Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:42:00 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Phan Đình Phùng - Cuộc đời và sự nghiệp  (Đọc 125104 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #60 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2008, 11:25:44 pm »


ĐỂ TÔ THỊ GIA1

Nguyên tác:


Phiên âm:

                       ĐỂ TÔ THỊ GIA

                       Đinh Hợi xuân nhị nguyệt,
                       Ngẫu quá Đông Yên thôn
                       Văn hữu Tô thị gia,
                       Trung hậu thế kỳ môn.

                       Thăng giai thị nhất kiến,
                       Ngôn ngữ hà ôn tồn.
                       Sự gia trọng hữu hiếu,
                       Huynh đệ tự thiên luân.

                       Chủ nhân ái thi khách,
                       Lương bằng đương mãn tịch.
                       Tương dữ đàm cổ kim,
                       Xướng hoạ doanh ốc bích.

                       Bá Ngọc miễn hồ tai,
                       Phàm thư giai thế trạch.
                       Miễn chi hựu miễn chi,
                       Dư hương bằng thiên tích.

Dịch thơ:

                          ĐẾN NHÀ HỌ TÔ

                       Tháng Hai xuân Đinh Hợi,
                       Nhân ghé làng Đông Yên.
                       Nghe có nhà họ Tô,
                       Trung hậu nổi tiếng truyền.

                       Qua buổi đầu gặp gỡ,
                       Thấy nói năng ôn tồn.
                       Phép nhà trọng hiếu hữu,
                       Anh em trọng thiên luân.

                       Chủ nhân vốn mến khách,
                       Đầy nhà những bạn hiền.
                       Cùng luận bàn kim cổ,
                       Ngâm vịnh suốt ngày đêm.

                       Quý thay ông Bá Ngọc!
                       Ấy ơn dày từ trước
                       Gắng lên! Gắng nữa lên!
                       Làm lành được hưởng phước.

Lê Thước dịch

Chú thích:

1 Ông Tô Bá Ngọc là một nhà Nho yêu nước ở thôn Đông Yên, tổng Vân Tụ (nay là xã Minh Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An), khi Phan Đình Phùng trên đường ra Bắc (đầu năm 1887) đã dừng lại ở gia đình này một thời gian và có làm thơ xướng họa với chủ nhà. Phan Đình Phùng để lại lời dẫn như sau trong tờ Di bút tặng ông Tô Bá Ngọc (xem Bút tích Phan Đình Phùng trong phong trào Cần vương chống Pháp của Trần Nguyên Trinh - Trần Bá Chí, Tạp chí Hán Nôm, số 2 (35), 1998).


Phiên âm:

Tuế Đinh Hợi xuân, nhị nguyệt dư dĩ công cán để Diễn, kinh quá Vân Tụ chi Đông Yên thôn, thôn hữu Tô thị giả văn đạo thế truyền trung hậu, dư nhân vãng túc yên.

Bá Ngọc tử kỳ đích phái dã. Sơ kiến thời, ngôn từ cử chỉ tuân tuân nhiên hữu cổ phong, cư cửu chi tri gia bất thậm phù, bình sinh xử gia kỳ vì phụ tử huynh đệ túc pháp. Bá Ngọc tảo cô, thiếu y vu thúc, đãi thúc thị cố, thẩm quả cư, Bá Ngọc thiện sự chi. Chư đường đệ hữu bất năng tự cấp, Bá Ngọc đa thiệm dĩ tiền túc. Uyển nhiên Trương Công Nghệ Trần Cảnh chi gia pháp. Hương hữu bần giả lai, bất vấn tiền chi đa thiểu, tất giảm kỳ giá nhi dữ chi túc. Cố mỗi ngộ hoang niên, bần dân lại dĩ toàn hoạt giả thậm chúng. Thả tinh hiếu khách, hữu dĩ thi văn chi triếp lạc dữ ngâm vịnh, tuy luỹ tuần liên nhật bất yếm dã. Cố châu chi văn sĩ đa tháo yên. Y! Bá Ngọc chi tiên nhân dư phất cập tri dã, nhi quan Bá Ngọc chi mục thân, chi chu bần, chi giao hữu, thử sổ đoan giả, tắc kỳ sở vị thế truyền trung hậu, tưởng phi hư ngữ dã. Hựu văn hữu lân ông giả bình nhật tính khắc bạc, hiếu thực hoá, quảng trí tức trái, gia phú luỹ cự vạn, sinh hữu tử nhị, ông tốt vị sổ nguyệt, huynh đệ phân tài tranh hiệu đa thiểu chi vu huých tường, gia nghiệp tỉ tiền đại giảm, hương nhân giai dĩ vị ông khắc bạc chi báo. Ta ta! Đồng nhất giang sơn, đồng nhất phong thổ, đồng nhất lư lý tỉnh cương, hà nhất hậu nhất bạc chi bất đồng dã? Tắc diệc thị phù gia phạm chi hà như nhĩ.

Tương biệt tiền sổ nhật, Bá Ngọc trưng thi ư dư. Dư tố chuyết, vưu bất năng thi Nhiên Bá Ngọc ái ngâm nhân dã, dư khả dĩ chuyết từ hồ tai? Nhân tẩu bút dĩ tặng chi tịnh chí sở kiến sở văn, dĩ miễn thế chi vi phụ huynh giả đương pháp kỳ trung hậu, vô vi khắc bạc vân.


Hàm Nghi tam niên nhị nguyệt sơ thập nhật.
La Yên tam giáp Tiến sĩ Phan thị thư.


Dịch nghĩa:

Mùa xuân tháng hai năm Đinh Hợi (1887), tôi đi công cán qua phủ Diễn Châu vào làng Đông Yên, tổng Vân Tụ, nghe có nhà họ Tô, đời truyền trung hậu, nhân tiện ghé thăm.

Ông Bá Ngọc vốn người dòng dõi. Mới gặp đã thấy ngôn ngữ, cử chỉ đều có phong độ cổ nhân; ở lâu mới biết nhà không giàu lắm; thường ngày trong gia đình anh em cha con ăn ở đều có phép tắc. Ông Bá Ngọc mồ côi sớm, lúc nhỏ ở dựa nhà chú; đến khi chú mất, bà thím ở goá, ông xử sự chu đáo. Những anh em con cháu, ai túng thiếu, ông giúp tiền gạo, giống như phép nhà của Trương Công Nghệ và Trần Cảnh xưa vậy. Làng xóm có người nghèo đến nhờ giúp, ông không hỏi tiền nhiều hay ít, đều để rẻ gạo cho cả. Gặp năm mất mùa, dân nghèo được ông cứu đói khá đông. Tính ông lại trọng khách. Ai giỏi văn thơ đến ngâm vịnh, dù lâu mấy ông vẫn vui lòng. Văn sĩ khắp vùng đều đến kết bạn thân tình. Tiếc thay! Tôi không biết các bậc tiền nhân của ông Bá Ngọc, nhưng cứ xem cách ông Bá Ngọc hoà thuận với bà con, giúp đỡ người nghèo khó, tử tế với bạn bầu, cũng đủ biết người đời truyền tụng về đức trung hậu của nhà ông, quả không sai vậy. Lại nghe nói có ông láng giềng, ngày thường tính khắc bạc, tham lam, cho vay nặng lãi nên nhà giàu đền ức vạn, sinh hạ được hai con trai thì cha chết chưa được vài tháng, anh em đã chia gia tài tranh nhau nhiều ít, tức giận nhau mà đi đến bất hoà, gia nghiệp sa sút nghiêm trọng. Người làng đều cho rằng vì trước ông ấy ăn ở khắc bạc nên đời con chịu quả báo đến như thế. Ôi! Cùng một giang sơn, cùng một phong thổ, cùng một làng xóm, sao lại một bên nhân hậu, một bên khắc bạc khác nhau quá xa làm vậy! Cứ nhìn vào phép nhà ra sao thời rõ thôi mà.

Vài hôm trước khi từ biệt, ông Bá Ngọc có xin thơ tôi. Tôi vốn làm vụng, lại không hay thơ, nhưng thấy ông Bá Ngọc là người ham ngâm vịnh, tôi nỡ nào vì kém vụng mà từ chối hay sao? Tôi liền phóng bút viết mấy dòng, nói lên điều tai nghe mắt thấy để khuyên răn những người làm cha anh nên bắt chước tính trung hậu, chớ theo tuồng khắc bạc vậy.


Ngày 10 tháng 2 niên hiệu Hàm Nghi năm thứ 8 (1887).
Tiến sĩ họ Phan quê làng Yên Đồng huyện La Sơn ghi.
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Chín, 2008, 11:28:45 pm gửi bởi chuongxedap » Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #61 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2008, 11:36:17 pm »

KÝ TÔ CHỦ NHÂN1

Nguyên tác:



Phiên âm:

                                              KÝ TÔ CHỦ NHÂN
                                          Quân bản tính Tô, ngã tính Phan,
                                          Quân gia Lạp lĩnh, ngã Tùng san (sơn).
                                          Vô đoan binh hoả phùng giai cấu,
                                          Dữ quân chước tửu chúc bình an.

Dịch nghĩa:
                                                 GỬI TÔ CHỦ NHÂN
                                             Bác vốn họ Tô, tôi họ Phan,
                                             Nhà bác ở núi Lạp, tôi ở núi Tùng.
                                             Không dưng có việc binh lửa, nên may được gặp,
                                             Cùng nâng chén rượu, chúc nhau bình an.

Dịch thơ:

                                             Bác vốn họ Tô, tôi họ Phan,
                                             Bác nhà non Lạp, tôi Tùng san.
                                             Không dưng bình lửa nên may gặp,
                                             Chuốc chén cùng nâng, chúc vạn an.

Lê Vũ Hoàng dịch

Chú thích:
1. Đây là bài xướng của Phan Đình Phùng trong cuộc xướng họa với Tô Bá Ngọc, nhưng rất tiếc phần họa của ông Tô Bá Ngọc đến nay không thấy.
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Chín, 2008, 11:38:01 pm gửi bởi chuongxedap » Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #62 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2008, 11:47:54 pm »


DỮ BÁ NGỌC XƯỚNG HỌA1

Nguyên tác:


Phiên âm:

                                       DƯ BÁ NGỌC XƯỚNG HOẠ

                                    Văn chương tòng cổ hữu tiền nhân,
                                    Tri thức hưu luân cựu hoặc tân.
                                    Khoa giáp ngã vi Tùng lĩnh chủ,
                                    Thi thư quân thị Lạp sơn nhân.
                                    Cố năng bạch nhãn thành tri kỷ,
                                    Toại sử thiên nhai nhược tỉ lân
                                    Giải cấu thư trung đa kỳ ngộ,
                                    Hảo tương giai tác chí kim xuân.

Dịch nghĩa:
                                         CÙNG XƯỚNG HOẠ VỚI BÁ NGỌC

                                  Văn chương từ xưa đã có sự nối tiếp nhau,
                                  Đã biết nhau thì đừng bàn cũ hay mới.
                                  Về đường khoa bảng, tôi là chủ ở non Tùng2,
                                  Về mặt thi thư thì ông là người núi Lạp3.
                                  Cho nên có thể từ xa lạ mà thành tri kỷ4,
                                  Khiến cho ở tận chân trời mà nên bạn láng giềng.
                                  Tình cờ không hẹn mà nên, trong sách đã có nhiều chuyện kỳ ngộ,
                                  Để cho có những giai phẩm đến mùa xuân này.

Dịch thơ:
                                  Văn chương từ trước có tiền duyên,
                                  Mới cũ bàn gì chỗ lạ quen.
                                  Khoa giáp non Tùng, ta ấy chủ,
                                  Thi thư núi Lạp, bạn là tiên.
                                  Vì sao mắt trắng thành bầu bạn,
                                  Để khiến trời xa hoá láng giềng.
                                  Gặp gỡ phen này nhiều thú lạ,
                                  Ghi mùa xuân đẹp mảnh hoa tiên.

Lê Thước dịch

Chú thích:
1. Bài này cũng nằm trong chùm xướng họa được ghi trong Bút tích... của Phan Đình Phùng, nhưng chỉ đề thứ tự bài số 3; đầu đề trên là của những người biên soạn Tổng tập văn học Việt Nam, Nxb Khoa học Xã Hội, 1995.
2. Non Tùng: ở xã Việt Yên, quê hương tác giả.
3. Núi Lạp: ở tổng Vân Tụ, cạnh làng Đông Yên, quê hương Tô Bá Ngọc.
4. Xa lạ: nguyên văn “bạch nhãn” (mắt trắng). Theo điển cũ: có người gặp kẻ không quen thì nhìn bằng mắt trắng, gặp bạn thân thì nhìn bằng mắt xanh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #63 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2008, 11:49:35 pm »


TÁI BỘ CHỦ NHÂN

Nguyên tác:


Phiên âm:

                                                          TÁI BỘ CHỦ NHÂN
                                                Tằng văn tẩy giáp vãn thiên hà,
                                                Bỉ thị hà nhân, ngã thị hà?
                                                Đương đạo xà do trì bạt kiếm,
                                                Trung nguyên lộc thượng phí thao qua.
                                                Tam canh ưu uất nan thành mộng,
                                                Vạn lý thê trì tiện thị gia.
                                                Hội ẩm Nhục Chi đầu thượng tửu,
                                                Đan trì tranh đấu khải hoàn ca.


Dịch nghĩa:

                                                  LẠI HỌA VẦN THƠ CỦA CHỦ NHÂN

                                      Từng nghe [có thơ]: níu sông trời xuống để rửa áo giáp1,
                                      Người ấy là ai, còn ta là ai?
                                      Hận còn chậm tuốt gươm chém rắn giữa đường2,
                                      Uổng vung giáo đuổi hươu ngoài đồng nội3.
                                      Ba canh lo nghĩ chất chứa, khó thể ngủ được,
                                      Vạn dặm, nơi nào dừng nghỉ nơi ấy là nhà.
                                      Sẽ họp mặt uống rượu trên đầu bọn giặc Nhục Chi4,
                                      Rồi ca khúc khải hoàn trước sân nhà vua.


Dịch thơ:

                                      Từng nghe rửa giáp níu sông trời,
                                      Người ấy là ai, ta ấy ai?
                                      Chém rắn giữa đường, gươm tuốt chậm,
                                      Đuổi hươu đồng nội, giáo khua sai,
                                      Ba canh không ngủ lòng lo giận,
                                      Muôn dặm xa nhà chốn nghỉ ngơi.
                                      Máu giặc hẹn ngày hoà với rượu,
                                      Khúc ca chiến thắng tấu vua hay.
Lê Thước dịch

Chú thích:
1. Câu này nhắc lại câu thơ của Đặng Dung trong bài Thuật hoài (Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà), tỏ ý muốn dẹp giặc thành công rồi xếp can qua, hưởng thái bình.
2. Hán Cao Tổ đi chơi gặp con rắn nằm ngang giữa đường, tuốt gươm chém chết. Ý muốn nói diệt trừ loài hung ác, đây chỉ giặc Pháp.
3. Ngôi báu nhà Tần bị sụp đổ, các hào kiệt đương thời thi nhau tranh giành chiếm lại, cũng giống như đuổi con hươu trên đồng nội. Ý đây nói, chiếm lại ngôi báu cho vua Hàm Nghi.
4. Nhục Chi: tên một nước ngày trước ở phía Bắc Trung Quốc. Có một thời gian, nước đó trở nên hùng mạnh thường vào cướp phá Trung Quốc và xâm lấn các miền Trung Châu Á, đến tận Ấn Độ. Nghĩa bóng chỉ giặc Pháp đối với nước ta lúc đó cũng như Nhục Chi đối với các nước trên.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #64 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2008, 11:56:25 pm »


ĐỀ TÔ THỊ TỪ ĐƯỜNG1

Nguyên tác:


Phiên âm:

                                                   ĐỀ TÔ THỊ TỪ ĐƯỜNG
                                               Đệ thất đan trì bốc tuỵ anh,
                                               Khách du đáo xứ bội di tình.
                                               Phùng nhân thí vấn hảo sơn thủy.
                                               Ưng thuyết Tô gia thi lễ đình.

Dịch nghĩa: 
                                                    ĐỀ NHÀ THỜ HỌ TÔ
                                      Ngôi nhà sân đỏ dùng để thờ cúng gia tiên
                                      Khách đi qua vào đây, tình cảm để lại gấp bội
                                      Gặp người, hỏi về những nơi tốt của núi sông
                                      Phải nói, nhà họ Tô là sân nhà thi lễ.

Dịch thơ:
                                      Ngôi nhà rực rỡ thờ gia tiên,
                                      Lòng khách vào đây vui vẻ thêm.
                                      Hỏi núi sông đây gì đẹp nhất
                                      Họ Tô thi lễ thế gia truyền.

Lê Thước dịch

Chú thích:
1. Khi làm bài thơ này, Phan Đình Phùng có chú rằng (đã dịch): “Nhà này có bức câu đối:

                                Truyền gia điển báo tồn phong yến
                                Đệ thất đan trì bốc tuỵ anh

cho nên làm nối bài thơ này”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #65 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2008, 04:39:01 pm »


MẬU TÍ NGUYÊN NHẬT
Nguyên tác:


Phiên âm:
                                            MẬU TÍ NGUYÊN NHẬT

                                          Lưu oanh đình ngoại ngư hoa chi,
                                          Hoa báo xuân quy nhân vị quy.
                                          Bình lĩnh bách niên tư nhật nhiễu,
                                          Hồng sơn vạn lý vọng vân phi.
                                          Ngô gia hữu giáo căn trung hiếu,
                                          Khách địa vô tâm oán biệt ly
                                          Gia tiết thị nhân hành lạc xứ,
                                          Ngã phùng giai tiết bất thăng bi

Dịch nghĩa:

                                      MỒNG MỘT TẾT MẬU TÝ (1888)
                             Ngoài sân, chim oanh bay đến hót trên cành hoa,
                             Hoa báo tin xuân về mà người chưa về.
                             Núi Bình trăm năm còn nhớ lúc mặt trời rọi quanh1,
                             Non Hồng xa muôn dặm, ngóng trông mây bay2.
                             Gia giáo nhà ta gốc ở trung hiếu,
                             Nên dù ở đất khách cũng không có lòng oán hận nỗi ly biệt.
                             Tiết lành là lúc mọi người ăn chơi vui vẻ,
                             Ta gặp tiết lành mà buồn khôn xiết kể.

Bản dịch thơ 1:
                             Ngoài sân oanh nói với hoa cười,
                             Hoa báo xuân về, vẫn vắng người.
                             Núi Ngự trăm năm vầng nhật chiếu,
                             Non Hồng muôn dặm bóng mây trôi.
                             Nhà ta vốn dạy niềm trung hiếu,
                             Đất khách không lòng oán ngược xuôi.
                             Tết đền người người vui vẻ cả,
                             Riêng ta gặp tết vẫn bùi ngùi.

Chu Thiên3 dịch

Bản dịch thơ 2:
                               Tiếng oanh non nỉ sân ngoài
                             Tìm Xuân về đó mà người ở đâu
                                 Ngàn thu một tấm cô sầu
                            Non Hồng núi Ngự mây đầu xa xa
                                  Hiếu trung là nếp nhà ta
                            Biệt ly đất khách, oán mà làm chi
                                 Tiết Xuân ai cũng vui vầy
                             Mà ta riêng nỗi sầu bi một mình.
Đào Trinh Nhất4 dịch

Chú thích:
1. Núi Ngự Bình ở kinh đô Huế, đây ý nói nhớ vua..
2. Núi Hồng Lĩnh ở Hà Tĩnh. Trông mây bay là nhớ quê, nhớ cha mẹ.
3. Chu Thiên: Nhà văn, Giảng viên khoa Sử, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
4. Đào Trinh Nhất (1899-1951): con trưởng Đình nguyên Nhị giáp Tiến sĩ Đào Nguyên Phổ (con rể Lương Ngọc Quyến), kiêm thông Hán học, Pháp học lại có văn tài, trong 30 năm để lại nhiều thành tích trong làng văn, làng báo.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #66 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2008, 04:55:30 pm »


ĐÁP HỮU NHÂN KÝ THI
Nguyên tác:


Phiên âm:

                                         ĐÁP HỮU NHÂN KÝ THI

                                        Bách niên tôn xã dư hoài nhiệt,
                                        Nhất phiến cô trung tặc đởm hàn.
                                        Ký ngữ đồng nhân tri dã phủ,
                                        Sở vương thế lực bạt hà san?

Dịch nghĩa:
                                     ĐÁP THƠ NGƯỜI BẠN GỬI ĐẾN

                                Lòng ta nung nấu nghĩ đến tông xã xây đắp hàng trăm năm,
                                Một tấm cô trung đủ làm cho giặc sợ mất vía.
                                Gửi lời hỏi bạn đồng sự cũ có biết hay không:
                                Thế lực vua Sở1 đã nhổ được quả núi nào?

Dịch thơ:
                                Trăm năm xã tắc lòng nung nấu,
                                Một tấm cô trung khiếp vía thù.
                                Nhắn nhủ đồng liêu ai biết chẳng.
                                Sở vương nhổ được núi nào đâu?

Khương Hữu Dụng2 dịch

Chú thích:
1. Vua Sở: Tức Hạng Vũ. Lúc bị quân Hán vây ở Cai Hạ, Hạng Vũ đã hát một khúc hát biệt Ngu Cơ. Câu đầu: “Lực bạt sơn hề khí cái thế”, nghĩa: khí trùm đời chừ sức nhổ núi. Ý câu: dù địch có sức mạnh như vua Sở cũng chưa làm gì được
2. Khương Hữu Dụng (1907-2005): Nhà thơ, dịch giả, người có nhiều đóng góp cho nền văn học Việt Nam.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #67 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2008, 05:04:45 pm »


THẮNG TRẬN HẬU CẢM TÁC1
Nguyên tác:


Phiên âm:
                                                   THẮNG TRẬN HẬU CẢM TÁC

                                                                Nhất
                                                      Tài phát binh hành hối phỉ lai,
                                                      Dư tâm vị định chính bồi hồi.
                                                      Trướng tiền thỉnh chiến hà nhân giả?
                                                      Quả bất thời gian báo tiệp hồi.

                                                                  Nhị
                                                      Sơn cái cao hề thủy cái thanh,
                                                      Mỗi ư mặc tướng hiển anh linh.
                                                      Bất nhiên chúng quả tương huyền thậm.
                                                      Hồ đáo khê đầu dĩ thất kinh?

Dịch nghĩa:
                                                    SAU KHI THẮNG TRẬN, CẢM TÁC

                                                                   I
                                                Vừa mới phái quân đi giặc bỗng kéo đến,
                                                Lòng ta còn đương băn khoăn chưa biết tính sao.
                                                Trước trướng người xin ra đánh là ai vậy?
                                                Mà trong chốc lát đã có tin thắng trận báo về.

                                                                    II
                                                Núi rất cao, mà sông rất trong,
                                                Núi sông thường khi hiển linh lên để giúp ta.
                                                Không thế thì sao bên nhiều bên ít chênh nhau như vậy,
                                                Mà mới đến đầu khe giặc đã sợ bỏ chạy?

Dịch thơ:
                                                                     I
                                                Vừa phái quân đi giặc kéo vào,
                                                Lòng ta chưa biết tính nên sao.
                                                Quyết xin ra đánh là ai đó?
                                                Thắng trận tin về quả chẳng lâu.

                                                                      II
                                                Non rất cao mà nước rất xanh,
                                                Nước non linh hiển giúp cho mình.
                                                Nếu không bên ít bên nhiều thế,
                                                Sao đến đầu khe đã hoảng kinh

Khương Hữu Dụng dịch


Chú thích:
1. Bài này Phan Đình Phùng làm sau khi đi xem chiến trường một trận thắng ở Vụ Quang năm 1894.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #68 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2008, 05:09:48 pm »


KIẾN NGỤY BINH THI CẢM TÁC
Nguyên tác:


Phiên âm:
                                                     KIẾN NGỤY BINH THI CẢM TÁC

                                                         Nhĩ tâm nguyên vị lợi danh mi,
                                                         Khước hướng khê biên tác tử thi.
                                                         Giám triệt thuỳ nhân ưng tảo ngộ,
                                                         Đáo thân tử hậu hối hoàn trì.

Dịch nghĩa:
                                                     THẤY XÁC LÍNH NGỤY, CẢM TÁC

                                                        Lòng mày nguyên chỉ tham danh lợi,
                                                        Để đến nỗi làm cái xác chết ở bên khe.
                                                        Soi vết xe trước đã đổ, ai đó nên sớm tỉnh ngộ.
                                                        Kẻo đến khi thân chết rồi mới hối thì đã muộn.

Dịch thơ:
                                                        Mày chỉ vì danh lợi đó thôi,
                                                        Bên khe đến nỗi để thây phơi!
                                                        Dấu xe trước mắt ai trông đó,
                                                        Kẻo chết ăn năn cũng muộn rồi.

Khương Hữu Dụng dịch
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #69 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2008, 07:19:29 pm »


PHÚC ĐÁP HOÀNG CAO KHẢI
Nguyên tác:


Phiên âm:
                                                               PHÚC ĐÁP HOÀNG CAO KHẢI

                                                                 Trung hiếu do lai kỷ đắc tuyền,
                                                                 Phong trần hồi thủ lệ sàn nhiên.
                                                                 Vị năng nhất tử thù quân phụ,
                                                                 Không phí tam sinh học thánh hiền.
                                                                 Thập tải hồn du thanh tỏa địa
                                                                 Vạn hàng huyết lệ bạch vân thiên.
                                                                 Khổ tâm liêu hướng đồng tâm thoại,
                                                                 Tạc dạ tàn đăng độc tự liên.

Dịch nghĩa:
                                                                   ĐÁP HOÀNG CAO KHẢI

                                                  Từ trước tới nay trung hiếu mấy ai giữ được toàn vẹn cả,
                                                  Trải phong trần quay đầu nghĩ lại nước mắt đầm đìa.
                                                  Chưa thể đem một cái chết báo đền vua cha,
                                                  Uổng phí công ba sinh học đạo thánh hiền.
                                                  Mười năm hồn mơ chơi ở nơi cung khuyết1.
                                                  Muôn hàng huyết lệ trông theo mây trắng lên trời.
                                                  Nỗi khổ tâm muốn nói nhưng vắng bạn đồng tâm,
                                                  Đêm qua dưới ánh đèn tàn, mình lại thương mình.

Dịch thơ:
                                                  Xưa nay trung hiếu khó hoà hai,
                                                  Ngẫm lại phong trần luống lệ rơi.
                                                  Quân phụ thù chưa đem chết báo.
                                                  Thánh hiền học cũng uổng công thôi.
                                                  Hồn mơ bao độ cung vua tới,
                                                  Lệ máu muôn hàng mây trắng trôi!
                                                  Khó nói cùng ai niềm khổ não,
                                                  Tự thương riêng có bóng đèn soi.

Chu Thiên dịch


Chú thích:
1. Câu này ở nguyên văn cuốn sách chữ “thanh tỏa” tức là viền xanh. Ngày xưa các cửa ở cung vua chạm viền khung trang trí và sơn xanh cái khung chạm ấy.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM