Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:13:12 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến tranh biên giới phía Bắc - P3  (Đọc 405700 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
baoleo
Moderator
*
Bài viết: 1500


« Trả lời #300 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2014, 08:45:26 am »

Vâng, lịch sử đã cho thấy, ngày 17/02/1979, quân và dân ta trên chiến hào 1, trên tuyến 1, thực sự là bị bất ngờ.
Nhưng những người lính của cái ngày 17/02 năm ấy, bị ‘bất ngờ’, nhưng đã không bị ‘bất trận’.
Bị bất ngờ, nhưng những người lính trên tuyến 1 năm ấy, cho dù không kịp ra chiến hào 1, nhưng đã bắn lại kẻ thù ngay từ cửa phòng ngủ của các đồn biên phòng, bắn lại kẻ thù ngay từ cửa của nhà bếp tiểu đoàn.
Bị bất ngờ ngay từ giây phút đầu tiên, không kịp ra chiến hào 1 từ trước, nhưng, những người lính tiền tiêu, đã chặn đứng được tất cả các âm mưu tiến công của kẻ thù về : thời gian đánh chiếm mục tiêu, về không gian tấn công.
Bị bất ngờ, nhưng những người lính tiền tiêu đã đánh trận một cách đĩnh đạc. Tiêu diệt bộ phận lớn lực lượng quân thù.
Bị bất ngờ, nhưng những người lính tiền tiêu, cho dù đã hy sinh tất cả đơn vị, như đồn biên phòng Pò Hèn và nhiều đồn biên phòng khác, nhưng đã tiêu diệt được quân địch với số lượng lớn hơn mình. Đã cầm chân được quân thù, để lực lượng phía sau kịp dồn lên.
Bị bất ngờ, và chỉ bằng lực lượng địa phương là chủ yếu, nhưng những người lính tiền tiêu năm ấy, đã đánh bại toàn bộ các quân đoàn chủ lực tập chung của quân thù.

Việc đánh trả lại quân thù, trong tình thế bị bất ngờ, và đã chiến thắng, càng tô thắm lên truyền thống vinh quang của những người lính Cụ Hồ.
Máu của các chiến sỹ đã hy sinh trong những giờ phút đầu tiên của trận đánh trong thế ‘bị bất ngờ’, đã tô thắm thêm ngọn cờ ‘bất trận’ của những người lính chúng ta.
Chúng ta bị bất ngờ, nhưng chúng ta đã chiến thắng.


Lịch sử cho thấy, những người lính trên tuyến 1 năm ấy bị bất ngờ, nhưng sự bị bất ngờ đó, hoàn toàn không làm giảm đi tý nào giá trị vinh quang của những chiến công, được tô đậm bằng máu của các chiến sỹ đã hy sinh, kể cả khi phải chiến đấu trên mặt sân bóng chuyền.
Logged
songthuong
Thành viên

Bài viết: 2


« Trả lời #301 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2014, 04:05:02 pm »

  Tôi là songthuong, lính d8,e98,f316 .
  Rất khâm phục khả năng đọc và tổng hợp,phân tích của Quang Can.Tuy nhiên đến phần 3 “ chiến tranh biên giới phía bắc “ trang 30 Quang Can lý giải về việc ta có biết hay không thời điểm Trung Quốc đánh toàn tuyến biên giới 17/2/1979 như vậy thì… như viết sách lịch sử cho học sinh phổ thông . Tôi tán thành cách đặt vấn đề thẳng thắn và 3 câu hỏi của Baoleo.
  Tôi không biết những thông tin đại tá Quách Hải Lượng nói về thời điểm này đúng hay sai ? Nhưng kiểm nghiệm ở cấp độ  lính chiến dưới đại đội ,tôi thấy đại tá  nói  rất đúng.Chúng tôi từ Bình Lư ,Phong thổ lên chốt từ  trước tết ở mỏ Nậm Xe,Phong thổ . Khoảng 15/2/79  gì đó có lệnh rút, về đến hậu cứ  Bình Lư chiều 16/2/79 thì đêm đó chúng đánh,lại hành quân gấp 54 km lên Phong thổ. Ngoài ra còn hàng loạt dấu hiệu bất thường khác như tập trung hàng trăm ngàn quân áp sát biên  giới. Dân Cao Bằng kháo nhau từ 13/2 rằng 17/2 chúng sẽ đánh. Baoleo nói người bạn đi nước ngoài về còn thấy xe tăng chúng như lá tre ở biên giới . Còn một chuyện nữa:cứ bảo ta bài xích người Hoa đuổi về TQ mà vẫn còn nhiều thế .Trước khi đánh mấy ngày nghe nói Hoa kiều toàn tuyến biên giới đều mời bộ đội,nhất là các chỉ huy ăn tiệc sau tết . Ở chỗ bọn tôi thì có  việc này,con gái,con dâu đều được cha, anh,chồng gọi ra mời rượu rất tận tình. Bọn tôi đáp lễ chỉ vài người đi dự, dặn trước 2 cậu liên lạc không được uống,không được rời 2 khẩu AK; còn BCH đại đội ở nhà duy trì toàn đơn vị trực chiến . Tất cả những dấu hiệu bất thường đó dường như ta không biết,cấp cao nhất không biết. Không ai tổng hợp ?
  Bởi vì nếu biết chắc chắn về sự kiện 17/2/79 sẽ không có chuyện như đại tá Lượng nói Bộ trưởng quốc phòng Văn Tiến Dũng hạ cấp báo động, rồi đi Campuchia. Nếu biết thì cũng theo đại tá Lượng , không thể có chuyện Tướng Đàm Quang Trung hôm 16/2/79 vẫn nói chuyện với cán bộ,chiến sĩ,nhân dân xã Quang Lang , Cao bằng rằng  “ có cho kẹo TQ cũng không dám đánh” .
  Tổng hợp thông tin của Quang Can và Baoleo tôi cũng đồng ý rằng ta không bị bất ngờ về chiến lược (từ 1976 đã đề phòng,bố trí lại binh lực theo hướng tăng cường thêm cho phía bắc) , nhưng bị bất ngờ về chiến thuật tại thời điểm 17/2/79. Sau “một thoáng bối rối” ,ta vẫn kịp nện cho đồng chí “ 4 tốt “ no đòn. Âu cũng là bài học lịch sử cho con cháu mai sau và kinh nghiệm đối phó với “ông bạn nghiện vàng 16 chữ” hôm nay.
Logged
quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #302 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2014, 04:06:56 pm »

Tranh luận và khác nhau về quan điểm là bình thường, và chả ai nhét chữ vào mồm ai được cả,  Grin.
Em vẫn luôn giữ quan điểm của mình: cố gắng nói/ viết có luận chứng/ luận cứ và cung cấp nguyên bản/ nguyên gốc những tư liệu/ tài liệu có liên quan mà mình "lục lọi" được, kể cả khi chúng có nội dung ngược lại hay khác lạ,  Wink.

Độc thoại một mình cũng chán
, có bác vô "chém gió" thì càng vui chứ có sao,  Grin. Chỉ thấy chả cụ nào lên tiếng cùng, hay là sợ các Mod "uýnh nhau" nên hổng dám "can",  Grin.

Vậy, cứ tiếp tục luận bàn cho vui nhá,  Wink.

1.
.... 1/ Dòng trích dẫn nào, của cấp nào, nói về việc ta đã biết trước quân TQ tấn công vào rạng sáng ngày 17/02 ?
(tương tự như tài liệu mà chính bạn đã đưa: “Một tài liệu nhỏ, khá quý, cho thấy, có thông tin nhân dân biên giới báo ngày 13/2/1979 rằng địch sẽ đánh ta vào ngày 17/2/1979:..” ở trang 29 của topic này) ...

Lịch sử thì nhiều người viết và cách viết, lối suy nghĩ/ trình bày khác nhau của cùng một dữ kiện/ tài liệu lịch sử. Tài liệu trên em trích từ Lịch sử Biên phòng Việt Nam trong chiến tranh BGPB.

Suốt trong giai đoạn 1977 - 1978, phía Trung Quốc đã tập trung một số lượng kha khá quân đội dọc theo biên giới; gây ra vô số các vụ nổ súng khiêu khích, ngang ngược bắt cóc cán bộ nhân dân ta, quấy phá mạnh vùng ven biên giới. Nhân dân các dân tộc miền núi thuộc khu vực biên giới, chúng ta đều hiểu họ có quan hệ họ hàng và "quen biết" nhau cả - những "tai mắt" đó đều là hai chiều với cả hai bên, đúng không? Vậy thông tin như vậy là thường xuyên, là có thực. Thế nhưng, đối với trường hợp này, nó được đưa vào sử sách với một dòng nho nhỏ là bởi sau đấy có "chuyện động trời" xảy ra. Còn những lần báo tin, thông báo, đưa tin khác vẫn có nhưng chỉ khác ...... mà thôi.

Thông tin đó có quan trọng và cần kíp với Đồn biên phòng, LLVT tiền tiêu ở biên cương tổ quốc không? Có! Nhưng đối với toàn quân hoặc Thủ trưởng đơn vị cấp Quân khu, F hay cấp cao hơn nữa thì đã đủ "yếu tố cấu thành" mà ra mệnh lệnh chiến đấu số 1 hoặc vào cấp 1 sẵn sàng chiến đấu chưa nhỉ?

Nếu mỗi lần như vậy, diễn ra trong suốt một thời gian dài và ta đều vào cấp báo động chiến đấu thì mệt lắm. Nhân dân báo => ta vào cấp chiến đấu, tuyến 1 giương súng chờ đợi => địch vẫn im ắng, điên à mà đánh lúc này,  Wink. Một thời gian sau ta hạ cấp, tuyến 1 lui về tuyến phòng ngự cơ bản => lại có tin, lại vào cấp => địch vẫn im và chờ đợi, đợi đủ thời cơ, đủ thuận lợi, đủ để đảm bảo thành công thắng lớn mới đánh ào ạt. Ai cũng vậy thôi nhỉ, nguyên tắc cơ bản của nghệ thuật quân sự.  Grin.

Vậy thì làm sao mà có được : Dòng trích dẫn nào, của cấp nào, nói về việc ta đã biết trước quân TQ tấn công vào rạng sáng ngày 17/02 ? . Nếu sử nào, sách nào hay ai đó khẳng định câu nói/ việc này thì chắc là viết sau sau cuộc chiến với ý tưởng nào đó mà thôi...... Wink

2.
Trích dẫn
...2/ Nếu biết trước, ngày 16/02, các cấp của ta, đã ra lệnh cho các đơn vị ở tuyến 1, các địa phương ở tuyến 1 như thế nào ? ....

Không có dữ kiện nếu trong thực tế đã xảy ra, nếu có thì cuộc chiến đã khác, phải không ạ.
Còn với tuyến 1, ta gặp bất ngờ khi phía Trung Quốc đánh sáng 17/2. Nhưng phải thừa nhận với nhau rằng, dù bất ngờ nhưng do công tác chuẩn bị khá tốt, ta bớt nhiều lúng túng, bớt nhiều khủng hoảng và đâu có bị vỡ trận như Pôn Pốt. Đấy là điều cơ bản nhất mà em đã phải cố gắng viết/ so sánh một cách tương đối ở bài #292 và các bài khác trước đó (từ trang 19). Nếu không có phương án phòng thủ chu đáo, liệu ta có giữ được, cản được, chặn được làn sóng biển người của đối phương; chưa kể bài vu hồi hiểm ác với phương thức tấn công truyền thống của Trung Quốc tại thời điểm đó.

3.
....Nếu biết trước, tại sao lại có tình trạng như ở đồn biên phòng Pò Hèn: “….Trận đánh sáng hôm đó, ngày 17-2 nhằm vào ngày thứ bảy. Chiều thứ sáu, anh em từ các trạm biên phòng còn về đồn Pò Hèn giao lưu bóng chuyền. Anh Bùi Hữu Liễn từ trạm kiểm soát Bắc Phong Sinh về đánh bóng xong, định quay trở lại trạm thì anh em báo: Ngày mai thứ bảy, có trận giao hữu với anh em công nhân Lâm trường Hải Ninh, thôi thì ở lại, đằng nào mai cũng xuống lại đồn.Vậy là anh Liễn ở lại, và sáng hôm sau không phải trận bóng giao lưu với anh em Lâm trường Hải Ninh như dự tính, thay vào đó tiếng súng khởi đầu cuộc chiến tranh biên giới đã nổ ra, Liễn đã cùng anh em trong đồn chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. …”, “….. cả đồn biên phòng chỉ có 1 người sóng sót, do đi về đặc khu Quảng Ninh để họp…”

Hoặc: UBND Tỉnh Cao Bằng, vội di tản, quên cả con dấu.

Hoặc: Công ty xây dựng số 11 của Bộ XD ở khu a-pa-tit Lào Cay, cho dù đã thành lập hẳn 1 trung đoàn tự vệ, nhưng không bắn lại một phát súng nào, vội di tản mà bỏ lại toàn bộ máy móc thiết bị. Sự việc rất không hay ho này, đã làm Bộ XD phải ra quyết định xóa phiên hiệu công ty 11, để khỏi thẹn...

Đối với đồn biên phòng Pò Hèn ở Quảng Ninh, em không biết bác dẫn tin từ nguồn nào. Còn khi em tìm trên mạng những thông tin ấy:  Báo tuổi trẻ đưa tin chẳng hạn thì những dòng trước đó khá hay đấy,  Grin.

Trích dẫn
...Đành rằng từ sau tết năm ấy, tình hình ở Pò Hèn có căng thẳng hơn. Từ bên kia biên giới, thỉnh thoảng nhiều loạt AK được bắn thẳng vào đội hình sản xuất của anh em công nhân lâm trường. Tuyến hàng rào kẽm gai, hệ thống mìn bố phòng nhiều lần bị địch đêm đêm lẻn sang cắt gỡ.

Ngày 16-2-1979, anh em quan sát thấy phía công xã Thán Sản bên kia biên giới có 40-50 chuyến xe chở lính đến đóng đối diện đồn Pò Hèn.
Dù tinh thần chuẩn bị đối phó với một cuộc chiến tranh đã được anh em quán triệt, đêm đêm anh em vẫn phải trực chiến ngay hầm hào công sự, nhưng cuộc sống biên ải vẫn cứ diễn ra, theo nhịp độ vừa căng thẳng cảnh giác vừa bình thường như nó vốn có.

Trận đánh sáng hôm đó, ngày 17-2 nhằm vào ngày thứ bảy. Chiều thứ sáu, anh em từ các trạm biên phòng còn về đồn Pò Hèn giao lưu bóng chuyền. Anh Bùi Hữu Liễn từ trạm kiểm soát Bắc Phong Sinh về đánh bóng xong, định quay trở lại trạm thì anh em báo: Ngày mai thứ bảy, có trận giao hữu với anh em công nhân Lâm trường Hải Ninh, thôi thì ở lại, đằng nào mai cũng xuống lại đồn. ...

Hai cán bộ chỉ huy của Pò Hèn trong trận chiến ấy, ngoài anh hùng liệt sĩ Đỗ Sĩ Họa còn có thượng úy Phạm Xuân Tảo. Ngồi trò chuyện với chúng tôi, khi nhắc đến Phạm Xuân Tảo, anh Lý không sao nén được xúc động: “Cả cuộc đời của anh Tảo là sự hi sinh, cho đến khi ngã xuống!”.

Vốn là chỉ huy của một đồn biên phòng ở biên giới Tây Ninh, chưa kịp hưởng hạnh phúc của ngày hòa bình sau năm 1975, cuộc chiến mới ở Tây Nam đã khiến anh Tảo không kịp có với người vợ đã cưới hơn 10 năm ở quê nhà Đông Hưng (Thái Bình) một đứa con. Hiểu hoàn cảnh của anh, cấp trên đã điều động anh ra công tác ở khu vực phía Bắc, gần gia đình hơn so với chặng đường Thái Bình - Tây Ninh xa ngút ngàn.

Về nhận công tác ở Ban chỉ huy công an vũ trang tỉnh Quảng Ninh (nay gọi là bộ đội biên phòng), anh Tảo nhận được điều động lên làm chính trị viên đồn Pò Hèn. Vừa về tới đồn Pò Hèn chiều 15-2, anh lập tức cùng với đồn phó quân sự Đỗ Sĩ Họa đi kiểm tra hệ thống công sự bố phòng. Không ai ngờ chỉ hai đêm sau khi anh Tảo về đơn vị mới, rạng sáng 17-2 quân Trung Quốc đã mở cuộc tiến công xâm lược trên toàn tuyến. ....

Còn dòng này:
Trích dẫn
...cả đồn biên phòng chỉ có 1 người sóng sót, do đi về đặc khu Quảng Ninh để họp....
thì em đã đưa tài liệu rõ ràng về cuộc chiến ở đồn biên phòng Pò Hèn và trường hợp của Hoàng Thị Hồng Chiêm rồi còn gì nhỉ (ở đây ạ). Ta đánh đến trưa, Đồn hy sinh 32 CBCS, 11 người về được tuyến sau, địch trả giá 250 mạng lính.

Còn những việc bác nêu về: UBND tỉnh Cao Bằng vội di tản quên con dấu hay ta lập cả trung đoàn tự vệ mà không bắn phát súng nào....?

Nhưng quả thật, tại thời điểm đó với thế bất ngờ, liệu ai nói trước được mình sẽ làm được gì nhỉ? Chỉ một câu nói: xe tăng Trung Quốc đang ầm ầm tiến vào thị xã Cao Bằng rồi, chạy thôi là cả một hiệu ứng khủng hoảng tâm lý xảy ra. Lính có khi cũng chạy cứ gì nói đến cán bộ khối Dân - Chính - Đảng và dân.

Đâu cứ phải là cứ ấn súng vào tay và huấn luyện vài đường cơ bản cho những người thợ/ người nông dân là họ trở thành người lính thực thụ ngay được,  Grin.

Việc thành lập hẳn một trung đoàn là đúng vì nó phù hợp với chủ trương của ta và tình hình lao động của mỏ:
Trích dẫn
...Năm 1976, năm đầu mừng đất nước thống nhất, cả nước đi lên CNXH, mỏ sản xuất đạt sản lượng cao nhất trong 10 năm (1966-1976). Trong khí thế thi đua đã có 40 Tổ lao động XHCN, 127 chiến sĩ thi đua, 4.537 lao động tiên tiến.

....Tự vệ mỏ cùng quân dân địa phương chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trong chiến tranh biên giới tháng 2/1979. Mỏ bị tàn phá nặng nề  phải đóng cửa lần thứ II....

Nhưng nếu nói họ không bắn một phát súng nào thì có quá quá không nhỉ,  Grin.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #303 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2014, 04:07:33 pm »

Thôi, bỏ qua đi, quangcan à.  Wink  Grin
Lịch sử đã cho thấy, thực tế, vào cái ngày 17/02 ấy, quân và dân ta ở tuyến 1, thực sự bất ngờ.
Còn về đại cục, ở tầm trung ương và quốc gia, tất thẩy mọi người đều đã biết được âm mưu thâm độc của Trung Quốc, cũng như dã tâm xâm lược nước ta, của bè lũ bành trướng Bắc Kinh.
Cái này thì ‘biết rồi, khổ lắm, nói mãi’.
Cũng như ngày hôm nay – ngày 13/03/2014 (trước ngày 14/03 một ngày), tất thẩy chúng ta, đặc biệt là lực lượng Hải quân trên quần đảo Trường Sa – các nhà dàn DK, đều đã biết trước rằng : với dã tâm thực thi ‘đường lưỡi bò’, bè lũ phản động trong giới cầm quyền TQ, trước sau gì thì nó cũng đánh úp 1 vài bãi cạn chưa có quân đóng trú của Hải quân ta, rồi cắm lên đó mấy cái nhà ‘cao cẳng tiền chế’.
Biết thế, để nâng cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu.
Nhưng ngày nào nó cắm ‘nhà cao cẳng’, có mà Khổng Minh sống lại cũng không biết được. Nếu cho KM là người Tầu, thì có là ông Trạng Trình của ta cũng chịu.
Ta cũng sẽ bị bất ngờ thôi. Và nó sẽ cắm được vài cái. Vấn đề là : ta sẽ xử lý việc đó như thế nào.
Về vấn đề sử lý bất ngờ này, quân và dân ta ở tuyến 1, vào ngày 17/02/1979, đã để lại những bài học và những giá trị vô giá cho đời sau.
Tớ sẽ viết về việc xử lý bất ngờ.  Wink

Viết đê, viết nhiều vào,  Grin.
Chiến tranh BGPB hay bất cứ một cuộc chiến tranh nào khác của dân tộc ta, để khai thác hết các dữ kiện, các góc độ lịch sử thì còn nhiều lắm (em sẽ cố gắng mô tả một vài trận lớn nhỏ với tình hình thực tế và hoàn cảnh tại thời điểm lịch sử để minh chứng,  Grin). Vô vàn những cái hay, nét đẹp và tính nghệ thuật quân sự được vận dụng nhuần nhuyễn trong thực tế chiến đấu. Các cụ nhà mình tổng kết hết đấy, phê bình nhau ác liệt lắm đấy - không phải để dìm hàng mà là để có những bài học lịch sử cho con cháu.

Trích dẫn
...Qua thời gian đầu chỉ đạo, tổ chức chiến đấu, Cục Tác chiến cũng có một số khuyết điểm:

- Cục Tác chiến nắm được những ý kiến, nhận định của quân ủy Trung ương về âm mưu hành động của đối phương nhưng chuẩn bị kế hoạch phòng thủ toàn diện còn chậm, nhất là triển khai việc bố trí lực lượng, thiết bị chiến trường phía Bắc, tổ chức phòng thủ trên cơ sở vận dụng tổng hợp hai phương thức tác chiến chiến lược;

- Nhận thức về "hậu phương bao la”, "khu đệm an toàn" phần nào ảnh hưởng đến cảnh giác sẵn sàng chiến đấu trong nhiều lĩnh vực, nhiều năm;

- Việc chỉ đạo bảo đảm sẵn sàng chiến đấu trên hướng Bắc khi bắt đầu mở chiến dịch tiến công giải phóng Cam-pu-chia, đã nâng cấp báo động. Nhưng có lúc không nắm chắc được tình hình nên đã hạ cấp báo động trước ngày chiến sự nổ ra. Tuy ta không bị bất ngờ về chiến lược, nhưng bị bất ngờ về tác chiến chiến dịch. Các tỉnh, huyện biên giới chưa có kế hoạch chuẩn bị toàn diện để chuyển sang thời chiến và phòng thủ dân sự....

Khá rõ ràng nhỉ,  Wink.

Chúng ta đang có nhiều quan niệm sống chung ở thời kỳ hiện đại: "sống chung với lũ" này, "sống chung với HIV" này,.... nhưng Tổ tiên ta đã dạy một bài học sống chung từ lâu lắm rồi, từ thời mở đất mở nước: "sống chung với giặc phương bắc". Đời truyền đời, người truyền người, ghi tâm khắc cốt mà nhớ, mà phòng bị, mà sẵn sàng cảnh giác cao độ: "chúng chỉ chuyển từ hình thức này sang hình thức khác, địa bàn ranh giới này sang khu vực khác, phương pháp này sang phương pháp khác mà thôi". Dã tâm không đổi, mưu mô và hành động ngày càng thâm độc và quỷ quyệt. Cái bất ngờ là không thể tránh khỏi, như bác baleo nói nhưng để không bị động và có các phương án giải quyết nhanh gọn thấu đáo mọi âm mưu thì cần, cần lắm công tác chuẩn bị chu đáo và kế hoạch tác chiến cụ thể cho mọi phương diện, địa bàn chủ quyền quốc gia.

Vui vui một chút thì có thể thấy rằng, ta đang đưa các cụ trở lại chiến trường xưa, lớp Gepard Đinh - Lý - Trần .... sẽ đối đầu tàu ngầm Type 039 lớp Tống, Type 039A lớp Nguyên của Trung Quốc. Vậy đấy, hãy tối ưu hóa công tác chuẩn bị và sẵn sàng cho mọi tình huống,  Wink
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #304 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2014, 04:34:21 pm »


  Bởi vì nếu biết chắc chắn về sự kiện 17/2/79 sẽ không có chuyện như đại tá Lượng nói Bộ trưởng quốc phòng Văn Tiến Dũng hạ cấp báo động, rồi đi Campuchia. Nếu biết thì cũng theo đại tá Lượng , không thể có chuyện Tướng Đàm Quang Trung hôm 16/2/79 vẫn nói chuyện với cán bộ,chiến sĩ,nhân dân xã Quang Lang , Cao bằng rằng  “ có cho kẹo TQ cũng không dám đánh” . ...

Bác à! Hôm đó, Cụ Đàm Quang Trung lên dây cót tinh thần cho bà con các dân tộc tại biên giới chăng?   Wink. Bên Quân y họ nói cụ ý đã chỉ đạo tổ chức và chủ trì hội nghị kết hợp quân dân y các tỉnh biên giới phía bắc thuộc Quân khu 1 ở Cao Bằng ngày 21/11/1978 để chuẩn bị cho chiến tranh đây này:
Logged

baoleo
Moderator
*
Bài viết: 1500


« Trả lời #305 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2014, 04:52:22 pm »

.........
Còn với tuyến 1, ta gặp bất ngờ khi phía Trung Quốc đánh sáng 17/2. ............

Thôi, khỏi trích dẫn sách nữa  Grin.
Nếu ta đã cùng nhau thống nhất được rằng:
-Ngày 17/02/1979, quân và dân ta ở tuyến 1 đã bị bất ngờ.

Thì thôi, hết chuyện.  Grin
Quangcan cứ tiếp tục trích dẫn đi nhé, bởi cũng có nhiều bạn đọc, muốn đọc lại các tư liệu về những chuyện: 'biết rồi- khổ lắm - nói mãi'  Grin
Tớ trả cải topic này cho quangcan  Grin
Logged
quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #306 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2014, 11:47:41 am »

Thế là thôi, mất mất ông khách sộp rồi,  Wink.

Một ví dụ ở một mỏ khác cũng có một trung đoàn tự vệ và họ đã làm những gì? Có nên lấy một vài sự việc, hiện tượng ở một vài nơi để tổng quát/ khái quát hóa vấn đề:

Trích dẫn
...Trong lúc công nhân, cán bộ mỏ đang phấn khởi thi đua lao động sản xuất, quyết tâm hoàn thành toàn diện kế hoạch 5 năm 1976-1980 được cấp trên giao, thì tình hình an ninh biên giới Việt - Trung bắt đầu diễn biến phức tạp, ngày càng trở nên gay gắt hơn. Cuối 1978, đã trở nên căng thẳng, khả năng xảy ra xung đột là khó tránh khỏi.
Là một mỏ sản xuất than đặc chủng, cung cấp cho công nghiệp xi măng "cơm gạo" của ngành xây dựng, một cơ sở kinh tế quan trọng nằm trong chuỗi các công trình trọng điểm của đất nước, lại nằm ngay sát biên giới với Trung Quốc, Đảng ủy, Ban giám đốc và công nhân, cán bộ mỏ đều xác định, nếu chiến tranh nổ ra, tất mỏ sẽ là mục tiêu số 1 bị đánh chiếm và phá hủy. Xác định được tầm quan trọng và nhiệm vụ như vậy, công nhân, cán bộ mỏ xây dựng quyết tâm bằng mọi giá phải giữ mỏ, không để địch đánh chiếm; dù phải hy sinh vẫn quyết chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ mỏ và bảo vệ biên cương của Tổ quốc.

Trước diễn biến ấy, ngày 2-9-1978, Tư lệnh Quân khu I ký quyết định thành lập Trung đoàn tự vệ 213 (E213) mỏ than Na Dương với quân số gần 1000 chiến sỹ, được biên chế thành 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo cao xạ, 1 đại đội hỏa lực ĐKZ và súng cối, 3 phân đội công binh, trinh sát và thông tin. Trung đoàn được trang bị vũ khí, khí tài gồm: 4 pháo 37 ly, 4 pháo 14,5 ly, 6 pháo 12,7 ly, 2 khẩu ĐKZ82, 2 cối 82 ly, 60 cối 6 ly, 2 máy thông tin 2W (từ tháng 3-1979 được trang bị thêm 1 máy 15W. Tổ thông tin này nằm dưới sự quản lý của mỏ để báo cáo tình hình mọi mặt với Bộ, với Tỉnh và Quân khu. Đến tháng 6-1983 mới rút về), 20 khẩu súng ngắn K54, 350 khẩu AK, 22 khẩu B40, 250 khẩu CKC, 12 khẩu trung liên RBD, 4 ống nhòm, hàng ngàn mìn chống tăng, mìn Ponz 2, mìn K58, lựu đạn và các khí tài phục vụ chỉ huy chiến đấu.

Ngày ra mắt, E213 đã vinh dự được Tỉnh ủy tỉnh Cao Lạng trao lá cờ truyền thống mang dòng chữ "Đoàn kết quyết thắng". Đứng dưới lá cờ "Đoàn kết quyết thắng" là 3 thế hệ: thế hệ Chiến sỹ Điện Biên, đánh thực dân Pháp, mái đầu đã bạc; thế hệ đánh Mỹ, vừa rời tay súng, mái đầu điểm bạc; và thế hệ thứ ba, được sinh ra sau hòa bình lập lại, đang độ tuổi thanh xuân...
Trung đoàn có 3 ban: Tham mưu, Chính trị và Hậu cần. Bí thư Đảng ủy, ông Trần Lê Mạo kiêm Chính ủy Trung đoàn; Giám đốc mỏ, ông Triệu Tùng kiêm Trung đoàn trưởng; Trưởng ngành đời sống của mỏ, ông Nguyễn Đức Am là Trung đoàn phó Tham mưu trưởng, chủ tịch công đoàn, là phó chính uỷ và 3 sỹ quan quân đội làm cố vấn, gồm 1 thiếu tá và 2 đại úy (đến tháng 6-1981, tổ cố vấn rút về quân khu; tháng 7, Ban chỉ huy quân sự tỉnh cử 2 sỹ quan thay thế, gồm 1 trung tá và 1 đại úy. Tháng 6-1983 nhóm này rút về tỉnh cùng tổ thông tin 15W).

Ngay sau khi được thành lập, trung đoàn tự vệ sắc áo công nhân vừa sản xuất vừa luyện tập quân sự. Người đi ca 1 về tập ca 2, người đi ca 2, ca 3 tập ca 1, với khí thế và quyết tâm rất cao. Mỏ điều công nhân xây dựng trận địa phòng thủ các tuyến 1, 2, 3, xây dựng 35 trận địa pháo phòng không và mặt đất, hàng trăm hầm chiến đấu cá nhân trên trận địa, đào hàng chục ngàn mét giao thông hào, cài đặt 5 ngàn quả mìn hỗn hợp, tất cả được khẩn trương hoàn thành trong thời gian ngắn nhất.

Cùng với Trung đoàn tự vệ mỏ, còn có Sư đoàn 338 (F338) (là đơn vị làm kinh tế) mới triển khai vào cuối năm 1978. Tháng 1-1979, đoàn cán bộ Sư đoàn cùng ban chỉ huy Trung đoàn đi thị sát địa hình thực tế và hiệp đồng với mỏ những tình huống giả định sẽ xảy ra. Ngày 13-2-1979, đoàn cán bộ của Bộ chỉ huy (BCH) quân sự tỉnh vào làm việc với Trung đoàn, xác định quyết tâm của tỉnh cũng như của BCH quân sự về việc chiến đấu bảo vệ mỏ.

5 giờ sáng ngày 17-2-1979, tiếng pháo và tiếng súng bộ binh nổ dữ dội ở phía cửa khẩu Chi Ma. Trung đoàn điện hỏi Huyện đội và Tỉnh đội đều bị mất liên lạc. 6 giờ, có tiếng máy bay trên bầu trời phía biên giới. Mỏ lệnh các khẩu đội pháo vào vị trí sẵn sàng chiến đấu, các đơn vị khác vẫn sản xuất bình thường; tự vệ mang theo vũ khí và cơ số đạn đã được trang bị, tuyệt đối không được rời vị trí khi chưa có lệnh. Toàn bộ thông tin liên lạc đã bị cắt đứt. Khoảng 9 giờ, từng đoàn người dân ở các bản giáp biên đi sơ tán về tuyến sau cho biết chiến sự đã xảy ra ở Chi Ma. Đến 12 giờ trưa, mỏ quyết định xuống Đình Lập liên hệ với F338, xuống tới Trung đoàn 461 thì được biết chiến sự đã nổ ra trên toàn tuyến biên giới.

3 giờ chiều, lãnh đạo E213 và lãnh đạo mỏ hội ý, thông báo tình hình chung, đồng thời quyết định ca 2 ngừng sản xuất, trừ lực lượng sẵn sàng chiến đấu, còn lại chuẩn bị khi có lệnh sơ tán. 6 giờ tối, lệnh sơ tán được phát ra, theo phương án sơ tán người già và trẻ em trước, bắt đầu từ khu 1 đến khu 10. Riêng khu vật liệu (cũ) sơ tán sau cùng. Địa điểm sơ tán là các xã Nam Quan, Xuân Dương, Ái Quốc (Lộc Bình), vì các xã này có tuyến đường thông về tỉnh Hà Bắc; chỉ mang theo những tài sản quý và lương thực, thực phẩm cần thiết. Đến 1 giờ sáng ngày 18-2, toàn bộ hơn 250 gia đình công nhân mỏ đã được sơ tán. Công việc ở khu sơ tán giao cho đồng chí Hoàng Văn Bính chỉ huy. Lãnh đạo mỏ xác định, chiến sự không chỉ ngày một ngày hai mà giải quyết được, vì vậy cần củng cố nơi sơ tán để anh em yên tâm chiến đấu. Lãnh đạo mỏ thành lập bộ phận hậu cứ (khu sơ tán), gồm 1 lãnh đạo mỏ, khu trưởng 10 khu, cùng các đồng chí đảng viên già không ở lại được; có nhiệm vụ liên hệ với chính quyền và các bản nơi sơ tán để có chỗ ăn, ở. Mỏ cử một tổ y sỹ mang theo thuốc men vào chăm sóc sức khỏe; một tổ bảo vệ vào làm công tác trật tự trị an. Khó khăn là lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm, thì đã được bà con vùng sơ tán cưu mang, chia sẻ. Có một chuyện đáng nhớ: cháu Vũ Đình Chiến, con ông bà Vũ Thóa được sinh ra khi sơ tán, đã mẹ tròn con vuông.

Thiết bị của mỏ được tổ chức sơ tán về Nông trường Thái Bình, gồm một số linh kiện quan trọng của máy xúc EKG 4,6m3, các máy mài, máy vạn năng và một số thiết bị khác, nếu cần có thể đưa về Sơn Động (Hà Bắc). Giấy tờ, tài liệu sơ tán về Trạm điều dưỡng Hà Bắc.
Ngay trong đêm 17-2, tổ xe tập lái của mỏ tại Pò Lọi đã tham gia chở thương binh của Trung đoàn 123 (bộ đội địa phương) ra bệnh viện Lạng Sơn.
Sáng 18-2, đoàn cán bộ tác chiến của Sư đoàn 338 lên làm việc và thông báo với mỏ: Sư đoàn đã cử Trung đoàn 462 (E462) phối hợp với Trung đoàn tự vệ của mỏ cùng chiến đấu bảo vệ mỏ. Hiện E462 vẫn đang ở An Châu (Quảng Ninh), chiều 18-2 mới hành quân thấu. Trước tình hình đó, mỏ đã điều 10 xe Volvo và xe gấu xuống chở quân, các xe còn lại tiếp tục chở các thứ vào khu sơ tán; sau đó mỏ điều 5 xe Isuzu sang phục vụ cho Sư 338, tiếp 6 xe Kpa3 phục vụ E462, cho đến khi chiến tranh kết thúc.
Để ổn định lực lượng, từ 20-2-1979, các đơn vị bắt đầu ăn ở tập trung. Mỏ giao cho các bếp ăn ca phục vụ hai bữa chính, là các bếp công trường khai thác, bếp vận tải, bếp cơ quan, lò bánh mỳ Nà Cáy. Lương thực xuất gạo, bột mỳ dự trữ trong kho ngành đời sống; thực phẩm huy động của các gia đình cán bộ, công nhân, ghi lại số liệu, sau này mỏ sẽ thanh toán. Do không có thông tin liên lạc, nên khi chiến sự đã xảy ra, Bộ vẫn yêu cầu mỏ tổ chức sản xuất. Trước tình hình đó, Ban chỉ huy Trung đoàn đã hội ý cân đối hậu cần, cử 2 cán bộ về Hà Nội báo cáo và xin gạo, đồng thời tìm thủ kho gạo bên Lương thực xin gạo, nhưng không được. Ban chỉ huy quyết định phối kết hợp lực lượng tự vệ với Sư đoàn 338 để được cung cấp hậu cần. Anh em tự vệ yên tâm chiến đấu. Đến chiều 23-2, đồng chí Phạm Khắc, Thứ trưởng phụ trách quân sự của Bộ lên kiểm tra, đã tán thành phương án tác chiến và hiệp đồng chiến đấu của mỏ với Sư đoàn 338.

Phía Bản Chu (xã Khuất Xá), E462 đang chiến đấu cầm chân địch. Lực lượng xe của mỏ tiếp tục tiếp tế đạn dược, lương thực cho Trung đoàn. Sở chỉ huy tiền phương của Sư 338 lúc này đã di chuyển lên Đội lâm nghiệp xã Lợi Bác để tiện cho việc chỉ huy E462 và phối hợp với mỏ. Chiều ngày 22-2, đồng chí trung đoàn phó E462 vào làm việc với mỏ và cho biết, qua công tác trinh sát cho thấy, địch đang tiến hành chuyển quân về hướng tấn công vào mỏ, nhận định địch sẽ tấn công vào mỏ. Hiện lực lượng của trung đoàn đã huy động hết, không còn dự bị; có thể sáng hôm sau địch sẽ tấn công vào mỏ, nên mỏ cần chuẩn bị chiến đấu. Được trung đoàn thông báo, mỏ đã lệnh cho các đơn vị vào vị trí chiến đấu. Sáng hôm sau, lúc khoảng 5 giờ, địch bắt đầu nã pháo vào mỏ và cho bộ binh tấn công vào phía Bản Chu, bản Cảng. E462 đã chiến đấu ngoan cường, chặn đứng nhiều đợt tấn công của chúng. Bộ đội ta đã bị thương vong một số, được chuyển về tuyến sau (mỏ). Trước tình hình đó, mỏ lệnh cho Trạm y tế tập trung toàn bộ số y, bác sỹ và thuốc men băng bó và cứu chữa cho bộ đội. Lúc này Trạm y tế mỏ trở thành trạm xá tiền phương của Trung đoàn 462 và Trung đoàn tự vệ mỏ. Khi địch nã pháo, lực lượng bộ binh phía trước của chúng bắt đầu tấn công. Một số anh em tự vệ dao động rút về tuyến sau, đã được lãnh đạo Trung đoàn động viên tiếp tục quay lại vị trí chiến đấu.

Sáng 23-2, Sư 338 mời Ban chỉ huy E213 xuống để thống nhất phương án tác chiến. Tại sở chỉ huy tiền phương, Ban chỉ huy được Sư trưởng sư đoàn thông báo tình hình trên toàn tuyến biên giới; phương án bảo vệ mỏ; tăng cường các tuyến phòng thủ 1 và 2; mỏ cần có kế hoạch chuẩn bị lực lượng chi viện nhân vật lực, đạn dược, vũ khí cho Sư đoàn.

Sau khi thống nhất với F338, về đến sở chỉ huy, ban chỉ huy E213 quyết định triệu tập các đồng chí đảng viên ở các đơn vị về họp. Địa điểm họp tại Bãi Tre (khu Khe Xanh) của sở chỉ huy. Trung đoàn trưởng và chính ủy thông báo sơ bộ tình hình cho tất cả các đảng viên biết và quyết tâm của ta. Trung đoàn trưởng hạ quyết tâm chiến đấu đến cùng để bảo vệ mỏ; phổ biến nhiệm vụ chiến đấu nếu địch liều lĩnh đánh vào mỏ, đồng thời ghi tên những người tình nguyện sang phối hợp với E462 để ra tuyến 1 chiến đấu. Lực lượng công binh gài mìn xong, trụ lại tại các kho, nếu địch tấn công vào, vật tư, thiết bị không di chuyển kịp sẽ cho nổ. Số anh em xung phong ra tuyến trước chiến đấu lên tới 300 đồng chí. Đợt 1, E213 mới thành lập 3 trung đội, gồm 96 chiến sỹ, được trang bị súng AK và súng B40, tập trung tại nhà ăn Cơ bản; đến 5 giờ chiều bàn giao cho E462, tại sân kho xã Sàn Viên. Cùng ngày, mỏ đã bàn giao cho E462 1 khẩu ĐKZ82 và 2 khẩu cối 82 ly cùng cơ số đạn; kho mìn các loại bàn giao cho F338 để phục vụ phòng thủ bổ sung các trận địa sư đoàn đảm nhận.
Từ ngày 24-2, địch nã pháo liên tục và dữ dội vào mỏ với hàng ngàn quả các loại, đồng thời tập trung tấn công vào hướng mỏ. Đêm 25-2, địch đã chiếm Bản Chu bên phía nam sông Kỳ Cùng, E462 kịp thời nổ súng, đánh bật chúng trở lại bờ bắc vào sáng ngày hôm sau. Từ đó, sự gắn bó giữa E213 (Na Dương) và E462 (F338) càng sâu sắc và tiếp tục chiến đấu kiên cường trên tuyến 1 (bản Cốc Nhãn, xã Yên Khoái; bản Luồng, xã Tú Mịch); sau về phòng thủ tuyến 2 (bản Chu, bản Tầm Chả, bản Cảng xã Khuất Xá), tạo thành một vành đai kiên cường bảo vệ mỏ. Trong chiến đấu, tự vệ mỏ đã có 2 đồng chí hy sinh là Nông Minh Quý và Nông Minh Đức, bị thương nặng 2 đồng chí Nguyễn Như Hải và Bùi Xuân Hợi. Nhiều đồng chí khác bị thương nhẹ, số các đồng chí này không rời trận địa. Và còn có các tấm gương anh dũng chiến đấu như lái xe Vi Văn Thắng, Nguyễn Văn Sinh và chiến sỹ súng B40 Dương Công Điều... Trong lúc đang chiến đấu ác liệt, mỏ tiếp tục điều xe chở bộ đội Trung đoàn 196 lên tăng cường và chuẩn bị quân số tự vệ bổ sung đợt 2 cho E462....

Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #307 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2014, 11:48:47 am »

Trích dẫn
...Sau 10 ngày tấn công bằng pháo binh và bộ binh hòng chiếm mỏ than Na Dương, song địch đã không đặt chân vào được. Mỏ vẫn bảo toàn được lực lượng xe máy, thiết bị.
Trong chiến đấu, mỏ vẫn thường xuyên liên lạc và nhận được sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ. Một số bức điện khẩn mỏ gửi đi còn lưu lại:

Điện khẩn số 8 (7h30, ngày 6-3-1979)
Mỏ Na Dương gửi Bộ điện và than

Tình hình chiến sự căng thẳng. Địch áp sát mỏ. Mỏ đã cử 3 trung đội tự vệ chi viện cùng E462 chiến đấu. 5 xe Isuzu F338 trưng dụng. 6 xe Kpa3 được điều động cho E462. Cẩu 6,5 tấn và cẩu 12,5 tấn phục vụ cẩu hàng. Máy xúc 4,6m3 và máy mài đã sơ tán xong. Giao cho lực lượng quân đội 6,4 tấn dầu, 8 tấn xăng, 2.625kg thuốc nổ, 13.363 kíp số 8, 15.779m dây cháy chậm, 4.350m dây nổ. Mỏ đang tháo máy mài trục cơ, máy doa. Trời mưa, tốc độ sơ tán chậm.

Điện khẩn số 9 (17h, ngày 7-3-1979)
Na Dương gửi Bộ điện và than

Địch chưa vào được mỏ. Bộ đội và tự vệ đang chiến đấu. Tiếp tục sơ tán thiết bị, nhưng do mưa nên xe chưa chuyển đi được. Xăng dầu tiếp tục giao cho F338.

Điện khẩn số 2, ngày 8-3-1979
Mỏ Na Dương gửi Bộ điện và than

Từ 17h ngày 17-3 đến nay, 8-3, địch nhiều lần pháo kích vào mỏ, trúng khu vực để phụ tùng, vật tư  nhưng không gây thiệt hại gì.

Thượng khẩn, 13h40, ngày 9-3-1979
Mỏ Na Dương gửi Bộ điện và than

Địch pháo kích vào mỏ từ 20h đến 24h ngày 8-3, từ 5h đến 6h ngày 9-3. Thiệt hại không đáng kể. 4h sáng ngày 9-3, lực lượng tự vệ của mỏ đang cùng E462 chiến đấu tại bản Tầm Chả (xã Khuất Xá). Tự vệ mỏ hy sinh 2 đồng chí, bị thương nặng 2 đồng chí. 18h tối làm lễ truy điệu.

Trong chiến tranh, tổng cộng mỏ đã điều động vũ khí, khí tài, nguyên, nhiên liệu gồm:
2 khẩu ĐKZ 82 ly và 42 quả đạn; 2 cối 82 ly và 890 quả đạn; 970 quả đạn cối 60 ly. Vận chuyển quân trang, quân dụng, vũ khí, lương thực, hậu cần nhu yếu phẩm tổng cộng 2.533 tấn; xăng 25,5 tấn, dầu diezen 14,5 tấn; thuốc nổ 2.695kg, kíp nổ 13.363 cái, dây cháy chậm 15.979m.

Chiến tranh kết thúc, tự vệ mỏ được giao nhiệm vụ tháo gỡ, rà phá mìn khu vực Nhà máy điện Lạng Sơn; đường điện 35kV Lạng Sơn - Na Dương, Lạng Sơn - Tam Lung; khu vực hai đầu ngầm Pò Lọi. Trong thời gian ngắn, lực lượng đã hoàn thành công việc, tháo gỡ được 152 quả mìn các loại, phá nổ 361 quả, cùng công binh F338 thu gom hàng ngàn quả mìn khác trên trận địa các tuyến 2 và 3; góp phần sớm đưa Nhà máy điện hoạt động trở lại, thông tuyến đường quốc lộ 4B đoạn qua ngầm Pò Lọi.

Trong cuộc chiến đấu bảo vệ mỏ, bảo vệ biên giới phía bắc, tập thể và cá nhân lực lượng tự vệ mỏ được khen thưởng:
- Trung đoàn tự vệ 213 được tặng Huân chương Chiến công hạng Nhì.
- Đồng chí Triệu Tùng được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba.
- 4 đồng chí được Trung ương Đoàn tặng Huy chương dũng cảm.
- 1 chiến sỹ tự vệ nữ được đi dự Festival Matxcơva.

Cũng từ năm 1979, cán bộ, chiến sỹ Sư 338, Trung đoàn 462 và công nhân, cán bộ mỏ than Na Dương trở thành các đơn vị kết nghĩa với nhau, cùng chia sẻ những khó khăn, thuận lợi trong chiến đấu cũng như trong huấn luyện, xây dựng đơn vị chính quy, hiện đại, trong sự phát triển cuả mỏ, của đơn vị; cho đến hôm nay, tình đoàn kết quân đội - công nhân từ ngày ấy vẫn keo sơn, bền chặt.

Sau khi chiến tranh biên giới kết thúc, tháng 4-1979, công nhân, cán bộ và lực lượng tự vệ mỏ vui mừng được đón đồng chí Nguyễn Đức Thuận, Chủ tịch Tổng công đoàn Việt Nam về thăm. Đây là nguồn động viên, cổ vũ kịp thời, quý báu với công nhân mỏ. Công nhân, cán bộ mỏ lại tiếp tục bắt tay vào giải quyết hậu quả sau chiến tranh, khẩn trương đưa sản xuất trở lại bình thường. Trước hết đưa số các gia đình đi sơ tán trở về; tổ chức ổn định đời sống cho họ; vận chuyển các thiết bị, vật tư từ các nơi sơ tán về, khẩn trương lắp đặt trở lại; mua thuốc nổ, nguyên, nhiên vật liệu phục vụ cho khai thác... Các phòng, ban, công trường, phân xưởng lại vào vị trí sản xuất như chưa hề đã xảy ra chiến tranh. Các phong trào thi đua được phát động, chỉ trong một thời gian ngắn, mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của mỏ lại trở lại với nhịp sống sôi động vốn có.....

nguồn: Vinacomin
Logged

BaZai
Thành viên
*
Bài viết: 10


« Trả lời #308 vào lúc: 20 Tháng Ba, 2014, 11:54:28 pm »

Chào các chú, các bác CCB.

Vì cháu có 1 người chú hiện đã mất, Ông đi từ những ngày cuối cùng 75 đến BGTN và cuối cùng là BGPB. Trong những khi hào hứng ông có kể rất nhiều chuyện về ông, đặc biệt là biên giới phía bắc. Trong đó có 1 số chi tiết mà đến giờ cháu rất thắc mắc.

- Ông là những người lính đầu tiên từ Kam về phía bắc, ông về bằng máy bay vận tải Liên Xô, trước khi trung quốc thoái lui 3 ngày. Không biết chi tiết này có chính xác không thưa các chú.

- Theo như ông nói trung quốc đánh thật và không thể đánh được nữa nên phải lui. Và không có chuyện dạy cho vn bài học gì ở đây, cũng như ông nói.  Khi ông lên đến mặt trận phong thổ thì đơn vị ông đã có trong tay 1 loại đạn có thể dùng cho những lòng pháo được tháo ra từ giàn kachiusa nhắm mục đích đánh du kích hay 1 kiểu đánh gì đó mà cháu không hiểu. loại đạn này theo như ông nói đã được liên xô dùng trong vụ biên giới xô trung và uy lực của nó là cứ 1 quả đạn được bắn ra thì trong vòng 300 đến 500 m2 không có sự sống nào tồn tại được.
Và ông tin là trung quốc lui quân vì nhiều lý do trong đó có phần xuất hiện rất nhanh loại đạn này trong tay các chiến binh từng trải vừa từ Kam về. Không biết loại đạn này là gì ? Cháu đi tìm tùm lum tà la nhưng cũng chưa hiểu gì về nó.

Cháu không phải là lính và cũng chưa đi lính bao giờ nên nói thật kiến thức quốc phòng không có. Nhưng đọc 1 mạch từ đầu đến cuối chảu hiểu thêm 1 điều. Thực ra các cụ lãnh đạo nhà mình suốt từ 75 đến 91 đã phá vây rất ngoạn mục. Thượng Lào, Ponpot, BGPB... và cả Biển Đông nữa.

Xin cảm ơn các Cựu Chiến Binh, Chúc các Chú khỏe mạnh.
« Sửa lần cuối: 21 Tháng Ba, 2014, 08:50:01 am gửi bởi BaZai » Logged
quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #309 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2014, 04:46:31 pm »

Cứ tưởng có mình Quân chủng Phòng không không hạ cấp báo động, hóa ra, F3/ sư đoàn 3 Sao Vàng cũng rứa,  Wink. Chà, gớm thật, nhiều bác cãi lệnh trên quá.  Grin
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM