Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:36:48 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chuyện kể về một gia đình liệt sĩ  (Đọc 73616 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #70 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2013, 12:32:21 am »


VII - TRỞ LẠI VỚI BÙI KHẮC TƯỜNG VÀ BÀI BÁO
"... GIỜ NÀY ANH VỀ ĐÂU?!"


        Chiều 1 tháng 9 năm 2008:

        Sau khi giải quyết xong các công việc gia đình, chúng tôi lại chia tay gia đình anh Tân lên đường trở về Hà Nội. Đến Ninh Bình, theo đề nghị của chị Tuyết, chúng tôi thống nhất sẽ đến thăm rừng Cúc Phương.

        Trong quá trình chiến đấu, học tập và công tác, tôi đã được đi đến nhiều miền quê của Tổ quốc. Nhưng đến với Cúc Phương thì đây là lần đầu tiên.

        5h30 chiều, xe tới cửa rừng. Tuy đã một ngày trên đường, nhưng cả bốn chúng tôi đều hăm hở muốn vào rừng ngay. Anh Thành vui vẻ nói: “Vào rừng ngay để buổi tối anh Liêm còn mơ về Trường Sơn”.

        Không biết khi đêm về tôi có mơ Trường Sơn hay không? Còn lúc này đây tôi đang nhớ về những ngày tham gia chống lấn chiếm tại Quảng Đức.

        Tháng 11 năm 1973, chúng tôi từ Cà Tum hành quân về suối Ngô. Sau hai ngày dừng chân, các anh Thảo, Nhị, Lực được rút lại để bổ sung cho các đơn vị phía sau. Tiểu đội chúng tôi còn 7 chàng sinh viên (Ngọc, Quế, Phấn, Tường, Khải, Chân và tôi) cùng đơn vị tiếp tục đi về phía Bắc.
 
        Đến Lộc Ninh, toàn bộ anh em tân binh của tiểu đoàn 495 (đoàn đi B 2004) được bổ sung cho E271. Bộ phận cán bộ giao quân chia tay chúng tôi để trở lại hậu phương.
 
        Đoàn tân binh lên đường hành quân về Đồi Chè (đây là đồn điền trồng chè của một người Pháp để lại). Tại đây Ngọc được giữ lại trung đoàn bộ còn 6 anh em tôi xuống tiểu đoàn 9.
 
        Ở tiểu đoàn, chúng tôi chia tay nhau về các bộ phận: Ngô Văn Quế về đại đội hai, Tường, Phấn về trinh sát tiểu đoàn còn Khải, Chân và tôi về đại đội một.
 
        Chúng tôi được bổ sung về trung đoàn khi đơn vị cùng cả mặt trận đã giải phóng Bù Bông. Trung đoàn tổ chức chốt giữ, bảo vệ đường 14 và tuyến đường vận chuyển huyết mạch từ miền Bắc vào đồng bằng sông Cửu Long.
 
        Tiểu đoàn 9 được giao nhiệm vụ chốt giữ tại Đắc Song, chặn địch từ hướng Đức Lập đánh xuống.
 
        Địch sử dụng pháo từ căn cứ Núi Lửa, Đức Lập, Gia Nghĩa liên tục bắn vào chốt của các đại đội. Trên đầu máy bay quần đảo trinh sát và ném bom. Giữa các đợt bom pháo, các đơn vị thuộc sư đoàn 23 ngụy thay nhau mở các đợt tấn công lên chốt.
 
        Sau nhiều ngày chiến đấu ác liệt, lực lượng của các đại đội bị thương vong nhiều. Để bảo toàn lực lượng, ngày 6 tháng 12 năm 1973, tiểu đoàn được lệnh rút khỏi Đức Song về Phẫu Ông Hoạch (tên do đơn vị đặt để liên lạc) tổ chức lực lượng chuẩn bị chặn địch.
 
        Trên đường rút lui, tiểu đoàn 9 bị pháo địch bắn trúng đội hình. Đồng chí Kiệm tiểu đoàn trưởng và một số cán bộ chiến sỹ đã hy sinh. Tiểu đoàn bị thiệt hại nặng về quân số.
 
        Chiều 6 tháng 12 năm 1973, bộ phận lính mới chúng tôi về đến đại đội 1. Khi ấy đơn vị còn rất ít người. Toàn đại đội chỉ có 18 cán bộ chiến sỹ: Anh Chiêm chính trị viên trưởng, anh Huống chính trị viên phó, anh Khương đại đội trưởng. Cán bộ trung đội có các anh Xuân, Khi. Tiểu đội trưởng có các anh Thái, Chiến, Nghĩa và Trường. Y tá có anh Trung và anh Phương. Chiến sỹ chỉ còn các anh: Tường (anh nuôi), Sơn (quân khí), Bao (liên lạc) và các anh Hạnh, Đào, Dân, Hồng, Vinh, Đoán.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #71 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2013, 04:09:38 am »

        Lực lượng bổ sung của chúng tôi có 14 người. Trong 14 người chúng tôi có anh Độ, anh Vinh đã qua lớp đào tạo trung đội trưởng, 6 sinh viên (tôi, Chân, Giang, Khải, Thoa, Lâm), 2 cán bộ trung cấp kỹ thuật (anh Thiềng và anh Có) còn bốn anh ra đi từ luỹ tre làng: Hiếu, Thành, Điền, Tường (Bắc Giang).
 
        Ngay buổi đầu về đơn vị, anh Chân đã bị thương phải đi viện. Chúng tôi có hai ngày ổn định tổ chức biên chế. Để tăng cường chỉ huy, cấp trên điều anh Liệu làm trung đội trưởng trung đội tôi (anh đã hy sinh ngày 5/1/1974 tại khu vực cao điểm 904).
 
        Khi tổ chức biên chế tạm ổn định, chúng tôi được lệnh hành quân sang nam lộ 14 làm nhiệm vụ bám địch. Trước khi đi chúng tôi được tin anh Trần Lê Vĩnh (cùng đoàn chúng tôi) bổ sung cho tiểu đoàn hai đã hy sinh trên chốt đêm 6 tháng 12, các anh Khá và Pha đã bị thương phải đưa về tuyến sau.
 
        Chúng tôi khẩn trương tổ chức đào hầm bố trí trận địa phòng ngự và hàng ngày cử các tổ đi bám, phát hiện địch. Nhiệm vụ bám địch có nhiều khó khăn và nguy hiểm. Những chiến sỹ mới chúng tôi chưa có kinh nghiệm nhìn, nghe, ngửi để phát hiện địch từ xa.
 
        Khi đi bám địch nếu chủ quan, thiếu kinh nghiệm để địch phát hiện, nổ súng trước là rất nguy hiểm. Khi ấy lực lượng ta sẽ bị động đối phó, khả năng thương vong là rất lớn.
 
        Trên đường bám địch rất dễ bị kẻ địch phục kích hoặc cài mìn. Thời gian chiến đấu ở Quảng Đức đơn vị chúng tôi bị thương vong chủ yếu do mìn của địch.
 
        Nếu cả hai bên đều đang di chuyển thì bên nào phát hiện được đối phương trước, nổ súng trước sẽ dễ dàng nắm thế chủ động.
 
       Ở đại đội, chúng tôi thường được luân phiên nhau đi làm nhiệm vụ, còn ở trung đội trinh sát tiểu đoàn Tường phải đi bám địch hàng ngày, ngoài ra còn đi trinh sát chuẩn bị cho các trận đánh. Chính vì thế chỉ một thời gian ngắn, Tường đã có rất nhiều kinh nghiệm và thành thạo với công việc của mình.
 
        Lần đầu tiên đi trinh sát Tường cùng tổ trinh sát tiểu đoàn 9 đã phát hiện tốp địch đang bố trí phục kích. Bọn địch chủ quan nói chuyện rất to đã bị các anh phát hiện trước.
 
        Các anh đã nằm chờ đến chiều, khi chúng ra gỡ mìn chuẩn bị rút mới nổ súng tiêu diệt gọn cả tốp địch. Sau trận đánh Tường được phong hạ sĩ và được đề bạt lên tiểu đội phó. Vậy là ngay lần đầu lâm trận Tường đã lập chiến công.
 
        Chuyện tiêu diệt tốp địch phục kích của trinh sát tôi chỉ nghe kể lại, còn sự bình tĩnh, thận trọng chính xác của Tường khi đi làm nhiệm vụ thì tôi thực sự thán phục từ trận anh dẫn chúng tôi nắm tình hình địch ở nam lộ 14.
 
        Ngày 23 tháng 12 năm 1973, trung đội trưởng Liệu dẫn một tổ đi bám địch. Sáng sớm, mỗi người chúng tôi đều mang theo cơm nắm, nước uống và súng đạn lên đường. Chúng tôi dò dẫm tiến và kiểm soát rất kỹ quả đồi đối diện khu vực đóng quân.
 
        Khoảng 3 giờ chiều, chúng tôi gặp bộ phận trung đoàn bộ và các đại đội thông tin, cối 82, DKZ, đại đội 12ly 7 và đại đội trinh sát hành quân theo hướng Đông Nam về phía lộ 8B. Chúng tôi trở về gần khu vực trú quân thì buộc phải nổ súng bắn một con trăn rất to chặn ngang đường. Con trăn phải nặng đến 20kg.
 
        Sáng 24 tháng 12, Tường được tiểu đoàn cử xuống dẫn một tổ của đại đội tôi đi trinh sát phát hiện địch.
 
        Địa bàn chúng tôi có nhiệm vụ trinh sát chính là khu vực hôm trước tôi đã đi. Bởi thế, sau khi qua suối Tường quay lại hỏi tôi về tình hình khu vực chiều qua. Tôi trả lời rất lạc quan:

        - Cứ đường mòn mà đi. Cuối chiều hôm qua mình còn gặp trung đoàn bộ và các đại đội trực thuộc hành quân qua đây. Không có địch đâu?
 
        Không hiểu trước khi xuống đại đội tôi, Tường đã nhận nhiệm vụ ra sao nhưng nghe tôi nói anh cũng có phần vững dạ. Anh thận trọng dẫn chúng tôi theo đường mòn hướng lên đỉnh đồi.
 
        Mới đi được khoảng 100m tôi thấy mình đã ra khỏi đường mòn. Đường rừng rậm rạp, mỗi người đi cách nhau khoảng 4m. Tôi đi thứ 8 trong đội hình nên không thể thấy Tường đi trên đầu đội hình.
 
        Đi thêm được khoảng 300m nữa, chúng tôi lại bám vào đường mòn, từng bước tiến lên rất thận trọng. Thỉnh thoảng tôi lại nhận được tín hiệu ngồi xuống. Chúng tôi lặng lẽ ngồi và quan sát rộng sang hai bên.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #72 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2013, 03:41:03 am »

        Tất cả các chỉ dẫn về đường hướng tiến và tốc độ đều do Tường chỉ huy. Chúng tôi lặng lẽ làm theo các ám hiệu của người chiến sỹ trinh sát đang dẫn đường.
 
        Sau khi thấy không có dấu hiệu nào khả nghi, Tường dẫn chúng tôi đi hẳn vào đường mòn. Đi được khoảng hai mươi mét tôi thấy người đi phía trước vẫy tay ra tín hiệu ngồi xuống.
 
        Chúng tôi ngồi quan sát rất lâu, khi tôi đã cảm thấy sốt ruột thì người đi phía trước lại ra tín hiệu tiến. Đội hình tiếp tục dò dẫm, chưa được 10m, tôi thấy bàn tay người đi trước vẫy tôi ngồi xuống. Tôi chưa kịp phản ứng thì đã nghe hai loạt súng nổ: “Tằng! Tằng!”,“Tằng! Tằng!”.
 
        Những người phía trước tôi đều chạy bật trở lại. Các anh giục tôi: “Chạy đi!”. Trước khi chạy trung đội trưởng Khi còn kịp bắn hai quả M79 về hướng địch. Đội hình rút lui của chúng tôi đổi chiều. Anh Dân trở thành người chạy đầu tiên, tôi chạy thứ hai.
 
        Chúng tôi cứ theo đường mòn mà chạy ngược trở lại. Qua một khúc ngoặt tôi thấy anh Dân đứng khựng lại. Tôi nhìn lên thì thấy cách chỗ tôi và anh Dân khoảng 6m, một tên lính ngụy quần áo và khắp người đều đỏ au, mái tóc quăn bù xù, cái mặt xám ngoét đang nằm chổng vó lên trời.
 
        Hắn chộp vội khẩu AR15 trên bụng và siết hết cả băng đạn về phía hai chúng tôi. Vì quá bất ngờ chúng tôi không kịp có phản ứng gì, cũng không kịp nằm tránh đạn. Rất may là tên lính cũng bị bất ngờ, ngã ngửa và vì quá sợ hãi nên loạt đạn của hắn đã bay hết lên trời.
 
        Sau khi siết hết băng đạn tên lính ngụy bỏ chạy. Chúng tôi thoát khỏi đường mòn đi về hướng bờ suối. Cả tôi và anh Dân đều hú hồn hú vía vì đã thoát được lưỡi hái của tử thần.
 
        Chúng tôi lần về đơn vị, lúc này Tường mới thuật lại tình hình và đưa ra phán đoán của mình.
 
        Sau khi dẫn tổ đi, tôi định theo đường mòn lên thẳng đỉnh đồi, nhưng lại nghĩ ở đầu dốc dễ bị địch phục mìn nên tôi bỏ đường mòn, cắt rừng mà tiến. Khi phát hiện mình đã đi gần đường mòn trở lại, tôi thận trọng quan sát kỹ rồi mới dám đi trên đường mòn.
 
        Đi được một đoạn, tôi phát hiện có dấu giày nên đi chậm lại để quan sát (hồi đó bộ đội ta không đi giày mà chỉ dùng dép cao su). Tiến thêm một đoạn nữa tôi thấy có tiếng người nói chuyện giọng Nam bộ.
 
        Biết là đã gặp địch, tôi chỉ kịp phẩy nhẹ tay báo hiệu về phía sau. Vừa kịp ngồi xuống, mở khoá an toàn súng thì tôi đã thấy hai thằng lính ngụy ngay trước mặt. Tôi nhằm tên đi đầu bóp cò. Tên lính vừa đổ xuống thì thằng thứ hai cũng vừa tới, tôi làm tiếp loạt thứ hai rồi hô anh em rút.
 
        Tôi dự đoán hai tên bị bắn này đi thay gác, còn tên lính gác khi nghe tiếng động quay lại thì gặp ngay toán Việt Cộng chạy đến. Hắn hoảng quá nên té ngửa ra, nhưng hắn cũng đã kịp xả một loạt đạn rồi mới bỏ chạy. Như vậy là tổ bám địch của ta đã đi vào khoảng giữa vị trí trú quân và vọng gác của địch.
 
        Sau khi Tường trở về tiểu đoàn báo cáo, đại đội chúng tôi cử một tổ kiểm tra lại. Đúng như Tường dự đoán, tổ kiểm tra đã phát hiện vị trí đóng quân của địch và đã đếm được hơn 150 công sự chiến đấu. Sau khi súng nổ, chúng đã vội vã rút lui.
 
        Nếu hôm ấy Tường không thận trọng, tỉnh táo để kịp phát hiện địch thì chắc chắn chúng tôi khó tránh khỏi thương vong. Chiều ấy quả đồi bị pháo địch bắn tới tấp. Ngay trong đêm đại đội chúng tôi được lệnh rút trở về Phẫu Ông Hoạch.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #73 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2013, 02:13:59 am »


*
*   *

        Trời đã về chiều nên chẳng có xe nào chạy cùng hướng với chúng tôi, chỉ thỉnh thoảng mới gặp một chiếc xe chạy ngược trở ra. Không đầy 10 phút sau chúng tôi đã chìm vào những âm thanh và màu sắc của rừng tự nhiên.

        Mặc dù đã vào thu mà ở đây ve sầu vẫn gióng lên bài ca muôn thủa làm cho cảnh rừng chiều bớt đìu hiu. Cùng với tiếng ve là tiếng côn trùng làm thành một bản hợp ca hoang dã. ánh nắng yếu ớt làm cho cây lá xẫm hơn. Rừng cây rợp bóng không cho một tia nắng nào bén tới mặt đường.

        Càng vào sâu trong rừng chúng tôi càng cảm thấy khoan khoái dễ chịu, như đã trút hết mọi lo toan của cuộc sống thường nhật để thả hồn mình về miền cổ tích hoang sơ. Quãng đường gần 20 km, vắng vẻ mà chúng tôi đi hết hơn 1 tiếng đồng hồ.

        Chúng tôi trở ra khi trời đã tối. Trước khi lên xe, tôi còn kịp chụp một kiểu ảnh về hoa dâm bụt trắng nơi đây.

        Sau một ngày rong ruổi đường trường, bây giờ mới về khách sạn nghỉ, vậy mà chị Tuyết vẫn đề nghị tôi đọc cho mọi người cùng nghe bài báo: “Bùi Khắc Tường – Giờ này anh về đâu?”.

        Tôi xuê xoa: “Bài này cả nhà đọc nhiều lần rồi, tôi xin đọc bài khác để mọi người nghe”.

        Chị Tuyết lại đề nghị: “Đúng là chúng em đã đọc nhiều lần rồi, nhưng chúng em muốn được nghe chính tác giả đọc để cảm nhận được hết tinh thần của bài viết”.

        Với một lời đề nghị như vậy, tôi không thể từ chối. Chiêu một ngụm nước chè tôi bắt đầu đọc:

       "Bùi Khắc Tường - Giờ này anh về đâu?

       Nhiều năm trôi qua, một con người tràn đầy nghị lực, yêu thương và lãng mạn vẫn sống trong ký ức của những người đồng đội một thời chia bùi sẻ ngọt cùng anh. Anh đã hy sinh khi đang độ thanh xuân đầy mơ ước. Bùi Khắc Tường - Giờ này anh về đâu?

        Năm 1969, Bùi Khắc Tường rời thôn Hồ Nam, xã Tân Dân, Tĩnh Gia, Thanh Hoá để nhập học khoa Sinh trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Gia đình đặt rất nhiều hy vọng vào sự học hành và thành đạt của anh.

        Đất nước có chiến tranh việc học cũng muôn vàn gian khó. Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội sơ tán tận Đại Từ Thái Nguyên. Việc đi lại tàu xe là trở ngại đầu tiên đối với một chàng trai xứ Thanh mới lớn.

        Ở nơi sơ tán thiếu thốn mọi thứ: Giáo trình thiếu, giấy mực thiếu, đồ dùng thí nghiệm thiếu, thậm chí bữa ăn cũng thường xuyên thiếu. Chỉ có một thứ không thể thiếu là quyết tâm dạy và học của cả thầy và trò.

        Các thầy từ nước ngoài về phải quen ngay với sự thiếu thốn. Các sinh viên mới, phải quen ngay với phương pháp học tập và hoàn cảnh mới. Tất cả phải vượt qua mọi khó khăn để học cho ngày mai xây dựng đất nước.

        Chỉ một năm học mà hai lần di chuyển. Từ Thái Nguyên về Đông Anh, rồi về Thượng Đình, Hà Nội.

        Năm thứ hai qua đi, đến giữa năm thứ ba (tháng 5 năm 1972) Mỹ ném bom trở lại miền Bắc, trường lại sơ tán về Hà Tây rồi Hà Bắc. ở nơi sơ tán, Tường có lệnh gọi nhập ngũ.

        Biết hoàn cảnh gia đình anh, nhiều bạn bè và cả thầy chủ nhiệm đều khuyên anh nên làm đơn xin hoãn. “Trước sau rồi cũng lên đường, có lệnh là đi, chẳng dùng dằng làm gì” – Anh chỉ cười mà nói.

        Từ suy nghĩ ấy, anh không hề vướng bận khi lên đường. Cũng từ suy nghĩ ấy, anh đã trở thành đồng đội của chúng tôi.

        Tuy cùng học một trường, nhưng tôi và Tường lại ở hai khoa khác nhau. Tường học khoa Sinh còn tôi là sinh viên khoa Địa. Anh cuối năm thứ ba còn tôi cuối năm thứ hai. Chúng tôi chỉ biết nhau khi được biên chế về cùng một tiểu đội.

        Mới hai mươi mà nhìn bề ngoài Tường có vẻ già dặn, khuôn mặt xương gầy, khắc khổ, nước da bánh mật điển hình của miền quê Thanh Hoá. Anh hơi gù, dáng đi hơi lao về phía trước. Anh có đôi tay săn chắc của người trải nhiều xốc vác. Tuy sàn sàn như nhau nhưng về sức vóc anh mạnh mẽ hơn tôi rất nhiều.

        Ở bộ đội chúng tôi ít bị cái đói dày vò hơn những ngày ở trường. Nhưng cái sự ăn cũng vẫn vô cùng cơ cực. Sáng sáng, mỗi chúng tôi được một bát ngô nấu dở cơm, dở cháo.

        Tôi bỏ vào miệng trệu trạo nhai từng miếng rất khó nhọc còn Tường ăn rất ngon lành, đôi khi anh còn động viên tôi: Cứ nhai mạnh mẽ lên, nhai kỹ vào sẽ thấy ngô rất ngọt, ăn ngô nhiều da sẽ hồng hào đẹp lắm đấy. Cứ cố gắng như thế tôi cũng đưa được hết bát ngô vào bụng.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #74 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2013, 02:31:03 am »

        Ngày ấy chúng tôi ăn để lấy sức mà tập, mà rèn luyện chứ đâu phải để thưởng thức. Chịu đựng khó khăn ngay từ khi là sinh viên nên chúng tôi cũng sớm quen với những gian khổ của người chiến sỹ.

        Ba tháng huấn luyện tân binh. Ba tháng để những chàng sinh viên trở thành người lính thực thụ. Chúng tôi được trang bị những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm cần thiết để bước vào chiến đấu. Ban ngày là các bài học ngoài thao trường: Lăn, lê, bò, bắn súng, ném lựu đạn...

        Tối đến chúng tôi lại mỗi người một sọt đá trên vai tập hành quân xa mang vác nặng. Khoảng chín, mười giờ đêm mới được nghỉ. Khi ấy đôi chân đã mỏi nhừ và đôi vai đau rát. Vậy mà đâu đã được ngủ yên. Trong đêm, mỗi người còn phải đảm nhiệm một ca gác.

        5h30 sáng hôm sau lại vùng dậy sau tiếng còi báo thức và một ngày mới lại bắt đầu với các công việc cứ kế tiếp nhau theo một vòng tròn khép kín.
 
        Trong những ngày vất vả ấy tôi thấy Tường vẫn vui. Sọt đá nặng trên vai, mỗi bước đi người cứ đổ về phía trước mà miệng anh vẫn hát. Thấy tôi ủ ê, anh lại đi gần bên tôi mà thủ thỉ những chuyện vui nho nhỏ. Tôi thấy Tường và cả tiểu đội ai cũng quan tâm giúp đỡ tôi. Chính sự tận tình ấy đã thúc đẩy tôi phải cố gắng để theo kịp anh em.

        Sau thời gian huấn luyện, chúng tôi có 10 ngày nghỉ phép về thăm gia đình. Những người ở gần như chúng tôi còn ở nhà với mẹ được một tuần. Tường và anh em khu bốn chỉ có thể ở nhà được 5 ngày.

        Ngày trả phép lên Hà Nội, tôi đã thấy Tường có mặt ở đây rồi. Thì ra, anh chỉ ở nhà 3 ngày rồi vội vàng ra Hà Nội. Sau này anh mới nói với tôi cái lý do anh không thể ở nhà lâu: Lo trả đúng phép thì cũng có, nhưng cái chính là mình không muốn phải thấy sự lo lắng suy tư của cha mẹ mình.

        Mãi tận bây giờ khi có gia đình tôi mới hiểu sự suy tư của cha mẹ anh và sự né tránh của anh là có lý.

        Buổi tối trước khi lên đơn vị, Tường, Khải và tôi lững thững đi bộ trong công viên Thống Nhất. Chiều Hà Nội trời se lạnh, ba đứa chúng tôi vòng quanh hồ Bảy Mẫu, tôi chợt nghe Tường khẽ đọc:

                                               “…Xót người tựa cửa hôm mai
                                                Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ
                                                Sân Lai cách mấy nắng mưa
                                                Có khi gốc tử đã vừa người ôm…”


        Tôi bấm Khải lặng lẽ bước theo Tường, để anh thả hồn về quê. ở nơi ấy chắc hẳn cha mẹ đang nhớ anh nhiều lắm. Lặng đi một lúc, Tường lại khe khẽ huýt sáo miệng bài “Ngôi sao ban chiều”.

        Tôi cũng đang nhớ nhà, nhớ mẹ nhưng tôi hiểu nỗi nhớ quê hương trong anh đang trào dâng và tình cảm thiêng liêng ấy thật đáng trân trọng. Sau này khi bước vào chiến đấu, những phút giây này thật là quý hiếm.

        Bình thường Tường luôn tỏ ra là người mạnh mẽ, cứng rắn. Vậy mà trong một chiều đông Hà Nội, bên hồ công viên tâm hồn anh lại rung động mạnh mẽ đến thế. Phải chăng phía sau khuôn mặt khắc khổ, rắn chắc kia là một tâm hồn đầy yêu thương và lãng mạn.

        Đêm ấy chúng tôi cùng nghỉ tại nhà Khải, hôm sau trở lại “Thủ đô tắc kè” (Mai Siu, Hà Bắc) để chuẩn bị hành quân chiến đấu.

        Sáng sớm ngày 3 tháng 1 năm 1973, đơn vị chúng tôi được lệnh lên đường. Từ Mai Siu vượt núi Yên Tử, qua Chí Linh, Khoái Châu về Thường Tín. Từ ga Thường Tín, chúng tôi lên tàu đi Ninh Bình rồi hành quân bằng ôtô đến Nghĩa Đàn.

        Bắt đầu từ đây là những ngày đi bộ triền miên. Những đôi chân học trò của chúng tôi đã qua Nam Đàn, Đức Thọ, Tuyên Hoá, Quảng Trạch, Bố Trạch rồi vượt Trung Lào, Hạ Lào, Đông Bắc Cam Pu Chia để đến với miền Đông Nam Bộ. Bây giờ nghĩ lại đã thấy vã mồ hôi: “Ôi! Tuổi trẻ thời chiến chinh, sao mạnh mẽ thế? ”.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #75 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2013, 03:47:20 am »


LS Bùi Khắc Tường (thứ 2 bên trái ảnh) LS Khải (Đội mũ cứng)
cùng đồng đội trong công viên Thống Nhất

        Trên đường hành quân, chúng tôi có những ngày dài nghỉ ở chân cao nguyên Bôlôven (tỉnh Atôpơ). Một buổi chiều Tường rủ tôi đi săn. Hai thằng có một khẩu súng vì thế tôi chỉ đi theo cho có bạn mà thôi.

        Bấy giờ đang mùa khô, chúng tôi đi theo một con suối cạn. Đang đi thì gặp một đàn gà mẹ con. Đàn gà con như những quả bóng bàn, lông vàng ươm, chạy táo tác. Gà mẹ cứ lồng lộn
quanh đám gà con. Bắt, đánh hoặc bắn con gà mẹ hẳn là không khó. Thế nhưng Tường bảo tôi:
Thôi, đi thôi! Để cho nó nuôi con! Tôi chưa hiểu sao đi săn thấy mồi mà ông này lại bỏ đi. Tường lại giục nên tôi cũng phải nghe.

        Đi một đoạn nữa chúng tôi lại gặp một con nai. Chưa kịp phát hiện thì nó đã chạy rồi. Nghe tiếng động thì chỉ thấy bóng nó vụt biến mất. Đi đã khá xa chúng tôi quay lại. Đến một nhánh suối cạn cây cối tươi tốt, Tường bảo tôi ngồi đợi, rồi một mình đi ngược khe về phía đỉnh đồi. Tôi ngồi nhìn bóng tối đang từ từ xuống. Một mình trước cánh rừng chiều mênh mông, tôi có cảm giác buồn cô quạnh.

        Đoàng! Đoàng! Hai tiếng nổ đột ngột vang lên phá tan sự tĩnh lặng của khu rừng. Tôi nhằm hướng Tường vừa đi, chạy thục mạng. Vừa chạy, tôi vừa lắng nghe. Được khoảng 500m tôi đã nghe Tường vừa gọi tôi vừa gọi bố tôi. Tôi cứ nhằm hướng có tiếng của Tường mà lao tới, chưa biết có chuyện gì xẩy ra.
 
        Một lúc sau tôi đã thấy Tường mặt đỏ gay, đang chặt một cành cây làm đòn gánh. Thấy tôi Tường mừng rỡ: Nhanh lên giúp tao, hai con, to lắm. Tôi vội chạy lên đã thấy hai con nhím to kềnh càng Tường đã trói gọn gàng.
 
        Bóng tối buông xuống nhanh dần. Tôi và Tường vội vã khiêng hai con nhím về. Bữa cơm tối hôm ấy chúng tôi rất ngon miệng và vui vẻ vì cả đơn vị cùng được sẻ chia hương vị lạ của rừng Trường Sơn.

        Trước khi đi ngủ, Tường nằm chung võng với tôi thủ thỉ trò chuyện, lúng búng mãi hắn tỏ ý xin lỗi vì khi chiều đã gọi bố tôi. Quả thực tôi đâu có giận Tường bởi tôi hiểu rằng vì quá vui mà hắn gọi bố tôi cho oai vậy thôi chứ lúc giận, lúc tranh luận gay gắt chúng tôi cũng không bao giờ nặng lời với nhau.

        Hơn nữa chúng tôi đôi khi cũng gọi nhau bằng tên bố để nhớ. Chính cái cách gọi vô lễ này khiến chúng tôi ghi nhớ hết tên cha mẹ và địa chỉ gia đình của nhau. Trước khi về võng của mình, Tường còn ghé miệng cắn một miếng thật đau vào má tôi. Thật là tức mà cũng thật là thương!
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #76 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2013, 04:42:24 am »

        Sau những ngày hành quân qua Stung Cheng, Crachê, chúng tôi nghỉ khá lâu ở một cánh rừng thuộc tỉnh Kông Pông Chàm (Cam Pu Chia). ở đây chúng tôi học tập chính trị và thay nhau đi lấy măng, rau rừng để cải thiện bữa ăn.

        Mỗi lần đi, Tường lại kéo tôi đi cùng và cứ mỗi lần như thế anh lại có dịp tỷ tê với tôi những câu chuyện của riêng mình. Qua những câu chuyện ấy tôi biết anh đã có cảm tình sâu sắc với một người bạn gái tên Phương.

        Anh thường khẽ hát bài “Ngôi sao ban chiều” mỗi khi nhớ về người con gái tên Phương ấy. Không hiểu nơi hậu phương xa xôi Phương có nhớ Tường của tôi không?
 
        Phương ơi! Tôi chưa một lần gặp bạn, chưa biết bạn nghĩ gì về Tường, nhưng tôi biết chắc một điều là Tường rất yêu bạn. Trong con mắt của bạn tôi, Phương là một người con gái xinh đẹp dịu hiền. Trong trái tim yêu thương của bạn tôi luôn có hình bóng Phương.

        Phương ơi! Chắc bạn không thể biết rằng vì là trai thời chiến nên Tường của tôi chưa một lần thổ lộ tình cảm của mình với Phương. Cả tôi và Phương đều không thể ngờ rằng những điều thầm kín ấy, Tường không bao giờ còn có dịp thổ lộ cùng Phương nữa.
 
        Mặc dù chưa nặng lòng cùng ai, vậy mà mỗi lần Tường hát: Em thân yêu nơi xa, em có biết chăng? Năm xưa đôi ta chung lời hẹn ước. Bấy lâu nay tim anh vẫn nhắc tới em. Như ngôi sao hôm đêm ngày mong chờ. Gợi lòng ta thương nhớ, nhớ người yêu ở nơi xa… tôi lại nao nao buồn.

        Trong những ngày còn trên đất bạn, trước khi về đơn vị chiến đấu, ấn tượng sâu sắc nhất của tôi về Tường là anh thường hát bài “Giờ này anh về đâu?”. Anh hát nhiều tới mức tôi không có ý định học cũng phải thuộc để khi hứng lên có thể ư ử cùng anh.
 
        Cũng trong những ngày này, tôi biết rằng trước lúc Tường nhập ngũ gia đình anh đã có ba liệt sĩ (hai anh trai và một chị dâu đã anh dũng hy sinh), vậy mà anh đã không xin hoãn lệnh lên đường. Những ngày nghỉ phép anh trả phép sớm hơn vì cứ mỗi lần thoáng thấy nét lo âu trong mắt cha, mắt mẹ lòng anh lại se lại. Thương cha, thương mẹ vô cùng!

        Những ngày tiếp theo chúng tôi hành quân về Tân Biên (Tây Ninh), rồi tới Quảng Đức bổ sung cho tiểu đoàn 9 trung đoàn 271. Tường về trinh sát tiểu đoàn, còn tôi về đại đội 1.

        Trên đường chiến đấu đôi khi chúng tôi vẫn gặp nhau, thậm chí có lần còn chiến đấu bên nhau. Tháng 6 năm 1974, tôi bị sốt rét phải về điều trị tại bệnh xá trung đoàn.

        Ngày trở lại đơn vị tôi mới biết: Trong một lần đi trinh sát bị địch phục kích, Tường đã anh dũng hy sinh. Tường ơi! “Giờ này anh về đâu? Hỡi người bạn cũ cùng binh đoàn…” Tôi hát và khóc. Khóc và nhớ thương anh vô hạn.

        Sau ngày chiến thắng, trở về trường Đại học Tổng hợp, mỗi chiều đứng trên sân thượng nhìn về phương Nam, tôi lại nhớ Tường.
 
        Khi chiều buông chỉ có một mình, tôi lại khẽ hát bài ngày xưa Tường vẫn hát: Giờ này anh về đâu?… Tôi bồi hồi một mình lặng ngắm hoàng hôn về. Bên cửa nhìn xa vời tận tít tầng mây, lòng tôi bao ngày mơ. Gió chiều nhẹ đưa bạn tôi về, tới miền quê nhà,cùng sống vui êm đềm.
Hơn ba mươi năm đã qua, cuộc sống đã có nhiều đổi thay, nhưng chưa khi nào tôi nguôi nhớ về Bùi Khắc Tường, một người có bề ngoài khắc khổ mà tâm hồn yêu thương rộng mở. Anh đã để lại trong tôi ấn tượng quá sâu sắc về một con người quả cảm luôn đón nhận thử thách mà không đòi hỏi một sự ưu tiên nào.
 
        Cuộc đời thanh xuân của anh mãi xứng danh anh bộ đội Cụ Hồ. Nhớ anh, chúng tôi lại hát tiếp bài anh hát ngày nào: Giờ này anh về đâu?!".
---------------------
       Đây là phần anh Hoàng Liêm (tác giả) đọc lại bài báo: “Bùi Khắc Tường – Giờ này anh về đâu?” của mình (đã đăng trên website Đảng cộng sản Việt Nam) theo yêu cầu của chị Tuyết vào chiều 1/9/2008 sau khi đi chơi ở rừng Cúc Phương về tới khách sạn (xin xem lại #71 và #73).
          
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Sáu, 2013, 04:30:06 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #77 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2013, 04:26:47 am »

        Trong lúc đọc lại bài báo đã in về Tường, tôi thấy mỗi lúc lại có thêm người đến, họ cứ lặng lẽ tìm chỗ ngồi. Khi kết thúc bài báo, đã có tới hơn 10 người mới vào phòng. Vậy là những người ở hai phòng bên nghe tôi đọc đã lặng lẽ vào cùng nghe.
 
        Tôi ngừng đọc, sau khi hết câu: “Nhớ anh chúng tôi lại hát tiếp bài anh hát ngày nào: Giờ này anh về đâu?!”, một cô gái hỏi tôi:

        - Bác ơi! Bác có bản nào nữa không? Bác cho cháu xin một bản. Nghe bác đọc chúng cháu rất cảm động.
 
        Tôi đưa luôn bài báo cho cô gái, cô cười rất tươi:

        - Cháu cảm ơn bác.

        - Không phải đâu. Chính bác phải cảm ơn cháu vì cháu đã quan tâm đến bài viết của bác.

        - Thế đây là bài viết của bác sao? Bác viết rất mộc mạc mà xúc động. Chúng cháu rất muốn đọc những câu chuyện chiến đấu như thế này. Một lần nữa cháu cảm ơn bác!
 
        Tôi chẳng biết nói sao nữa. Ngày nay, các bạn trẻ đang được tiếp cận với các khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Họ có thể đến với rất nhiều loại hình nghệ thuật, âm nhạc. Họ có thể đọc rất nhiều các loại xuất bản phẩm in và trên mạng.
 
        Vậy mà họ vẫn quan tâm tới các câu chuyện nói về chiến tranh, về nỗi đau thương, mất mát và sự hy sinh to lớn của toàn dân vì tương lai hòa bình của đất nước.
 
        Tôi cảm thấy vui hơn khi các bạn thanh niên ngày nay đã rất xa với thời chiến chinh của chúng tôi vẫn quan tâm đến truyền thống vẻ vang của những người đi trước.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #78 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2013, 12:34:22 am »


VIII - TÌM ĐẾN CÁC ANH BẰNG TÂM LINH

        Sau khi xác định được vị trí và bia mộ của liệt sĩ Bùi Khắc Tường tại nghĩa trang Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, các anh Tiềm, Tân, Thành… cùng toàn thể gia đình đều quyết tâm tìm mộ của anh Khới và anh Kiêm.
 
        Các thông tin có được về nơi yên nghỉ của các anh đều rất mong manh. Anh Khới trước khi đi chiến trường C thuộc biên chế của quân khu bốn vì vậy nhiều khả năng anh đã được quy tập về địa bàn quân khu.
 
        Anh Kiêm tham gia chiến đấu và hy sinh tại chiến trường Tây Nguyên. Nhưng anh hy sinh cụ thể ở vị trí nào? Hiện nay anh đã được đưa về đâu? thì chưa biết. Vì vậy muốn tìm nơi yên nghỉ của các anh thật khó trăm bề.
 
        Vì bận công tác nhà trường nên tôi không thể tham gia vào công việc tìm kiếm của các anh, các chị. Tuy vậy tôi vẫn quan tâm theo dõi. Tôi rất cảm động về những việc làm cao đẹp đầy nghĩa tình và thể hiện sâu sắc truyền thống văn hóa dân tộc Việt của các anh, các chị.
 Với mối quan tâm và tình cảm đó, chiều chủ nhật ngày 15 tháng 11 năm 2008, tôi đến thăm anh Thành chị Tuyết tại ngôi nhà của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Bắc Hà Nội trên đường Nguyễn Văn Cừ.
 
        Tôi đã dành cả buổi chiều để được nghe câu chuyện gia đình anh Thành và các anh các chị dày công đi tìm mộ liệt sĩ. Câu chuyện được chị Tuyết,  người tận tụy với các chuyến đi kể lại.
 
        Vì đã có hẹn trước nên sau một tuần trà chị Tuyết bắt đầu câu chuyện bằng việc kể cho tôi nghe về chuyến đi các nghĩa trang liệt sĩ ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.
 
        Chuyến đi đã khiến chị có ấn tượng rất sâu sắc về cái giá mà dân tộc mình đã phải trả cho cuộc sống hòa bình hôm nay.
 
        Kết quả của các chuyến đi đã cho anh chị nhận định: Anh Khới nhiều khả năng đã bị mất tên nên mộ anh trở thành mộ liệt sĩ vô danh. Sau nhiều lần đi, anh Thành chợt nhớ đến Phan Thị Bích Hằng – người được nói đến như một phụ nữ có khả năng nói chuyện với người âm, một nhà ngoại cảm.
 
        Trong những lần về công tác tại trường Đại học Quản trị Kinh doanh và Công nghệ, anh Thành đã kể cho Bích Hằng nghe về hoàn cảnh gia đình mình.
 
        Cảm động trước sự hy sinh to lớn của gia đình, Phan Thị Bích Hằng đã hứa sẵn sàng giúp đỡ khi anh Thành và gia đình anh có yêu cầu. Âu đây cũng là một cách tiếp cận với thông tin tìm kiếm các anh.
 
        Sau những chuyến đi bất thành, đại gia đình  anh Thành nhất trí nhờ đến Phan Thị Bích Hằng.
 
        Đến đây chị Tuyết bắt đầu chậm rãi kể từng sự kiện nhỏ trong việc tìm kiếm theo sự hướng dẫn của nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #79 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2013, 02:19:49 am »


        Đi tìm anh Khới

        10 ngày sau khi anh Thành đưa ảnh của anh Khới cho Phan Thị Bích Hằng, cô cho biết:

        - Mộ của bác Khới, hiện đã được quy tập về nghĩa trang Nam Ngạn, Hàm Rồng. Đó là ngôi mộ số 150 lô 2D, trên mộ ghi L.S vô danh.
 
        Khi đọc dòng thông tin này, tôi và anh Thành rất sửng sốt vì vị trí mộ nằm ngoài sự phỏng đoán của gia đình. Anh Khới chiến đấu hy sinh tại Lào nên mộ sẽ nằm đâu đó bên biên giới Việt - Lào hoặc nếu được qui tập cũng sẽ ở nghĩa trang quân tình nguyện Việt Nam ở Anh Sơn, Nghệ An.

   Tuy phân vân nhưng vợ chồng chúng tôi cũng bàn bạc và quyết định lên đường tìm mộ anh vào hai ngày nghỉ cuối tuần.
 
        Chúng tôi thông báo cho anh Tân là chúng tôi sẽ lên đường về quê vào cuối giờ chiều thứ sáu (11/04/2008) để sáng sớm hôm sau cả gia đình sẽ có mặt tại nghĩa trang Hàm Rồng – Thanh Hoá.
 
        Tôi bàn với chị Yến về việc sắp lễ thắp hương ngoài nghĩa trang. Tôi không quên dặn chị chuẩn bị trứng gà và mấy đôi đũa tre. Chúng tôi sẽ áp dụng phép thử tâm linh theo hướng dẫn của Bích Hằng.

        Vượt qua chặng đường dài gần 200km từ Hà Nội về Tĩnh Gia - Thanh Hoá, gần tám giờ tối chúng tôi mới về đến nhà. Sau bữa ăn, cả gia đình họp mặt bàn kế hoạch ngày mai sẽ ra nghĩa trang Hàm Rồng.
 
        Ai cũng nóng lòng mong cho chóng sáng để lên đường. Trong nhà chỉ có anh Tân là còn phân vân có vẻ không tin về phương pháp tìm mộ này. Buổi tối anh nói để mọi người đi trước xem thế nào. Thế nhưng, sáng sớm hôm sau anh cũng quyết định sẽ đi cùng mọi người đến nghĩa trang.

   Đũa tre và trứng gà gia đình đều có sẵn nên chúng tôi không phải lo nhiều cho việc thực hiện phép thử tâm linh. Trước khi ra khỏi nhà, anh Tân và chị Yến còn cẩn thận thắp hương khấn xin tổ tiên, bố mẹ và các anh chị liệt sĩ phù hộ để gia đình tìm được mộ anh Khới.

   8h00 ngày 12 tháng 4 năm 2008, chúng tôi lên đường, ngược về hướng Bắc qua thành phố Thanh Hoá. Trên đường đi chúng tôi không quên dừng lại mua hoa tươi vào thắp hương anh.
 
        Nhờ có sự chỉ dẫn của bạn thân cô Mười làm công an thành phố mà chúng tôi nhanh chóng đến được nghĩa trang Hàm Rồng. 9h00, cả gia đình tụ họp đông đủ và vào nghĩa trang với tâm trạng rất bồn chồn. Nét mặt ai cũng căng thẳng, vừa lo lắng vừa hy vọng.
 
        Sau khi nghe anh Tân đại diện cho gia đình trình bày nguyện vọng được vào nghĩa trang tìm mộ theo chỉ dẫn của nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, anh Chúng - Quản trang, rất nhiệt tình giới thiệu sơ đồ bố trí tại nghĩa trang và hướng dẫn gia đình cách tìm vị trí ngôi mộ.

   Được phép của quản trang, mọi người lặng lẽ đi về hướng dự kiến có ngôi mộ. Dường như có sự chỉ dẫn tâm linh nào đó, tất cả dừng bước trước ngôi mộ số 150 có ghi dòng chữ:

Liệt sỹ vô danh
Quân tình nguyện Việt Nam
Hy sinh tại Hủa Phăn.

        Có một chi tiết chưa hoàn toàn trùng khớp với thông tin của chị Bích Hằng, nghĩa trang không có lô số 2D mà chỉ đánh số theo A,B,C. Mọi người đều trong tâm trạng phân vân không biết đây có chính xác là mộ anh Khới không?
 
        Anh Thành gọi điện trao đổi với Bích Hằng. Vì anh Thành đã thông báo từ hôm trước về chuyến đi tìm mộ của gia đình nên Bích Hằng nghe máy luôn.
 
        Nghe anh Thành mô tả về vị trí ngôi mộ, Bích Hằng khẳng định đó là mộ anh Khới.

        - Vậy làm thế nào để anh em nhận nhau?

        - Anh cứ tính tuổi bác ấy bao nhiêu thì thắp bấy nhiêu nén hương. Em cũng sẽ thắp hương ở nhà để mời bác ấy lên gặp gia đình.
 
        73 nén hương đã được thắp lên cho người anh cả của gia đình. Tôi và chị Yến vội lấy trứng đũa ra.
 
        Mọi người đề nghị anh Tân thay mặt gia đình cắm một chiếc đũa trước mộ và đặt ngang quả trứng lên. Bàn tay run run của anh Tân đặt hai lần quả trứng vẫn không sao đậu được trên đũa. Anh có vẻ thất vọng, và sự nghi ngờ của anh lại có dịp tăng thêm.
« Sửa lần cuối: 07 Tháng Sáu, 2013, 08:07:59 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM