nguyenhoangcema
Thành viên

Bài viết: 2087
AK 47
|
 |
« Trả lời #30 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2013, 08:16:44 am » |
|
Phát triển công nghệ bảo quản, niêm cất tên lửa-khí tài đặc chủng Hiện nay, các tổ hợp tên lửa đang được bảo quản, niêm cất bằng một số công nghệ bảo quản tương đối hiện đại. Tên lửa chống tăng được đưa vào túi PE cùng với chất hút ẩm (lần 1), làm kín và hút chân không; sau đó được đặt trong hòm đạn bằng gỗ kín có chất hút ẩm (lần 2). Tên lửa đất đối đất sau khi bảo quản bằng phương pháp thổi không khí sạch, được bao gói trong túi cao su và toàn bộ được bơm khí khô đến áp suất 19,6 Pa. Tên lửa đất đối hải được bao gói bằng giấy nến, tra dầu mỡ vào các vị trí quy định, đặt chất hút ẩm, đưa vào túi cao su và hút chân không, sau đó đặt trong hòm chuyên dụng; hoặc được bảo quản trong ống phóng hợp kim đóng kín, bơm khí trơ nitơ và được đặt trong hòm gỗ, cất giữ trong nhà kho có quạt thông gió… Tuy nhiên, do đặc điểm khí hậu của Việt Nam, cùng với điều kiện cất chứa, bảo quản chưa đạt tiêu chuẩn, nên chất lượng bảo quản, niêm cất còn bộc lộ một số hạn chế nhất định. Thực tế đó đặt ra cho ngành tên lửa, khí tài đặc chủng (TL-KTĐC) những yêu cầu vừa cấp bách, vừa lâu dài trong việc nghiên cứu, áp dụng các tiến bộ khoa học để nâng cao chất lượng giữ gìn, tăng tuổi thọ của trang bị, bảo đảm tiềm lực quốc phòng.  Khí tài tên lửa của Lữ đoàn 490 (Binh chủng Pháo binh) luôn được bảo quản tốt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ SSCĐ. Ảnh: Xuân Dân. Xu hướng phát triển công nghệ bảo quản hiện nay được chuyên ngành TL-KTĐC quan tâm là đối với các tổ hợp tên lửa hiện đại cần nghiên cứu bảo đảm yếu tố bảo quản niêm cất ngay khi thiết kế, chế tạo, các yếu tố thuận lợi, đơn giản, vật liệu phù hợp đã được tính toán kỹ. Đây là một trong những biện pháp công nghệ bảo quản hữu hiệu. Việc sử dụng ống phóng làm luôn nhiệm vụ bảo quản đang là một xu hướng chủ đạo. Vật liệu bảo quản đối với từng loại tên lửa cũng được nghiên cứu riêng, bảo đảm phù hợp với điều kiện môi trường, thời tiết, khí hậu và đáp ứng tính năng chiến, kỹ thuật của tên lửa. Hiện tại, công nghệ bơm khí trơ vào hòm hộp hoặc thùng bảo quản, thường dùng khí ni-tơ có độ sạch 99,9% và độ ẩm dưới 0,1% vào các thùng hoặc hòm chứa TL-KTĐC cần bảo quản, niêm cất đang dần được ứng dụng rộng rãi. Các trang bị, khí tài khác trong các tổ hợp tên lửa hiện đại như xe bệ phóng, xe ra-đa… được bảo quản, niêm cất theo các phương pháp phổ thông bằng phương pháp sơn phủ, sử dụng vật liệu bảo quản tiên tiến, cách ly với môi trường bằng nhà kho bảo ôn. Theo Thượng tá, TS Nguyễn Đức Thanh, Trưởng phòng kỹ thuật TL-KTĐC (Cục Kỹ thuật Binh chủng, Tổng cục Kỹ thuật), để thực hiện tốt nhiệm vụ bảo quản, niêm cất TL-KTĐC, công tác nghiên cứu khoa học, công nghệ bảo quản của ngành TL-KTĐC đang tập trung vào một số nội dung cơ bản: Nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới trong chế tạo các loại vật liệu bao gói, màng túi bảo quản bảo đảm độ bền, khả năng kín khít, chống thẩm thấu ẩm cao để nâng cao hiệu quả cách ly với môi trường; áp dụng phương pháp bảo quản niêm cất mới, tiết kiệm năng lượng và thân thiện với môi trường bằng sử dụng các loại màng bao gói tích hợp các chất khử khí ăn mòn ở dạng na-nô trong vật liệu PVC, PE, PP; nghiên cứu thiết kế các loại hòm hộp, công-ten-nơ để bảo quản niêm cất trang bị, khí tài cho các tổ hợp tên lửa; nghiên cứu tổng hợp các phụ gia tiên tiến nhằm nâng cao tính năng, kéo dài thời hạn sử dụng các loại dầu, mỡ bảo quản... Cùng với triển khai các đề tài, dự án phát triển công nghệ, ngành TL-KTĐC đang đẩy mạnh phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa VKTBKT. Nhờ thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, nên có nhiều sáng kiến, cải tiến có giá trị như: Cải tiến thiết bị nạp ắc quy chuyên dụng 11FG400 tổ hợp tên lửa chống tăng B72; cải tiến thiết bị kiểm tra đài điều khiển tên lửa chống tăng 9B-453; chế tạo thiết bị đuổi ẩm khí tài pháo binh... Phát triển công nghệ bảo quản, niêm cất là nhu cầu bức thiết. Các đơn vị có trang bị TL-KTĐC cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Quản lý, khai thác VKTBKT tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông", nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực khoa học, công nghệ. Việc nghiên cứu, phát triển các công nghệ tiên tiến và phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong bảo quản, niêm cất TL-KTĐC còn là điều kiện để nâng cao khả năng làm chủ VKTBKT của đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật ngành TL-KTĐC... Nguồn Quân đội Nhân dânCải tiến bình tiêu độc đeo lưng Một trong những sáng kiến cải tiến kỹ thuật tiêu biểu của Quân đoàn 2 gần đây là “Bình tiêu độc đeo lưng dùng bơm điện một chiều DC-12V” của Trung tá Nguyễn Văn Hồi, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn phòng hóa 5, Bộ Tham mưu Quân đoàn 2.  Bình tiêu độc đeo lưng dùng bơm điện một chiều DC-12V. Bình tiêu độc đeo lưng thuộc loại khí tài tiêu tẩy cỡ trung, do Bộ tư lệnh Hóa học sản xuất dùng để tiêu độc, tẩy xạ, diệt trùng cho VKTBKT, cho giao thông hào, cụm pháo trong phạm vi hẹp. Từ thực tế huấn luyện, diễn tập thời gian qua khi sử dụng thiết bị này, việc mang vác rất cồng kềnh, bơm tay mất nhiều thời gian, công sức, tiêu tẩy không triệt để. Trên cơ sở nguyên bản bình tiêu độc cũ, khắc phục hạn chế trên, tác giả đã nghiên cứu thêm phần khoang chứa ở đáy bình để lắp máy bơm điện một chiều DC-12V và bình ắc quy 12V-6AH (loại ắc quy xe gắn máy). Nguyên lý làm việc của bình tiêu độc khi được cải tiến thay đổi hoàn toàn từ bơm tay sang bơm tự động. Khi bật công tắc nguồn, bơm tự động hoạt động hút dung dịch từ bình chứa qua lưới lọc dưới đáy bình, ống dẫn đến cán phun bàn chải, phun tưới lên bề mặt đối tượng nhiễm để tiêu độc, tẩy xạ, diệt trùng. Ưu điểm nổi bật của bình cải tiến là tiết kiệm nhiên liệu, rút ngắn thời gian, không gây tiếng động, tăng khả hoạt động của bộ đội trong vùng bị nhiễm… Khi bơm máy hỏng, vẫn có thể chuyển sang bơm tay. Với kinh phí cải tiến khoảng 1 triệu đồng, các vật liệu, phụ kiện đi kèm dễ kiếm, bình tiêu độc đeo lưng dùng bơm điện một chiều phát huy hiệu quả trong quá trình sử dụng. Nguồn Quân đội Nhân dân
|
|
|
|
|
Logged
|
Việt Nam long live (Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
|
|
|
nguyenhoangcema
Thành viên

Bài viết: 2087
AK 47
|
 |
« Trả lời #31 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2013, 02:53:50 pm » |
|
Bộ dụng cụ đo, lấy mẫu xét nghiệm, hóa nghiệm cơ động Binh chủng Hóa học đã nghiên cứu thiết kế, chế tạo nhiều loại máy và trang bị đồng bộ đưa vào trang bị phục vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm sức khỏe và an toàn cho bộ đội. Một số sản phẩm như bộ hóa nghiệm dã chiến HN-01, bộ lấy mẫu khí tác nhân sinh học SLK-1 và máy đo phóng xạ PX-6KT đã được trưng bày phục vụ hội nghị toàn quân và chuyên ngành. Đây là những sản phẩm còn có khả năng sử dụng tốt trong ngành quân y. Bộ hóa nghiệm dã chiến HN-1 dùng để trang bị cho hóa nghiệm viên hóa học, quân y, có khả năng phát hiện và phân biệt các chất độc quân sự trong không khí, trên mặt đất, bám trên vũ khí trang bị kỹ thuật. Bộ HN-1 còn dùng để phân tích chất độc trong lương thực, thực phẩm và các vật thể khác như quân trang, quân dụng. Theo thiết kế, bộ HN-1 phân tích nhanh định tính, bán định lượng một số nguyên tố kim loại nặng, an-ca-lô-ít, một số loại thuốc trừ sâu, diệt cỏ; định lượng các loại chất độc thần kinh, chất độc làm loét da, kích thích và các chất độc chứa a-sen. Bộ HN-1 có thể vận chuyển cơ động bằng cách đeo trên vai bộ đội, trên ô-tô hoặc các phương tiện vận tải khác. Bộ lấy mẫu khí tác nhân sinh học SLK-1 dùng để lấy mẫu không khí, sử dụng cùng với các máy phát hiện tác nhân sinh học không có bộ lấy mẫu không khí hoặc sử dụng độc lập để phát hiện tác nhân sinh học trong không khí. Bộ SLK-1 có khả năng làm việc trong điều kiện khắc nghiệt, thời gian chuẩn bị máy làm việc không quá 40 giây, thời gian làm việc liên tục 20 phút. Bộ SLK-1 do công nghiệp quốc phòng nước ta sản xuất, do đó góp phần để quân đội ta chủ động trang bị, tiết kiệm ngoại tệ. Máy đo phóng xạ PX-6 sử dụng nguồn điện 220V-50Hz, dùng để trang bị cho các tàu hải quân, các trạm quan trắc phóng xạ, trong phòng thí nghiệm. Máy có khả năng đo bức xạ gam-ma, tự động cảnh báo phóng xạ khi đi vào vùng nhiễm xạ, xác định hướng tới nguồn phóng xạ bên ngoài… Trong điều kiện các cơ sở y tế sử dụng nguồn phóng xạ phục vụ khám, điều trị bệnh, máy đo phóng xạ PX-6 rất phù hợp trong đo suất liều lượng bức xạ, bảo đảm an toàn cho cán bộ, nhân viên, người bệnh. Máy được thiết kế tự động báo động bằng các tín hiệu ánh sáng, âm thanh; có ngưỡng báo động cho các kênh; có chức năng điều chỉnh bên ngoài… Nguồn Quân đội Nhân dânHệ thống điều khiển và giám sát động cơ MTU trên tàu thủy Hoạt động của động cơ tàu thủy ảnh hưởng rất lớn đến quá trình công tác của tàu trên biển. Đối với những tàu lớn, việc giám sát hoạt động hệ thống động cơ là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, nhưng rất khó khăn. Hiện nay, rất nhiều tàu thủy của Việt Nam sử dụng động cơ do MTU sản xuất. Các động cơ diesel của MTU dùng cho tàu thủy được trang bị một khối điều khiển điện tử, kiểm soát hoàn toàn tự động quá trình vận hành của động cơ. Tuy nhiên, khi có các hỏng hóc cần phải nhờ sự giúp đỡ của chuyên gia nước ngoài, hoặc gửi về hãng sửa chữa, mua phụ kiện thay thế, ảnh hưởng đến khả năng tác chiến của đơn vị tàu. Các cán bộ kỹ thuật của Viện Kỹ thuật Hải quân, Quân chủng Hải quân đã nghiên cứu, thiết kế, chế tạo thành công hệ thống điều khiển và giám sát động cơ MTU trên tàu thủy theo công nghệ của Việt Nam, bằng nguồn vật tư, linh kiện sẵn có trong nước.  Hệ thống điều khiển và giám sát động cơ MTU trên tàu thủy. Đại tá Nguyễn Đắc Khải, Chủ nhiệm đề tài cho biết: Nội dung cơ bản của đề tài là thay thế hệ thống MCS5 loại II (nằm trong thiết bị điều khiển và giám sát động cơ do MTU sản xuất) bằng hệ thống điều khiển và giám sát mới-hệ thống thông dụng sử dụng mạng truyền thông và thiết bị của hãng Siemens-Đức. Điểm khác biệt của hai hệ thống này ở chỗ, việc trao đổi thông tin trong hệ thống MCS5 loại II được thực hiện theo chuẩn CAN bus. Đây là chuẩn truyền thông được đánh giá có rất nhiều ưu việt so với các chuẩn truyền thông khác, nhưng lại ít được nghiên cứu và sử dụng tại Việt Nam. Trong khi đó, hệ thống mới sử dụng Kit CAN để giao tiếp, đồng thời dùng thiết bị và hệ thống mạng của hãng Siemens để thực hiện các chức năng điều khiển, giám sát, bảo vệ và truyền thông trong hệ thống. Thiết bị và hệ thống mạng của hãng Siemens đã được sử dụng thông dụng trên thị trường Việt Nam, khẳng định được độ tin cậy khi sử dụng trong lĩnh vực tàu thủy. Các phần mềm trong hệ thống sử dụng giao diện bằng tiếng Việt nên rất thuận tiện cho người sử dụng khi vận hành, sửa chữa, bảo trì, bảo dưỡng động cơ. Nghiên cứu thiết kế chế tạo thành công hệ thống mới thay thế hệ thống MCS5 loại II đang sử dụng trên tàu thủy là một bước đột phá trong nhiệm vụ làm chủ vũ khí trang bị của Quân chủng Hải quân. Đề tài giúp cho các đơn vị tàu chủ động trong vận hành, sửa chữa, bảo trì, bảo dưỡng, mang lại lợi ích lớn về kinh tế và mở ra một hướng mới: không sử dụng hệ thống điều khiển và giám sát của MTU nhưng vẫn sử dụng động cơ MTU, đồng thời khẳng định việc làm chủ và hiện đại hóa các hệ thống điều khiển động cơ trên tàu thủy cũng như hệ thống tích hợp các thiết bị tự động hóa. Nguồn Quân đội Nhân dân
|
|
|
|
|
Logged
|
Việt Nam long live (Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
|
|
|
nguyenhoangcema
Thành viên

Bài viết: 2087
AK 47
|
 |
« Trả lời #32 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2013, 09:58:58 am » |
|
Ứng dụng công nghệ mô phỏng trong giáo dục-đào tạo Đề tài cấp Bộ Quốc phòng: "Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo thiết bị huấn luyện thực hành đào tạo kỹ sư hàng không trên một số hệ thống của máy bay Su-27", do Thiếu tướng Trần Văn Thanh, Giám đốc Học viện Phòng không-Không quân làm chủ nhiệm đề tài vừa được nghiệm thu cấp cơ sở. Đây là thiết bị mô phỏng phục vụ huấn luyện được nghiên cứu, thiết kế thành công bằng trí tuệ, công sức của các cán bộ khoa học của học viện và sự giúp đỡ của một số viện nghiên cứu, nhằm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mô phỏng trong giáo dục-đào tạo (GD-ĐT), đáp ứng yêu cầu tăng thực hành, huấn luyện sát thực tế đơn vị, khí tài trang bị mới, hiện đại của người học và yêu cầu về đội ngũ cán bộ chuyên môn kỹ thuật cao của quân chủng đang tiến thẳng lên hiện đại.  Hệ thống thiết bị mô phỏng máy bay Su-27. Đề tài được triển khai từ đầu năm 2011 với 3 nhóm: Nghiên cứu thiết kế và gia công khung vỏ ca bin; nghiên cứu xây dựng các bài tập thực hành và lập trình mô phỏng; nghiên cứu thiết kế lắp đặt phần cứng và trang thiết bị kết nối. Các cán bộ nghiên cứu đã tận dụng và khai thác tối đa công nghệ tiên tiến đã được ứng dụng tại Việt Nam như: Áp dụng công nghệ FPGA, cổng kết nối truyền thông RS232, công nghệ nhúng để chế tạo phần cứng, cho phép tác động đồng thời 300 cổng tín hiệu đầu vào và 64 cổng tín hiệu đầu ra. Phần mềm ứng dụng để viết chương trình là Visual C++ 6.0; Visual Basic. NET; DAO, RDO, ADO… Sản phẩm của đề tài được hình thành gồm 2 khối thiết bị là thiết bị ca bin mô phỏng và bàn giáo viên, cho phép mô phỏng trên buồng lái các thao tác thông điện kiểm tra của 36 bài huấn luyện thực hành thuộc 4 chuyên ngành kỹ sư hàng không; mô phỏng trên bàn giáo viên các giao diện kiểm soát quá trình thực hành của học viên, tự động so sánh các động tác sai và sao lưu lại kết quả; có thể lựa chọn các trường hợp hỏng hóc để tạo tín hiệu giả về hỏng hóc nhằm kiểm tra khả năng xử lý hỏng hóc của học viên; tạo tín hiệu âm thanh giống như âm thanh hoạt động của máy bay; sử dụng mã nguồn lập trình mở có thể thay đổi nội dung các bài thực hành. Thiếu tướng Trần Văn Thanh cho biết: Việc đưa thiết bị vào huấn luyện rất tiết kiệm, do giá thành thấp hơn so với thiết bị nhập ngoại. Đề tài giúp tăng cường luyện tập cho người học sát thực tế, khí tài, trang bị; nâng cao trình độ, khả năng làm chủ và nghiên cứu khoa học của cán bộ. Thiết bị còn có thể nghiên cứu, nâng số lượng bài tập thông điện lên hàng trăm bài khi nâng cấp số cổng kết nối truyền thông RS232 và lập trình thêm các bài huấn luyện... Trước yêu cầu nhiệm vụ GD-ĐT trong tình hình mới, Học viện Phòng không- Không quân đã tích cực, chủ động đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ mô phỏng trong GD-ĐT, nghiên cứu khoa học. Cùng với nghiên cứu, chế tạo thiết bị huấn luyện thực hành trên máy bay Su-27, học viện còn nghiên cứu ra nhiều phần mềm mô phỏng, thiết bị mô phỏng phục vụ huấn luyện. Thiết bị mô phỏng các loại ra-đa của học viện không chỉ phục vụ học viên học tập mà còn được Cục Quân huấn (Bộ Tổng tham mưu) đặt hàng sản xuất cấp cho các đơn vị. Hiện tại, các cán bộ khoa học của học viện đang tập trung thực hiện dự án “Sở chỉ huy diễn tập sư đoàn phòng không-không quân”; sau khi hoàn thành sẽ bảo đảm cho việc diễn tập thực nghiệm, đánh giá chính xác quyết tâm, hiệu suất chiến đấu của từng phương án tác chiến, trong các đề tài, đề án, luận văn… Đại tá Vũ Đình Lục, Trưởng phòng Khoa học, Công nghệ và Môi trường của học viện nhận xét: Việc nghiên cứu, chế tạo các thiết bị mô phỏng có tác động tích cực trong GD-ĐT và đổi mới phương pháp dạy-học tiến hành nhanh chóng, hiệu quả; phong trào nghiên cứu khoa học của học viện ngày càng phát triển về số lượng và chất lượng. Nhiều đề tài, sáng kiến tập trung vào các phần mềm mô phỏng, thiết bị mô phỏng phục vụ thiết thực nhiệm vụ GD-ĐT. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mô phỏng trong huấn luyện, GD-ĐT là chủ trương lớn của Quân ủy Trung ương để nâng cao chất lượng huấn luyện của các đơn vị, nhà trường thời gian tới. Từ những kết quả đạt được, để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mô phỏng trong GD-ĐT của học viện, thực hiện “nhà trường đi trước đơn vị”, Thiếu tướng Trần Văn Thanh kiến nghị: Bộ Quốc phòng cần nghiên cứu, xây dựng kế hoạch, tổ chức chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, nghiên cứu chuyên sâu về công nghệ mô phỏng và biên chế thành lực lượng chuyên trách quản lý, khai thác, phát triển công nghệ mô phỏng. Học viện rất cần có một trung tâm mô phỏng phục vụ thiết thực nhiệm vụ GD-ĐT, nghiên cứu khoa học. Để các sản phẩm công nghệ mô phỏng bảo đảm yêu cầu kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, phù hợp với nhu cầu thực tiễn, quá trình nghiên cứu cần có sự phối hợp, hiệp đồng, tổ chức thực hiện chặt chẽ của các nhà trường, viện nghiên cứu và các đơn vị. Cùng với việc tiếp tục đầu tư kinh phí cho học viện triển khai các đề tài nghiên cứu, chế tạo các thiết bị mô phỏng mới, hiện đại; các sản phẩm mô phỏng có chất lượng cần cho phép sản xuất, cấp cho các đơn vị để tận dụng kỹ thuật, công nghệ, tiết kiệm chi phí, giảm giá thành… Nguồn Quân đội Nhân dânĐưa phần mềm quản lý số hiệu súng bộ binh vào sử dụng Đầu năm 2013, Kho K23 (Cục Kỹ thuật, Quân khu 1) đã đưa phần mềm quản lý súng bộ binh (SBB) chạy trên hệ điều hành Windown vào sử dụng. Đây là sáng kiến cải tiến kỹ thuật (SKCTKT) do Trung úy Bùi Thế Vỹ, thuộc Phân kho 1 (Kho K23) nghiên cứu thực hiện; đã được Hội đồng Giải thưởng Tuổi trẻ sáng tạo quân đội tặng giải Ba năm 2012. Trước đây, Kho K23 đã đưa phần mềm quản lý số hiệu SBB vào sử dụng, nhưng quá trình khai thác gặp một số hạn chế: Phần mềm hoạt động trên nền tảng Dos đã lạc hậu so với các loại máy tính đơn vị đang sử dụng; khó phát hiện sai sót khi nhập số liệu; nếu không tìm ra số liệu sai thì phải xóa toàn bộ dữ liệu đã nhập và tiến hành nhập lại từ đầu, ảnh hưởng tới tiến độ công việc; phần mềm không nhập được chính xác số hiệu súng của một số nước đang cất giữ tại kho. Khi nhập số hiệu phải cần 2 người, 1 người đọc, 1 người nhập để đảm bảo không sai sót.  Menu quản lý chính. Phần mền mới sử dụng ngôn ngữ lập trình và các phần mềm hỗ trợ giúp cho quá trình nhập, quản lý số liệu SBB dễ hiểu, phù hợp với mọi đối tượng và có độ chính xác cao. Người sử dụng chỉ cần dùng ngôn ngữ bảng mã Unicode trên Vietkey hoặc unikey là đăng nhập sử dụng được. Đặc biệt có thể sử dụng cả tiếng Nga và tiếng Triều Tiên. Phần mềm rất dễ sử dụng, ngay cả đối với những người không có trình độ cao về tin học. Khi sử dụng phần mềm này người quản lý có thể xác định chính xác vị trí súng ở các giá tầng, thứ tự trên tầng, thuận lợi trong công tác tra cứu, tìm kiếm số hiệu súng. Người sử dụng có thể xuất danh sách súng ra định dạng file excel để in táp lô phục vụ quản lý tại kho; thủ kho không cần chép tay số hiệu như trước kia mà vẫn bảo đảm thống nhất, chính xác. Phần mềm gõ được tiếng Triều Tiên, phục vụ quản lý số hiệu súng có nguồn gốc từ Triều Tiên mà phần mềm trước kia không thực hiện được.  Quản lý theo kho và thủ kho  Quản lý theo kiểu súng bộ binh Phần mềm sử dụng đơn giản, dễ thao tác, mang lại hiệu suất cao trong công việc, có thể sửa số hiệu nhanh, chính xác… làm cho hiệu suất công việc tăng lên so với sử dụng phần mềm trước từ 40 đến 50%. Với chi phí sản xuất ban đầu chỉ hơn một triệu đồng, nhưng phần mềm có thể ứng dụng rộng rãi với mọi đơn vị, đồng thời có thể mở ra hướng mới trong việc ứng dụng quản lý các phương tiện VKTBKT khác được tiện lợi, chính xác. Nguồn Quân đội Nhân dân
|
|
|
|
|
Logged
|
Việt Nam long live (Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
|
|
|
nguyenhoangcema
Thành viên

Bài viết: 2087
AK 47
|
 |
« Trả lời #33 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2013, 03:42:07 pm » |
|
Chính thức nghiệm thu hệ thống mô phỏng huấn luyện bắn tên lửa B72 Ngày 7-5, thông tin từ Viện Khoa học và Công nghệ quân sự (Bộ Quốc phòng) cho biết, sau một thời gian thử nghiệm thành công tại Tiểu đoàn 371 (Binh chủng Pháo binh), Viện Khoa học và Công nghệ quân sự phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông TP Hồ Chí Minh đã chính thức nghiệm thu sản phẩm “Hệ thống mô phỏng huấn luyện bắn tên lửa chống tăng B72”.  Hệ thống mô phỏng huấn luyện bắn tên lửa chống tăng B72 B72 là loại tên lửa chống tăng hiện đang được biên chế trong quân đội. Tên lửa được trắc thủ bắn điều khiển bằng tay, thông qua hệ thống dây hữu tuyến. Độ chính xác bắn của tên lửa phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm của trắc thủ cũng như các điều kiện khách quan như thời tiết, địa hình… Chính vì vậy, công tác huấn luyện bắn tên lửa chống tăng B72 có vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên, hiện trong quân đội ta vẫn chưa có hệ thống trang thiết bị phù hợp để phục vụ huấn luyện bắn loại tên lửa này. Từ thực tế trên, Viện Khoa học và Công nghệ quân sự phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông TP Hồ Chí Minh đã triển khai dự án nghiên cứu, thiết kế chế tạo hệ thống mô phỏng huấn luyện bắn tên lửa chống tăng B72. Trong đó, kinh phí triển khai dự án gần 10 tỷ đồng do Sở Thông tin và Truyền thông TP Hồ Chí Minh tài trợ. Hệ thống mô phỏng huấn luyện bắn tên lửa chống tăng B72 được xây dựng trên cơ sở dữ liệu bản đồ số và mô hình địa hình đa lớp, có tính đến các yếu tố tác động bên ngoài sát với điều kiện thực tế. Sản phẩm có khả năng mô phỏng gần như thật quá trình điều khiển tên lửa từ khi bắt đầu phóng đến khi chạm mục tiêu, có đánh giá kết quả và có thể dùng để huấn luyện bắn tên lửa chống tăng B72 trong nhiều điều kiện như địa hình phức tạp, địa hình thành phố, địa hình đồi núi, bắn trên biển… Hệ thống mô phỏng huấn luyện bắn tên lửa chống tăng B72 sẽ được trang bị cho các đơn vị pháo binh toàn quân trong thời gian tới. Nguồn Quân đội Nhân dânThẩm định, đánh giá 20 công trình, sáng kiến tham dự Giải thưởng TTST quân đội lĩnh vực y, dược học quân sự Sáng 5-5, Hội đồng Khoa học chuyên ngành y, dược học quân sự đã tiến hành thẩm định, đánh giá công trình, sáng kiến tham dự Giải thưởng Tuổi trẻ sáng tạo (TTST) trong quân đội lần thứ XIII. Năm 2013, Hội đồng Giải thưởng TTST quân đội nhận được 20 công trình, sáng kiến trong lĩnh vực y, dược quân sự được lựa chọn từ các cuộc thi tuổi trẻ sáng tạo ở đơn vị cơ sở trong toàn quân gửi về. Các công trình, sáng kiến tham dự giải phải đạt được 4 yếu tố cơ bản: Hiệu quả với lĩnh vực quốc phòng, an ninh và kinh tế xã hội; giá trị khoa học (tính mới, tính sáng tạo); khả năng áp dụng rộng rãi vào thực tiễn; khả năng phát triển về sau.  Đại tá, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Kiên, Phó cục trưởng Cục Quân y, Chủ tịch hội đồng Giải thưởng TTST chuyên ngành y, dược quân sự. Đại tá, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Kiên, Phó cục trưởng Cục Quân y, Chủ tịch hội đồng thẩm định, đánh giá công trình, sáng kiến chuyên ngành y, dược học quân sự, cho biết: Những đề tài, sáng kiến ngành y tham dự Giải thưởng TTST quân đội năm 2013 có chất lượng tốt, phát triển hơn một bước so với năm 2012. Các tác giả đã gửi đến Hội đồng nhiều công trình, sáng kiến thể hiện trình độ kiến thức, sự đầu tư nghiên cứu sâu, sát với thực tế, điều kiện hoạt động quân sự, trong đó có những sáng kiến chế tạo dụng cụ cấp cứu thương binh phù hợp với điều kiện chiến đấu nơi biển, đảo. Đại tá, Phó giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Quyết, Phó giám đốc Bệnh viện 103 (Học viện Quân y), thành viên ban giám khảo cho biết: Năm 2013, Học viện Quân y có 15 công trình, sáng kiến tham dự. Có được kết quả này là do Học viện đã làm tốt việc xây dựng phong trào; thường xuyên tổ chức các đợt sinh hoạt khoa học, tạo ra môi trường làm việc, nghiên cứu tích cực, có tác dụng kích thích mọi người tham gia. Việc động viên, khen thưởng kịp thời cũng là một trong những động lực lôi cuốn đông đảo các sinh viên, bác sĩ trẻ đầu tư chất xám, hướng tới giành những đỉnh cao trong nghiên cứu khoa học.  Thượng úy, Bác sĩ Đỗ Xuân Hai tự tin trình bày đề tài “Tác động của ánh sáng cường độ cao IPL tới khả năng liền vết thương trên thực nghiệm” trước hội đồng. Thượng úy, Bác sĩ Đỗ Xuân Hai (thuộc Bộ môn Phẫu thuật thực hành và thực nghiệm- Học viện Quân y) tâm sự: Đây là lần thứ 2 anh có công trình nghiên cứu gửi tham dự Giải thưởng TTST quân đội. Năm 2010, anh chỉ đạt giải khuyến khích nên rất quyết tâm và hy vọng ở kết quả của đề tài “Tác động của ánh sáng cường độ cao IPL tới khả năng liền vết thương trên thực nghiệm”. Bác sĩ Đỗ Xuân Hai cho biết thêm, anh cùng với đồng nghiệp đang tiếp tục nghiên cứu công trình “Ghép tụy trên thực nghiệm tiền đề tiến tới ghép tụy trên người”. Hiện đề tài đã được gửi sang Ban tổ chức Hội nghị ghép tạng châu Á để trình bàyy và thẩm định vào tháng 11-2013 tới đây.  Các đại biểu tham quan sáng kiến nghiên cứu, cải tiến, hoàn thiện cáng vớt thương cho Quân chủng Hải quân. So với thực tế hiện nay thì số lượng công trình, sáng kiến ngành y, dược quân sự tham dự Giải thưởng TTST năm 2013 còn ít, trong đó thiếu vắng nhiều các bệnh viện của quân khu, quân chủng và các bệnh xá trong toàn quân. Đánh giá về nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này, Đại tá, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Kiên cho rằng: Việc phối hợp tuyên truyền nội dung Giải thưởng TTST giữa Ban thanh niên quân đội với các cơ quan phụ trách nghiên cứu khoa học về lĩnh vực y, dược của Bộ Quốc phòng chưa rộng và sâu; do một số lãnh đạo, chỉ huy các bệnh viện, bệnh xá trong toàn quân chưa chú trọng đầu tư nâng cao số lượng, chất lượng các sản phẩm nghiên cứu khoa học, chưa có các biện pháp hợp lý để tạo dựng và thúc đẩy phong trào phát triển sâu hơn. Lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị cần có biện pháp gắn trách nhiệm tập thể, trách nhiệm cá nhân với chất lượng phong trào thì mới thúc đẩy được hoạt động nghiên cứu khoa học trong đơn vị phát triển tốt hơn trong thời gian tới. Nguồn Quân đội Nhân dânNgòi hẹn giờ điện tử lắp cho đạn cối Các nhà khoa học Viện Vũ khí (Tổng cục Công nghiệp quốc phòng) đã bước đầu chế tạo thành công ngòi hẹn giờ điện tử lắp cho đạn cối. Ngòi có khả năng hẹn giờ từ 1 đến 99 giây, độ chính xác 0,01 giây. Trên thực tế, nhằm đạt được hiệu suất tác dụng cao nhất của đạn tại một thời điểm nhất định trên quỹ đạo bay, các nhà quân sự đã thiết kế, sử dụng ngòi hẹn giờ. Bên cạnh các loại ngòi hẹn giờ như ngòi hẹn giờ sử dụng liều thuốc cháy chậm, ngòi hẹn giờ cơ khí chạm nổ…hiện nay, nhiều nước đã chế tạo và đưa vào sử dụng ngòi hẹn giờ điện tử. Ngòi hẹn giờ điện tử có nhiều ưu điểm như: Độ chính xác của thời gian hẹn giờ cao, phạm vi điều chỉnh rộng, kết cấu đơn giản, dễ chế tạo… Để chế tạo thành công ngòi hẹn giờ điện tử, các nhà khoa học Viện Vũ khí đã triển khai hai đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu thiết kế, chế thử ngòi hẹn giờ điện tử lắp cho đạn cối” và “Nghiên cứu thiết kế chế tạo đạn cối cát sét 100mm xuyên lõm sát thương bắn trên súng cối 100mm do Việt Nam sản xuất”.  Bản vẽ cấu tạo ngòi hẹn giờ điện tử Kết quả thực hiện đề tài “Nghiên cứu thiết kế, chế thử ngòi hẹn giờ điện tử lắp cho đạn cối”, các nhà khoa học đã nghiên cứu, tính toán, xây dựng thành công bản vẽ sản phẩm và điều kiện kỹ thuật nghiệm thu ngòi hẹn giờ điện tử; tiến hành chế thử và nghiệm thu thành công về mặt nguyên lý và kết cấu của ngòi (cả về phần cơ khí và phần điện tử); thử nghiệm độ bền, độ tin cậy hoạt động của ngòi trên búa Mác-cét. Việc nghiên cứu hoàn thiện bảo đảm ngòi đạn hoạt động tuyệt đối tin cậy; chế thử sản phẩm và bắn thử trên thực địa đã được các nhà khoa học thực hiện trong công trình “Nghiên cứu thiết kế chế tạo đạn cối cát sét 100mm xuyên lõm sát thương bắn trên súng cối 100mm do Việt Nam sản xuất”. Qua nghiệm thu và bắn thử nghiệm cho thấy, ngòi hẹn giờ điện tử có kết cấu hợp lý, bảo đảm an toàn trong bảo quản, vận chuyển, hoạt động tin cậy, an toàn trong cả điều kiện bắn liều thấp và liều tăng cường, thời gian hẹn giờ chính xác. Mạch điện tử của ngòi có kết cấu nhỏ gọn, linh kiện điện tử sử dụng công nghệ mới, bảo đảm độ bền và độ tin cậy trong hoạt động; ngòi sử dụng pin li-ti CR2 có tuổi thọ cao, kích thước nhỏ, hiệu điện thế và dung lượng lớn. Thao tác cài đặt thời gian hẹn giờ của ngòi cũng rất đơn giản… Việc nghiên cứu thiết kế, chế tạo thành công ngòi hẹn giờ điện tử lắp cho đạn cối là cơ sở để thiết kế ngòi điện tử hẹn giờ sử dụng cho các loại đạn pháo, đạn phản lực và các loại đạn khác, góp phần nâng cao khả năng SSCĐ của quân đội. Nguồn Quân đội Nhân dânBộ Tổng tham mưu: Hoàn thiện quy hoạch hạ tầng và phát triển ứng dụng công nghệ thông tin Sáng 3-5 tại Hà Nội, Bộ Tổng tham mưu tổ chức sơ kết công tác quy hoạch hạ tầng kỹ thuật, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) và kiểm tra an toàn thông tin khu vực Sở chỉ huy Bộ Quốc phòng (K2000). Trung tướng Trần Quang Khuê, Phó Tổng tham mưu trưởng chủ trì hội nghị. Dự hội nghị có lãnh đạo văn phòng, các cục thuộc tổng cục và cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu. Sau 6 tháng triển khai Kế hoạch 528/KH-CCNTT của Cục CNTT đã được Tổng Tham mưu trưởng phê duyệt (từ tháng 10-2012 đến nay), các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, các tổng cục cơ bản hoàn thành việc củng cố hạ tầng kỹ thuật CNTT; tổ chức triển khai đưa vào sử dụng 4 phần mềm dùng chung và 2 dịch vụ trên mạng, bước đầu đạt hiệu quả thiết thực. Số lượng văn bản chuyển qua mạng truyền số liệu quân sự tăng nhanh, thông tin trao đổi bảo đảm kịp thời, chính xác, giảm chi phí và thời gian, bảo đảm an toàn. Các cơ quan, đơn vị chủ động triển khai áp dụng phần mềm, đưa các nội dung ứng dụng CNTT, an toàn thông tin số vào trong kế hoạch huấn luyện nội bộ tại đơn vị. Cục CNTT (Bộ Tổng tham mưu) đã tổ chức 4 lớp huấn luyện cho hàng chục lượt cán bộ làm công tác văn thư và bảo đảm kỹ thuật CNTT; cài đặt 20 bộ tổ hợp thiết bị an toàn thông tin cho các cơ quan trọng yếu thuộc Bộ Quốc phòng và bảo đảm các phần mềm phát hiện và chống vi-rút cho hệ thống máy tính của các cơ quan, đơn vị khu vực K2000.  Trung tướng Trần Quang Khuê và lãnh đạo các cơ quan, đơn vị tham quan đề mô sản phẩm CNTT triển khai tại khu vực K2000 Tại hội nghị, các đại biểu đã thảo luận, nêu bật những thuận lợi, khó khăn, những hạn chế trong xây dựng quy hoạch hạ tầng CNTT, phát triển phần mềm, ứng dụng CNTT vào các hoạt động của cơ quan, đơn vị. Kiến nghị với Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu tiếp tục đầu tư phát triển hạ tầng CNTT, kiện toàn tổ chức biên chế ngành CNTT nhằm bảo đảm quản lý, duy trì hệ thống CNTT hoạt động hiệu quả. Trung tướng Trần Quang Khuê đã biểu dương những nỗ lực, kết quả đạt được của Cục CNTT và các cơ quan, đơn vị đã triển khai đầy đủ các nội dung của kế hoạch 528/KH-CCNTT; đưa vào ứng dụng, vận hành tại các cơ quan, đơn vị khu vực K2000 đạt kết quả tốt. Bộ Tổng tham mưu yêu cầu, các cơ quan, đơn vị tiếp tục tổ chức quán triệt, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ các cấp và chấp hành nghiêm các văn bản quy định của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu về ứng dụng, phát triển CNTT và bảo đảm an toàn thông tin. Trong thời gian tới, các cơ quan, đơn vị tiếp tục phối hợp củng cố, hoàn thiện, duy trì hoạt động hạ tầng mạng, ứng dụng CNTT khu vực K2000; triển khai và sử dụng hiệu quả các phần mềm dùng chung; đẩy nhanh và tăng cường thực hiện các giải pháp bảo đảm an toàn thông tin; nâng cao năng lực công tác bảo đảm kỹ thuật, ứng cứu khắc phục sự cố. Cục CNTT chủ trì phối hợp các cơ quan chức năng tham mưu với Bộ Quốc phòng xây dựng và ban hành các văn bản pháp quy về quản lý, sử dụng hạ tầng kỹ thuật mạng và các ứng dụng dùng chung trong Bộ Quốc phòng nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho ứng dụng CNTT trong khu vực K2000 nói riêng và toàn quân. Nguồn Quân đội Nhân dânThiết bị chiếu sáng lấy thăng bằng ban đêm cho PPK 57mm Trao đổi với chúng tôi về sáng kiến “Chế tạo thiết bị chiếu sáng lấy thăng bằng ban đêm cho PPK 57mm”, Thiếu tá Lê Hồng Luận, Phó Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn PK214, tác giả của sáng kiến cho biết: “Trong thực tế, việc làm công tác chuẩn bị chiến đấu sáng và huấn luyện đêm tại đơn vị pháo phòng không thì quá trình lấy thăng bằng cho PPK 57 mm thường gặp khó khăn và có nguy cơ mất an toàn. Do khẩu đội trưởng một tay giữ ni-vô, miệng ngậm đèn pin để soi bọt nước, đọc chỉ số, tay còn lại điều chỉnh giá trượt nên rất mỏi mệt nếu thời gian huấn luyện kéo dài, phải làm nhiều lần”. Qua quá trình công tác tại đơn vị, Phạm Hồng Luận đã tìm hiểu, mày mò để chế tạo thiết bị. Ban đầu thiết bị rất gọn nhưng chỉ chiếu sáng phần bọt nước trên ni-vô, còn việc đọc các chỉ số vẫn gặp khó khăn do vạch chỉ số nằm phía dưới. Sau đó tác giả tiếp tục nghiên cứu cộng với sự góp ý của anh em nối dài thêm thiết bị để chiếu sáng cả vạch số và bọt nước. Thiết bị có chiều dài 6cm, gồm có bộ phận cơ khí và chiếu sáng. Bộ phận cơ khí gồm hai đầu; một đầu là miếng kim loại có rãnh ôm lấy hệ thống ni-vô cầu vồng được cố định bằng ốc vít; một đầu hình trụ vuông kích thước 1cm x 2cm để giữ bộ phận chiếu sáng. Bộ phận chiếu sáng được lấy từ phần thân của mũi tên bắn phát sáng- một loại đồ chơi của trẻ em. Nó gồm một hộp nhựa nhỏ, bên trong gắn 3 quả pin tiểu đồng hồ điện tử đeo tay, 1 bóng đèn led được gắn với công tắc. Thiết bị này chiếu sáng cả bọt nước và chỉ số của ni-vô liên tục trong nhiều giờ liền. Thiết bị này rất nhỏ gọn nên có thể chứa trong hộp đựng ni-vô cầu vồng. Để chế tạo thiết bị này chủ yếu tận dụng nguyên vật liệu sẵn có, gia công đơn giản, giá thành rất rẻ, ước chừng khoảng 30 nghìn đồng. Từ khi thiết bị được đưa vào áp dụng trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu tại đơn vị đã phát huy tốt tác dụng, giúp các khẩu đội trưởng trong việc lấy thăng bằng ban đêm cho PPK 57mm: Thao tác dễ dàng hơn, quan sát bọt nước và đọc chỉ số rõ hơn, khắc phục được nguy cơ mất an toàn, rút ngắn thời gian so với cách làm thông thường từ 10 đến 15 giây. Nguồn Quân đội Nhân dân
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Năm, 2013, 09:55:31 am gửi bởi nguyenhoangcema »
|
Logged
|
Việt Nam long live (Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
|
|
|
nguyenhoangcema
Thành viên

Bài viết: 2087
AK 47
|
 |
« Trả lời #34 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2013, 09:07:55 am » |
|
Mô phỏng hệ thống điều khiển khởi động động cơ máy bay Su B Nhiệm vụ đào tạo nhân viên kỹ thuật của Trường Sĩ quan Không quân đang hướng đến khai thác, sử dụng các loại vũ khí trang bị kỹ thuật mới, hiện đại. Trong quá trình lên lớp cho học viên, một số mô hình, học cụ còn thiếu, chưa đáp ứng kịp thời nhiệm vụ giáo dục, đào tạo của nhà trường. Để giúp học viên nắm bắt một cách trực quan về cấu tạo, nguyên lý làm việc của quá trình khởi động động cơ máy bay. Đại úy Đỗ Tiến Lương, giảng viên Khoa Thiết bị hàng không đã nghiên cứu thành công đề tài: Mô phỏng hệ thống điều khiển khởi động động cơ máy bay Su B. Hệ thống mô phỏng bao gồm: Máy khởi động, bộ điều khiển, thiết bị điểm lửa, van điện từ nhiên liệu, van điện từ ô xy và các công tắc nút ấn, khối nguồn…. Tất cả được thiết kế bằng hệ thống đèn LED cùng với 4 bộ tạo dao động để mô phỏng nguyên lý chuyển động của đường ống tiêu hao nhiên liệu và hoạt động của động cơ. Hệ thống được thiết kế để mô phỏng mở máy động cơ máy bay ở mặt đất; mở máy động cơ máy bay ở trên không (trong khi bay); mở máy lạnh động cơ máy bay và máy khởi động tua bin khí TC -21 cũng như chấm dứt quá trình khởi động động cơ để quay máy lạnh bọc dầu ở mọi chế độ khi ấn nút “CTO?”. Các chế độ và chu trình khởi động đều diễn ra đúng như mở máy thực trên máy bay. Khi ấn nút khởi động động cơ, bộ điều khiển sẽ cấp tín hiệu điều khiển đến máy khởi động, các thiết bị điểm lửa và các van điện từ theo chu trình thời gian: Sau 1 giây điện từ bộ điều khiển đến máy khởi động và thiết bị điểm lửa. Sau 2 giây sẽ tăng tốc mô tơ khởi động. Sau 3 giây khối điều khiển cấp điện đến van điện từ mở nhiên liệu vào máy khởi động. Sau 10 giây ngừng cấp điện đến mô tơ khởi động (nằm trong máy khởi động) và cấp điện đến van điện từ khởi động buồng đốt chính. Sau 30 giây, ngắt điện đến van điện từ máy khởi động. Sau 38 giây ngắt điện đến các van điện từ khởi động buồng đốt chính. Sau 50 giây ngắt điện đến khối điều khiển khởi động. Lúc này khối khởi động sẽ thiết lập về trạng thái ban đầu, kết thúc quá trình khởi động động cơ. Đây là đề tài dựa trên phương pháp phân tích thiết kế mạch đèn LED và lập trình điều khiển PLC (Bộ điều khiển logic khả trình) nhằm tăng trực quan, sát thực tế trên máy bay, giúp cho học viên dễ hiểu, dễ tiếp thu bài và được Hội đồng Khoa học nhà trường nghiệm thu đánh giá cao, đưa vào ứng dụng giảng dạy có hiệu quả. Nguồn Quân đội Nhân dân
|
|
|
|
|
Logged
|
Việt Nam long live (Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
|
|
|
nguyenhoangcema
Thành viên

Bài viết: 2087
AK 47
|
 |
« Trả lời #35 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2013, 02:53:42 pm » |
|
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm tàu ngầm đầu tiên của Hải quân nhân dân Việt Nam Ngày 13-5, trong chuyến thăm chính thức Liên bang Nga, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã có chuyến đi tới thành phố Kaliningrad, thăm tàu ngầm lớp Kilo (Đồ án 636) mang tên Hà Nội đang neo đậu tại đây. Tàu ngầm Hà Nội lớp Kilo thuộc vào trong số những tàu ngầm hiện đại nhất thế giới hiện nay, sẽ được Liên bang Nga chuyển giao cho phía Việt Nam trong thời gian tới. Phóng viên theo đoàn xin gửi tới bạn đọc những hình ảnh về chuyến thăm trên và chiếc tàu ngầm đầu tiên của Hải quân nhân dân Việt Nam:  Ngày 13-5, trong chuyến thăm chính thức Liên bang Nga, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã có chuyến đi tới thành phố Kaliningrad, thăm tàu ngầm lớp Kilo (Đồ án 636) mang tên Hà Nội đang neo đậu tại đây.  Tàu ngầm Hà Nội lớp Kilo thuộc vào trong số những tàu ngầm hiện đại nhất thế giới hiện nay, sẽ được Liên bang Nga chuyển giao cho phía Việt Nam trong thời gian tới. Phía Liên bang Nga cũng đảm nhiệm việc huấn luyện cho đội ngũ cán bộ, chiến sĩ Việt Nam đủ khả năng làm chủ tàu ngầm Hà Nội.  Cán bộ chiến sĩ đội tàu ngầm Hà Nội xếp hàng trên boong tàu chào đón Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.  Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bắt tay từng cán bộ chiến sĩ trong đội tàu.  Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chăm chú nghe thuyền trưởng tàu ngầm Hà Nội, Thiếu tá Nguyễn Văn Quán, báo cáo giới thiệu về tàu.  Từ trái qua: Thứ trưởng Bộ quốc phòng, Tư lệnh Quân chủng Hải quân, Đô đốc Nguyễn Văn Hiến; Bộ trưởng, Chủ nhiệm văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam; Thứ trưởng Bộ quốc phòng Trương Quang Khánh bên trong tàu ngầm Hà Nội.  Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng rời tàu. Quốc kỳ Việt Nam phấp phới trên boong tàu ngầm đầu tiên của Hải quân nhân dân Việt Nam.  Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tặng quà cho đội trưởng kíp tàu người Nga.  Quân dân cả nước luôn hướng về biển đảo, hướng về các chiến sĩ hải quân với tấm lòng thương yêu vô bờ bến, chăm chút cả về vật chất và tinh thần cho bộ đội hải quân. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chứng kiến việc trao 2 tỷ đồng của Đảng bộ, chính quyền, quân và dân Hà Nội gửi tặng kíp tàu ngầm Hà Nội và các chiến sĩ Hải quân Việt Nam đang học tập, huấn luyện tại Liên bang Nga.  Cái ôm hôn thắm thiết của người đứng đầu Chính phủ với Thuyền trưởng đầu tiên của tàu ngầm Hải quân nhân dân Việt Nam.           Nguồn Quân đội Nhân dân và Website Thủ tướng Chính phủ
|
|
|
|
|
Logged
|
Việt Nam long live (Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
|
|
|
nguyenhoangcema
Thành viên

Bài viết: 2087
AK 47
|
 |
« Trả lời #36 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2013, 03:04:54 pm » |
|
Nâng cấp, cải tiến xe tăng - thiết giáp Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và trang bị, xe tăng - thiết giáp (TTG) của nhiều nước trên thế giới không ngừng được nghiên cứu, chế tạo ngày càng hiện đại. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu nâng cấp, cải tiến, hiện đại hóa các loại xe hiện có cũng được đẩy mạnh, nhằm nâng cao tính năng, kỹ chiến thuật của các loại xe hiện có. Đó cũng là yêu cầu khách quan, đáp ứng yêu cầu chiến tranh hiện đại, đối phương sử dụng vũ khí công nghệ cao. Đối với quân đội ta, xe TTG gồm nhiều chủng loại, phần lớn thuộc thế hệ thứ nhất và thứ hai, khả năng thích ứng trong điều kiện tác chiến mới còn hạn chế. Cùng với các biện pháp bảo quản, bảo dưỡng, giữ tốt, dùng bền, an toàn, tiết kiệm xe TTG phục vụ nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ, thời gian qua các cơ quan nghiên cứu kỹ thuật, đơn vị TTG đã và đang đẩy mạnh nâng cấp, cải tiến nhằm tăng cường tính năng, hiệu quả hoạt động của từng loại phương tiện đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Nhiều chương trình nâng cấp, cải tiến xe TTG đã và đang được quan tâm, đầu tư, triển khai thực hiện như: Chương trình nâng cấp, cải tiến xe tăng T-54B/T-55, cải tiến đồng bộ xe chiến đấu bộ binh BMP-1, cải tiến xe thiết giáp trở quân BRT-152, nâng cấp cải tiến xe thiết giáp M113, V100… Việc nâng cấp, cải tiến xe tăng T-54B/T-55 đã từng bước khẳng định được tính khả thi, khả năng phối hợp quốc tế, nâng cao năng lực tiếp thu công nghệ nâng cấp, cải tiến của đội ngũ cán bộ chuyên ngành. Xe thiết giáp chở quân BRT-152 sau khi nâng cấp, cải tiến đã khắc phục những nhược điểm cơ bản của xe nguyên thủy, nâng cao tính năng kỹ chiến thuật, khả năng SSCĐ, cơ động trong tác chiến, nhẹ nhàng khi vận hành và an toàn cho bộ binh trên xe. Với xe M113 thu hồi sau chiến tranh, việc nâng cấp, cải tiến cũng đã tạo khả năng vượt trội về tính năng, kỹ chiến thuật… Bên cạnh đó, công tác khôi phục đồng bộ hệ thống nạp đạn tự động, hệ thống cứu hỏa… trên một số loại xe TTG đã giúp tăng hạn sử dụng và hệ số kỹ thuật.  Xe tăng của Lữ đoàn 201 (Binh chủng Tăng - Thiết giáp) cơ động SSCĐ. Kết quả nâng cấp, cải tiến xe TTG không chỉ nâng cao tính năng kỹ chiến thuật của các trang bị mà còn rèn luyện, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, khả năng của đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật chuyên ngành, tạo ra khả năng nghiên cứu làm chủ trang bị, tăng cường khả năng tiếp cận với những sản phẩm mới, có hàm lượng khoa học công nghệ cao trong lĩnh vực khoa học quân sự; nâng cao năng lực tiếp nhận, vận hành dây chuyền chuyển giao công nghệ của các cơ sở bảo đảm kỹ thuật, trang bị… Nhiều công nghệ mới trong cải tiến, hiện đại hóa được áp dụng như: Công nghệ khoan cắt, hàn giáp thép xe tăng, giáp nhôm xe thiết giáp, công nghệ làm sạch bề mặt và sơn truyền thống trước đây được thay thế bằng những công nghệ mới hiệu quả, thân thiện với môi trường, cải thiện điều kiện làm việc của công nhân… Các chương trình nâng cấp, cải tiến trang bị, xe TTG trên thế giới thời gian qua tập trung chủ yếu vào nâng cao khả năng cơ động, tăng cường sức mạnh hỏa lực, cải tiến hệ thống điều khiển hỏa lực, liên lạc và khả năng tự bảo vệ, ngụy trang… Đối với quân đội ta, việc nâng cấp, cải tiến TTG tuy đã đạt được nhiều kết quả, nhưng thực tiễn đòi hỏi ngành kỹ thuật phải nỗ lực hơn trong nghiên cứu, nâng cấp, cải tiến. Yêu cầu đặt ra là cùng với nâng cao tính năng, kỹ chiến thuật, còn phải lựa chọn phương án phù hợp với trình độ khoa học công nghệ và nền công nghiệp quốc phòng của đất nước; các công nghệ đó phải hiện đại, không lạc hậu với khu vực và thế giới. Phương thức nâng cấp, cải tiến, hiện đại hóa TTG có thể được tiến hành thông qua nhập dây chuyền công nghệ của nước ngoài, sau đó cải tiến hàng loạt từng loại xe nhất định. Quá trình chuyển giao từng bước làm chủ công nghệ nâng cấp, cải tiến đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo đảm kỹ thuật trước mắt và lâu dài… Theo các cán bộ kỹ thuật chuyên ngành, trong điều kiện, khả năng đầu tư, hiện đại hóa xe TTG của ta phải tiến hành lâu dài, vì vậy việc nâng cấp, cải tiến là phương pháp lựa chọn quan trọng để tăng cường khả năng SSCĐ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Vấn đề mấu chốt là lựa chọn phương thức tối ưu trong việc nâng cấp, cải tiến từng loại xe. TTG là xe chiến đấu, đòi hỏi kỹ thuật cao, cần tận dụng kinh nghiệm của nước ngoài cải tiến mẫu, chuyển giao công nghệ, đồng thời chú trọng hướng đồng bộ khí tài, trang bị trong biên chế và sản xuất trong nước… Việc nâng cấp, cải tiến xe TTG còn tạo thuận lợi cho đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật có điều kiện nghiên cứu, đóng góp trí tuệ, khả năng của mình. Để thực hiện hiệu quả, cần có sự phối hợp, gắn kết chặt chẽ giữa cán bộ khoa học kỹ thuật chuyên ngành toàn quân với các cơ quan chức năng, đơn vị, nhà trường quân đội… Nguồn Quân đội Nhân dânDụng cụ hiệu chỉnh đường ngắm súng tiểu liên AK Hiệu chỉnh súng bộ binh sau bảo dưỡng 2 hoặc sau khi nhuộm đen là một công việc khá vất vả. Trước đó, đã có một số phương pháp, dụng cụ hiệu chỉnh súng chính xác, hiện đại, tuy nhiên, lại đòi hỏi phải xây dựng cơ sở hạ tầng tốn kém, dẫn đến chi phí hiệu chỉnh cao, tính dã chiến thấp. Do đó, phương pháp hiệu chỉnh súng bằng bắn bia vẫn được áp dụng khá phổ biến nhưng lại tốn một lượng đạn khá lớn, nhân viên hiệu chỉnh phải có kỹ năng bắn súng, và điều kiện tự nhiên, thời tiết, khí hậu. Từ thực tế đó các nhân viên kỹ thuật của Kho K895 (Cục Quân khí) đã nghiên cứu, chế tạo thành công “Dụng cụ hiệu chỉnh đường ngắm súng tiểu liên AK” (xem ảnh) nâng cao chất lượng hiệu chỉnh súng.  Dụng cụ hiệu chỉnh đường ngắm súng tiểu liên AK. Dụng cụ áp dụng nguyên lý dùng cơ quan ngắm bằng quang học để định vị đường thẳng từ trục nòng súng đến điểm chuẩn trên bia hiệu chỉnh. Sau đó ngắm qua thước ngắm của súng, nếu đường ngắm này chệch khỏi điểm chuẩn trên bia hiệu chỉnh thì tiến hành dịch chuyển các chi tiết của cơ quan ngắm để đường ngắm qua thước ngắm đúng vào điểm chuẩn trên bia. Lúc đó, súng đã được chỉnh đúng thước ngắm. Để thực hiện phương pháp hiệu chỉnh trên, ngoài việc sử dụng kính chuẩn làm nhiệm vụ định vị đường ngắm trục nòng, còn có một số chi tiết sau: Giá hiệu chỉnh được chế tạo trên cơ sở chân và giá của súng đại liên K53; ống nối để lắp kính chuẩn vào đầu nòng súng; vam và chìa vặn để hiệu chỉnh cơ quan ngắm. Khi tiến hành hiệu chỉnh: Gá kẹp súng hiệu chỉnh chắc chắn trên giá; lắp kính chuẩn vào đầu nòng. Một người ngắm qua kính chuẩn, thông báo kết quả để người thứ hai hiệu chỉnh tầm, hướng (trên giá hiệu chỉnh) bảo đảm điểm chữ thập trên kính trùng với chữ thập trên bia hiệu chỉnh. Cố định súng, ngắm qua thước ngắm lên bia hiệu chỉnh, nếu đường ngắm sai lệch với điểm chuẩn trên bia hiệu chỉnh thì dùng vam (hiệu chỉnh thước ngắm) và chìa vặn (hiệu chỉnh đầu ruồi) sao cho đường ngắm qua thước ngắm trùng với điểm chuẩn trên bia là được. Nhờ có dụng cụ hiệu chỉnh đường ngắm, năng suất hiệu chỉnh súng tăng lên đến 400%, tỷ lệ súng sau hiệu chỉnh đạt yêu cầu khoảng 85-90%, giảm tiêu hao đạn 65% và rất tiện lợi triển khai mặt bằng hiệu chỉnh. Giá thành sản xuất sản phẩm rất rẻ, vì tận dụng được nhiều trang bị cấp 5 hiện có tại đơn vị. Sáng kiến được Tổng cục Kỹ thuật trao giải nhất trong Hội thi sáng kiến cải tiến kỹ thuật năm 2009. Sản phẩm đã được Cục Quân khí cho sản xuất thành bộ dụng cụ hiệu chỉnh súng trang bị cho toàn quân. Nguồn Quân đội Nhân dân
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 22 Tháng Năm, 2013, 03:19:28 pm gửi bởi nguyenhoangcema »
|
Logged
|
Việt Nam long live (Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
|
|
|
nguyenhoangcema
Thành viên

Bài viết: 2087
AK 47
|
 |
« Trả lời #37 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2013, 02:36:07 pm » |
|
Công nghệ quân sự: Người Israel bất ngờ với các kỹ sư Việt Nam Chưa có những cuộc duyệt binh hoành tráng với hàng không mẫu hạm, tên lửa đạn đạo hay máy bay không người lái thế hệ mới nhất, nhưng Việt Nam luôn là một ẩn số về tiềm lực quân sự. Hệ thống quản lý vùng trời VQ2 đã được Viettel nghiên cứu thử nghiệm thành công là một bước tiến lớn trong lĩnh vực công nghệ an ninh quốc phòng. Không chỉ là ẩn số từ quá khứ hào hùng ngày trước, mà còn vì sự nể trọng của những tập đoàn khí tài quân sự lớn của thế giới khi chứng kiến khả năng tự phát triển công nghệ mạnh mẽ trong lĩnh vực an ninh quốc phòng của Việt Nam, mà tập đoàn Viettel là một điển hình.  Trong ảnh là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Viettel đang giới thiệu VQ2 với Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân. Từ sự bất ngờ của người Do Thái…Cách đây hơn 10 năm, hệ thống thông tin quản lý vùng trời quốc gia (gọi tắt là VQ9801) đã được thiết lập. Hệ thống có nhiệm vụ xử lý, cung cấp thông tin cho các cấp lãnh đạo của lực lượng Phòng Không- Không quân nói riêng và Quân đội nói chung về mọi tình huống diễn ra trên không, nhằm đảm bảo cho việc ra quyết định một cách chính xác và hiệu quả. Hệ thống do các đối tác nước ngoài cung cấp toàn bộ phần cứng, phần mềm và đào tạo nhân lực. Trải qua hơn 10 năm khai thác, hệ thống đã hết thời hạn sử dụng và bộc lộ một số hạn chế khó khắc phục. Trước tình hình đó, tháng 4/2012, Bộ Quốc phòng đã chính thức giao cho Tập đoàn Viettel- trực tiếp là Viện Nghiên cứu Phát triển Viettel (Viện CNPT Viettel) nghiên cứu chế tạo hệ thống duy trì và sẵn sàng thay thế cho hệ thống VQ9801, làm tiền đề cho chiến lược xây dựng hệ thống quản lý vùng trời hiện đại thế hệ thứ 2- VQ2. Cũng giống như hơn 10 năm trước khi giao cho đơn vị này thiết kế thi công đường trục cáp quang quân sự 1A, yêu cầu kiên quyết được đặt ra là phải làm chủ hoàn toàn, tức là không được phép có sự tham gia trực tiếp của nước ngoài… Những người Do Thái, vốn được xem là vượt trội về chỉ số thông minh, nắm trong tay các công nghệ quân sự tiên tiến và mang đi bán khắp thế giới. Biết Viettel đang được giao nhiệm vụ này, họ đã đến để chào hàng chuyển giao công nghệ. Công nghệ Israel được xác nhận là tốt và phù hợp, nhưng cũng vì điều này mà giá thành đội lên rất rất cao. Điều Viettel yêu cầu là phải làm chủ hoàn toàn công nghệ này sau khi được chuyển giao. Hàng loạt giải pháp được đưa ra một cách linh động và thực tiễn nhưng phản hồi của những nhà kinh doanh tài ba Israel vẫn luôn là giá cả. 100 triệu USD không phải là số tiền quá lớn cho đầu tư quân sự, nhưng cũng là nguồn kinh phí không nhỏ so với bình diện GDP của quốc gia. Cái giá đó không được chấp nhận và những người Do Thái chia tay trong sự tự tin với lời hẹn quay lại trong thời gian không xa. Còn những kỹ sư trẻ mới ngoài 30 tuổi của Viện NCPT Viettel bắt tay ngay vào công việc. 3 tháng sau, họ quay lại và thật sử sửng sốt. Không có một lời khen ngợi chính thức nào được đưa ra, không có lời bình luận nào về những bước đi mà Viettel có trong thời gian ngắn ngủi đó, chỉ có đề nghị giảm giá của người Do Thái là nói lên tất cả: “Chúng tôi đồng ý giảm xuống còn 60 triệu USD”. Hiểu rằng mình đang đi đúng hướng, những kỹ sư Viettel lại bắt tay tạm biệt những người đi chào hàng. Hàng ngàn giờ làm việc lại diễn ra một cách âm thầm, và dự án “VQ made in Viettel” tiếp tục đi sâu, đi xa hơn để tiếp cận gần nhất với tất cả các yêu cầu khắt khe của thế giới công nghệ quân sự hiện nay. 3 tháng nữa trôi qua và những người Israel trở lại, vẫn với niềm tin sẽ bán được hàng. Nhóm nghiên cứu lại đưa ra những kết quả mới, dẫu chưa phải là tất cả những gì đã thực hiện được, tiếp tục làm đối tác lặng im. Cuối cùng, họ phá vỡ tiền lệ kinh doanh của mình khi đề nghị một mức giá mới: 20 triệu USD. Nhưng hình như đã quá muộn rồi. Những người lính kỹ sư trẻ của Viettel biết rằng họ đã gần đi tới đích. ….Đến một con đường mớiCòn đến bây giờ, chỉ sau 1 năm 3 tháng chính thức nhận nhiệm vụ, sản phẩm Hệ thống quản lý vùng trời quốc gia VQ1 đã đi vào những khâu hoàn thiện cuối cùng và sẵn sàng thay thế cho VQ9801 đã lỗi thời. 1 năm 3 tháng là nhanh hay chậm? Câu trả lời năm ở hơn 10 năm trước, hệ thông VQ9801 đã phải mất tới 5 năm mới chính thức đi vào hoạt động kể từ khi đặt đề bài với các đối tác nước ngoài. Đến khi đi vào vận hành, bất kể một thay đổi nào trên hệ thống ấy cũng phải có sự tham gia của đối tác đã cung cấp và phải mất ít nhất 14 tháng mới có thể đáp ứng được.  Một thiết bị thông tin quân sự “Made by Viettel”. Còn giờ đây, với VQ made bye Viettel, mọi yêu cầu bổ sung thành phần đều có thể được đáp ứng trong 1 ngày. Để khai thác được hệ thống cũ phải cử người ra nước ngoài đào tạo cả năm trời. Giờ, tất cả đều có thể tại chỗ… Một lãnh đạo của Quân chủng Phòng không Không quân còn tiết lộ, hệ thống do Viettel nghiên cứu sản xuất đã đáp ứng được tất cả các tính năng và yêu cầu tương đương với hệ thống VQ9801 đã có. Hơn thế nữa, sản phẩm đã được bổ sung một số thuật toán mới, làm tăng hiệu năng của hệ thống, đưa ra một số tính năng ưu việt mà hệ thống cũ chưa có, nâng cao khả năng quản lý và hỗ trợ tác chiến Đúng theo yêu cầu của lãnh đạo Quân đội, của chính các lãnh đạo Viettel, tất cả đã được làm chủ hoàn toàn mà không hề có bàn tay của bất cứ một chuyên gia, đối tác nước ngoài nào. Nói đến sản xuất và cung cấp thiết bị quân sự, trên thế giới người ta nghĩ ngay đến các tổ hợp công nghiệp quốc phòng hùng hậu của các nước lớn như Mỹ, Nga và một số nước thuộc Liên Xô (cũ), một số nước châu Âu như Anh, Pháp, Đức, Thụy Điển, Ixraen…. Tức là những nước có nền kinh tế, khoa học kỹ thuật phát triển nhất thế giời. Câu chuyện về dự án VQ cũng như hàng hoạt các dự án nghiên cứu sản xuất thiết bị quân sự của Viettel như máy bay không người lái, rada, các thiết bị thông tin quân sự…vẫn nhiều thông tin chưa được công bố. Nhưng một vài thông tin được hé lộ cũng đã minh chứng rõ ràng cho tiềm lực tự phát triển, tự hoàn thiện và tự hiện đại hóa trang thiết bị quân sự của Việt Nam. Từ một quốc gia hoàn toàn phụ thuộc hoàn toàn vào nước ngoài, Viettel đã trực tiếp đưa Việt Nam đứng vào danh sách một số rất ít các quốc gia có thể tự sản xuất được trang thiết bị quân sự công nghệ cao. Tiết kiệm tối đa cho ngân sách (có chuyên gia đã tính toán riêng khả năng tiết kiệm cho nhu cầu hiện đại hóa toàn bộ hệ thống rada của lực lượng Phòng không- Không quân lên tới hàng tỷ đô la), làm chủ được các yêu cầu tùy biến theo thực tế sử dụng, rút ngắn thời gian và gia tăng cơ hội hiện đại hóa quân đội, và đặc biệt là đảm bảo an ninh anh toàn nhờ loại trừ nguy cơ bị can thiệp từ bên ngoài trong mọi tình huống… Đó là những lợi ích chiến lược của khả năng làm chủ công nghệ quân sự. Và nữa, còn mở ra con đường hình thành nền công nghiệp quốc phòng công nghệ cao trong một tương lai không hề xa. Nguồn Theo Trần Nguyên - Vietnamnet
|
|
|
|
|
Logged
|
Việt Nam long live (Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
|
|
|
nguyenhoangcema
Thành viên

Bài viết: 2087
AK 47
|
 |
« Trả lời #38 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2013, 09:23:43 am » |
|
Cải tiến mô-đun cấp 1 cho ra-đa Trung đoàn ra-đa 251 (Vùng 2 Hải quân) hiện quản lý, khai thác hệ thống máy móc, phương tiện kỹ thuật khá lớn. Tuy nhiên, do thời gian sử dụng và thời tiết khí hậu khắc nghiệt nên một số trang thiết bị xuống cấp, chất lượng giảm sút, nhất là hệ thống thiết bị ra-đa. Những thiết bị đi kèm đều là hàng nhập ngoại, khi hỏng hóc phải sửa chữa với chi phí cao. Đại úy QNCN Nguyễn Đức Cương, nhân viên Ban Kỹ thuật trung đoàn đã nghiên cứu cải tiến mô-đun cấp 1 dùng cho ra-đa nhằm khắc phục những hạn chế trên.  Đai úy QNCN Nguyễn Đức Cương đang vận hành tủ xử lý tín hiệu ra đa đã được cải tiến Mô-đun cấp 1 Bằng trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nhiều năm công tác, anh tìm hiểu các loại tài liệu kỹ thuật liên quan, tiến hành nghiên cứu thay thế các linh kiện ngoại nhập bằng linh kiện nội địa trên cơ sở tương đồng về chất lượng và hiệu quả vận hành. Sau thời gian thử nghiệm, sáng kiến của anh đã được nghiệm thu và ứng dụng vào thực tiễn tại các trạm ra-đa. Trung tá, Thạc sĩ Đoàn Đình Nghĩa, Phó trung đoàn trưởng kỹ thuật Trung đoàn 251 khẳng định: Mô-đun cấp 1 cải tiến đã khắc phục được những nhược điểm của linh kiện ra-đa nhập ngoại, không còn thụ động về thời gian mỗi khi xảy ra sự cố, hiệu quả thực tiễn rất tốt, làm lợi cho đơn vị hàng trăm triệu đồng. Sáng kiến của Đại úy QNCN Nguyễn Đức Cương đã được ứng dụng rộng rãi, nâng cao chất lượng làm việc của hệ thống xử lý tín hiệu ra-đa. Nguồn Quân đội Nhân dân
|
|
|
|
|
Logged
|
Việt Nam long live (Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
|
|
|
nguyenhoangcema
Thành viên

Bài viết: 2087
AK 47
|
 |
« Trả lời #39 vào lúc: 17 Tháng Sáu, 2013, 05:10:38 pm » |
|
Nghiên cứu khoa học - công nghệ phục vụ công tác kỹ thuật pháo binh Vũ khí trang bị kỹ thuật (VKTBKT) pháo binh biên chế trong quân đội ta có thời gian sử dụng lâu dài, chiếm số lượng lớn đã trải qua chiến đấu, dẫn đến mất đồng bộ và xuống cấp. Để bảo đảm đủ số lượng, nâng cao chất lượng VKTBKT pháo binh phục vụ sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ), huấn luyện, đào tạo và các nhiệm vụ khác, Binh chủng Pháo binh đã triển khai nhiều biện pháp thực hiện đồng bộ, trong đó đã đẩy mạnh nghiên cứu khoa học-công nghệ và ứng dụng kết quả các đề tài, dự án và sáng kiến cải tiến kỹ thuật phục vụ công tác kỹ thuật pháo binh. Bảo đảm đủ VKTBKT chất lượng tốt phục vụ các nhiệm vụ của binh chủng luôn được ngành kỹ thuật đặt lên hàng đầu. Cùng với việc tiếp nhận, cấp phát, điều chuyển VKTBKT theo yêu cầu của trên, công tác bảo đảm đồng bộ được triển khai tích cực. Cục Kỹ thuật pháo binh phối hợp với Cục Kỹ thuật binh chủng (Tổng cục Kỹ thuật) nghiên cứu, khảo sát, hợp đồng sửa chữa, đồng bộ các hệ thống pháo tự hành SU-122, SU-152; các tổ hợp tên lửa mặt đất, tên lửa chống tăng; khí tài cho ra-đa khí tượng... Kết quả Dự án TH-17 qua hai giai đoạn đã được Bộ Quốc phòng thẩm định, nghiệm thu, đưa vào ứng dụng. Ngành kỹ thuật pháo binh đang tập trung sửa chữa, đồng bộ các hệ thống xe dàn 2T3M, bộ giá đạn BM-21, các xe chuyên dụng KRAZ-255B, máy đo xa la-de.  Nhân viên kỹ thuật Lữ đoàn 490 hiệu chỉnh các thông số kỹ thuật khí tài điều khiển của tổ hợp điều khiển tên lửa mặt đất. Ngành kỹ thuật pháo binh triển khai ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học-công nghệ mới vào công tác bảo quản, niêm cất dự trữ VKTBKT; sản xuất vật tư kỹ thuật phục vụ bảo đảm kỹ thuật. Ngành kỹ thuật đang áp dụng kết quả đề tài nghiên cứu quy trình niêm cất dài hạn tổ hợp tên lửa mặt đất R17E; đề tài đánh giá sự tác động của môi trường nhiệt đới ẩm với vũ khí trang bị và niên cất nhiên liệu O; đề tài nghiên cứu phương pháp định mức vật chất bảo quản VKTBKT phục vụ SSCĐ cho lữ đoàn tên lửa mặt đất hoạt động dài ngày ở địa hình rừng núi và hang động v.v... Trước thực trạng nhiều hư hỏng của VKTBKT phát sinh trong quá trình niêm cất không thể phát hiện được bằng quan sát thông thường, ngành kỹ thuật đã nghiên cứu ứng dụng các giải pháp công nghệ nhằm kiểm tra, khắc phục hư hỏng trong quá trình bảo quản. Kết quả của đề tài nghiên cứu phương pháp kiểm tra, khắc phục hư hỏng, bảo quản hệ thống phanh xe kéo pháo trong quá trình niêm cất đã được ứng dụng hiệu quả. Các đơn vị tổ chức bảo quản, niêm cất, mở niêm kiểm tra các hệ thống pháo BM-21, pháo 152mm, 130mm; các tổ hợp tên lửa mặt đất, tên lửa pháo binh và các khí tài đồng bộ đúng quy trình công nghệ, do đó bảo đảm chất lượng VKTBKT, khi có lệnh là cơ động, làm nhiệm vụ được ngay. Đánh giá chất lượng công tác đồng bộ VKTBKT, cần tính đến việc bảo đảm khí tài và trang thiết bị đi cùng. Những năm gần đây, ngành kỹ thuật pháo binh đã triển khai nhiều đề tài nghiên cứu, dự án khoa học-công nghệ để nâng cao chất lượng khí tài pháo binh. Cùng với việc nghiên cứu, biên soạn tài liệu khai thác sử dụng, Binh chủng Pháo binh phối hợp triển khai nghiên cứu thiết kế, chế tạo đài quan sát quang điện tử cho tiểu đoàn pháo binh mặt đất; nghiên cứu chế tạo, thử nghiệm hệ thống ra-đa đo sơ tốc đạn; nghiên cứu khai thác, bảo đảm kỹ thuật khí tài trinh sát pháo binh thế hệ mới... Đại tá Phạm Lê Thành, Cục trưởng Cục Kỹ thuật Binh chủng Pháo binh khẳng định: Nhờ ứng dụng hiệu quả kết quả nghiên cứu khoa học-công nghệ vào các hoạt động công tác kỹ thuật, nên 6 tháng đầu năm 2013, ngành kỹ thuật pháo binh đã hoàn thành đồng bộ hàng chục hệ thống pháo tự hành, pháo mặt đất và xe chuyên dụng; niêm mới và mở niêm, kiểm tra bảo dưỡng, bổ sung đồng bộ VKTBKT đạt 100% kế hoạch; sản xuất hàng nghìn thước chỉ huy pháo binh, giá bắn sa bàn, thiết bị chuẩn bị phần tử bắn; sửa chữa hàng trăm bộ khí tài quang học, kính kinh vĩ phục vụ chuyên ngành... Đặc biệt, ngành kỹ thuật pháo binh đã áp dụng hiệu quả các trang bị công nghệ tiên tiến phục vụ bảo đảm kỹ thuật, như việc lắp đặt, khai thác máy tháo lắp bằng khí nén cho trạm sửa chữa của các đơn vị, nhà trường; thiết bị kiểm tra tình trạng kỹ thuật xe ô tô hiện đại và hệ thống sơn tĩnh điện cho Xưởng X965; lắp đặt hệ thống ca-mê-ra giám sát an ninh cho các kho đạn v.v..  Thử nghiệm kiểm tra máy đo sơ tốc đầu đạn pháo Ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học-công nghệ vào huấn luyện khai thác, làm chủ VKTBKT Binh chủng Pháo binh đã đạt được kết quả nổi bật. Những năm qua, các đơn vị pháo binh đã nghiên cứu chế tạo, chuyển giao công nghệ nhiều loại trang thiết bị huấn luyện hiện đại; đặc biệt là kết quả đề tài nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống mô phỏng huấn luyện bắn và chỉ huy bắn pháo binh; nghiên cứu thiết kế, chế tạo ca-bin mô phỏng kíp chiến đấu pháo tự hành SU-152. Hiện nay, ngành kỹ thuật đang triển khai đề tài nghiên cứu khảo sát, thiết kế chế tạo khối 2B-26 và khối giả định APĐ-8 của bộ luyện sĩ quan phóng thuộc tổ hợp tên lửa P-17E. Các sản phẩm khoa học-công nghệ, sáng kiến cải tiến kỹ thuật các chuyên ngành pháo tự hành, tên lửa mặt đất, mô hình huấn luyện các hệ thống pháo phản lực bắn loạt, tên lửa chống tăng... đang được ứng dụng hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện, trình độ và khả năng SSCĐ, làm chủ VKTBKT của bộ đội pháo binh. Nguồn Quân đội Nhân dânMáy đo phóng xạ huấn luyện PM-1401K Từ thực tế huấn luyện thực hành để học viên sử dụng máy đo phóng xạ PM-1401K tìm kiếm, ghi đo, định danh các nguồn phóng xạ gặp nhiều khó khăn do số lượng máy ít, thời gian tiếp xúc với khí tài của học viên không được nhiều; việc sử dụng máy cường độ lớn dễ gây hư hỏng, xuống cấp; các tình huống phóng xạ thường giả định hoặc dùng nguồn phóng xạ thật có hoạt độ nhỏ, nếu dùng nguồn phóng xạ lớn sẽ nguy hiểm, không bảo đảm an toàn,... nhóm tác giả Khoa Phòng hóa, Trường Sĩ quan Phòng hóa đã nghiên cứu, chế tạo hoàn thành Máy đo phóng xạ huấn luyện PM-1401K được Cục Nhà trường (Bộ Tổng Tham mưu) đánh giá đạt loại xuất sắc và đang được áp dụng hiệu quả trong huấn luyện cho học viên, phục vụ học tại chức của cán bộ, giảng viên và còn có thể nhân rộng, áp dụng cho các phân đội trinh sát phóng xạ hóa học toàn quân…  Nghiệm thu máy đo phóng xạ huấn luyện PM-1401K. Máy đo phóng xạ huấn luyện PM-1401K được nghiên cứu, chế tạo với hình thức và nguyên tắc sử dụng, màn hình hiển thị tương tự máy thật. Cấu tạo của máy gồm các bộ phận: Biểu tượng lắp pin, các phím điều khiển, màn hình, lô-gô và tên máy, tên nhà sản xuất, nắp bảo vệ đầu đo, ổ cắm sạc pin, nắp bảo vệ ổ pin, ổ cắm, bộ rung. Các nội dung chủ yếu của sáng kiến gồm: Thiết kế khuôn và sản xuất vỏ thân máy bằng phương pháp đúc và gia công vật liệu hợp kim nhôm. Thiết kế phần cứng, bao gồm: Chíp xử lý trung tâm ARM để xử lý các tín hiệu vào từ bàn phím và xuất dữ liệu ra màn hình, điều khiển bộ rung, loa, nguồn điện; Màn hình LCD kích thước (128x128) pixel; Chíp LCD chuyển dữ liệu từ chíp xử lý trung tâm để hiển thị lên màn hình; Các phím bấm và chíp điều khiển phím bấm; Pin nguồn và chíp nguồn điều khiển điện áp ra, vào các linh kiện với các mức điện áp 3V, 5V, 9V; bàn phím, loa, bộ rung. Mạch điện tử kết nối và điều khiển phần cứng gồm các bảng mạch chính điều khiển chíp, các cổng kết nối; bảng mạch màn hình; bảng mạch phím điều khiển; bảng mạch nguồn điện. Lập trình vi điều khiển cho chíp xử lý trung tâm kết nối và điều khiển nguồn, tín hiệu vào, ra. Lập trình LCD graphic để vẽ các chi tiết trên màn hình như mũi tên phím điều khiển, pin nguồn, phổ bức xạ, các kí tự đặc biệt… Đưa máy vào huấn luyện đã nâng cao chất lượng thực hành của học viên, tạo ra các tình huống như khi có phóng xạ thật với giá trị ngẫu nhiên trong một tập hợp có sẵn và các giá trị này có thể thay đổi. Giảng viên có thể ra tình huống và theo dõi quá trình xử trí của học viên, trên cơ sở đó đánh giá chất lượng học tập mà không cần đưa ra các giả định như khi sử dụng các máy thật… Sáng kiến còn góp phần tăng cường làm chủ công nghệ thiết kế, sản xuất các trang bị khí tài khác, có thể nhân rộng sản xuất và nghiên cứu, chế tạo các thiết bị huấn luyện. Nguồn Quân đội Nhân dân
|
|
|
|
|
Logged
|
Việt Nam long live (Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
|
|
|
|