Vâng em đợi bác đến ngày mai hoặc lâu hơn nữa cũng được.

Trước khi ra đời phương pháp đo sơ tốc đạn qua sự thay đổi sóng điện từ, thông qua dụng cụ ghi dao động sóng, được gắn trên ống dẫn sóng đầu miệng súng, người ta đã biết đến 1 số phương pháp đo.
1-Phương pháp đo cảm biến,người ta gắn 2 bộ cảm biến trên nòng súng, chúng là 2 cuộn dây và 1 bo mạch kín. Một bộ cảm biến được gắn ở buồng đạn, tức là lúc viên đạn có vận tốc bằng V(o),còn một bộ cảm biến khác được gắn ở miệng súng. Tốc độ viên đạn sẽ được tính phụ thuộc vào thời gian mà viên đạn chuyển động trong nòng súng, còn quãng đường(chiều dài nòng) đã biết trước và không đổi.
Nhược điểm: Đây là thời gian khởi tốc của viên đạn lại bị lực cản bởi nòng súng lên không phản ánh đúng sơ tốc đạn.
2- Phương pháp đo áp suất, người ta sử dụng bộ cảm biến thạch anh.
3- Phương pháp đo thay đổi tần số tín hiệu qua xung động doppler. Tần số tín hiệu biến đổi từ O đến cực đại do kết quả lan truyền sóng điện từ sinh ra do chuyển động của viên đạn trong nòng súng. Phương pháp này người ta sử dụng nòng pháo như ống dẫn sóng.
Nhược điểm : Phương pháp này trong quá trình hoạt động tạo ra bức xạ, ngoài ra khi sử dụng đạn thanh xuyên dưới cỡ thì phương pháp này cho kết quả sai. Hơn nữa do phải lắp đặt thiết bị đo tương đối lớn ở đầu miệng súng lên đã làm mất cân bằng cho súng khi bắn.
Dựa trên ý tưởng ống dẫn sóng từ nòng pháo, người ta tạo ra dụng cụ đo sơ tốc đạn với ống dẫn sóng là ống loa thép không liền nhau, không cuốn tròn quanh nòng pháo(có thể là 2 vòng sắt liên kết với nhau bằng 3 thanh sắt hoặc dạng tổ ong). Dụng cụ đo sơ tốc đạn thế hệ mới sử dụng phương pháp đo sự biến đổi sóng điện từ thông qua bộ ghi dao động sóng ở đầu miệng súng. Đây là phương pháp đo sơ tốc đạn không tiếp súc tối ưu nhất. Ống dẫn sóng phải đảm bảo không lây lan sóng điện từ, và không có chuyển giao năng lượng dọc theo ống dẫn sóng(Xen thêm hình ống dẫn sóng ở ảnh tôi đưa trong trang trước). Phương pháp đo sơ tốc đạn này loại bỏ những nhược điểm của các phương pháp trên.