Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:03:33 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Phan Đình Phùng - Cuộc đời và sự nghiệp  (Đọc 125278 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #40 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2008, 11:04:24 pm »














Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #41 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2008, 11:14:12 pm »


Phiên âm:

Tự Đức tam thập niên tứ nguyệt nhị thập cửu nhật phụng

Phúc thí:

Chế sách viết: Thiên vận ký hữu thường biến, thế vận khỉ vô long ô. Thượng cổ diểu mang cố vô khả luận, nãi đoan xác bất tranh chi thế, dĩ cự hữu Bản Tuyền, Trác Lộc chi chiến, chinh tru chi hậu khước cánh hữu thiện nhượng chi công. Đại đồng chi mỹ, do dĩ vi phi. Sở thượng các thù, bất năng vô tệ. Tự thị hất Minh, cập ngã Việt Đinh, Lý, Trần, Lê, hoặc trị hoặc loạn, hoặc hợp hoặc phân, tuy biến cố đa đoan, yếu bất xuất tư nhị giả. Kỳ gian dị đồng tà chính, khỉ bất năng trần? Hựu hữu tuần tập nhất ban, nhi vận tộ trường đoản bất đồng, kỳ cố an tại?

Đế, vương, bá chi đạo, kỳ biệt hà như? Kỳ hiệu hà tự? Nhân hậu hà trí uỷ mị? Phú cường hà trí kiêm tính?

Dĩ khí tiểu nhi năng khuông, dĩ vương tá nhi bất năng nhất thống.

Chúng định chi thuyết như hà khả tất, lý thế chi phân như hà khả thị?

Di địch nhập Trung Quốc, hà thuỷ hà chung, hà vi hà cực?

Thái Tây chư quốc, lập quốc nhật cửu, tòng nhân sinh dĩ lai, dĩ cố hữu chi. Vô luận chí Minh thuỷ kiến, kỳ chư tiền đại, khỉ tận vô văn? Cứu kỳ quy mô, hà dĩ xâm xâm nhật thịnh? Giảo chư vãng sự, quả phủ thiện kỳ? Cứu cánh kỳ quy, khỉ vô khả chế?

Tu nội giả vương, tu ngoại giả bá; tu nội giả dật, tu ngoại giả lao, kỳ thuyết quả năng tín phủ?

Kim đông phương chư quốc, giai dục khử ngã cựu tập, hiệu nhân tân đồ, dĩ trí phú cường, thẩm tư thị phủ?

Thả Phú nhân dữ ngã hữu cựu, tố tương vãng lai, hào vô oán khích, đặc dĩ trung gian, sảo khuê âm vấn. Dục tu cựu hảo, bất viễn nhi lai, vô nại ngôn ngữ văn tự bất thông, ngọc bạch nan trần, can qua viên cập. Thành trẫm hữu bất đắc dĩ xứ, niên khinh thức thiển, nhất ngộ nan truy.

Nguyên kỳ sơ tâm, phi dục chiếm nhân thổ địa, đặc dĩ tình nghĩa vi trọng, đắc thất vi khinh, cố bất hứa An Nghiệp vọng vi. Nhất nặc thiên kim, tận khiết tứ tỉnh dĩ hoàn ngã. Tứ tỉnh như thử, lục tỉnh khả tri, kỳ quốc quân đại thần nguyên soái giai tố hữu thử hảo ý.

Gia dĩ cận lai đôn mục thân thiết, hữu vô tương trợ, lợi đồng lạc cộng, tận thích tiền phi. Nhược tảo hoàn chi, phi duy nghĩa thanh trứ vu tứ hải, lệnh văn thuỳ vu thiên thu, nhi thả hữu khai thương đa nhập chi ích, vô viễn vận bất thường chi tổn. Thất gia tương khánh, tật khổ thậm sưu, tưởng dĩ trù chi thục hĩ, vô đãi phiền ngôn. Duy bất tri hà ý, cô thiểu hoãn nhĩ. Nhiên nhi hoãn nhất nhật, tắc tăng nhất nhật lao phí tật khổ chi ngu, hạt nhược đoạn nhiên tảo hoàn chi vi tận thiện tận mỹ hĩ.

Trí giả bất hoặc, bất sử thất hoan. Nhân giả bất nhẫn, bất sử thất sở ký tự đắc chi, tất tự hoàn chi, phương vi nhân trí tín nghĩa vô gián. Nhược tất đãi cầu thuỷ ứng, tắc diệc vãn hĩ, hà túc quý tai!

Sĩ quân tử hoài bão hữu tố, kinh tế vi tâm, học cổ dĩ nhập quan, sinh tài tất hữu dụng. Kỳ tất ý phu trần, vô tường cổ nhi lược kim, vô quải nhất nhi lậu vạn. Sự tất hữu trưng, ngôn tất khả dụng, dĩ vô phụ Trẫm hiếu vấn hiếu sát chi chí ý, Trẫm tương thuỳ lãm nhi thái dụng yên.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #42 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2008, 11:15:58 pm »


***


Thần đối:

Thần văn, Thiên vận hữu tuần hoàn chi bất nhất, thế vận hữu thịnh suy chi bất đồng.

Cổ kim dị biến, thế đại hữu thù. Nhiên thống nhi quan chi, nhất trị tất hữu nhất loạn, nhất loạn phục hữu nhất trị, thử thịnh giả bỉ suy, bỉ thịnh giả thử suy, nãi tất nhiên chi lý dã. Cố đương phù khí vận chi thịnh giả, cố khả dĩ nhân nhi hợp thiên, đương phù khí chi suy giả, vưu đương tư dĩ nhân nhi hồi thiên, tắc thiện ngôn trị giả, phù diệc viết yếu thẩm phù thế đạo thăng giáng chi cơ, nhi thiện vi cán hồi yên tư khả hĩ. Khâm duy:

Hoàng đế bệ hạ, thông minh tác tắc, khải đễ vi cương, phụng tự lâm ngự dĩ lai, tư tư đồ trị, cố dĩ sự vị chi phòng, khúc vị chi chế. Kỳ ư phòng hoạn tri cơ chi yếu, trù chi thục hĩ, do thả giảng cầu trị đạo, thâm duy cứu thiên bổ tệ chi phương, phấn sức tăng tu, cẩn cầu thượng lý. Đương thử sự cơ chi hội, bất phế cầu ngôn chi khoa, triệu tiến thần đẳng ư đình, giáng tứ luân âm, sách chi dĩ cổ kim chi sự biến, thế đại chi long ô, dữ phù đương kim tu hảo giao lân chi đạo, thần ư thử hữu dĩ ngưỡng kiến.

Hoàng thượng hiếu vấn chi thành, cầu ngôn chi ích, mỗi dục châm chước cổ kim, dĩ cầu chế trị bảo bang chi yếu dã.

Dĩ thần thiển kiến mạt học, hạt túc dĩ thượng xứng minh vấn. Cố đương đối trường y thuỷ, cảm bất đạn thuật sở văn, dĩ vi bái hiến chi tiên tư hồ?

Thần phục độc chế sách hữu viết:

“Thiên vận ký hữu thường biến, thế vận khải vô long ô. Thượng cổ diểu mang, cố vô khả luận, nhi nhân tựu phù khả khảo giả, tắc hữu chinh tru thiện nhượng chi bất đồng, trị loạn phân hợp chi hữu dị. Di địch, Trung Quốc, thịnh suy bất đồng, Thái Tây chư quốc quy mô nhật thịnh, dữ phù Phú nhân chi dữ ngã hoà hảo hữu tố, lục tỉnh chi giao hoàn tảo vãn”, dĩ vấn thần đẳng.

Thần thành hữu dĩ kiến

Hoàng thượng tiêu cán chi hoài, hữu vị thường nhất nhật trí dã.

Thần thiết duy:

Doanh hư tiêu tức, khí số bất tề. Thiên vận ký hữu thường biến dã, tắc đương phù thiên vận chi thường giả, thế vận long thịnh; đương phù thiên vận chi biến giả, thế vận diệc tuỳ nhi ô hạ. Thượng cổ chi thế, tải tịch vị tường, cố vô khả luận. Nãi đoan xác chi hậu, thế chất dân thuần nhi chinh Du Vọng, cầm Xuy Vưu dĩ hữu Bản Tuyền, Trác Lộc chi chiến. Thị phóng phạt chi sự, đế thế cố dĩ hữu chi, tự phi Thang Vũ thuỷ dã. Nhiên thế đạo phương long, vật mục chi phong do vị biến dã, cố kế thử nhi Nghiêu Thuấn Vũ chi thụ thụ, khước cánh hữu thiện nhượng chi công.

Phù đại đồng chi thế, tuyển hiền dữ năng, giảng tín tu mục, do dĩ vi phi. Hạ chi thế, do cận hồ cổ, kỳ trị thượng trung. Ân chi thế, vị ly hồ trung, kỳ trị thượng chất. Chu tắc phong khí ký khai, nhân văn đại trứ, kỳ trị thượng văn. Nhiên trung chi tệ, tắc thất chi dã, chất chi tệ tắc thất chi xuẩn, văn chi tệ tắc thất chi xảo, sở thượng các thù, bất năng vô tệ. Tự thị chi hậu, Hán chi yết can dĩ tru Tần, Đường chi bỉnh việt nhi diệt Tuỳ, Tống tắc thụ Chu chi thiện, Nguyên chi phạt Tống, Minh chi kế Nguyên.

Dĩ cập ngã Việt, Đinh Tiên Hoàng chi định thập nhị sứ quân, Lý Đạo Uẩn chi bình nhất khu vũ, Trần thụ Chiêu Hoàng chi thiện, Lê bình Bắc quốc chi khấu, hoặc trị hoặc phủ, hoặc hợp hoặc phân, tuy biến cố đa đoan, diệc bất xuất tư nhị giả.

Tựu trung quan chi, Hán Đường chi đắc quốc tắc chính hĩ, nhi Tống tắc dĩ mưu, Nguyên chi dĩ ngoại di loạn Trung quốc, tắc bội hĩ, nhi Minh đắc chính thống.

Ngã Việt Đinh Tiên Hoàng vi cương kỷ chi thủ, tắc chính hĩ, nhi Lý tắc hữu khuy. Lê Thái Tổ lập vạn thế chi công tắc chính hĩ nhi Trần cánh dĩ sắc, kỳ gian dị đồng tà chính, khí bất năng trần, diệc hữu tuần tập nhất ban, nhi vận tộ trường đoản bất đồng, diệc thị hồ chính dữ phủ nhĩ.

Đế Vương Bá chi đạo hà như? Dĩ đức hoá dân giả, Đế dã, tức lê dân chi ư biến, tị ốc chi khả phong, phi dĩ đức chi hiệu hồ?

Dĩ công khuyến dân giả, Vương dã, tức triệu dân chi chương tín, quần lê chi biến đức, phi dĩ công chi hiệu hồ?

Dĩ lực soái dân giả, Bá, tắc giả chi chi đồ dã, tức hoan ngu chi hiệu bất năng thường câu phu tất chí chi nhân tâm.

Đế Vương Bá chi đạo bất đồng giả như thử, nhi kỳ hiệu diệc nhân chi hữu dị dã. Quan thử tắc thế chi ngôn trị giả, sở đương quý vương đạo nhi tiện bá thuật dã.

Bỉ nhân hậu nhi trí uỷ mị, dĩ kỷ cương chi bất chấn nhĩ, nhiên quan hậu chi nhập nhân giả thâm, bất khả vi cường nhi khả vi cửu, Chu toại hữu bát bách niên chi trường.

Phú cường nhi trí kiêm tính, dĩ pháp chế chi bả trì nhĩ, nhiên nhi phú cường chi độc dân ký thậm, nhân tâm ta oán, quốc thế thổ băng, Tần toại trí xúc nhị thế chi đoản.

Phản điếm, tắc môn, Quản trọng chi khí tiểu dã, kỳ tá Hoàn Công nhi năng nhất khuông, quỷ ngộ nhi hoạch cầm nhĩ, nhiên nguyên kỳ khí tiểu, tức cư hợp tam thập niên, nhi công liệt như bỉ kỳ ti, tốt bất năng dĩ thành nhương Sở tôn Chu chi liệt.

Bá trọng Y Lã, Khổng Minh vương tá chi tài dã, kỳ phụ Tiên chủ, nhi bất năng nhất thống giả, vận di nan khôi phục nhĩ, nhiên nguyên hữu vương tá chi tài, tức trì khu nhị thập tải, nhi đại danh thuỳ vu vũ trụ, năng thành xanh Ngô kháng Nguỵ chi công.

Quan thử tắc uỷ mị nhi chung bất hại nhân hậu chi trị thể, kiêm tính nhi thích dĩ kiến phú cường chi cận công.

Năng nhất khuông dã, nhi khí tiểu, chung lưu ư bá thuật; bất năng nhất thống dã, nhi vương tá ích hiển kỳ vi chân nho, tắc “chúng định” chi thuyết hữu khả tất, nhi lý thế chi phân hữu khả thi dã.

Di địch chi nhập Trung Quốc dã, thuỷ ư Chu chi Hiểm Doãn, chung ư Tống chi Khiết Đan, phương Tấn chi tỷ Phương ư tái hạ tắc thượng thuật dã, đãi Nguyên chi đại Tống hữu thiên hạ tắc cực thịnh dã.

Thái tây chư quốc, như Phật Lan Tây, Ý Đại Lý, Mễ Lợi Kiên, Hà Lan đẳng quốc, lập quốc dĩ cửu, tòng nhân sinh dĩ lai, kí đồng hữu chi, vô luận chí Minh thuỷ kiến, tức vi Thư chi Tây Lữ để cống quyết ngao, Lễ Vương chế chi thuỷ vân Tây Nhung, dữ Minh đường sở đình tứ Di chi vị, kỳ chư tiền đại phi tận vô văn dã. Kỳ quy mô sở dĩ xâm xâm nhật thịnh giả, cái Thái tây chư quốc, địa cư Càn tuất, độc đắc kim khí chi chính, kỳ nhân trí tuệ hữu thuật, chí ư trị quốc vưu tinh ư phú cường chi kế, tức như hoả thuyền hoả xa, hành điện hành thành hữu dĩ cực kỳ xảo diệu, nhi khả dĩ chế phục hồ nhân, thử sở dĩ hữu nhật thịnh chi tiệm dã.

Nhiên diệc bất quá thiết tập hồ nhân chi tri dĩ vi tri, nhi thiện ư dụng tri nhĩ. Tức quan ư tác pháo nhất sự, Minh Hoàng Vũ niên gian, hữu Tây quốc nhân đầu nhập Tát Mã Hoàn hãn bộ hạ, nhân thiết bác cơ dĩ hồi, toại nghiên tinh đạn tư, hữu dĩ cực kỳ xảo, tắc giảo chư vãng sự, diệc vị tất quả thiện kỳ dã. Cứu cánh kỳ quy, diệc vị tất kỳ toàn thủ thắng, như xạ ký cập viễn, bác chi lợi dã, nhi sa viên thấp nhự khả dĩ chế chi; thuấn tức thiên lý, vô phong tự hành, thuyền chi lợi dã, nhi hủ thảo cự phạt khả dĩ chế chi. Hựu huống công ư thuyền bác, bất tri kỹ kích, thử vưu kỳ đoản giả hồ? Tắc diệc vị tất kỳ vô khả chế chi giả.

Sở vị “tu nội giả vương, tu ngoại giả bá”, bỉ chi sở vi cận hồ bá hĩ. “Tu nội giả dật, tu ngoại giả lao”, bỉ chi sở vi xử hồ lao hĩ. Kỳ thuyết diệc khả tín hĩ.

Kim đông phương chư quốc, luận giả giai dục khử ngã cựu tập, dĩ hiệu nhân tân đồ, nhi trí phú cường chi cận hiệu, thị diệc kiến Nhật Bản chi hiệu tha sở vi, toại trí nhất thời thịnh cường, cố hữu thử luận nhĩ. An hữu hồ bách niên chi pháp độ, nhất đán khí chi, nhi mưu kỳ tân hồ? Cấp ư cận lợi, nhi cận lợi vị tất khả đắc, tức sử đắc chi, diệc miễn biến di chi tiêu dã.

Thả Phú nhân dữ ngã quốc bản hữu cựu hảo, tố tương vãng lai, hào vô oán khích, trung gian đặc dĩ sơn xuyên chi du viễn, phong vực chi trở trường, sảo khuê âm vấn. Phú nhân dục tu cựu hảo, bất viễn thiên vạn lý, giá hải nhi lai, phi hữu tha ý, vô nại ngôn ngữ bất thông, nan trần ngọc bạch, viên cập can qua, thuỷ ư Trà Sơn, kế nhi quan khẩu. Bản phi diệu võ, dục thân tiền hảo nhĩ. Thử thành hữu thậm bất đắc dĩ xứ.

Phụng ngã Hoàng thượng dĩ xã tắc vi trọng, dĩ sinh dân vi niệm, bất dục sử xích tử biên manh trùng lị phong tiêu, toại cát lục tỉnh chi địa, cô dữ hành thành, vi nhất thời quyền nghi chi kế, ư dĩ hưu binh tức dân.

Nguyên kỳ Phú nhân chi sơ tâm, thực bất dục chiếm nhân chi thổ địa, cái dĩ tình nghĩa vi trọng, đắc thất vi khinh, cố bất hứa An Nghiệp vọng vi. Hoắc Đạo Sinh nhất dữ ngã sứ giai lai, tức tứ tỉnh chi thổ địa nhân dân, tận khiết nhi quy ư ngã, nhất nặc thiên kim, hào bất cận tích.

Kỳ quốc quân, đại thần, nguyên soái giai tố hữu thử hảo ý, gia dĩ cận lai giới sứ chi vãng lai, pháo thuyền chi tặng hảo, đôn mục thân thiết, hữu vô tương trợ, lợi đồng lạc cộng, tận thích tiền phi. Nhược tảo giao hoàn lục tỉnh tắc thanh văn chi mỹ, dục vận chi ích, tưởng dĩ trù chi thục hĩ.

Nhiên nhi do thiểu hoãn giả, diệc tất hữu kỳ thuyết yên.

Nhất viết dĩ cố hòa ước, phù Phú nhân chi ư ngã, tuy hữu cựu hảo, nhi thiên lý viễn lai, bỉ diệc vị kỳ kỳ “ngã vô nhĩ trá, nhĩ vô ngã chiếm”, cố tất dĩ thử vi an trú chi địa, sở dĩ tráng bỉ chi thế, nhi cố ngã chi hoà dã.

Nhị viết dĩ tư địa lợi, phù Gia Định lục tỉnh, kỳ địa phì nhiêu, túc mễ chi sở xuất thắng ư chư hạt, cố bỉ diệc vị tất vô trì hồi quan vọng chi tâm. Kiêm dĩ Nam Kỳ lục tỉnh dữ Bắc Kỳ tứ tỉnh, sự thế thực hữu bất đồng: Nam Kỳ lục tỉnh, thủ ư hòa ước sơ định chi nhật, nhược Bắc Kỳ tứ tỉnh, tắc thị hòa ước ký định, An Nghiệp vọng vi, bỉ chi lý khúc, cố diệc bất đắc bất tảo hoàn, cố lục tỉnh tắc do hữu thiểu hoãn, diệc hữu sở nhân dã.

Tư thỉnh ngã

Hoàng thượng chí thành dĩ đãi chi, nghi văn dĩ tiếp chi. Nội ký bất phế tự trị chi sách, nhi ngoại hựu quảng phù cập nhân chi tín, sử bỉ lạc quan triều đình ý đức, tiệm tiêu nghi nhị chi tâm. Tích Khổng Tử tướng Lỗ, Tề nhân quy kỳ xâm cương, vô phi chí thành cảm động đắc tha nhĩ. Thả đồ đại sự giả, bất kế tiểu phí, cổ nhân chi sở dĩ khắc tảo tế sự dã.

Thỉnh vi quan kỳ sự, nhược sảo hữu lợi tâm, tắc hoặc dĩ quan tân chi thuế dịch chi khả dã, hoặc ước tăng bồi ngân, sĩ hậu thanh hoàn khả dã. Hựu thả thân hoà hảo chi ước, sử chi hiểu nhiên ư tình lý chi khúc trực, sự thế chi lợi hại, tắc bỉ tương lai lục tỉnh chi địa tảo quy Triều đình, hựu hà chí động phiền ngã Hoàng thượng tiêu cán chi hoài tai!

Thả trí giả bất hoặc, bất sử thất hoan, nhân giả bất nhẫn, bất sử thất sở. Bỉ ký cảm Triều đình giao tiếp chi hậu, lễ ý chi cần, tất bất khẳng dĩ bất trí bất nhân tự xử, cố bất đãi cầu nhi thuỷ ứng hĩ. Thần phục độc

Chế Sách hà đẳng truân thiết, hiếu vấn hiếu sát chi thành, cổ chi Ngu Thuần đãi vô dĩ quá.

Thần sơ học tân tiến, võng tri chính yếu, xuyết thập thường đàm, can mạo thần nghiêm bất thăng.

(Người phiên âm từ nguyên tác: Phan Văn Các)

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #43 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2008, 11:31:47 pm »


Dịch nghĩa:

Ngày 29 tháng 4 năm Tự Đức thứ ba mươi

Chế sách hỏi:

Vận trời đã có lúc thường lúc biến. Vận đời há chẳng có khi thịnh, khi suy?

Đời thượng cổ xa xưa không thể bình luận, nhưng trong thời đại con người còn chất phác thật thà, không tranh giành lẫn nhau mà đã có sớm những trận giao tranh ở Bản Tuyền1 Trác Lộc2, và sau thời gian chinh phạt, chém giết như thế, lại còn có chuyện coi thiên hạ là của công mà truyền ngôi cho người hiền3.

Thời “đại đồng”4 tốt đẹp cũng còn có người cho là trái lẽ. Mỗi đời chuộng một khác, không thể tránh được cái hỏng.

Từ đó đến nhà Minh vì các triều Đinh, Lý, Trần, Lê ở nước ta, khi bình trị, khi loạn ly, khi hợp nhất, khi phân chia, tuy biến cố đa đoan nhưng cũng không ra ngoài hai sự việc ấy. Trong đó các chuyện dị đồng và tà chính thế nào, người há không thể trình bày? Lại còn có nhiều truyền gia mỗi phép của nhau mà vận nước dài ngắn không đều, lý do tại sao?

Các đạo Đế, Vương, Bá5 khác nhau những gì, hiệu quả giống nhau chỗ nào? Nhân hậu sao đến nỗi yếu hèn; giàu mạnh sao dẫn đến thôn tính?

Người khí độ nhỏ nhen mà không được thiên hạ về chính thống6 người có tài vương bá lại không thể thống nhất được non sông7.

Thuyết “chúng định”8 làm thế nào mà tin chắc được, sự phân biệt giữa lý và thế và làm sao tin cậy được?

Quân Di Địch vào Trung Quốc bắt đầu và kết thúc từ bao giờ? Lúc nhỏ yếu và lúc cùng cực, mạnh nhất thì như thế nào?

Các nước Thái Tây lập nước đã lâu, từ khi con người sinh ra vốn đã có. Không kể chuyện mới thấy họ trong đời nhà Minh, các đời trước há phải hoàn toàn không biết? Xét về quy mô của họ, tại sao mà ngày càng thịnh vượng? So sánh với các việc cũ, có thật họ giỏi về kỹ xảo hay không? Xét đến cùng, há không thể chế ngự được sao? 

Sửa sang việc nội trị là “Vương”, đi chinh phục nước người là “Bá”, có thuyết nói sửa việc nội trị thì nhàn, đi chinh phục nước người thì vất vả, có tin được không?

Nay các nước Đông phương đều muốn bỏ tập tục cũ, bắt chước người mà mưu toan cái mới để được giàu mạnh. Xét xem như thế có đúng hay không?

Người Pháp vốn có tình cũ với ta, thường vẫn đi lại. Không hề có chuyện hiềm khích, chỉ có thời gian gần đây, việc thăm hỏi hơi thưa. Họ muốn nối lại tình thân cũ, không ngại đường xa mà đến, chỉ vì ngôn ngữ, chữ nghĩa không truyền đạt được mà khó đặt quan hệ bang giao, đến nỗi sinh việc can qua. Thật Trẫm xét có chỗ bất đắc dĩ, tuổi trẻ hiểu biết nông cạn, đã sai thì khó kéo lại.

Bản tâm họ chẳng phải muốn chiếm đất đai của người, chỉ nặng về tình nghĩa mà coi nhẹ chuyện thiệt hơn, nên mới không cho phép An Nghiệp9 làm càn. Một lời hứa giá ngàn vàng, họ đã đem cả bốn tỉnh trả lại cho ta10. Bốn tỉnh đã như thế thì sáu tỉnh có thể biết là quốc vương đại thần nguyên soái nước họ vẫn có lòng tốt.

Hơn nữa, gần đây hai nước hoà thuận thân thiết, giúp đỡ bổ sung lẫn cho nhau, có lợi cùng chung có vui cùng hưởng, bỏ hết chuyện sai trái cũ. Nếu họ sớm trả lại đất cho ta thì không những tiếng nghĩa của họ sáng người bốn bể, tiếng hay truyền lại nghìn năm, mà còn lại được nhiều trong việc thông thương, không có phí tổn vận chuyển xa nào mà không được bồi thường.

(Được như thế thì) nhà nhà chúc mừng nhau11, đau khổ tiêu tan, chắc họ cũng tính hết rồi, chẳng đợi phải nói. Chỉ có không biết ý họ thế nào mà họ còn tạm hoãn ít lâu. Hiềm vì nỗi hoãn một ngày thì thêm một ngày vất vả, tốn phí, đau khổ. Sao bằng họ quyết định sớm trả, có phải rất hay, rất đẹp hay không?

Người trí giả không nên hoãn, không làm cho người mất vui. Người có nhân không tàn nhẫn, không làm người mất chỗ nương tựa đã lập được, trả được mới không trái với các điều nhân, trí, tín, nghĩa. Nếu cứ đợi yêu cầu rồi mới đáp ứng thì đã muộn, còn quý nỗi gì.

Kẻ sĩ quân tử các người sẵn hoài bão trị nước, giúp đời, học xưa để làm quan, ôm chí hướng. Trời sinh người tài ắt có chỗ dùng. Hãy trình bày hết ý đừng tường tận chuyện cổ mà sơ lược chuyện nay, đừng chăm chú một vật mà để sót vạn vật. Sự việc phải nêu điều nên, lời nói phải dùng được. Đừng phụ Trẫm ham hỏi, ham nói. Trẫm sẽ xem và chọn dùng.
_________________________________________
1. Bản Tuyền: Tên một con suối, nay gọi là suối Hoàng Đế, thuộc huyện Bản An, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc. Tục truyền đấy là nơi Hoàng đế đã giao chiến với Viêm Đế (khoảng 2700-2640 tr.CN).
2. Trác Lộc: Tên một ngọn núi, ở Đông Nam huyện Trác Lộc, tỉnh Sát Cáp Nhĩ, Trung Quốc. Tục truyền đấy là nơi Hoàng đế đã chém Suy Vưu (khoảng 2660-2600 tr.CN)
3. Truyện chữ Thiên phương: Triều đại của vua Nghiêu, Thuấn truyền ngôi vua cho người hiền (khoảng 2855-2205 tr.CN).
4. Thời đại đồng: Chữ trích ở thiên Lễ Vận trong Kinh Lễ “Đạo lớn được thi hành, thiên hạ là của công, những người hiền thì được dùng, mọi người ăn ở với nhau thành thực và thuận hoà, cho nên người ta không chỉ thương yêu riêng cha mẹ và con cái mình, về của thì ghét của rơi, nên không nhặt để cất giấu cho mình, về sức thì ghét sức làm ra không phải do mình và làm không phải chỉ vì mình, cho nên không có chuyện âm mưu, không có trộm cướp, cửa người không phải đóng, đấy là đại đồng”
5. Các đạo Đế, Vương, Bá:
     - Đế đạo: Đường lối chính trị dùng đức để trị dân, khiến cho thiên hạ coi nhau như một nhà, không có cày cấy và dệt vải riêng, mọi người cùng chịu chung đói rét của Ngũ Đế (Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Nghiêu, và Đế Thuấn) hoặc theo ý kiến khác, lại cho là: Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Kim Thiên, Chuyên Húc trong truyền thuyết Trung Quốc. Theo lịch sử Trung Quốc thì là hậu kỳ chế độ Công xã nguyên thủy (khoảng 2910-2205 tr.CN)
     - Vương đạo: Đường lối chính trị dựa vào đạo đức để mưu hạnh phúc cho nhân dân.
     - Bá đạo: Đường lối chính trị dựa vào vũ lực và luật pháp nghiêm minh để làm cho nước giàu mạnh, coi thường nhân nghĩa của nhà Nho chính thống.
6. Người khí độ nhỏ nhen: chỉ Quản Trọng phò Tề Hoàn Công, mượn danh nghĩa “tân chủ” mà làm hại chư hầu.
7. Người có tài Vương bá: chỉ Khổng Minh (Gia Cát Lượng) phò Lưu Bị lập nên nhà Thục Hán.
8. a) Ngũ Tử Tư thì quyết diệt nước Sở để báo thù cho cha, bảo đảm chữ Trung.
     Nguyên văn hai câu: “Nhân chúng giả thắng thiên” (người đông thì thắng trời), và “Thiên định diệc năng thắng nhân” (Trời định cũng có thể thắng người). Kết quả là cả hai người đều được thực hiện ý muốn của mình: “Ngũ Tủ Tư đã dẫn quân nước Ngô đánh đến tận Kinh đô nước Sở năm 511 tr.CN, đốt phá tôn miếu của vua nước Sở, đào mả đánh nát thây, rồi chém đầu thi hài Sở Bình Vương là người đã giết cha và anh Ngũ Tử Tư.
     b) Thuyết “Chúng định”: Ở đây, Tự Đức đã chơi chữ bằng cách lấy hai chữ thứ hai của hai câu nói trong cuộc đàm thoại giữa Ngũ Tử Tư và Thân Bao Tư viết trong chuyện “Ngũ Tử Tư” ở Sử Ký của Tư Mã Thiên, cả hai người: Ngũ Tử Tư đều là bề tôi nước Sở và là bạn thân với nhau, nhưng chủ trương khác nhau: Thân Bao Tư thì chạy sang cầu viện binh nước Tần, Tần Ai Công không cho quân đi, ông đã đứng kêu khóc trước sân chầu của nhà Tần suốt bảy ngày đêm, không ăn uống gì, làm vua Tần cảm động phải ra quân phục hồi được nước Sở khỏi bị quân Ngô tiêu diệt.)
9. An Nghiệp: Francis Garnier đem quân Pháp xâm lược Bắc Kỳ lần thứ nhất, năm 1873.
10. Bốn tỉnh: Hà Nội, Ninh Bình, Nam Định, Hải Dương quân Pháp đã chiếm được trong cuộc xâm lược Bắc Kỳ lần thứ nhất năm 1873. Pháp đã trả lại bốn tỉnh này vì Francis Garnier bị tử trận, tinh thần chưa giữ được nên tạm trả để ký Hiệp ước 1874 chiếm cả sáu tỉnh miền Nam và được chính thức công nhận để lại buôn bán khắp nước Việt Nam...
11. Nguyên văn viết: Thất gia tương khánh: chữ trích trong thiên “Trọng hưng chi cao”, sách Kinh thư nói lên sự vui mừng của nhân dân khi được vua Thành Thang đến giải thoát cho khỏi ách bạo ngược của nhà Kiệt.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #44 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2008, 12:03:11 pm »


***

Thần xin đối:

Thần nghe nói: Vận trời có tuần hoàn đổi thay, vận đời có thịnh suy khác biệt.

Xưa và nay đổi khác, mỗi đời một vẻ. Nhưng nhìn chung thì thấy rằng một thời bình ắt có một thời loạn, một thời loạn lại có một thời bình, thời này thịnh thì thời kia suy, thời kia thịnh thì thời này suy, đó là lẽ tất nhiên. Cho nên người giỏi việc bình trị, gặp thời thịnh mà dùng được sức người để làm hợp ý trời, thì khi vận suy lại càng lo tính dùng sức người để lấy lại lòng trời; đó cũng có nghĩa là cần phải thấy được mầm mống thăng trầm của đường đời mà khéo mưu toan xoay chuyển thời vận.

Thần kính cảm nghĩ rằng: Hoàng đế bệ hạ (vốn người) thông minh nên phép tắc, đức độ bậc mối giường, từ khi lên trị vì đến nay chăm chăm mưu việc bình trị, nên đã phòng xa sự việc, ngăn chặn cái hại. Cái điều trọng yếu đề phòng tai hoạ liệu trước thời cơ, người đã trù tính kỹ càng, lại còn nghiên cứu đường lối bình trị, suy nghĩ sâu sắc phương pháp sửa cái lệch chữa cái hỏng, tỏ vẻ sửa sang cốt sao tìm thấy đạo lý hay nhất.

Gặp khi có sự thể này mà người chẳng bỏ khoa thi cầu lời nói, vời bọn thần đến sân chầu, ban hỏi việc biến đổi từ xưa đến nay, sự thịnh suy của các triều đại và đường lối hoà hảo trong việc bang giao hiện tại.

Do đó, thần ngẩng trông thấy Hoàng thượng chân thành ham hỏi mong cầu lời nói có ích. Người muốn châm chước việc cổ kim để thấy được điểm trọng yếu trong việc bình trị, giữ gìn đất nước.

Thần kiến thức nông cạn, học tập kém cỏi, sao xứng đáng ơn trên ban hỏi. Nhưng nghĩ lại buổi đầu được ứng đối, đám đâu chẳng nói hết những điều nghe biết để hiến dâng.

Thần cúi đọc chế sách ban rằng:

“Vận trời đã có lúc thường lúc biến, vận đời há chẳng có khi thịnh, khi suy. Đời thượng cổ xa xăm vốn không thể bàn, nhân hỏi đến những điều có thể khảo cứu như sự bất đồng giữa chinh phạt và thiên nhượng1, những chỗ khác nhau giữa bình trị và loạn lạc, giữa phân chia và hợp nhất. Di Địch, Trung Quốc, thịnh suy bất đồng, các nước Thái Tây quy mô ngày càng thịnh và việc người Pháp với ta vốn vẫn hoà hiếu, việc trả lại sáu tỉnh, sớm muộn thế nào?

Thần thật thấy rằng Hoàng thượng thức khuya, dậy sớm, lo lắng không một ngày nào thôi.

Thần thiết nghĩ:

Khí số so le, lúc đầy, lúc vơi, khi suy, khi thịnh. Vận trời đã lúc thường lúc biến, thì khi vận trời thường át vận đời thịnh vượng, gặp khi vận trời biến thì vận đời cũng thế mà suy.

Đời thượng cổ, sách chép chưa rõ, cố nhiên không thể bàn. Nhưng sau thời đại (cổ xưa) thành thực, thế tục chất phác, nhân dân thuần hậu mà đã có các trận giao tranh ở Bản Tuyền, Trác Lộc để đánh Du Vọng, bắt Suy Vưu. Như thế thì những chuyện đánh dẹp đã có từ các đời Đế, chứ không phải đến các triều Thang2, Vũ3 mới mở đầu Nhưng đạo đời đang thịnh, phong tục thuần hậu chưa biến đổi, cho nên kế tiếp sau là Nghiêu nhường ngôi cho Thuấn, Thuấn nhường ngôi cho Vũ, thành ra lại có chuyện coi thiên hạ là của công mà nhường ngôi cho người hiền.

Thời Đại đồng, tuyển người hiền, dùng người giỏi, dạy điều tín, ăn ở hoà thuận, còn cho là trái (chữ phê bên cạnh: chưa rõ). Đời nhà Hạ4 còn gần thời cổ, nên việc trị nước chuộng trung thực. Đời Ân5 chưa xa rời đức trung thực nên chuộng tính chất phác. Đời Chu6 phong tục đã mở, văn hoá rực rỡ nên chuộng văn vẻ. Nhưng cái hỏng của sự trung thực là mắc tính quê kệch, chất phác thì hay mắc tính ngu xuẩn. Cái hỏng của cái văn vẻ là hay mắc tính xảo trá, điều ưa chuộng khác nhau đều không tránh được cái hỏng. Từ đó về sau: nhà Hán giương gậy giết Tần, nhà Đường cầm búa diệt Tuỳ, Tống nhận ngôi nhường của nhà Chu7, Nguyên đánh chiếm nhà Tống, Minh nối tiếp nhà Nguyên.

Đến chuyện nước Việt ta thì Đinh Tiên Hoàng dẹp mười hai sứ quân8, Lý Công Uẩn9 trị bình một cõi. Trần nhân sự nhường ngôi của Chiêu Hoàng10, Lê đánh tan quân giặc phương Bắc11.

Hoặc bình trị, hoặc loạn lạc, hoặc hợp nhất, hoặc phân chia, tuy biết có nhiều việc cũng không ngoài hai điều ấy12.

Trong đó: Hán13 Đường14 được nước là chính đáng, nhà Tống15 thì dùng mưu, Nguyên16, rợ ngoài làm loạn Trung Quốc là trái lẽ, nhưng nhà Minh17 thì được coi là chính thống.
_________________________________________
1. Chinh phạt và thiên nhượng: Đánh dẹp và truyền ngôi vua cho người hiền khác họ.
2. Thang: Vua Thành Thang (1766-1752 tr.CN) đã đuổi vua Kiệt của triều đại Hạ, lập nên Triều đại Thượng.
3. Vũ: Vũ vương (1122 - 1115 tr.CN) đã đánh đổ triều đại Thượng, khiến Trụ Vương phải tự thiêu, lập nên Triều đại Chu.
4. Đời nhà Hạ: Từ vua Vũ đến Trụ Vương, gồm mười bảy đời vua, trải qua bốn trăm ba mươi chín năm (2205-1766 tr.CN).
5. Đời Ân: Còn gọi là Ân Thương, từ vua Thành Thang đến Trụ Vương gồm hai mươi tám đời vua, trải qua sáu trăm bốn mươi tư năm (1766-1122 tr.CN).
6. Đời Chu: Từ Vũ Vương đến Noãn Vương ba mươi bảy đời vua, trải qua tám trăm sáu mươi bảy năm (1122-255 tr.CN).
7. Chu: Nhà Hậu Chu đời Ngũ Đại chỉ có chín năm (952-959) trải ba đời vua.
8. Đinh Tiên Hoàng: Dẹp xong mười hai sứ quân năm 987.
9. Lý Công Uẩn: là con Lý Khánh Vân và Phạm Thị, người làng Cổ Pháp tức Đình Bảng, huyện Tiên Du, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, giữ chức Điện tiền chỉ huy sứ là chức võ tướng cao cấp, chỉ huy quân hậu cần của Triều Tiền Lê. Ông có uy tín và thế lực trong triều, đồng thời là người thân cận của người Phật giáo. Vì vậy sau khi Lê Long Đĩnh chết (năm 1009) các quan trong triều và một số nhà sư đã ủng hộ và suy tôn ông lên làm vua, tức Lý Thái Tổ. Triều Lý bắt đầu từ Lý Công Uẩn đến Lý Chiêu Hoàng (1009-1225) trải qua hai trăm mười sáu năm, gồm chín đời vua.
10. Trần: Vua cuối cùng của triều Lý là Huệ Tông bị bệnh cuồng và không có con trai, phải nhường ngôi cho công chúa Chiêu Khánh mới lên bảy tuổi (tức Lý Chiêu Hoàng, lúc bấy giờ họ Trần đã nắm giữ mọi chức vụ trọng yếu trong Triều. Ngày 10 tháng 12 năm 1226 do sự bố trí của Trần Thủ Độ, người cầm đầu thế lực họ Trần lúc đó. Lý Chiêu Hoàng tuyên bố nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh (cháu Trần Thủ Độ). Trần Cảnh lên ngôi (tức Trần Thái Tông) lập ra Triều Trần, gồm mười hai đời vua, trải qua 174 năm (1126 - 1400). Thời gian chống quân Minh xâm lược còn có hai vua nhà Hậu Trần là Hưng Khánh (tức Trần Ngỗi 1407-1409) và Trùng Quang (tức Trần Quý Khoáng 1400-1415).
11. Lê: Lê Thái Tổ và Nguyễn Trãi lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã chiến đấu mười năm gian khổ (1417-1427) mới giành được nước từ tay quân nhà Minh xâm lược.
12. Hai điều: Thiên nhượng và chinh phạt.
13. Hán: Lưu Bang diệt Triều Tần của Thủy Hoàng bạo ngược lập nên Triều Hán (từ 206 - đến năm 263 tr.CN).
14. Đường: Lý Uyên diệt Triều Tuỳ của Dạng Đế bạo ngược lập nên Triều Đường (618-905).
15. Tống: Tống Thái Tổ, vua mở đầu Triều Tống (960-1279) tên là Triệu Khuông Dẫn, đã phục vụ ba triều Hậu Đường, Hậu Hán, Hậu Chu đời Ngũ Đại (907-960) và đã lập được nhiều chiến công. Đến đời Cung Đế nhà Mậu Chu, Triệu Khuông Dẫn làm Tiết độ sứ Quý Đức và Hiến Đức đem quân đi chống quân Khiết Đan xâm lược. Khi đó Cung Đế còn nhỏ, quân sĩ mưu lập Triệu Khuông Dẫn, ban đầu tập trung ở nơi đóng quân là Trần Kiều, họ khoác áo bào vàng cho Triệu Khuông Dẫn và tung hô “vạn tuế” rồi phò Triệu Khuông Dẫn về triều bắt Cung Đế phải nhường ngôi cho Triệu Khuông Dẫn (tháng 3 năm 960).
16. Nguyên: Giai cấp chủ nô Mông Cổ đem quân xâm lược Trung Quốc, diệt Triều Nam Tống lập nên Triều Nguyên (1279-1368).
17. Minh: Minh Thái Tổ là Chu Nguyên Chương đánh đuổi Nguyên Thuận Đế vua nhà Nguyên xâm lược về Thượng đô và lập ra Triều Minh (1368-1661).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #45 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2008, 12:17:44 pm »


Nước Việt ta, Đinh Tiên Hoàng mở đầu đặt kỷ cương là chính đáng, nhưng nhà Lý thì có thiếu sót. Lê Thái Tổ lập công muốn đời là chính đáng, nhưng mầm mống thì dùng sắc đẹp. Các điều dị đồng, tà chính của các triều đại đó, há đâu không thể trình bày. Tuy có những đời noi theo phép của nhau mà vận nước dài ngắn khác nhau (có chữ phê bên cạnh: chưa rõ) nên cần nhìn xem có chính đáng hay không.

Các đạo của Đế Vương Bá như thế nào?

Lấy đức để giáo hoá dân là Đế, dân do đó mà biến đổi, nhà nhà đều có người hiền1 thế chẳng phải là hiệu quả của đức sao?

Lấy công lao để khuyến khích dân là Vương, như việc đưa muôn dân tin theo toàn dân có đức, thế chẳng phải là hiệu quả của việc lấy công lao để khuyến khích sao?

Lấy sức mạnh để đứng đầu mọi người là Bá, đấy là bọn chuyên mượn danh nghĩa2 nên hiệu quả của sự vui vẻ cũng không còn mãi được3.

Sự bất đồng giữa các đạo Đế, Vương, Bá là như thế, do đó hiệu quả của các đạo ấy cũng khác nhau. Xem đấy thì người bàn việc bình trị phải quý Vương đạo mà khinh Bá thuật.

Nhân hậu mà đi đến suy đồi vì không làm cho kỷ cương đẩy lên được, nhưng nhân hậu vào sâu lòng người, không thể mạnh, nhưng có thể lâu nên nhà Chu mới có tám trăm năm lâu dài.

Giàu mạnh mà đi đến thôn tính là vì chuyện dùng pháp chế để nắm giữ chính quyền nhưng giàu mạnh là hại dân quá lắm, lòng người oán giận, thế nước như đất lở, nhà Tần rút lại chỉ có hai đời ngắn ngủi.

Lạm dụng phản điếm, Tắc môn4 Quản Trọng khí độ nhỏ nhen phò Hoàn Công mà khuôn được thiên hạ về chính thống là chuyện đi đường cong gặp may, nhưng vốn người khí độ nhỏ nhen, nên ba mươi năm tập hợp chư hầu mà sự nghiệp thấp như thế, cuối cùng không hoàn thành sự nghiệp đánh Sở tôn Chu.

Sánh ngang tầm Y Lã5, Khổng Minh6 có tài vương tá7 (phò Tiên chủ8 mà không nhất thống được, vì thời vận suy thì không thể khôi phục được nữa, nhưng vốn người có tài vương tá, nên chỉ hai mươi năm ruổi rong vó ngựa mà tiếng lớn lưu truyền vũ trụ làm nên công trạng giữ Ngô chống Ngụy).

Xem thế thì thấy uỷ mị nhưng kết quả không hại thể chế, trị nước bằng nhân hậu mà thôn tính thì thấy ngay cái công nghiệp ngắn ngủi của sự phú cường.

Khuôn được thiên hạ, nhưng vì khí độ nhỏ nhen nên cuối cùng lại rơi vào “Bá thuật”, không thống nhất được, nhưng tài vương tá nên càng thể hiện rõ tính cách “chân nho” như thế thì thuyết “chúng định” có thể tin chắc việc phân biệt giữa “lý” và “thế” có thể tin cậy.

Quân Nhung Địch vào Trung Quốc bắt đầu từ Hiểm Doãn đời nhà Chu, sau cùng là Khiết Đan đời Tống. Khi nhà Tấn9 đưa rợ Chương đến dưới quan ải thì thế rợ còn nhỏ, đến khi quân Nguyên đánh đổ triều Tống mà có thiên hạ thì đấy là thời kỳ cực thịnh.

Các nước Thái Tây như Pháp, Ý, Mỹ, Hà Lan lập nước đã lâu, từ khi sinh ra người thì họ đều đã có cả rồi, không bàn đến việc đời Minh mới thấy họ, xem trong sách Kinh Thư viết chuyện người “Tây Lũ” đem cống chó ngao, hay trong chương “Vương chế” sách Kinh Lễ kể chuyện Tây Nhung và việc ở nhà “Minh đường”10 có đặt vị trí cho bốn Di, như thế thì các đời trước không phải hoàn toàn không biết (họ).
_________________________________________
1. Nguyên văn viết: “Lê dân chí ư biến, ti ốc chi khả phong”, chữ trích trong Nghiêu điển, sách Kinh thư: “Lê dân ư biến thời ưng” (dân đen biến đổi, luôn sống hoà thuận), và còn trích trong Vương Mãng truyện, sách Hán thư: “Đường Ngu chi thời khả tị ốc nhi phong” (các nhà Đường, Ngu nhà nào cũng đáng khen thưởng (vì đều có người hiền lập công trạng). Tác giả dẫn dụng để chứng minh hiệu quả của việc dùng đức đã thấm nhuần đến dân, trong các đời Đế.)
2. Nguyên văn viết: “Triệu dân chi chương tứ” chữ trích trong thiên “Trọng thủy trị cáo” ca ngợi vua Thành Thang: “Khắc khoan khắc nhân, chương tín triệu dân” (nhà vua) khoan dung nhân hậu (nên đã được lòng tin của nhân dân). Tác giả dẫn dụng để chứng minh hiệu quả tốt của Vương đạo. Đời Xuân Thu (770-401 tr.CN).
3. Nguyên văn viết: “Hoan ngu chi hiệu”, lấy ý trong chương “Tận tâm thượng” sách Mạnh Tử. Mạnh Tử nói: Bá giả chi dân hoan ngu như dã (dân đời Bá vui vẻ, và theo ý Trình Tử: “Hoan ngu hữu sở tạp nhi nhiên, khởi nang cữu dã (sự vui vẻ nhờ sức người mà có, làm sao bền lâu được).
4. Phản điếm: Bàn đắp đất, dùng để đặt chén không sau khi uống hết rượu, một dụng cụ có tính cách nghi thức bang giao khi hai vua chư hầu tiếp đãi nhau.
     Tắc môn: Cổng chào dựng trên đường đi, một nghi thức bang giao có quy định thứ bậc: vua thì dựng cổng ngoài, chư hầu thì dựng cổng trong, quan đại thần thì dùng mành mành, kẻ sĩ thì dùng màn để khi giao tiếp phân biệt chỗ ngồi của chủ và khách.
     Trong thiên “Bát dật”, sách Luận Ngữ có viết: “Thầy (Khổng Tử) nói: “Khí độ của Quản Trọng sao mà nhỏ nhen!”
     Có người hỏi (vì) Quản Trọng tiết kiệm ư? Trả lời: “Họ Quản có đài Tam quy gia thần làm quan không kiêm nhiều việc, sao gọi là tiết kiệm?”.
     Hỏi: “Như thế thì Quản Trọng biết lễ chăng?”
     Trả lời: “Vua chư hầu dựng Tắc môn, họ Quản cũng dựng Tắc môn; vua chư hầu (hội họp) giao hữu có phản điếm, họ Quản cũng có phản điếm, họ Quản mà biết lễ thì ai không biết lễ?”; Ở đây, ý Khổng Tử muốn nói Quản Trọng khí độ nhỏ nhen vì xa xỉ và phạm lễ (đã dùng các dụng cụ nghi lễ không đúng với cương vị của mình).
5. Y Lã: Y Doãn phò vua Thành Thang nhà Thương; Lã Thượng phò vua Văn, vua Vũ nhà Chu, đều lập công khai sáng triều đại mới.
6. Khổng Minh: Gia Cát Lượng đời Tam Quốc (220-265).
7. Tài Vương tá: Tài giúp vua làm nên sự nghiệp lớn.
8. Tiên chủ: Lưu Bị vua Thục kế nghiệp nhà Hậu Hán đời Tam Quốc.
9. Tấn: Nhà Hậu Tấn đời Ngũ Đại, Thạch Kính Đường vua đầu nhà Hậu Tấn, nhờ dẫn quân Khiết Đan về diệt nhà Hậu Đường mà được Khiết Đan lập làm vua, do đó Thạch Kính Đường phụng sự Khiết Đan hết mức, nhưng cuối cùng chỉ được hai đời làm vua dài 10 năm, rồi lại bị Khiết Đan tiêu diệt.
10. Minh đường: nơi triều hội chư hầu.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #46 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2008, 12:23:22 pm »


Quy mô của họ thịnh vượng nhanh chóng, vì các nước Thái Tây ở vào hướng “Càn thất”, được ngôi chính của khí “Kim” nên người nước họ khôn ngoan khéo léo, chuyện trị nước thì họ càng giỏi về mưu toan sự nghiệp phú cường, như có thuyền máy, xe lửa, điện di, thành di đã rất tinh xảo kỳ diệu, lại có thể khuất phục được người, do đó họ ngày càng thịnh.

Nhưng đấy chẳng qua là chuyện lấy trộm cái biết của người làm cái biết của mình, mà lại giỏi dùng cái biết. Hãy xem một việc chế tạo súng, vào thời kỳ những năm Hoàng Vũ triều Minh1 có người Tây đến làm bộ ba hầu Tát Mã Hoàn, nhân đó lấy trộm súng mang về, nghiên cứu tính toán kỹ lưỡng, đạt được đến mức rất tinh xảo, so sánh với các chuyện cũ như thế, thì thấy chưa chắc họ đã một mình nắm được những cái kỳ lạ. Nói cho cùng, chưa chắc họ đã giành được mọi thắng lợi, ví như súng có lợi thế bắn được xa, nhưng mà tường cát, bông ướt có thể chế ngự được, không có gió mà trong nháy mắt đi được ngàn dặm là cái lợi hại của tàu thủy, nhưng mà cỏ mục, bè lớn có thể chế ngự được. Hơn nữa, họ giỏi về tàu thủy về súng ống nhưng không biết võ nghệ thì chẳng phải là cái rất kém của họ sao? Vì thế cho nên cũng chưa phải là không chế ngự được họ.

Câu nói “Sửa sang việc nội trị là Vương, đi chinh phục nước ngoài là Bá” (chứng minh) việc của chúng làm thuộc loại “Bá thuật”.

“Sửa việc nội trị thì nhàn, đi chinh phục thì vất vả”, thế là họ ở vào chỗ làm vất vả, thuyết đó có thể tin được.

Những nhà bình luận ở các nước phương Đông hiện nay đều muốn bỏ cái học cũ của mình, bắt chước người mưu toan cái mới, để đạt đến hiệu quả trước mắt của sự giàu mạnh, đấy là vì họ trông thế nước Nhật Bản đã bắt chước người mà được cường thịnh nhất đời, nên mới có những ý kiến bình luận ấy.

Nhưng làm sao lại có thể bỗng nhiên vứt bỏ pháp độ hàng trăm năm để mưu làm cái mới. Vội tìm cái lợi trước mắt, những cái lợi trước mắt chưa chắc đã được, dù có được chăng nữa, cũng không tránh được tiếng chê cười là biến thành rợ mọi!

Vả lại người Pháp đối với ta vốn có tính hoà hiếu cũ, vẫn còn đi lại không hề có hiềm khích, gần đây vì đất nước xa xôi, biên cương cách trở mà phải thưa việc thăm hỏi. Họ muốn nối lại tình hoà hiếu cũ, nên đã không ngại xa ngàn vạn dặm, vượt biển mà đến, chẳng có ý gì khác, chỉ vì ngôn ngữ không thông, khó đặt quan hệ bang giao mà sinh chuyện can qua, mở đầu từ Trà Sơn, tiếp đến Cửa Cấm. Họ vốn không phải khoe võ lực mà chỉ muốn lập lại tình cũ, thật tình có chỗ rất bất đắc dĩ.

Hoàng thượng vì lấy non sông làm trọng, và lo cho sinh mạng của nhân dân. Người không muốn để con dân nơi biên cương lại mắc chuyện binh đao, nên đã cắt đất sáu tỉnh để tạm giảng hoà với chúng, cốt làm sao để hoãn binh nhất thời cho binh nghỉ dân yên.

Bản thân người Pháp thực không muốn chiếm nước người, vì lấy tình nghĩa làm trọng, coi thường sự thiệt hơn, nên họ đã không cho phép An Nghiệp làm càn. Hoắc Đạo Sinh2 vừa đến cùng với sứ thắn của ta là lập tức đem cả đất đai, nhân dân bốn tỉnh trả lại cho ta, một lời hứa giá ngàn vàng, không tơ hào nuối tiếc.

Quốc quân, Đại thần, Nguyên soái nước họ vốn vẫn có ý tốt ấy. Hơn nữa gần đây sứ thần đi lại, tặng biếu pháo thuyền, hoà hảo thân thiết, giúp đỡ lẫn nhau, vui lợi cùng hưởng, bỏ hết chuyện sai trái cũ. Nếu họ sớm trả sáu tỉnh thì được tiếng hay, được lợi về thông thương, vận chuyển , chắc họ đã tính kỹ rồi.

Nhưng nay họ còn hoãn lại ít lâu, chắc cũng có lý do:

Một là để củng cố Hòa ước, vì người Pháp tuy có tình hoà hiếu cũ đối với ta, nhưng họ từ nghìn dặm xa mà tới, vị tất không có sự lo lắng “Tôi không lừa anh, anh không hại tôi”, nên họ phải lấy đất ấy làm chỗ ở yên để làm mạnh cái thế của họ và làm vững cái hoà của ta.

Hai là để thu địa lợi, vì đất đai sáu tỉnh Gia Định màu mỡ, sản xuất lúa gạo nhiều hơn các hạt khác, nên vị tất họ không có ý lần lữa trông chờ.

Hơn nữa, sự thế sáu tỉnh Nam Kỳ và bốn tỉnh Bắc Kỳ thật không giống nhau, sáu tỉnh Nam Kỳ bị lấy từ ngày Hòa ước mới bắt đầu quy định, còn bốn tỉnh Bắc Kỳ thì ở vào thời gian Hòa ước đã quyết định rồi. An Nghiệp làm càn, lý của họ trái, nên không thể không trả sớm, còn sáu tỉnh tạm hoãn ít lâu cũng là có nguyên nhân vậy.

Xin Hoàng thượng hết lòng thành thực, đối xử với họ, dùng nghi thức văn chương trang trọng để tiếp đãi họ. Đối nội đã không bỏ chính sách tự trị, đối ngoại lại mở rộng chữ tín đối với người, khiến họ vui vẻ thấy được ý tốt của Triều đình mà thôi, không bụng ngờ vực nữa.

Xưa đức Khổng Tử làm Tể tướng nước Lỗ, nước Tề trả lại đất đã xâm chiếm chỉ vì người hết lòng thành thực nên đã cảm động được họ.

Vả lại đã mưu việc lớn thì không tiếc tốn nhỏ, do đó mà người xưa đã chóng giải quyết xong việc.

Xin Hoàng thượng cho xem xét kỹ sự thể, nếu họ hám lợi thì lấy thuế quan, thuế bến mà đổi cho họ, hoặc giao ước tăng tiền bồi thường đợi sau thanh toán lại kéo dài điều ước hoà hiếu khiến cho họ nhận thấy lẽ phải trái trong tình lý và sự lợi hại trong sự thể, ắt họ phải đem sáu tỉnh sớm trả lại cho Triều đình, đâu đến nỗi phiền Hoàng thượng phải lo lắng vất vả.

Vả lại bậc trí giả không mê hoặc, không làm người mất vui; bậc nhân giả không tàn nhẫn, không làm người mất nơi nương tựa. Họ đã cảm động về sự hậu đãi và sự ân cần trân trọng của Triều đình thì tất nhiên chẳng chịu ở vào vị trí của kẻ bất trí, bất nhân, do đó, họ chẳng đợi ta yêu cầu mới đáp ứng.

Thần cúi đọc chế sách biết bao ân cần tha thiết, thành khẩn ham hỏi, ham xét, Nghiêu Thuần khi xưa hầu như chẳng hơn.

Thần sơ hoạ mới tiến, không biết việc trọng yếu của chính sự, nhặt nhạnh những điều bình luận tầm thường, mạo phạm đức chí tôn.

Khôn xiết ...

Phạm Thị Kim và Chương Thâu dịch

Đặng Thai Mai hiệu đính3


Chú thích:

Nguyên tác bài này chúng tôi in theo văn bản Hội Đình văn tuyển từ tờ 13 - 20, bản in Liễu - Chàng tàng bản xếp ở cuối tập Hương thí văn tuyển, ký hiệu sách: A.3173 của Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam; bản phiên âm của GS. Phan Văn Các và bản dịch của Phạm Thị Kim và PGS. TS. Chương Thâu; GS. Đặng Thai Mai hiệu đính.
_____________________________________________
1. Hoàng Vũ: Triều Minh không có niên hiệu Hoàng Vũ mà chỉ có Hồng Vũ, niên hiệu của Triều Minh Thái Tổ (1368-1396), có thể là in nhầm hoặc không kiêng tên của Tự Đức là Hồng Nhậm.
2. Hoắc Đạo Sinh: Philastre thống soái của thực dân Pháp cùng với Nguyễn Văn Tường ra Bắc Kỳ để bàn về việc trả lại bốn tỉnh miền Bắc do Francis Garnier đánh chiếm trong cuộc xâm lược Bắc Kỳ lần thứ nhất năm 1873.
3. Phạm Thị Kim: Nghiên cứu viên Viện Thông tin KHXH; Chương Thâu: Phó giáo sư, Tiến sĩ, Viện Sử học, Viện KHXH Việt Nam; Đặng Thai Mai (1902 - 1984): Giáo sư, Viện trưởng Viện Văn học, Viện KHXH Việt Nam.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #47 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2008, 10:55:47 pm »


BÀI VĂN ĐIẾU HOÀNG DIỆU (1982)1

Nguyên tác:


Phiên âm:

Đệ, dã ngu Phan Đình Phùng bút phục

Trần Đình Túc, Nguyễn Hữu Độ, Hoàng Hữu Thường, Võ Nhự
3 đồng bái

Trượng phu hứa quốc, duy kiệt lực ư đương vị;

Chí sĩ thành nhân, khởi sát thân chi túc tích.

Tự phi kiến nguy chí mạng, xác hữu cương trường,

Thế năng thị tử như quy, hào vô chuyển kế.

Cố Hà Ninh tổng đốc Hoàng đại nhân


        Tằng lăng kỳ cốt,

        Lỗi lạc phong tư.

Cụ công minh thanh chính chi tài, triều hữu trực thanh, quận hữu năng tích;

Phụ tuấn tiểu quảng ngung chi khí, môn vô tư kiệt, gia vô hậu tàng.

Phương đương Long Biên kiến tiết chi sơ,

Dĩ hữu kình hải dương ba chi lự.

Bất đồng giả lực, cố tri thời thế chi nan;

Duy ký quyết tâm, diệc việt phong cương chi trách.

Hi sinh cảnh thượng, ký hòa hiếu nhi đãi bỉ chi lai;

Giáp mã thành biên, nại lăng bách nhi thụ ngã dĩ khôn.

Phong đình nhất trận yên trần cô dung;

Quân khí ký suy, công kế toại quyết.

Vân quan hồi thủ, khởi vô Quản Di Ngô tam tẩu chi tư;

Nùng lĩnh ngưng mâu, cánh thiết Hoa Tư Mã phục lai chi sỉ.

Thảng thốt hoàng cung bái tạ, thần tội đương tru;

Thung dung Võ Miếu quyên sinh, minh thần công chứng.

Cô trung khả bạch, tố nhất trường chi liệt liệt oanh oanh;

Công luận do tồn, phó chúng khẩu chi phi phi thị thị.

        Ô hô!

Doanh hoàn vận hội, thiên cổ sáng văn;

Nhĩ chử phong ai, thập niên lưỡng độ.

Khách sái tân đình chi lệ, thử nhật sơn hà;

Sĩ chiêu lữ thấn chi hồn, cựu thời bộ khúc.

Độc thị trung can nghĩa phủ, văn kiến đồng khâm;

Thứ cơ thiên trụ địa duy, cương thường bất trụy.

Duy tiền bằng điếu, thực quan nhân sinh ý khí chi bi;

Tận hậu cán hoàn, ích hệ thế đại tích kim chi cảm.

Viên sơ vu dẫn dụng đương phỉ ca.



Dịch nghĩa:

Trượng phu hứa thân vì nước, chỉ hết mình nơi việc đáng làm. Chí sĩ quyết liệt thành nhân, há lại sợ sát nhân mà tiếc. Thấy nguy liều mệnh, thế mới đáng gọi là cang trường. Coi chết như về, thật rõ rệt trần gian hãn hữu.

Cố Hà Ninh Tổng đốc đại nhân,

Tằng lăng khí cốt,

Lỗi lạc phong tư
4;

Đủ công minh thanh chính biệt tài, nơi triều quận tiếng tăm đà lừng lẫy Lại chí khí ngang trời dọc đất, chốn gia tư môn hộ thanh cần.

Nơi Long Biên lập tiết bắt đầu, đã rõ chí kình ngư dương biển cả. Chốn trận mạc đo gươm đấu súng, đã thấy ngay binh khí chẳng đồng đều. Nhưng cũng quyết tâm chiến đấu, dẫu sao thì cũng phải tròn nhiệm vụ chốn phong cương.

Hi sinh vì đại cuộc, hãy ký hòa xem chúng sẽ làm sao?

Giáp mã bên thành, xung trận mạc chúng liền vây khổn. Một trận lôi đình, khói mây mù mịt, ba quân kiệt lực, chiến cuộc suy tàn.

Ngõ tắt đường cùng.

Tướng công bèn quyết.

Đường mây ngoảnh lại, há chẳng như Quản Di Ngô ta lúc bôn ba. Nùng Lĩnh trông về lại giống thể Hoa Tư Mã một lần trở gót. Mới vội vã hoàng cung bái tạ, thần tội đáng tru
5, rồi thong dong Võ Miếu quyên sinh, thần minh chứng giám.

Cô trung đã rõ, thiệt một trường liệt liệt oanh oanh.

Công luận đó còn, mặc miệng thế hay hay dở dở.

Một cuộc doanh hoàn, ngàn năm khai sáng.

Nhị hà tung bụi, mười độ hai lần.

Giọt lệ Tần đình tuôn nhỏ, sơn hà này biết nói làm sao?

Đám tang khách địa chiêu hồn, bộ khúc nọ đau lòng chi xiết.

Trước gương sáng gan trung ruột nghĩa, ai chẳng người khâm phục anh hùng. Thế mới hay thiên trụ địa duy
6, muôn năm nữa cương thường khôn đổ.

Trước linh cữu đồng nhân bái điếu, ngẫm nhân sinh bao xiết đau lòng.

Sau cơ trời có lúc tái hoàn, lại thế đại vô cùng cảm khái.

Lời văn thô thiển, mong thế phỉ ca
7.

Đệ dã ngu Phan Đình Phùng bút phục.

Trần Đình Túc, Nguyễn Hữu Độ, Hoàng Hữu Thường, Võ Nhự đồng bái.


Thái Can dịch
(Theo Nguyễn Hoàng Viên: Hoàng Diệu 1829-1882,
Nxb Đà Nẵng, 2001, tr.93-96)

Chú thích:
1. Bài điếu văn của Phan Đình Phùng do một vị lão Nho chép lại, được thêu trên một bức trướng to, treo tại gian thờ Hoàng Diệu trong nhà thờ tộc Hoàng ở Xuân Đài thời trước. Năm 1947 nhà thờ bị bom Pháp đánh phá tan nát, các di vật hoành phi, liễn đối đều không còn.
2. chữ (?) không thấy có trong các từ điển tiếng Hán, kể cả Khang Hi Tự Điển và Hán Ngữ Đại Từ Điển, 12 tập, La Trúc Phong chủ biên Hán Ngữ Đại Từ Điển, xuất bản, xã Thượng Hải, 1994.
3. Trần Đình Túc, quê Quảng Trị; Cử nhân, năm 1873 Tổng đốc Hà Nội, thương nghị với Pháp; thuộc phái chủ hòa. Nguyễn Hữu Độ, quê Thanh Hóa; Tiến sĩ, làm quan đến Thượng thư, Phụ chính Đại thần; 1880-1883 Kinh lược sứ Bắc Kỳ sau khi thực dân Pháp chiếm Hà Nội. Hoàng Hữu Thường, quê Thừa Thiên; Tiến sĩ; sau khi Pháp đánh chiếm Hà Nội cùng Khâm sai Trần Đình Túc thương thuyết với Pháp, rồi làm Bố chánh Hà Nội, sau đó làm Thị lang, sung nội các ở Huế. Võ Nhự, quê Hải Dương; Cử nhân, làm Đốc học Hà Nội, Tuần vũ Hà Nội (theo Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế: Từ điển nhân vật lịch sử. Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1993).
4. Tằng lăng khí cốt: khí cốt cứng và cao, ngạo nghễ như núi lởm chởm. Lỗi lạc phong tư: nếp người tài trí lỗi lạc hơn người.
5. Tru: chém. Không dám viết ra tiếng Việt, cứ để nguyên văn tiếng Hán.
6. Thiên trụ địa duy: cương thường như cột để trụ trời, như màn để che đất, nếu cương thường sụp đổ thì trời đất cũng sụp đổ luôn.
7. Phỉ ca: lời ca văn nhã (thế đây là thay thế)...

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #48 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2008, 11:45:45 am »


VIỆT SỬ ĐỊA DƯ (1883)
(trích)

Tiểu dẫn: Việt sử địa dư là sách địa lý chú giải về sự thay đổi địa danh lịch sử nước ta từ thời Hùng vương đến cuối thời Lê, do Phan Đình Phùng biên khảo, Hàn lâm viện Điển tịch Thái Khắc Tuy khảo chính, Hình ty Chánh bát phẩm Phạm Đình Tấn khảo xét, Công ty Vị nhập lưu Thư lại Hoàng Chí Thức, Vị nhập lưu Thư lại Bùi Văn Dự cùng sao chép, hoàn thành vào niên hiệu Kiến Phúc năm thứ nhất (1883). Đây là sách nằm trong số thư tịch tài liệu do Học viện Viễn đông Bác cổ của Pháp trao lại cho ta vào năm 1958, sau đó đến năm 1979 lại được bàn giao cho Viện Nghiên cứu Hán Nôm quản lý. Sách gồm một bản, mang ký hiệu A.971, đóng bìa bằng giấy Tây màu hồng, gáy bả sơn ta, khổ 20x29cm, viết bằng chữ Hán trên giấy dó, có chấm câu bằng mực đỏ. Toàn bộ tác phẩm gồm 204 trang, tức 102 tờ giấy dó viết gập đôi, trong đó phần Mục lục là 22 trang, phần tập Thượng là 104 trang, tập Hạ là 78 trang. Phương pháp biên soạn của sách là trích dẫn hoặc tóm tắt những sự kiện trong chính sử liên quan đến địa danh rồi chú giải những địa danh đó thay đổi qua từng thời.

Sách địa lý nước ta ra đời từ khá sớm gồm hai loại
Quốc chí và Địa phương chí, nhưng loại sách chuyên chú giải về địa danh thì không nhiều. Ngoài Dư địa chí của Nguyễn Trãi biên soạn vào thế kỷ XV, Việt sử địa dư là tác phẩm thứ hai viết về chủ đề này. Tuy nhiên, so với tác phẩm của Nguyễn Trãi, tác phẩm của cụ Phan và các cộng sự của cụ có dung lượng bao quát địa danh rộng lớn hơn nhiều.

Trong khuôn khổ tập sách, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu phần đầu của tác phẩm Việt sử địa dư, là tập Thượng để độc giả hiểu thêm về con người và sự nghiệp của Phan Đình Phùng. Vì khuôn khổ tập sách và thời gian có hạn, chúng tôi không đưa vào đây phần nguyên bản chữ Hán và phiên âm như các tác phẩm khác, kính mong bạn đọc thông cảm và tìm đọc ở tập sách in toàn bộ Việt sử địa dư, do Nguyễn Hữu Mùi, Tiến sĩ, Nghiên cứu viên Viện nghiên cứu Hán Nôm, Viện KHXH Việt Nam - dịch và chú thích, sẽ được Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây tổ chức xuất bản trong thời gian tới.


TẬP THƯỢNG


TIỀN BIÊN
Quyển 1

Niên kỷ Hùng vương, Hùng vương đóng đô ở Phong Châu, đặt quốc hiệu là Văn Lang.

Phong Châu, theo Thái Bình hoàn vũ ký do Nhạc sử đời Tống soạn, ghi Phong Châu là quận Thừa Sĩ, xưa là nước Văn Lang. Cứ theo đó nay là địa hạt các phủ Vĩnh Tường, Lâm Thao thuộc tỉnh Sơn Tây. [nơi đây] có miếu thờ Hùng Vương (nên có căn cứ), chia trong nước làm 15 bộ. Lời chú của Nguyễn Thiên Túng trong Dư địa chí của Nguyễn Trãi về 15 bộ, là Sơn Nam (nay thuộc đất các tỉnh Hà Nội, Nam Định, Hưng Yên), thời cổ là bộ Giao Chỉ; Sơn Tây, thời cổ là bộ Chu Diên và Phúc Lộc; Kinh Bắc (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh), thời cổ là bộ Vũ Ninh; Thuận Hoá [tờ 12b] (nay là phần đất Hải Lăng của tỉnh Quảng Trị đến phần đất Điện Bàn của tỉnh Quảng Nam), thời cổ là bộ Việt Thường; An Bang (nay là tỉnh Quảng Yên), thời cổ là bộ Ninh Hải; Hải Dương, thời cổ là bộ Dương Tuyền; Lạng Sơn, thời cổ là bộ Lục Hải; Thái Nguyên; Cao Bằng, thời cổ là bộ Vũ Yên; Nghệ An, thời cổ là Hoài Hoan; Thanh Hoá, thời cổ là bộ Cửu Chân; Hưng Hoá; Tuyên Quang, thời cổ là bộ Tân Hưng. Ngoài ra thấy khuyết hai bộ Bình Văn và Cửu Đức. Khảo trong Tấn chí, thấy bộ Cửu Đức do nhà Ngô đặt, nay là phần đất tỉnh Hà Tĩnh.


Họ Việt Thường đi sứ sang nhà Chu, hiến chim trĩ trắng, khi trở về bị lạc đường, Chu Công ban cho xe chỉ nam, do Phù Nam và Lâm Ấp có danh giới giáp biển mà về, vừa đúng một năm mới về đến nước.

Phù Nam, theo Phương dư kỷ yếu, nước Phù Nam ở trong đảo lớn về phía Tây Nam Hải thuộc quận Nhật Nam. Nước Lâm Ấp, từ Tây, Nam, Bắc cách quận Nhật Nam bảy nghìn dặm, từ Tây đi Lâm Ấp hơn ba nghìn dặm [tờ 13a]. Nước này rộng hơn ba nghìn dặm.

Lâm Ấp (nguyên chú vào năm Vĩnh Hòa thứ 9 (380) thuộc Mục đế đời Tấn), thuộc quốc giới họ Việt Thường thời cổ, nhà Tần đặt làm huyện Lâm Ấp thuộc Tượng Quận, nhà Hán đổi làm huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam. Cuối đời nhà Hán, con viên Công tào là Khu Liên giết viên Huyện lệnh, tự lập làm vua nước Lâm Ấp. Về sau Khu Liên không có con kế dõi, trải đến niên hiệu Trinh Quán (627- 649) nhà Đường, người trong nước lập Gia Cát Địa lên làm vua, đổi quốc hiệu là Hoàn Vương, thường sang xâm lấn An Nam, bị Đô hộ [An Nam] là Trương Chu đánh phá, nước đó mới bỏ Lâm Ấp, dời đến nước Chiêm, gọi là nước Chiêm Thành. Từ các liệt thánh của bản triều1 khai mở cơ nghiệp đều định đô ở đây. Nay thành Phật Thệ ở Thừa Thiên, thành Chà Bàn ở Bình Định đều là di tích cố đô của Chiêm Thành vậy:


[tờ 13b] Thục An Dương Vương năm thứ nhất (257 tr.CN), vua diệt nước Văn Lang, đổi quốc hiệu là Âu Lạc, đóng đô tại Phong Khê.

Âu Lạc, theo Dư địa chí của Cổ Hy Phùng, Giao Chỉ về đời nhà Chu gọi là Lạc Việt; nhà Tần gọi là Tây Âu. Theo Giao quảng ký của Hoàng Sâm, Giao Chỉ có ruộng lạc điền, khai khẩn theo nước thuỷ triều lên xuống. Người hưởng hoa lợi ở ruộng này, gọi là Lạc Hầu. Các huyện tự gọi là Lạc Tướng. Về sau con của Thục Vương mang quân đánh Lạc Hầu, tự xưng là An Dương Vương, đóng đô ở Phong Khê. Phong Khê nay là thành Cổ Loa huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh.


Thục An Dương Vương năm thứ 44 (214 tr.CN), nhà Tần sai Đồ Thư và Sử Lộc đến cướp Lĩnh Nam, đặt thành Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận.

Xét trong Lĩnh ngoại đại đáp của Chu Khứ Phi nhà Tống, nói ba quận này là đất Bách Việt cũ. Từ khi Tần Thuỷ Hoàng kiêm tính được thiên hạ, phạt núi thông đường, cướp đất Dương, Việt, lược định đất Dương Việt, đặt làm Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận. Nay tỉnh Quảng Tây tức là Quế Lâm đời Tần. Quảng Đông tức là Nam Hải đời Tần. Giao Chỉ tức là Tượng Quận đời Tần [tờ 1a]. Khi Hán Vũ Đế đánh Nam Hải, tách Quế Lâm đời Tần làm hai là Uất Lâm và Thương Ngô, tách Tượng Quận làm ba là Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Lại cắt phần đất dư của Nam Hải và Tượng Quận đặt làm quận Hợp Phố. Lại từ khi huyện Từ Văn vượt biển cướp hai quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ ở phía Nam biển, đặt viên Thứ sử ở Giao Châu. Đến nhà Ngô chia làm hai là Giao Châu và Quảng Châu. Giao Châu đặt lỵ sở ở Long Biên, còn Quảng Châu đặt ly sở ở Phiên Ngung. Quy mô giống như thời nhà Hán, duy có súy phủ là có khác. Đường Cao Tông bắt đầu đặt An Nam đô hộ phủ ở Giao Châu. Bản triều [triều Tống] trong niên hiệu Hoằng Hựu (1049-1053), đặt chức An phủ và Kinh lược ở Quế Lâm. Súy phủ ở Tây đạo bắt đầu dựng lên ở đây. Đến nay Bát Quế, Phiên Ngung, Long Biên đứng đối nhau như chân vạc, là theo kiểu cũ của nhà Tần.


Nhà Tần lấy Triệu Đà làm chức lệnh Long Xuyên, di dân bị tội đày sang thú ở Ngũ Lĩnh.

[tờ 14b]. Long Xuyên, tên huyện của Nam Hải, nay là đất Tuần Châu; Ngũ Lĩnh, theo Quảng Châu ký của Bùi Uyên, Ngũ Lĩnh là Đại Dũ, Thuỷ An, Lâm Hạ, Quế Dương, Yết Dương, nay thuộc địa giới tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây.


Thục An Dương Vương năm thứ 48 (210 tr.CN), Triệu Đà mang quân đánh Thục Vương, đóng quân ở núi Tiên Du thuộc Bắc Giang. Thục Vương đem quân chống lại Triệu Đà, dời quân doanh đến núi Vũ Ninh. Thục Vương cắt đất cho Triệu Đà từ Bình Giang về phía Bắc để giảng hoà, rồi hai bên cho bãi binh rút quân về.

Núi Tiên Du, theo An Nam chí lược của Cao Hùng Trưng, núi Tiên Du còn có tên là núi Lạn Kha, tại địa phận huyện Tiên Du. Trên núi đó có hòn đá hình bàn cờ, tương truyền có người tiều phu nhìn thấy hai ông tiên đánh cờ, bất giác cán rìu mục ra lúc nào không biết.

Núi Vũ Ninh, theo An Nam chí lược của Cao Hùng Trưng, núi đó ở châu Vũ Ninh (nay là huyện Võ Giàng) . Trên núi này có sống núi gọi là Tỉnh Thủy Cương, sống núi ấy có rắn đá, tên gọi là Ngọc Kinh.

Bình giang, tức sông Thiên Đức, lại có tên là sông Đông Ngàn.


Triệu Vũ Vương năm thứ nhất (207 tr.CN), Triệu Đà tự lập làm Nam Việt Vương, đóng đô ở Phiên Ngung [tờ 15a].

Phiên Ngung (thời Hán gọi là Nam Thành) thuộc quận Hải Nam, nay là phủ Quảng Đông và Quảng Châu.


Triệu Việt Vương năm thứ 10 (198 tr.CN), Triệu Vương bắt đầu sai hai viên sứ coi giữ ở hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân.

Giao Chỉ, xưa là phần đất các bộ Giao Chỉ, Chu Diên, Phúc Lộc, Vũ Ninh, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định và Tân Hưng. Nhà Triệu đặt làm quận, thống lãnh 10 huyện. Về sau các bộ này giữ nguyên hoặc thay đổi mỗi thời mỗi khác. Nay thuộc phần đất của các tỉnh Bắc Kỳ.

Cửu chân, xưa là phần đất của ba bộ Cửu Chân, Hoài Hoan và Việt Thường. Nhà Tần đặt làm đất Tượng Quận; nhà Triệu đặt làm quận, thống lĩnh 12 huyện; nhà Hán, khoảng niên hiệu Nguyên Đỉnh (116 - 111 tr.CN), tách 5 huyện Tỷ Cảnh, Lư Cốc, Tây Quyển, Tượng Lâm và Chu Ngô đặt làm quận Nhật Nam, còn 7 huyện Tư Phố, Cư Phong, Đô Bàng, Dư Phát, Hàm Hoan, Vô Thiết và Vô Biên, vẫn theo cũ đặt làm quận Cửu Chân; nhà Ngô, Tấn, Tống, Tề giữ nguyên như thế. Đến nhà Lương đổi làm Ái Châu. Về sau châu này giữ nguyên hay thay đổi mỗi thời mỗi khác. Nay là phần đất Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên. [tờ 15b]


[triệu] Ai Vương năm thứ nhất (112 tr.CN), nhà Hán sai bọn Lộ Bác Đức đem quân đến đánh, Triệu Vương cùng tướng của mình là Lã Gia và Trì Nghĩa Hầu tên là Quý người Việt đem quân Dạ Lang xuống sông Tường Kha, hội binh ở Phiên Ngung.

Dạ Lang, là tên nước, nay là phần đất Kiện Vi thuộc Bá Châu. Thời Hán, do Tây di có đến cả chục người làm quân trưởng, Dạ Lang là nước lớn nhất, ở bên ngoài quận Thục, phía Đông giáp Giao Chỉ, phía Tây giáp Điền Quốc.
_________________________________________
1. Liệt thánh bản triều: chỉ các chúa Nguyễn từ Nguyễn Hoàng đến Duệ Tông, Nguyễn Phúc Thuần.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #49 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2008, 11:55:04 am »


CHÍNH BIÊN
Quyển 2


Triệu Vương Kiến Đức năm thứ nhất (111 tr.CN), nhà Hán diệt nhà Triệu, chiếm lấy đất nhà Triệu, đặt làm 9 quận, liệt làm bộ Giao Chỉ, mỗi quận đặt một viên Thái thú, gọi gộp chung đất Nam Việt là Giao Châu.

[tờ 16a]. Thương Ngô, nay là đất Ngô Xuyên; Uất Lâm, nay là đất Quảng Tây; Hợp Phố, nay là đất Quảng Châu; Nhật Nam, xưa là bộ Việt Thường, nhà Tần đặt làm Tượng Quận, đến nhà Triệu thuộc quận Cửu Chân, đầu nhà Hán tách đặt thành Nhật Nam, đến nhà Ngô, Tần, Tống giữ theo như nhà Hán. Về sau bị Lâm Ấp chiếm đoạt. Nhà Tùy đánh Lâm Ấp, đặt làm Đãng Châu, tiếp đến đổi thành quận Tỷ Cảnh. Về sau quận này bị sáp nhập vào Chiêm Thành. Nay thuộc phần đất tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị.

Châu Nhai, ở trong biển lớn, sát bên bờ biển. Nhà Đường đổi làm Châu Nhai, nay là phần đất Quỳnh Châu và Nhai Châu. Đam Nhĩ, cũng là một bãi nổi trong biển lớn, nhà Đường đổi làm Đam Châu, nay là phần đất Đam Châu của phủ Quỳnh Châu. Các quận còn lại, đã chú ở trên.


Thuộc Hán Võ Đế, niên hiệu Nguyên Phong năm thứ nhất (110 tr.CN), chế độ của nhà Hán, châu thì đặt Thứ sử, quận thì đặt Thái thú. Long Uyên, Mê Linh, Doanh Lâu, Quảng Tín đều có trị sở của Thứ sử. [tờ 16b].

Long Uyên, tức Long Biên, là tên huyện thời Hán, thuộc quận Giao chỉ, là quận trị thời Đông Hán. Theo Thuỷ Kinh chú, niên hiệu Kiến An thứ 13 (208) nhà Hán, khi mới đắp thành, có loài giao long đi lại ở hai bên bờ, nhân đó đổi thành Long Uyên. Nhà Lý đặt kinh đô ở đây đổi tên là Thăng Long. Nhà Trần, Lê định đô và giữ theo tên y như nhà Lý. Nay là tỉnh thành Hà Nội.

Mê Linh, theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi, thời xưa là quận Phúc Lộc. Sách Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn ghi là Phong Châu (nay thuộc tỉnh Sơn Tây). Sách Văn hiền thông khảo chú rằng, đất Gia Ninh, Thừa Hoá và Tân Xương đều thuộc huyện Mê Linh của thời Hán.

Doanh Lâu, tên huyện, thuộc bộ Giao Chỉ, nay là xã Lũng Khê huyện Siêu Loại tỉnh Bắc Ninh, do ở đó có di chỉ thành cũ.

Quảng Tín, theo Phương du kỷ yếu thuộc quận Thương Ngô, nay là tên huyện thuộc phủ Ngô Châu.


Thuộc Hán Quang Võ, niên hiệu Kiến Võ thứ 18 (42), Mã Viện nhà Hán đem quân đến Lãng Bạc, giao chiến với Trưng Trắc [17a], rút về cố thủ ở Cấm Khê.

Lãng Bạc, còn có tên là Dâm Đàm, nay là hồ Tây thuộc tỉnh Hà Nội.

Cấm Khê, theo Thủy Kinh chú, căn cứ vào sách Việt chí ghi rằng, Cấm Khê ở về phía Tây huyện Mê Linh, nay là địa hạt phủ Vĩnh Tường tỉnh Sơn Tây.


Thuộc Hán Linh đế, niên hiệu Quang Hoà năm thứ nhất (178), người Man ở Giao Chỉ, Hợp Phố, Ô Hử làm phản.

Ô Hử, theo mục Tây Nam truyện trong Hậu Hán thư và Nam châu dị vật chí của Vạn Chấn, đều ghi Ô Hử là tên đất, ở về phía Nam Quảng Châu, phía Bắc của Giao Châu, người xứ đó thường ra đường rình rập khách bộ hành, bất ngờ đánh giết họ, mong lấy người để ăn thịt, chứ không tham của cải, cũng có khi dùng làm thịt ướp để ăn. Vì thế mới gọi là nước Hám Nhân.



TIỀN BIÊN
Quyển 3


[tờ 17b] Thuộc Ngô chúa Quyền, niên hiệu Hoàng Vũ năm thứ 5 (226), lấy Lữ Đại làm Giao Châu mục. Lữ Đại khiến các vua ngoài biên giới Lâm Ấp và Đường Minh, mỗi nơi phải sai sứ đến dâng cống. Giao Châu tuy tạm yên nhưng có giặc cũ ở Cao Lương chờ thời cùng giặc ở đất các quận Nam Hải và Châu Quan nổi lên ngày một nhiều.

Đường Minh, tên nước, nằm trong vụng biển, cách..Nhật Nam 7 nghìn dặm về phía Bắc, tức nước Đạo Đường.

Châu Quan, tức quận Hợp Phố nhà Hán, nhà Ngô đổi thành Châu Quan.

Cao Lương, tên huyện, thuộc quận Hợp Phố.


Thuộc Ngô chúa Hạo, niên hiệu Nguyên Hưng năm thứ nhất (264), chia đất Giao Châu, đặt ra Quảng Châu

Nhà Ngô cắt ba quận Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm đặt thành Quảng Châu, trị sở ở Phiên Ngung; Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố làm Giao Châu, trị sở ở Long Biên. Việc phân chia Giao Châu và Quảng Châu bắt đầu từ đó.


[tờ 18a] Đương thời người Di Lạo ở quận Vũ Bình, Cửu Đức vàTân Xương hung hăng mạnh mẽ, trải các đời không chịu thần phục, Đào Hoàng đưa quân đi đánh, dẹp yên được chúng.

Vũ Bình, vốn là đất huyện Phong Khê, do thời nhà Ngô đặt, thống lĩnh 7 huyện; nhà Tuỳ đặt làm huyện Long Bình; nhà Đường đổi làm huyện Vũ Bình, tiếp đến đặt làm Đằng Châu; đến nhà Đinh, Lê đặt làm phủ Thái Bình; nhà Trần đổi làm Khoái Lộ; nhà Lê sửa đổi đặt thành hai phủ Tiên Hưng và Khoái Châu. Nay là đất tỉnh Hưng Yên.

Cửu Đức xưa là đất họ Việt Thường; đến nhà Ngô mới đặt ra quận Cửu Đức, thống lĩnh 8 huyện; nhà Tần, Tống, Lê, Tề giữ nguyên theo cũ; nhà Lương đổi là huyện Cửu Đức, thuộc quận Nhật Nam; nhà Đường thay đổi lệ vào Hoan Châu. Nay là đất tỉnh Hà Tĩnh.

Tân Hưng, theo lời chú của Hồ Tam Tỉnh, tức Phong Châu. Nay là đất tỉnh Sơn Tây.


Thuộc Tống Văn Đế, niên hiệu Nguyên Gia năm thứ 23 (466), nhà Tống sai Thứ sử Giao Châu là Đàn Hoà Chi đánh vua nước Lâm Ấp là Phạm Dương Mại, tiến quân đến đồn Chu Ngô, thừa thắng đánh vào Tượng Phố.

[tờ 18b]. Chu Ngô thú, là tên huyện, từ thời Hán về sau thuộc quận Nhật Nam, đương thời ở đất này đặt đồn thú ở phía Bắc nước Chiêm Thành

Tượng Phố, tên huyện, ở về phía Tây Bắc nước Chiêm Thành, vốn là huyện Tượng Lâm của nhà Hán, thuộc quận Nhật Nam. Nhà Tuỳ đổi là quận Lâm Ấp.


Thuộc Tề Vũ Đế, niên hiệu Vĩnh Minh năm thứ 3 (485), Lưu Khải điều động quân ở các quận Nam Khang, Lô Lăng và Thuỷ Hưng đánh Thứ sử Giao Châu là Lý Thúc Hiến.

Hai quận Nam Khang và Lô Lăng đều thuộc Giang Châu:

Quận Thuỷ Hưng thuộc Tương Châu.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM