Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 07:32:19 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chuyện kể về một gia đình liệt sĩ  (Đọc 73519 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #10 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2013, 11:50:57 am »

        Tôi tiễn hai vợ chồng anh Thành ra xe. Trước khi bước lên xe, anh Thành ôm đầu tôi thì thầm: “Anh cho phép em thay anh Tường cắn vào má anh một cái”.

        Không cần đợi tôi đồng ý anh đã ghì chặt má tôi mà cắn, rồi vội vã lên xe nổ máy chạy luôn.

        Tôi ngây người không kịp phản ứng gì. Trong lòng tôi buồn vui lẫn lộn. Vậy là thông qua một bài viết nhỏ tôi đã đến được với người thân của Tường và hy vọng chẳng bao lâu nữa, chúng tôi sẽ tìm được nơi anh đang yên nghỉ.

        Ngay sau cuộc gặp, tôi điện cho anh Võ Minh, anh Vũ Kiệm và anh Nguyễn Lâm, nhờ các anh tra cứu trong danh sách liệt sĩ của trung đoàn để biết Tường đang ở nghĩa trang nào. Tất cả các anh đều hứa sẽ cố gắng tìm kiếm. Công việc tìm kiếm được anh em trong Hội cựu chiến binh E271 tiến hành rất khẩn trương.


 
Anh Bùi Khắc Thành (Em LS Bùi Khắc Tường) - bên phải và tác giả.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #11 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2013, 04:46:09 am »


        Chủ nhật 20 tháng 1 năm 2008 (13 tháng chạp năm Đinh Hợi):
 
       Hôm nay là ngày giỗ Khải, chúng tôi lại cùng nhau đến với gia đình để tưởng nhớ người thanh niên Hà Nội đã ngã xuống nơi chiến trường khi tuổi mới hai mươi. Cùng đến gia đình năm nay với chúng tôi có thêm anh Bùi Khắc Thành.

        Trong buổi gặp mặt tưởng nhớ người đã khuất, chúng tôi cùng xem lại những bức ảnh Khải chụp chung với Tường trước lúc đi chiến trường. Nhìn ảnh, tôi lại nhớ về những kỷ niệm không thể nào quên của chúng tôi với Khải.


Khải và Tường trong công viên Thống Nhất

        Ngày vào năm thứ nhất, khoa Địa lý- Địa chất trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, chúng tôi sàn sàn như nhau. Khải mười bảy, tôi mười tám, nhưng vóc dáng Khải to lớn hơn, già dặn hơn tôi. Khải trai Hà Nội, tôi dân quê. ấy vậy mà chỉ một đôi lần trò chuyện tôi nhận ra: cái thằng này có cách nói năng, cử chỉ cũng khoai sắn như mình, thậm chí còn xuề xoà, mộc mạc hơn mình.

        Rất nhanh thôi, cái mặc cảm nhà quê và thị thành trong tôi không còn. Nhiều buổi tối, Khải còn vào nội trú ngủ cùng tôi.
 
        Năm thứ nhất qua đi, chúng tôi học được nhiều và tình bạn giữa chúng tôi càng thêm gắn bó. Đầu năm thứ hai (tháng 9 năm 1971), 5 trong hơn 30 chàng trai lớp chúng tôi lên đường nhập ngũ.  Tháng 5-1972, Mỹ ném bom trở lại miền Bắc, chúng tôi sơ tán về Khúc Thuỷ, Cự Đà, Thanh Oai, Hà Tây. Tại đây, thêm 7 đứa nữa lên đường. ở lại, chúng tôi miệt mài học tập, học phần mình và học phần người đi đánh giặc.

        Từ Cự Đà, chúng tôi lại sơ tán lên Hiệp Hoà, Hà Bắc rồi về Phú Bình, Thái Nguyên. Từ nơi này, Khải, Minh, Niệm, Lực, Ngọc, Hưng, Chân, Phương và tôi (9 người bạn cùng lớp) có lệnh nhập ngũ, hôm ấy là 23 tháng 9 năm 1972.

        Hồi ấy việc đi lại rất khó khăn, nên chẳng ai kịp về chia tay gia đình. Tiễn chúng tôi, gần gũi thương yêu nhất là các bạn cùng lớp.

        Trước giờ lên xe, chúng tôi tạt vào một quán nhỏ bên đường, cả lớp ôm nhau khóc, nước mắt chảy tràn mà miệng ai cũng hát: “Đàn thân yêu dạo khúc ca xưa êm đềm... Rồi ngày hành quân hướng về tiền tuyến cùng đi, mối tình bạn thắm thiết nhắc ta bước lên, sưởi ấm tim ta...”.

        Thấy cảnh chia tay bịn rịn của chúng tôi, mấy bà bán hàng quanh đó cùng ông chủ quán có gì đều mang ra mời chúng tôi. Họ khóc và tiễn chúng tôi lên xe như tiễn những người thân yêu vậy.
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Tư, 2013, 02:34:03 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #12 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2013, 02:36:56 pm »

        Về đơn vị huấn luyện, Khải, Chân và tôi được biên chế vào một tổ ba người. Vì to, cao, khoẻ mạnh hơn nên mọi việc nặng nhọc Khải đều giành làm thay tôi. Thương bạn có lúc tôi cự lại: “Ông cần nhớ là ông ít tuổi hơn tôi”.

        Ba đứa chúng tôi, chung mọi thứ có thể chung được (tiền tiêu chung, đêm ngủ chung, một khẩu súng, một cái xẻng và hai quả lựu đạn).

        Chín mươi ngày huấn luyện, mười ngày nghỉ phép cũng qua đi. Việc trả phép của chúng tôi do Khải và Phương lo liệu vì hai anh ở Hà Nội. Tối ấy tôi và Tường nghỉ ở nhà Khải để sáng hôm sau tập trung lên xe tại số 5 Lê Đại Hành (nhà Phương). Nhờ sự chu đáo của các anh nên cả đoàn sinh viên chúng tôi không ai chậm phép.
 
        Thế rồi hành quân. Từ Mai Siu, Hà Bắc, chúng tôi vượt núi Yên Tử, qua Khoái Châu về Thường Tín. Được nghỉ một ngày, anh em ở Hà Nội đều có người thân lên chia tay.

        Cả nhà Khải đều có mặt để tổ chức cho tiểu đội chúng tôi một bữa liên hoan. Bữa liên hoan vui vẻ và chẳng ai ngờ rằng đây là bữa cơm cuối cùng Khải được sum họp cùng gia đình.

        Chúng tôi lên tàu ở ga Thường Tín vào cuối chiều để quá nửa đêm xuống tàu tại ga Ninh Bình.

        Theo chiều dài đất nước, chúng tôi mải miết hành quân. Nhớ đêm ngủ rừng đầu tiên: Trời tối, mưa to, tôi lóng ngóng mãi vẫn không tìm được chỗ mắc võng. ấy vậy mà Khải đã hoàn tất chỗ ngủ, anh lần đến, lôi tôi về võng của mình: “Nằm nghỉ đi, tao mắc cho”. Thế rồi, anh mắc sát võng của tôi vào võng anh.

        Đêm ấy, hai đứa chúng tôi nghỉ bên nhau. Trước khi chìm vào giấc ngủ tôi vẫn thầm cảm ơn và khâm phục sự nhanh nhẹn, tháo vát của Khải.

        Núi cao, vực thẳm, những đôi chân học trò, mười chín đôi mươi đang căng ra, đạp bằng gian khó tiến về phía trước: “Miền Nam, kêu gọi ta...”

        Hành quân dài ngày trên đường Trường Sơn, chúng tôi thường ăn rau rừng. Bữa ấy, ăn phải rau độc. Tôi bị ngộ độc, sau đó hơn một nửa tiểu đội cùng bị. Sáng hôm sau hành quân, Khải, Tường, Ngọc, Chân... đã sẻ hết những gì nặng trong ba lô của tôi.

        Bởi vóc dáng bé nhỏ, xiêu vẹo nên cả tiểu đội đều gắng giúp tôi. Chính nhờ sự giúp đỡ ấy, tôi đã theo được anh em tới chiến trường.

        Sau mười tháng ròng hành quân, những đôi chân học trò đã vượt qua nhiều nghìn cây số, qua hai nước láng giềng anh em để đến chiến trường Đông Nam Bộ. Chúng tôi được bổ sung về đơn vị chiến đấu (C1, D9, E271). Khải và tôi ở cùng tiểu đội. Những ngày đi bám địch, những đêm ngủ hầm chúng tôi đều có nhau.

        Có đêm hai đứa ôn lại những ngày ở Hà Nội, những nơi gia đình sơ tán... nhưng chẳng đứa nào nói đến chuyện yêu đương, bởi một điều giản dị là cả tôi và Khải đều chưa một lần cầm tay bạn gái.

        Năm tháng qua đi, cuộc sống chiến đấu đã hun đúc chúng tôi. Tôi và Khải đã trở nên rắn rỏi hơn, cứng cáp hơn. Thế rồi Khải đột ngột ra đi. Sự việc qua lâu rồi mà tôi vẫn nhớ như mới hôm qua.

        Chiều ấy, sau hai ngày hai đêm luồn rừng, chúng tôi đến chiếm lĩnh ở nam cao điểm 904. Trước khi trời tối, một tổ bám địch đã nổ súng, địch đánh trả, Hiếu bị thương và được đưa về hầm chỉ huy. Cả đại đội đã sẵn sàng cho cuộc chiến đấu ngày mai.

        Khoảng 12 giờ đêm mùng 5 rạng ngày 6 tháng 1 năm 1974 (tức đêm 12 rạng ngày 13 tháng Chạp năm Quý Hợi), tôi đang ngủ thì anh Trường, tiểu đội trưởng gọi tôi dậy giao nhiệm vụ đi cáng thương binh.

        Lên đến hầm chỉ huy, tôi thấy đã có bốn người nữa là Khải, Thành, Lâm và Toản. Sau khi rõ nhiệm vụ, Khải nhảy xuống hầm đưa cáng lên. Tôi đứng trên miệng hầm đỡ cáng và đặt lên vai mình. Khải nhảy lên và nói nhỏ với tôi: “Lúc nào mệt, tao khiêng cho”.

        Thế rồi, anh khoác súng đi trước dẫn đường, theo sau là Thành, tôi và Lâm cáng thương binh còn Toản cầm súng đi cuối cùng.

        Đêm cao nguyên cuối năm, trăng vàng lành lạnh, chúng tôi vừa đi vừa dò đường. Có lẽ đi chưa xa, vì tôi mới hai lần đổi vai. Qua một cây to đổ ngang đường, chưa được mười lăm mét, tôi thấy một ánh chớp sáng loà và một tiếng nổ rất đanh trước mặt.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #13 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2013, 07:24:55 pm »

        Toản, tôi và Lâm quay ngược lại nhảy qua cây đổ, chưa kịp nằm xuống thì nghe Khải thét: “Chạy đi..! Thương binh...! Bị phục rồi..!” Tằng, tằng, tằng... Tằng, tằng, tằng... Từng loạt AK nổ giòn. Sau đó là tiếng AR15, tiếng AK nổ dồn dập.

        Toản, Lâm và tôi thay nhau đưa Hiếu về phía sau. Rồi im lặng, rồi pháo bắn cấp tập vào chỗ chúng tôi. Tôi, Toản và Lâm lạc nhau. Sáng ra Toản và Lâm mới đưa được Hiếu về đơn vị. Còn tôi bị lạc, sau nhiều ngày ăn rau rừng uống nước suối, tôi mới tìm được về đơn vị.

        Đêm ấy, do vết thương quá nặng, mất máu nhiều nên Hiếu đã ra đi...! Sáng hôm sau Thoa lên lấy tử sĩ cũng không về...! Các ngày sau đó đại đội chúng tôi cùng các đơn vị bạn đã hoàn thành nhiệm vụ đánh chiếm cao điểm 904.

        Trở về đơn vị tôi mới biết Khải và Thành đã anh dũng hy sinh. Các anh đã bắn chặn để chúng tôi kịp đưa thương binh thoát khỏi ổ phục kích của địch.

        Vậy là trước lúc hy sinh Khải của tôi vẫn lo cho thương binh, vẫn quyết tâm chiến đấu để bảo vệ đồng đội, tạo điều kiện để đồng đội đưa thương binh về nơi an toàn. Sự hy sinh của Khải đã làm tôi bị hẫng hụt một thời gian dài, mãi sau này tôi mới trấn tĩnh được.

        Hơn ba mươi năm sau ngày giải phóng, bốn anh (Khải, Thành, Thoa, Hiếu) đã được đưa vào nghĩa trang liệt sĩ Kiến Đức.

        Trên đỉnh đồi, giữa mây gió cao nguyên, chắc các anh vẫn nghe tiếng hát ngợi ca tình bạn, tình đồng đội mà chúng tôi cùng hát năm nào. Bạn bè chiến hữu chúng tôi mỗi lần công tác qua đây đều vào nghĩa trang thắp hương tưởng nhớ các anh.

        Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chúng tôi ở lại Đức Hoà tham gia xây dựng chính quyền cơ sở. Tháng 10 năm đó, tôi và một số đồng đội khác được xuất ngũ về trường cũ tiếp tục học tập. Tôi, Chân, Phương, Niệm... - những người trở về sau chiến thắng đến thăm gia đình Khải.

        Ngập ngừng mãi chúng tôi mới dám bước vào nhà. Thấy chúng tôi, má(1) Khải oà khóc, chúng tôi không đứa nào cầm nổi nước mắt. Khóc một hồi lâu để tưởng nhớ người đã hy sinh, má con chúng tôi lại trở về với thực tại.

        Má cho chúng tôi xem các kỷ vật của Khải, tấm ảnh chụp chung của mấy chàng lính trẻ chúng tôi. Má chỉ cho chúng tôi xem chỗ anh đã táp lại trên mái nhà, cánh tủ anh tự đóng, đôi dép anh mua cho má trước lúc đi xa, túi sách, bàn học... anh chuẩn bị cho các cháu. “Những ngày nghỉ phép nó chẳng đi đâu xa, cứ quanh quẩn trong nhà xem còn gì chưa ưng ý để làm cho má. Tao thương nó, bảo nó đi chơi thăm bà con mà nó có đi đâu”.

        Chúng tôi lặng lẽ thắp hương, lặng lẽ đứng trước bằng Tổ quốc ghi công và bức ảnh thờ anh. Các ngày sau đó và cho đến tận bây giờ, ngôi nhà 28E ngõ Tương Thuận là ngôi nhà thân yêu, nơi chúng tôi thường xuyên đi về, má Khải đã là mẹ chung của chúng tôi.

------------------------
(1) Khải và gia đình trước khi ra Hà Nội đã sinh sống ở Sài Gòn nên vẫn xưng hô theo phong tục miền Nam. Khải gọi bố mẹ là ba má.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #14 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2013, 03:22:51 am »

        Năm 1997, địa phương đã xây cho mẹ ngôi nhà tình nghĩa trên nền ngôi nhà cũ (anh em trong Hội cựu chiến binh E271 đã đóng góp thêm vào việc xây nhà).

        Một buổi tối, tôi ngủ lại nhà, má kể cho tôi nghe chuyện Khải xung phong nhập ngũ. Má không phàn nàn gì hết, nhưng Khải vẫn áy náy, anh sợ vì việc này mà má không vui. Dịp nghỉ phép, anh đã làm mọi việc để má yên lòng. Mọi cử chỉ của anh má đều hiểu, má còn hiểu xa hơn về khí phách trai thời chiến.

        Cuối năm 2001, má lâm bệnh. Những ngày má điều trị bệnh cho đến phút lâm chung, anh Chân luôn ở bên má. Anh đã thay Khải và thay chúng tôi báo hiếu cho má. Tuổi cao, bệnh trọng, má thanh thản ra đi, thọ 87 tuổi.

        Anh em trong Hội cựu chiến binh E271, cùng gia đình và địa phương lo liệu mọi việc để tiễn đưa má về nơi an nghỉ cuối cùng.

        Giờ đây, thường xuyên trong ngôi nhà này chỉ có một người chị và một cô em của Khải (cả hai đều đã không còn sức lao động và cùng sống đơn thân).

        Anh em chúng tôi thường qua lại nơi này. Từ nay, ngoài chúng tôi còn có cả những người thân của anh Bùi Khắc Tường.

        Ngay trong bữa cơm, tôi nhận được điện thoại của anh Võ Minh báo tin, đã tìm thấy tên của Bùi Khắc Tường trong danh sách liệt sĩ tại nghĩa trang Bù Đăng. Thông tin này làm cho mọi người đều phấn khởi. Công việc tiếp theo là sắp xếp được thời gian để vào ngay nghĩa trang Bù Đăng.
Trong lúc vui câu chuyện, anh Chân đọc để mọi người cùng nghe những dòng lưu niệm mà Tường đã ghi trong cuốn sổ của Khải:

        Ngày cùng, tháng tận, năm 1972.
        (Tức ngày 31 tháng 12 năm 1972)(1)
       Khải thân yêu ơi!!!
        Ta còn đi tiếp nữa chứ...
        Đời chiến binh khi còn giặc
        Đừng mong gì ngày mãn hạn – Nhưng trước khi đi xa, ta phải để lại cho nhau vài dòng chữ. Sau này sẽ có lúc ta cùng xem lại.
        Khải ạ! Trước kia tao không khác mày tí nào đâu – “Đều là thằng đụt” cả thôi – Nhưng rồi xoáy lốc cuộc đời thổi mãi... Ta vực nhau lên nhé... Sao cái đức tính thật thà thẳng thắn, hồn hậu của mày làm tao thấy dễ sống gần mày thế - Ta là bạn chiến đấu “Bạn già tóc bạc”. Nhất trí nhé.
        Địa chỉ: Xóm Hồ Nam
        Xã Tân Dân
        Huyện Tĩnh Gia
        Thanh Hóa
        Bố tao gửi theo địa chỉ:
        Bùi Khắc Tráng
        - Như trên -


        Anh Chân đọc xong, tôi góp thêm: “Trong lưu niệm viết cho tôi, Tường còn ghi rõ hơn – Nếu sau này mày còn sống, hãy về nhà tao theo địa chỉ...”.

        Nghe xong câu nói của tôi, anh Thành đáp lời ngay:

        - Em mời các anh sắp xếp thời gian về quê em, như anh Tường đã hẹn. Em muốn các anh về càng đông càng vui.

        Sau một hồi bàn bạc, chúng tôi cùng đi đến thống nhất: “Chỉ có ngày 3 Tết (9/2) là thuận lợi nhất”. Tôi đề nghị sẽ đi vào mùng 3 Tết, để tối mùng 4 có mặt tại Hà Nội, ngày mùng 5 có thể đi làm bình thường.

        Đề nghị của tôi được mọi người cùng tán đồng. Vậy là chuyến đi về quê bạn của chúng tôi đã được ấn định.

----------------------
(1) Chú thích của tác giả.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #15 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2013, 08:35:20 am »


II - VỀ QUÊ BẠN

        Chiều ngày 9 tháng 2 năm 2008 (mùng 3 Tết Mậu Tý)

        Như đã hẹn, hai vợ chồng anh Thành đưa ôtô đến đón tôi về Thanh Hoá. Cùng đi còn có anh Nguyễn Lâm - Trưởng ban liên lạc CCB E271 khu vực phía Bắc. Gọi là trưởng ban hay ban liên lạc vậy thôi chứ chúng tôi cụm lại với nhau, hội lại với nhau trên tinh thần đồng đội tự nguyện.

        Các anh trong ban liên lạc là nơi hợp đồng, nơi tổ chức các cuộc gặp mặt chứ các anh cũng chẳng có quyền hạn gì nhiều so với các hội viên khác. Nhiều khi các anh còn nhận về mình phần đóng góp nhiều hơn cho hội.

        Xe chuyển bánh, tôi giới thiệu sơ lược về anh Lâm với vợ chồng anh Thành để mọi người trao đổi với nhau tự nhiên hơn.

        Năm 1969, Lâm và Tường cùng vào trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, nhưng hai anh ở hai khoa khác nhau. Tường khoa Sinh, Lâm khoa Toán.

        Ngày nhập ngũ, bởi cùng là sinh viên đại học Tổng hợp, nên các anh được biên chế về một đại đội huấn luyện.

        Chung nhau cái nắng, cái lạnh, cái sọt đeo đá ở Mai Siu; chung chuyến tàu đêm rời ga Thường Tín đến Ninh Bình; chung chặng đường Trường Sơn “...Mây núi bao la, lối quân đi bước mòn sỏi đá...” để rồi cùng về tiểu đoàn chín, trung đoàn 271. Tường về trung đội trinh sát tiểu đoàn còn Lâm về đại đội ba.

        Hội cựu chiến binh trung đoàn 271 phía Bắc và chi hội Hà Nội đến được với nhau là nhờ nhiệt tình và sự nỗ lực rất lớn của nhiều thành viên tích cực. Một trong những người tâm huyết đó là anh Nguyễn Lâm.

        Hễ nơi nào có thông tin tìm mộ liệt sĩ và thân nhân liệt sĩ là Lâm có mặt. Nhiều lần Lâm bỏ công sức và cả tiền của để cùng các gia đình liệt sĩ đi tìm hài cốt các anh. Chính anh đã đưa con liệt sĩ Lê Sỹ Thiềng vào tận nghĩa trang Tiền Giang tìm mộ bố.

        Anh đã đưa mẹ Soi (mẹ liệt sĩ Thắng) vào tận bờ suối Đắc Đrăm để gói một nắm đất nơi Thắng hy sinh mang về với quê nhà. Sau khi nghe Lâm kể về chuyến đi đầy xúc động ấy, tôi đã nghẹn ngào chắp bút thành thơ:

                                              Thắng Đen ơi! Mẹ đã thấy anh rồi
                                              Anh hãy về đi! Đừng trinh sát nữa
                                              Chặng đường xưa, anh mới đi một nửa
                                              Đích cuối cùng bao đồng đội thay anh.

                                              Ở lại chiến trường, hơn ba mươi năm
                                              Anh vẫn miệt mài, thời gian trẻ mãi
                                              Mẹ vẫn từng ngày ngóng anh trở lại
                                              Về đi anh! Về với mẹ đi anh.

                                              Mẹ lưng còng tuổi ngoại tám mươi
                                              Vẫn đau đáu chờ anh dù là vô vọng
                                              Mẹ vẫn gọi anh như hồi đi học
                                              Thắng Đen ơi! Sao mãi không về?

                                               Về đi anh! Thôi hãy về đi.
                                              Mẹ biết anh không về được nữa
                                              Mẹ đến tìm anh giữa cao nguyên đất đỏ
                                              Máu xương anh, nhuộm đỏ nơi này.
 
                                              Nước mắt nhạt nhòa, run rẩy bàn tay
                                              Gói nắm đất nơi anh ngã xuống
                                              Nâng niu như bế con thời bú mớm
                                              Mẹ đưa anh về - Nơi anh sinh ra.

                                              Về đi anh! Đất đã nở hoa
                                              Cuộc sống hôm nay có anh trong đó
                                              Vẫn là anh – Mãi thời trai trẻ
                                              Về đi anh, về cho mẹ yên lòng.

                                               Thắp một nén nhang, nhớ về anh
                                               Làm dịu lại nỗi đau – Lòng mẹ
                                               Về đi anh, nhớ về anh nhé
                                               Thắng Đen ơi! Chinh chiến đã qua rồi.

Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #16 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2013, 01:23:40 pm »

        Cuộc chiến tranh đã đi qua, nhưng trong lòng những người như Nguyễn Lâm vẫn nặng mãi tình đồng đội. Có thể vì lẽ đó mà anh đã đề nghị hội lấy phương châm hoạt động là “Chúng ta mãi mãi là đồng đội”. Nghe tôi kể, anh Lâm tỏ ý không hài lòng:

        - Thôi đi ông ơi! Ông nói qua loa để chúng tôi làm quen, chứ ông kể hành kể tỏi nhiều làm gì.

        - Thì tôi cũng chỉ sơ lược vài nét vậy, chứ thực ra ông còn đóng góp với hội nhiều lắm.
       
        Xe bon bon trên đường, tôi nhìn qua cửa kính, đập vào mắt tôi là tấm biển “Ga Thường Tín”. “Ga Thường Tín” chỉ là một ga nhỏ trên tuyến đường sắt Bắc Nam mà sao dòng chữ ấy lại gợi cho tôi nhiều hoài niệm.

        Ga Thường Tín, cách đây đúng 35 năm một tháng, một chuyến tàu quân sự đã đưa Tường, Khải, Lâm và cả tiểu đoàn chúng tôi tiến về phương Nam.

        Chiều 9 tháng 1 năm 1973, sân ga nhỏ bé kia đã chứng kiến cảnh chia ly đầy cảm xúc của những người đi người ở.

        Chiều ấy, trời se lạnh, từ các ngõ xóm của hai thôn Bạch Liên và Phương Quế, chúng tôi thành đội ngũ tiến về ga Thường Tín. Cùng đi với chúng tôi còn rất đông người đưa tiễn. Bộ đội và người nhà cùng hành quân nên hàng ngũ không được ngay ngắn chỉnh tề như khi huấn luyện.

        Tiểu đội tôi có mười một người thì cũng có gần mười người tiễn đưa. Riêng gia đình Khải đã có tới 7 người. Ba Khải tuy đã già yếu lắm rồi mà vẫn cố bám theo đội hình đoàn quân. Ông vẫn nhìn Khải và chúng tôi bình thản nhưng tôi biết trong lòng ông có một nỗi buồn da diết, không thể nói cùng ai.

        Ba Khải chỉ có duy nhất anh là con trai. Đúng ngày giao quân, chân Khải bị viêm sưng rất to không thể đi được. Đơn vị nhận quân gợi ý cho Khải ở lại nhưng anh quyết không chịu vì có thể đây là lần cuối cùng sinh viên các trường đại học được gọi nhập ngũ.

        Không muốn, nhưng ông không thể cản được quyết tâm của Khải. Thương anh, cả gia đình đều muốn anh không phải suy tư trước khi bước vào những thử thách vô cùng khốc liệt của cuộc chiến tranh đang đến hồi ngã ngũ.

        Trước khi xuất quân, má Khải còn dúi vào tay chúng tôi, mỗi đứa một gói pôlyvitamin. Má bảo: “Cầm đi, khi nào mệt ngậm một viên cho khoẻ”. Thấy Tường lúng búng chào má, má đùa:

        - Có gì cứ nói to lên! Khi nào trở về, qua nhà tao, tao cho làm rể! Không có thách cưới to đâu mà sợ.

        Tường ta khoái trá, cười phá lên:

        - Con xin má! Con sẽ về với má.

        Câu chuyện năm xưa cứ ám ảnh tôi mãi vì giờ đây đám sinh viên năm ấy chỉ còn lại hai người, ba má Khải cũng đã cùng những người ra đi, về với đất.

        Nhớ về chiều sân ga năm ấy tôi lại nhớ những câu thơ của nhà thơ Nguyễn Bính mà đám sinh viên chúng tôi thường vẫn đọc:

                                                 “...Có lần tôi thấy một mẹ già
                                                 Đưa tiễn con đi trấn ải xa
                                                 Tàu chạy xa rồi bà vẫn đứng
                                                 Lưng còng đổ bóng xuống sân ga…”
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #17 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2013, 10:08:48 pm »

        Những câu thơ gợi cảnh chia ly của tình mẫu tử mà một người như “ngọn đèn trước gió” còn người ra đi “không hẹn ngày về”. Đọc thơ ai cũng mủi lòng.

        Vậy mà chiều ấy, khi tàu chuyển bánh, cả đoàn chúng tôi đều chứng kiến một hình ảnh mà đến tận bây giờ vẫn không ai có thể quên được.

        Trong bóng chiều, mưa lâm thâm, đoàn tàu quân sự dần tăng tốc, mang theo những chàng trai trẻ tiến về Nam. Trên sân ga, những bàn tay và những chiếc khăn vẫy, vẫy! Vượt lên những chiếc khăn, vượt lên những bàn tay, chúng tôi thấy một bà mẹ già vượt lên phía trước. Mẹ chạy theo đoàn tàu mà không hề biết đến gạch đá dưới chân mình.

        Bóng mẹ già chới với trong chiều mưa của cái ngày đưa tiễn ấy, cứ ám ảnh chúng tôi suốt cả cuộc đời. Sau này các bạn tôi có người đã viết thành thơ. Tôi ấn tượng mãi với câu:

                                          “...Nước mưa rơi là nước mắt chúng con
                                          Trên dáng mẹ vươn dài theo đất nước...”

        Chúng tôi ra đi trong sự lưu luyến tiễn đưa của những người cha, người mẹ, người anh, người chị và của cả Hà Nội, cả hậu phương yêu dấu. Những người bạn tôi đã mang tình yêu thương đó vào trong các trận đánh và các anh đã hóa thân trong chiến thắng vẻ vang của dân tộc. Phần cuộc sống còn lại của những đồng đội chúng tôi luôn khắc sâu hình bóng các anh.

        Đắm mình trong hoài niệm, khi anh Thành nhắc, tôi mới biết là mình đã tới Ninh Bình. Chúng tôi định dừng xe tìm chỗ uống nước. Vì đang là ngày Tết nên hai bên đường không hề có quán hàng nào mở cửa, xe cứ từ từ chạy xuyên thị xã.

        Tôi lại có dịp ngắm đỉnh Non Nước, nhà máy điện Ninh Bình….

        Cách đây ba mươi lăm năm, khi chúng tôi xuống tàu ở ga, thị xã nơi đây còn sơ sài lắm. Bởi xuống tàu vào lúc đêm tối, tầm nhìn bị hạn chế nên tôi hình dung thị xã khi ấy chẳng khác làng tôi là mấy.

        Hồi ấy thị xã cũng không có điện. Thấp thoáng trong những căn nhà tranh tre tồi tàn là những ngọn đèn dầu le lói. Đường thưa thớt người. Nhà máy điện tôi chỉ thấy một khối đen sì nhô ra từ trong núi mà đại đội phó Nhãn chỉ cho tôi. Ông còn chỉ cho tôi chùa Non Nước và nơi chiến sỹ Giáp Văn Khương nhảy từ trên núi xuống sông.

        Chiều ngày 10 tháng 1 năm 1973, từ Ninh Bình chúng tôi lên ô tô về một xóm nhỏ ở Triệu Sơn, Thanh Hóa. Hồi ấy hai bên đường còn nham nhở những hố bom.

        Qua khu vực cầu Hàm Rồng chỉ thấy những ngọn đồi lở loét, không có rừng cây xanh tốt như bây giờ. Phía bên tay phải cầu, chúng tôi còn đọc được một hàng chữ lớn xếp bằng đá trắng trên sườn đồi “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.

        Thị xã Thanh Hóa khi ấy chỉ thấy một màu đen của các mái nhà lợp giấy dầu. Càng đi vào phía Nam, chúng tôi càng thấy dấu vết tàn phá dữ dội của bom đạn Mỹ.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #18 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2013, 09:37:59 am »

        Tôi giật mình khi nghe anh Thành hét giật giọng: “Đi thế à!”. Xe phanh gấp. Một chiếc xe máy vụt qua đầu ô tô.

        Tôi hỏi:

        - Đến đâu rồi nhỉ?

        - Xe vừa qua thành phố Thanh Hóa, anh ạ! - Anh Thành trả lời.

        - Còn bao xa nữa thì về đến nhà?

        - Còn khoảng 30 cây số nữa!

        Trời tối, không thể nhìn xa về hai bên đường, tôi quay sang nói chuyện với anh Lâm về những dự định tới đây của hội. Câu chuyện của hai chúng tôi đang còn dang dở thì xe đã tới lối rẽ vào làng.

        Đường vào nhà cũng quanh co như lối vào xóm nhỏ nhà tôi. Khi chúng tôi xuống xe đã có rất đông người nhà ra đón. Bóng tối không cho chúng tôi có thể quan sát rộng ra xung quanh, nhưng tôi nhận ra ngay làng vẫn còn nhiều hàng rào tre, găng và các loại cây hoang dại.

        Khi vào nhà, nơi đầu tiên thu hút sự chú ý của tôi là bàn thờ. Trên bàn thờ, dưới chân dung thầy mẹ là những tấm ảnh thờ bốn liệt sĩ.

        Cả bốn bức ảnh đều là ảnh truyền thần khổ 19 x 23. Các anh, các chị đều còn rất trẻ. Tường đeo kính râm, nét mặt trẻ hơn hồi chúng tôi bên nhau. Đây chắc là ảnh chụp từ khi anh mới vào đại học.

        Ảnh của Tường được treo bên trái bàn thờ cùng với anh trai cả là Bùi Khắc Khới. Nhìn ảnh anh Khới với cây vĩ cầm trên tay, tôi nghĩ ngay khi còn sống có lẽ anh phải là một người rất yêu nghệ thuật và say sưa âm nhạc. ảnh anh là chân dung một nghệ sỹ - một nhạc công. Vậy mà cuộc đời của anh lại sớm tắt khi bao dự định còn dang dở

        Phía bên phải bàn thờ là ảnh đôi vợ chồng trẻ. Anh Bùi Khắc Kiêm hy sinh khi mới 25 tuổi. Chị Lê Thị Vượng, ra đi khi vừa chớm 25. Vậy là cả bốn anh chị đều ra đi khi đang độ thanh xuân phơi phới.

        Tôi đặt đồ lễ đã mang sẵn từ Hà Nội lên bàn thờ thắp hương. Tôi, anh Lâm, vợ chồng anh Thành và mọi người trong gia đình cùng đứng trước bàn thờ chắp tay vái tổ tiên và vong linh những người đã khuất.

        Sau đó chúng tôi quây quần bên mâm cơm ngày Tết. Anh Tân kể lại câu chuyện anh đã nhận được tin từ cháu Chiến ra sao.

        - Sau khi nhận điện, tôi không sao ngủ lại được. Thương em, thương thầy mẹ mà lòng cứ bồi hồi nôn nao - Anh kể tiếp - Nhận được bài báo cháu gửi về, tôi chú ý ngay đến bức ảnh chú chụp chung với đồng đội. Tôi nhận ra em mình là người đứng thứ hai bên trái ảnh. Tôi chăm chú đọc. Mỗi chữ, mỗi câu đều làm tôi trào nước mắt.

        Đã hơn ba mươi năm rồi, một nửa đời người đã đi qua mà đồng đội vẫn nhớ về em. Hẳn là em tôi đã để lại trong lòng đồng đội những ấn tượng quá sâu sắc.

        Sự chính xác về địa chỉ quê hương, tên họ thầy tôi đã làm tôi cảm động. Những chi tiết tả về ngoại hình, về cá tính và sinh hoạt của Tường khiến tôi hiểu người viết đã biết quá rõ về em tôi.

        Kể xong anh ôm tôi và nói tiếp: “Kể từ khi đọc xong bài báo, tuy chưa hề gặp mặt mà tôi đã có cảm giác chú Liêm như người trong nhà mình”.

        Câu chuyện hội ngộ ngày xuân thật vui vẻ. Sau đó cả nhà bàn bạc việc sẽ vào tìm và thăm mộ Tường tại nghĩa trang Bù Đăng.

        Sợ thức khuya ảnh hưởng sức khỏe, 11h30 chị Yến (vợ anh Tân) giục chúng tôi đi ngủ. Vậy mà nằm trên giường, phải một giờ sau tôi mới có thể chợp mắt được vì những dòng suy tưởng miên man.

        Thế là tối mùng ba Tết năm Mậu Tý, tôi đã thực hiện được lời hẹn với người bạn chiến đấu, sau 33 năm trở lại với quê nhà. Mừng và ân hận. Ân hận vì không thể thực hiện được lời hẹn ước khi mới hòa bình. Mừng vì dù muộn tôi cũng đã thắp được một nén hương trên bàn thờ của gia đình anh.

« Sửa lần cuối: 15 Tháng Tư, 2013, 10:02:57 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #19 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2013, 01:16:42 pm »


III - NHỮNG ĐIỀU MỚI BIẾT

        Sáng 4 Tết (10/2/2008)

        Chúng tôi tỉnh dậy thì bữa ăn ngày Tết đã sẵn sàng. Tết ở đây cũng giống quê tôi, bữa ăn sáng thường muộn, ăn xong mọi người có thể đi chơi tết thông luôn đến tối mà không cần về qua nhà ăn trưa.

        Cơm nước xong, ngoài sân ánh sáng đã chan hoà, chúng tôi cùng nhau chụp một vài tấm ảnh kỷ niệm với gia đình. Anh Nguyễn Lâm còn đề nghị căng tấm ảnh cụ Bùi Khắc Tráng chụp cùng các vị lãnh đạo Đảng và nhà nước để chụp lại.

        Sau đó, chúng tôi lại cùng nhau đến thắp hương tại nhà thờ họ Bùi. Nhà thờ được làm trên một khuôn viên tương đối rộng. Nhìn dáng vẻ kiến trúc bên ngoài tôi nghĩ nhà thờ mới được xây dựng lại.

        Các đồ thờ bên trong cũng đơn giản, không cầu kỳ. Có lẽ nhà thờ nơi đây cũng như nhà thờ họ ở quê tôi. Đây là nơi thờ cúng các bậc tiền nhân trong dòng họ và là nơi gặp gỡ, hội họp để bàn các việc lớn hoặc các việc định kỳ hàng năm.

        Chính vì thế con cháu trong họ, những người đi xa thường tới đây thắp hương vào những ngày lễ, ngày tết để nhớ về cội nguồn.

        Sau khi rời nhà thờ, chúng tôi cùng đi về phía biển. Khi mà đã nghe tiếng sóng rì rào và đã nhìn thấy màu xanh của biển, chúng tôi rẽ vào bên trái đường. Cách mặt đường khoảng 10 mét là khu mộ có mộ người mẹ Việt Nam anh hùng Lâm Thị Lam - Người mẹ của bốn Liệt sĩ (Bùi Khắc Khới, Bùi Khắc Kiêm, Lê Thị Vượng và Bùi Khắc Tường)

        Ngôi mộ đã được gia đình và địa phương xây rất trang trọng. Phía trước mộ có ghi hàng chữ “Mẹ Việt Nam anh hùng”. Tôi và anh Lâm vào thắp hương viếng mẹ. Anh Lâm nói trong nước mắt:

        - Mẹ ơi! Chúng con từ Hà Nội về với mẹ đây! Mẹ hãy tha lỗi cho chúng con... Chúng con... đã không đư..ưa đư..ược anh Tường về với mẹ... khiến mẹ phải đau buồn. Lẽ ra chúng con phải đến gặp mẹ... tạ lỗi với mẹ từ khi mẹ còn sống. Mẹ hãy tha... cho... chúng con. – Càng nói, anh càng nức nở.

        Nhìn người đàn ông cao lớn đã ngoại ngũ tuần nước mắt lưng tròng, cả đoàn không ai cầm được lòng mình.

        Trong tâm trạng bồi hồi, tôi lại nhớ về mẹ mình. Mẹ tôi có bốn lần tiễn con lên đường ra trận. Nhưng mẹ tôi cũng là người may mắn có được niềm vui bốn lần đón các con từ mặt trận trở về, cho dù sự trở về của chúng tôi không phải ai cũng được nguyên vẹn.

        Còn người mẹ anh hùng mà chúng tôi đang thầm tạ lỗi đây, mẹ chỉ hai lần được tiễn con ra trận mà đã phải tới bốn lần nhận giấy báo tử những đứa con yêu. Đau lắm! Còn có nỗi đau nào... đau hơn thế?.
 


        Bà mẹ Việt Nam anh hùng Lâm Thị Lam (1916 - 1980)

        Tôi hình dung cứ một, hai năm trong thời kỳ chiến tranh ác liệt mẹ lại nhận được một giấy báo tử của các con, các cháu. Tuổi già “Như trái chín cây” mẹ đã âm thầm chịu đựng cái đau của những nhát dao cùn cứa vào da thịt mà không thể chia sẻ cùng ai. Mẹ thường khóc thầm khi một mình giữa đêm thanh vắng.

        Mẹ tôi nghèo, bà cũng có nỗi bải hoải ngóng tin con ngoài mặt trận. Tôi rất thương mẹ, nhưng với mẹ Lam thì tôi không thể có lời nào để diễn tả lòng mình. Tôi chỉ có thể nói với mẹ rằng: “Mẹ ơi! Sao đôi vai bé nhỏ... của mẹ lại phải mang gánh nặng giang sơn!? Sao đời mẹ lại khổ đau nhiều đến thế?”


Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM