìm đường bay nhảy. Đầu ai chấy nấy. Tôi già cả biết gì mà hỏi.

   Lão nhăn nhó:

   - Khổ lắm, tôi cắt khúc ruột để trên đĩa cho bà coi thử tốt xấu. Là tôi hỏi thăm anh Tư, với lại muốn cậy bà chút việc. Bà chịu khó... nói đỡ tôi một tiếng. Tánh anh Sỏi hơi nóng nảy, sợ ảnh xách súng về... chẳng kịp hỏi tình ngay lý gian... tôi chết oan còn chịu tiếng xấu. À, nhơn tiện bà xuống chơi, để tôi cắt luôn mấy thang trị cái anh cốt tiết thống, kỉnh bà đem về uống. Tôi mới bổ được thứ ngưu tất chánh hiệu bên Tàu, lộc nhung thứ thiệt cũng còn chút ít. Trời lạnh, đau lưng nhức mỏi như bà...

   - Thôi ông ạ, con nhà nghèo đào ba củ gân voi sắc uống đủ rồi.

   Lão nằn nì mãi. Má bắt sang chuyện khác để khỏi phải nhận mấy thang thuốc đút lót:

   - Anh Rân mấy bữa nay đi tàu bay kêu gọi, có mệt không ông?

   Lão ngớ mặt ra, ấp úng:

   - À, không... Nói thiệt tình, tôi chẳng biết nó lãnh việc gì. Chắc tại nó học tiếng Mỹ, họ bắt nó làm thông ngôn...

   - Anh làm ủy viên thanh niên trong hội đồng chớ làm gì.

   - Ờ ờ... nó cũng bị ép uổng như tôi...

   - Vậy ông với ảnh giống in nhau, chớ sao?

   Bị dồn liên tiếp, lão tắc họng một lúc rồi không chối quanh nữa:

   - Sanh con ai dễ sanh lòng. Thôi thì cha làm cha chịu, con làm con mang, thây kệ nó... Bà bỏ nhỏ anh Tư cho tôi ít câu là đủ. Chỗ quen biết, không lẽ bà bắt tôi chắp tay lạy sống nữa à?

   Má Bảy suýt bật cười. Hồi Cách mạng còn yếu, đời nào “ông” địa chủ làm đại diện hội đồng lại đi năn nỉ “mụ” tá điền nhờ xin giùm “tên phiến loạn Cộng phỉ”! Má tay không bước ra ăn nói với giặc, nhưng bên má có ủy ban nhắc từng câu đối đáp, có đội du kích đưa họng súng theo giữ má được yên lành.

   Lão Hạnh vào bếp thì thào với vợ. Liền đó có tiếng cúc cu gọi gà, rồi tiếng gà bị úp nơm kêu oác. Thằng con nhỏ xách hai cái vỏ chai ra ngõ, chắc đi mua rượu.

   Má Bảy lên nhà trên, vừa lúc ông Nhâm dạo quanh chợ trở về. Ông nói hối hả qua kẽ răng:

   - Có người của chị Năm mới tìm tụi mình. Lát nữa đồng bào Kỳ Minh tản cư ngược qua đây, đông tới vài ngàn. Chõng chiếu nồi niêu gánh theo hết, dắt trâu bò nữa, cắm trại vây bọn chỉ huy ở Đồng Mè.

   Má Bảy giẫm chân:

   - Hóa ra mình chậm hơn họ!

   - Lạc hậu chớ sao! Ông Sáu lanh chân hơn, chạy lên xóm trên bàn với anh Bê cho chủ lực xuống gấp đi. Qua chỗ Dốc Xoài khỏi đụng lính gác. Bà con Kỳ Minh kéo tới không thấy dân Kỳ Bường đâu hết, mặc sức họ giễu!

   - Chắc chị Năm báo cho anh Bê rồi...

   - Báo thì báo, mình phải thúc thêm vô! ông cứ đi, còn bấy nhiêu mạng cũng đủ chọi lý với tụi nó.

   Tên trung sĩ ban nãy dẫn một tiểu đội đến. Hắn không liến thoắng nói chữ nữa, mà rụt rè nhắc bà con trút bỏ hết các vật cứng mang trong người: “Cả dao xếp ăn trầu, bật lửa, đinh, dùi, các bác cũng đừng bọc theo”. Y hệt lúc đồng bào bị dồn đi đón thằng Diệm về khánh thành khu trù mật Đồng Trầu hồi năm kia, phơi nắng suốt ngày rồi về không.

   Bốn bà con lại ra đi trong khi mụ Hạnh đứng ngẩn ra với mâm cơm chồng ba lớp đĩa bưng trên tay.

   Một nhóm hiến binh mũ đỏ đưa họ vào cái nhà ngói gần ga, mời ngồi đợi, rồi chia nhau gác quanh nhà. Chúng ngắm họ chăm chú, quay ra trầm trồ với nhau. Má Bảy làm lơ, ngồi nhai trầu xem cảnh, như nhà nông gặp ngày mưa rảnh việc ngồi ngắm ruộng trước nhà.

   Bãi cỏ bên ga lúc này san sát những lều vải xanh khá cao và rộng, chung quanh chất bao cát đến bụng. Ba chiếc trực thăng đến. Từng chiếc lơ lửng hạ xuống góc bãi, trong khi bọn lính níu giữ các cọc lều bị gió cánh quạt xô ngã xiêu. Chúng hét cái gì không nghe được trong tiếng máy điếc tai, chỉ thấy miệng chúng ngáp ngáp như cá lên cạn. Hai chiếc xe nhỏ nhảy chồm trên ổ gà. Bọn người trên xe trông cao lớn khác thường. Má Bảy thoáng thấy một bàn tay trắng đầy lông nâu thò ra gẩy tàn thuốc lá. Đúng Mỹ rồi. Lại có những bóng cao lớn mặc áo mưa trùm kín đầu, đi từ lều này sang lều khác. Rất nhiều Mỹ. Cả một ổ Mỹ.

   Tiếng giày đinh chợt nổi xào xạo sau nhà. Bọn hiến binh rập chân đứng nghiêm. Một nhóm người ùa vào, nói xì xồ, đến ngồi trên các ghế vây quanh cái bàn lớn. Tên sĩ quan béo phục phịch gieo đít xuống cái ghế giữa, vừa cởi cúc áo mưa để lộ ba bông mai bạc gài trên ngực, vừa sừng sộ bằng giọng Bắc:

   - Đánh nhau chán rồi hở? Về đầu hàng dứt khoát chưa đấy, hay là đến do thám cho cộng?

   Ông Nhâm ngắm cái mặt chảy sị và bộ râu mép cắt ngắn, nói chậm:

   - Thưa ông đại tá, dân tôi đánh chác gì đâu mà đầu hàng.

   - Thế chông ai cắm? Đường ai phá? Mìn ai gài? Không nhận còn già mồm cái gì? Ông cho hiến binh gô cổ cả lũ bây giờ!

   - Thưa ông, bộ đội Giải phóng về cả trăm cả ngàn, họ làm gì chẳng được.

   - Khỏe nói dối, ông gang họng đừng trách. Dăm thằng du kích chứ cộng đâu mà trăm với nghìn hở?

   - Họ ở trên núi xuống. Lâu nay các ông nói bộ đội Bắc Việt kéo vô mấy muôn, chắc là số đó.

   - Thế chúng nó đóng trong ấp các người bao nhiêu quân? Nói vớ vẩn ông beng cổ tức khắc? Lính đâu, mang bình điện ra đây!

   - Họ không ở làng, chỉ thấy đi qua rồi biến mất. Bọn tôi là dân, không biết quân sự, cũng không phải tù tội gì mà ông bắt khai.

   - À ra các người dám...

   - Tàu bay đại bác các ông bắn phá ác hại quá, các người phải xuống đây yêu cầu các ông đừng giết dân nữa! Không gì bọn tôi cũng có tuổi, chưa xứng cha mẹ cũng đáng anh chị của ông, ông đừng ăn nói quá lời mà mang tội. Hễ gần đất xa trời thì không biết sợ cái thứ bình điện đâu ông à.

   Tên đại tá bị quật lại khá đau, gườm gườm đôi mắt lồi nhìn ông Nhâm như thôi miên. Ông cũng trừng mắt nhìn lại như con gà chọi. Ông đã cắt hết mọi tiếng thưa gửi, sẵn sàng phóng những mũi kim độc địa nhất vào mặt tên giặc bằng cái giọng buông lửng rất đàn anh.

   Má Bảy biết mình vụng ăn nói nên chưa mở miệng. Khi bọn chỉ huy vào, má rùng mình một cái, tim má vụt đập rất mạnh như khi má thấy chiếc máy bay chúi xuống đầu mình mà chưa nghe bom nổ. Tên đại tá nói hỗn giúp má trở lại bình tĩnh. Mặt má nóng dần. Càng nghe nó nói như đâm vào họng, má càng muốn bật ra một tiếng chửi.

   Một thằng Mỹ ngồi ở đầu bàn. Hắn im lặng hút thuốc, nghe tên phiên dịch nói bên tai suỵt suỵt như khấn. Thỉnh thoảng hai luồng khói đặc phì qua cái mũi nhọn và mỏng dính, như hắn bị bóp mũi khi mới đẻ mà không chết. Chung quanh hắn phảng phất mùi nước hoa và mùi hôi nách, hai thứ không chịu hòa nhau nên có lúc thơm nồng, có lúc thối khắm đến buồn nôn.

   Dưới chùm tóc nâu sổ ra ngoài mũ lưỡi trai, luồng mắt hắn chạy lướt qua mặt bà con nhiều lần, dừng trên mặt má Bảy. Hắn ngó má chăm chăm, rình má như mèo rình chuột, có lẽ muốn chộp lấy một nét sợ hãi để đánh một đòn đúng huyệt.

   Má Bảy nhai trầu, thờ ơ nhìn trả hắn. Má rất khoái khi thấy đất nhét vào hàng cúc áo mưa trên ngực hắn. Tưởng hắn núp sau bao cát thì khỏi phải bò ra tránh đạn chứ? Rồi má ngạc nhiên hết sức. Trông nó rất quen. Má gặp nó bao giờ, ở đâu? Xưa nay má chỉ thoáng thấy bọn Mỹ phóng ô tô trên đường, đeo máy ảnh đi xem khu trù mật, nhảy ngoáy mông trong tiệm rượu thị xã. Chưa lần nào má thèm nhìn mặt chúng cả...


---------------------------------------------------------
38. Khâu áo tơi lá.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM