Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:12:55 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bí mật đội quân Lê Dương Pháp.  (Đọc 90636 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #40 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2008, 02:31:47 pm »

Chương 3

CHIẾN TRƯỜNG VIỆT NAM



I, Cuối thế kỷ 19, sắc phục sau lớp áo chùng

  Năm 1802, Gia Long lên ngôi lập ra triều Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam. Lúc này, chế độ phong kiến ở Việt Nam đã suy yếu. Chính sách bế quan toả cảng của nhà Nguyễn làm kinh tế bị kìm hãm. Mâu thuẫn giữa các giai cấp trong xã hội, chủ yếu là nông dân, với nhà Nguyễn trở nên sâu sắc. Hàng trăm cuộc khởi nghĩa của nông dân đã nổ ra như khởi nghĩa Phan Bá Vành (1821-1827), Cao Bá Quát (1854-1855) v.v… Nhà Nguyễn đàn áp dã man các cuộc khỏi nghĩa nhưng qua chính sách hà khắc đó, nhà Nguyễn đã huỷ hoại sức mạnh của nhân dân, của dân tộc trong công cuộc chống ngoại xâm (16).
 
  Với dã tâm xâm chiếm các thuộc địa mới để vơ vét bóc lột, mở rộng thị trường, Pháp đã để ý đến Việt Nam từ lâu. Ngay từ khi Nguyễn Ánh (Gia Long) còn chưa lên ngôi vua, Pháp đã giúp đỡ Nguyễn Ánh chống lại nhà Tây Sơn để tạo chỗ đứng sau này. Tuy nhiên, chính sách bế quan toả cảng của nhà Nguyễn không đáp ứng được lợi ích của Pháp. Pháp tạo cớ triều đình Nguyễn cấm đạo, ngược đãi giáo sĩ và từ chối tự do buôn bán nhằm đánh lừa dư luận. Ngày 1/9/1858, 2.500 quân và 12 tàu chiến Pháp, 450 quân và 1 tàu chiến Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng, bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.
 
  Trước nguy cơ mất nước, triều đình Nguyễn đối phó lúng túng, bạc nhược. Tư tưởng thủ và hoà dần dần chiếm ưu thế và chi phối mọi hoạt động và tổ chức chỉ đạo chiến tranh của triều Nguyễn. Cộng thêm vào đó, do không khơi dậy được sức mạnh toàn dân chống giặc nên sức kháng cự của quân triều đình bị suy giảm nghiêm trọng và trang bị vũ khí lạc hậu nên không đương cự nổi đại bác, pháo thuyền của Pháp. Những tấm gương dũng cảm của một số võ quan, binh sĩ triều đình như Nguyễn Tri Phương cũng không cản được cuộc tấn công của quân Pháp. Năm 1862, triều đình Nguyễn đã ký hiệp định nhượng hẳn 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ và Côn Đảo cho Pháp. Trong những năm 1864-1867, triều đình không lo chuẩn bị lực lượng, huy động sức mạnh nhân dân chống ngoại xâm mà chỉ lo chuộc lại 3 tỉnh miền Đông qua thương lượng. Chuộc không được mà Pháp lại được thể lấn tới. Từ ngày 20 đến ngày 24/6/1867, quân Pháp liên tục tấn công. Các thành Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên rơi vào tay địch. Ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ đã bị quân Pháp chiếm nốt.


Vua Tự Đức

  Sau khi để mất Nam Kỳ, triều đình Nguyễn không hề sửa sang triều chính, phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng để chống giặc mà còn tiếp tay cho Pháp trấn áp những cuộc nổi dậy đánh giặc của nhân dân, tạo điều kiện cho Pháp nhanh chóng thực hiện kế hoạch đánh chiếm Bắc Kỳ và Trung Kỳ.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #41 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2008, 05:57:10 pm »

  Tháng 10/1873, lấy cớ ra giải quyết vụ Jean Dupuis, một thương gia Pháp định đưa muối dọc sông Hồng sang Trung Quốc bị quân triều đình giữ lại thiếu tá Francis Garnier mang 180 quân ra Bắc. Đây chính là hành động dọn đường đánh chiếm các tỉnh miền Bắc. Ngày 20/11/1873, quân Pháp tấn công thành Hà Nội lần thứ nhất. Thành Hà Nội có chu vi 5km, tường cao 4m, dày 16m, có hào nước bao quanh. Sau một giờ tấn công, quân Pháp chiếm được thành. Tổng đốc Nguyễn Tri Phương bị thương nặng và bị bắt, ông nhịn ăn mà chết. Ông làm quan to nhưng thanh liêm, cha, con, anh, em đều hy sinh vì nước. Tại cửa ô Thanh Hà, 100 quân Việt Nam do một cai cơ chỉ huy đã chiến đấu anh dũng đến người cuối cùng. Để tỏ lòng nhớ ơn, nhân dân đã đổi tên cửa ô này thành Ô Quan Chưởng. (17)
 

Garnier

  Trong 21 ngày (20/11 đến 12/12) quân Pháp chiếm Hưng Yên, Bắc Ninh, Ninh Bình, Hải Dương, Nam Định. Tại Ninh Bình, 1 viên đội và 7 lính Pháp đến chiếm được thành. Quân triều đình ở thành Hưng Yên nghe tin có 10 lính Pháp đến đã hốt hoảng chạy tháo thân. Sau khi mất Hà Nội, quân triều đình tập hợp ở Sơn Tây. Quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc cũng tiến xuống từ phía Bắc. Bị uy hiếp, Garnier từ Nam Định về Hà Nội. Ngày 21/12/1873, Gariner đưa quân đánh ra Cầu Giấy, bị lọt vào trận địa mai phục của quân Cờ Đen và bị giết. Quân Pháp tháo chạy. Cơ hội giải phóng miền Bắc đã ở trong tầm tay nhưng nhà Nguyễn lại ký Hiệp ước Giáp Tuất ngày 15/3/1874, thừa nhận chủ quyền của Pháp ở 6 tỉnh Nam Kỳ và Pháp được tự do buôn bán ở Hà Nội, Hải Phòng và Quy Nhơn.


Garnier bị quân Cờ Đen chặt đầu

  Vin vào cớ nhà Nguyễn sang cống nhà Thanh, cho sứ đi Thái Lan... Pháp quyết định tiếp tục mở rộng xâm lược Việt Nam. Tháng 4/1882, đại uý Hen ri Riviere đưa 233 lính thuỷ quân lục chiến và 3 pháo hạm đến Hà Nội. Tám giờ sáng ngày 25/4/1882, quân Pháp tấn công thành Hà Nội lần thứ hai. Đến 11 giờ, thành Hà Nội thất thủ. Tổng đốc Hoàng Diệu không chịu hàng giặc mà thắt cổ tự vẫn tại vườn Võ Miếu.
 
  Đầu năm 1883, 750 quân Pháp tăng viện đến Hà Nội. Riviere mang quân chiếm Hồng Gai và Quảng Yên. Ngày 24/3/1883, sau vài giờ cầm cự, thành Nam Định rơi vào tay quân Pháp. Đến lúc này, nước đã gần mất, vua Tự Đức mới thấy sai lầm của mình. Triều đình điều liên quân Hoàng Tá Viêm-Lưu Vĩnh Phúc về Hoài Đức (Hoàng Tá Viêm là phò mã nhà Nguyễn, lấy con gái thứ năm của vua Minh Mạng), và Trương Quang Đản đưa quân về Gia Lâm, kẹp Hà Nội vào giữa hai gọng kìm. Phạng Thận Quật sang nhà Thanh cầu cứu. Quân Thanh do các tướng Tạ Kính Bưu, Đường Cảnh Tùng, Từ Diên Húc ồ ạt sang đóng ở Cao Bằng, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Sơn Tây, Bắc Ninh. Vua Tự Đức đâu biết nhà Thanh lúc này lo thân mình chưa xong thì còn giúp ai được.

  Thấy quân đồn trú tại Hà Nội bị uy hiếp mạnh, Riviere trở về để cứu nguy. Ngày 19/5/1883, Riviere đưa 550 quân tiến ra Phủ Hoài. Đến Cầu Giấy thì lọt vào trận địa mai phục của quân ta. Trận đánh kéo dài từ 5 đến 7 giờ sáng. Riviere và hơn 100 quân Pháp chết và bị thương. Quân Pháp rút chạy, tinh thần suy sụp nhưng Tự Đức lại hạ lệnh ngừng tấn công để đàm phán. Tướng Pháp Bouet mang quân tiếp viện ra Bắc, đúng lúc đó vua Tự Đức mất. Tướng Bouet đánh nhau với quân ta 3 ngày ở làng Vòng. Quân Pháp thua. Bouet phải xin viện binh.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #42 vào lúc: 16 Tháng Chín, 2008, 05:50:45 pm »

  Tin dữ bay về Paris, Pháp cho chi 5,5 triệu phơ-răng hỗ trợ cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam và gửi sang 3 nghìn quân tăng viện. Đô Đốc Courbet đưa chiến hạm đánh chiếm 2 pháo đài ở cửa Thuận An, uy hiếp mạnh kinh thành Huế. Triều đình nhà Nguyễn đầu hàng. Ngày 25/8/1883, Trần Đình Túc, Nguyễn Trọng Hợp đã ký Hiệp ước Harmand chính thức thừa nhận chế độ "bảo hộ" của Pháp tại Việt Nam. Nước ta đã trở thành thuộc địa của Pháp.
 
  Sau Hiệp ước 1883, nhà Nguyễn ra lệnh cho binh sĩ hạ vũ khí, nhưng nhiều võ quan và binh sĩ cùng nhân dân vẫn tiếp tục phối hợp với quân Cờ Đen và quân Thanh đánh Pháp. Từ thời điểm này trở đi mới xảy ra những trận đánh lớn và đẫm máu, mở đầu là trận Phùng-Sơn Tây. Trong những trận đánh sau này đã có sự tham gia của các đơn vị Lê dương.
 
  Sau khi đánh bại quân Pháp ở làng Vòng, Hoàng Tá Viêm và Lưu Vĩnh Phúc rút quân về Phùng. Quân Thanh do Đường Cảnh Tùng chỉ huy rút về Sơn Tây. Ngày 29/8/1883, tướng Bouet đưa 2 nghìn quân đến đánh đồn Phùng. Trận đánh kéo dài suốt cả ngày 2/9/1883. Quân Pháp thua phải rút về Hà Nội. Quân Cờ Đen tuy thắng nhưng bị tổn thất nặng.

  Sau trận Phùng, Bouet bị cách chức, đô đốc Courbet (nhân dân ta gọi một cách trào phúng là Cục bê) thay. Ngày 11/12/1883, Courbet tập trung 9 nghìn quân, trong đó có 1 tiểu đoàn Lê dương, chia làm nhiều cánh đi đánh Sơn Tây. Ngày 13/12/1883, quân Pháp tấn công chiến luỹ Phú Sá, cách thành Sơn Tây 2km. Trận đánh ở Phú Sá và ngoại vi thành Sơn Tây rất quyết liệt. Cả hai phía đều xung phong ào ạt, đánh giáp lá cà, binh sĩ không dùng súng mà dùng lưỡi lê và giáo mác. Trong chiến luỹ ngập xác binh sĩ hai bên. Trong quân của Hoàng Tá Viêm chiến đấu tại Sơn Tây có nhiều tướng tài tham gia như đề đốc Đinh Công Tráng, sau này là người chỉ huy chiến lũy Ba Đình huyền thoại đối thủ của trung tá Doddos. (Xin xem phần V, chương 1).
 
 Sau 3 ngày (13, 14, 15/12/1883), quân Pháp tiến sát tới chân thành Sơn Tây. Bộ binh Zouaves của Pháp vượt luỹ chông tre xông lên phía trước. Ngày 16/12/1883, trận kịch chiến tiếp tục. Nhưng khi quân ta đang anh dũng cự địch ngoài thành thì quân Pháp dùng mưu gian cho tên Việt gian Lương Văn Đạt giả làm người bán thuốc lẻn vào thành hạ cờ ta xuống, treo cờ Pháp lên. Quân ta đang chiến đấu thấy cờ Pháp treo trên thành tưởng là Pháp đã chiếm được thành, liền tan vỡ. Thành Sơn Tây thất thủ. Gần 400 binh lính và sĩ quan Pháp chết và bị thương. Quân Cờ Đen cũng bị chết gần 1 nghìn người. Sau trận đánh, những tù binh bị Pháp bắt, phần lớn bị hành quyết, một số nhỏ bị đày ra Côn Đảo.

  Sau trận Phùng - Sơn Tây, tướng Millot thay đô đốc Courbet. Đường Hà Nội-Bắc Ninh chỗ nào cũng có liên quân Việt-Hoa đóng giữ, uy hiếp Hà Nội.


Lính nhà Thanh
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #43 vào lúc: 17 Tháng Chín, 2008, 06:24:18 pm »

  Đầu năm 1884, nhận được thêm viện binh, Millot tập trung 14 nghìn quân cùng 4 nghìn dân phu, chia làm hai cánh, cánh thứ nhất từ Hà Nội theo sông Hống, sông Đuống đến Phả Lại, cánh thứ hai từ Hải Dương đi Phả Lại. Ngày 11/3/1884, hai cánh quân gặp nhau ở Phả Lại, cùng theo sông Cầu tiến về Bắc Ninh, đánh bọc hậu chặn đường rút lui của đối phương. 16 giờ ngày 13/3/1884, quân Pháp chiếm vùng núi Trung Sơn bảo vệ ngoại vi Bắc Ninh. Nhiều trận đánh ác liệt nổ ra trên đường tiến quân của Pháp và ở chân thành. 17 giờ 50 phút, thành Bắc Ninh thất thủ, liên quân Việt - Hoa rút về Thái Nguyên.

 

Quân Pháp tấn công thành Bắc Ninh

  Sau khi chiếm xong Bắc Ninh, Millot điều quân đánh Hưng Hoá, nơi tập trung liên quân Việt-Hoa. Ngày 10/4/1884, quân Pháp từ Sơn Tây theo đường thuỷ tiến về Hưng Hoá. Ngày 11/4, trận đánh bắt đầu quân Pháp dàn trận theo sông Hồng và sông Đà bắt một số lớn nông dân đi phục vụ. Cuộc chiến đấu diễn ra đầy máu lửa, hai bên giành giật nhau từng cứ điểm ở ngoại vi thành Hưng Hoá. Quân Pháp phải xin tăng viện. Ngày 13/4/1884, thành Hưng Hoá thất thủ. Quân Thanh rút về Yên Bái - Lào Cai. Quân triều đình của Hoàng Tá Viêm rút về Đồng Văn. Quân Cờ Đen đốt phố xá rồi rút về phủ Lâm Thao.

  Được tin thất bại trên chiến trường Bắc Bộ Việt Nam. Triều đình Thanh hoảng sợ, tìm cách thoả hiệp với Pháp. Ngày 11/5/1884, Pháp-Thanh ký hiệp ước theo đó nhà Thanh thừa nhận "quyền bảo hộ" của Pháp tại Việt Nam, rút quân Thanh về nước và mở cửa biên giới Hoa-Việt để thông thương.
 
  Cuộc chiến có vẻ như sắp chấm dứt nhưng không phải vậy. Ngày 22/6/1884, quân Pháp do trung tá Alphonse Dugenne chỉ huy đến sông Thương cách thị xã Bắc Giang 41km, định qua sông tiếp quản đồn Bắc Lệ (theo hoà ước đã ký giữa Pháp và nhà Thanh) nhưng viên chỉ huy quân Thanh không chịu giao đồn. ông ta nói chưa nhận được chỉ thị từ cấp trên. Trung tá Dugenne ra tối hậu thư cho quân Thanh phải rút khỏi đồn sau 1 giờ. Hết giờ ngừng bắn, không thấy quân Thanh bỏ đồn, quân Pháp ào ạt tấn công nhưng bị đánh bật trở lại. 22 lính Pháp chết và 60 bị thương. Được nghĩa quân Việt Nam hỗ trợ, quân Thanh phản công, bao vây quân Pháp tứ phía. Quân Pháp thua to, phải phá vây về bờ phải sông Thương, cấp tốc xin tăng viện.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #44 vào lúc: 20 Tháng Chín, 2008, 07:29:25 pm »

  Để đỡ đòn cho quân Pháp thua liểng xiểng ở Bắc Giang, đô đốc Courbet mang chiến hạm và lính Lê dương sang đánh phá Phúc Châu, Cơ Long, Đài Loan. Chiến tranh Trung-Pháp bùng nổ. Đồng thời, Pháp chuẩn bị tăng viện sang chiến trường Việt Nam.

  Sau trận Bắc Lệ 4 tháng, 6 nghìn viện binh Pháp đến Việt Nam, nâng tổng số quân Pháp tại chiến trường Việt Nam lên đến 20 nghìn người. Ngày 6/10/1884, tướng Briere De L'isle chia quân đánh đồn Chủ, Sầm và Bảo Lạc. Trận đánh rất giữ dội. Quân Thanh rút khói các đồn, số thương vong lên đến hàng nghìn. Sau đó, quân Pháp tiến lên đánh đồn Kép. Kép là một đầu mối giao thông quan trọng. Quân Thanh đã xây dựng ở đó một pháo đài lớn và kiên cố, quân đông, hoả lực mạnh, lương thực nhiều. Ngày 8/10/1884, tướng Negrier dốc toàn bộ 20 nghìn quân vây đồn Kép. Đây là trận đánh lớn nhất về quân số, tới hơn 30 nghìn binh sĩ hai bên tham gia, chưa kể hàng nghìn nông dân bị cưỡng bức đi pục chiến trường cho Pháp. Trận đánh kéo dài từ ngày 8 đến hết ngày 9/10/1884. Quân Pháp thiệt hại nặng nề. Tướng Negrier bị thương, đưa về Hà Nội cấp cứu. Quân Thanh bỏ lại 600 xác chết và rút lên phía Bắc.


Quân Cờ đen

  Sau trận đánh Hưng Hoá, ngày 18/5/1884, quân Pháp gồm 700 lính Lê dương và 3 pháo hạm do trung tá Duchesne chỉ huy tiến đánh Tuyên Quang. Cách Tuyên Quang 6 dặm, quân Pháp vấp phải một trận địa của quân Cờ Đen. Lính Lê dương đánh bọc sườn, quân Cờ Đen phải rút lui. Ngày 1/6/1884, pháo hạm Pháp từ sông Lô bắn vào thành. Quân Cờ Đen rút lên phía Bắc. Pháp để lại 2 đại đội Lê dương, 1 đại đội lính tay sai Bắc Kỳ, 32 lính pháo thủ, một số lính công binh . . . tổng cộng 619 lính, trong đó có 390 lính Lê dương giữ thành.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #45 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2008, 06:32:43 pm »

  Đầu năm 1885, thừa dịp quân Pháp dồn lên Lạng Sơn, tướng Lưu Vĩnh Phúc tập trung 15 nghìn quân đánh thành Tuyên Quang. Từ ngày 16 đến ngày 20/1/1885, quân Cờ Đen đào những đường hào bao vây quanh thành. Đêm 26/1, quân Cờ Đen đánh chiếm một ngôi làng cánh thành khoảng 400m, sau đó xung phong vào thành. Trận đánh ác liệt và lính Lê dương đẩy lùi được quân Cờ Đen, diệt hơn 100 lính. Quân Cờ Đen thay đổi chiến thuật. Những đường hào bao vây nhanh chóng vươn ra ôm chặt lấy thành. Bốn khẩu đại bác của Pháp bắn nhưng không ngăn được. Mục tiêu của quân Cờ Đen là một lô cốt nằm trên một con đê nhỏ dài 350m nằm ở góc Tây Nam của thành. Quân Pháp thấy rằng đối phương sẽ đào đường hầm đặt thuốc nổ cho nổ tung công sự này, họ rút khỏi đó đêm 30/1 và cho đại bác bắn sập công sự.


Chiến hào của Quân Cờ Đen

  Quân Cờ Đen tiếp tục cuộc bao vây. Họ dùng tre gỗ dựng lên nhiều chòi cao để từ đó bắn tỉa quân Pháp Ngày nào lính Lê dương cũng mất vài người vì đạn bắn tỉa. Ban đêm, công binh Cờ Đen đào hào tiến về phía thành và cho đại bác bắn phá. Về phần mình, quân Pháp ráo riết củng cố vị trí nhưng vấn đề là họ chỉ có 29 cái xẻng Ngày 3/2, một người lính trong thành thoát ra được mang thư đi xin tiếp viện. Để phòng bị đánh bất ngờ, quân Pháp hạ thấp những ngọn đèn treo trên tường ban đêm. Khi những đường hào đã tiến gần, vài lính Lê dương liều mạng ra cướp được một lá cờ của quân Cờ Đen.

  Ngày 8/2, khi các sĩ quan đang ăn sáng, một quả đại bác nổ tung trên mái nhà phòng ăn làm vôi gạch rơi tung toé xuống bát đĩa trên bàn. Đại bác của quân Cờ Đen bắt đầu bắn, không chính xác lắm nhưng các pháo thủ Cờ Đen hiệu chỉnh lại và đạn đại bác bắt đầu rơi vào ngôi chùa, nơi Marc Edmond Dominé, chỉ huy quân Pháp, dùng làm sở chỉ huy. Đạn cũng trúng cả vào trại lính, gây ra nhiều tổn thất. Sớm ngày 12/2, quân Cờ Đen cho nổ bộc phá dưới vị trí phòng ngự của Pháp và quân xung kích tiến lên. Lính Lê dương đẩy lui cuộc xung phong, diệt khoảng 40 lính Cờ Đen đi đầu. Vài phút sau, quả bộc phá thứ hai nổ. Một lính Cờ Đen lao lên cắm một cây cờ ở chỗ tường vỡ nhưng bị bắn chết. Ba đợt xung phong tiếp theo của quân Cờ Đen bị đánh lui. Lính Lê dương chết và bị thương 11 người. Ngày hông sau, quân Pháp giữ vững vị trí. Quân Cờ Đen cho điều thêm súng cối nặng đến tăng viện.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #46 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2008, 04:53:09 pm »

  Sáu giờ sáng ngày 22/2/1885, quân Cờ Đen nổi hiệu kèn và tiếng reo hò vang lên từ những chiến hào. Sợ bị đánh bộc phá, đại uý Lê dương Catelin cho quân lùi lại. Vài giây sau, 3 quả bộc phá nổ tung, trong đó quả thứ hai giết chết một đại uý Lê dương và quả thứ ba đánh sập một đoạn tường dài 60m. Lính Lê dương bắn vô hồi kỳ trận và công binh lao ra sửa chữa lại chỗ tường đổ. Ngày hôm đó, quân Lê dương chết 1 sĩ quan và 4 lính, 1 sĩ quan, 3 hạ sĩ quan và 37 lính bị thương.
 
  Ngày hôm sau, lính Lê dương đẩy lui một đợt tấn công nữa. Ngày 25/2, quân Cờ Đen lại cho nổ bộc phá và tấn công. Bốn lính Lê dương chết, 12 người bị thương. Lúc 11 giờ 30 đêm ngày 27/2, bộc phá lại nổ và quân Cờ Đen chia làm 3 cánh tấn công vào thành, chiếm chỗ tường đổ, ném tạc đạn và thuốc nổ vào bên trong. Trong gần 30 phút, cuộc đánh giáp lá cà diễn ra ở chỗ tường đổ. May mắn thay cho lính Lê dương là một lũy tre gần đó có tác dụng như một tấm áo chắn đạn của quân Cờ Đen. Đến sáng, quân Cờ Đen ngừng tiến công. Lính Lê dương chết 3, trong đó có 1 sĩ quan, bị thương 9 người.


Đại bác của quân Cờ Đen

  Tình thế lúc này quả tuyệt vọng. Lính Lê dương đồn trú vừa chết vừa bị thương gần 300 người. Chỉ còn 180 lính Lê dương phòng ngự một chu vi 1200m, trong đó 120m đã bị bộc phá đánh sụp. Ngày 1/3/1885, quân trong thành nghe thấy tiếng súng xa xa và cho rằng quân tiếp viện đang đến gần. Nhưng, tất cả đều quá mệt mỏi để phá vòng vây đánh ra. Ngày 2/3, quân Cờ Đen bắn dữ dội vào thành, lính Pháp hoảng sợ cho rằng họ sẽ bị tràn ngập trước khi quân cứu viện kịp đến. Thực ra, quân Cờ Đen chỉ nghi binh để chuẩn bị rút vòng vây vì lúc này đồng đội của họ đang giao chiến với quân Pháp cứu viện ở Hoà Mộc. Viện binh Pháp từ Lạng Sơn về giải vây bắt đầu lên đường từ ngày 16/2. Quân Pháp và quân Cờ Đen đánh nhau một trận lớn ở Hoà Mộc, bên bờ sông Lô, gần thành Tuyên Quang. Trận đánh kéo dài từ 1/3 đến 3/3/1885, quân Pháp giải vây được thành Tuyên Quang với tổn thất 484 lính chết và bị thương. Đối với đoàn quân cứu viện Pháp, trận Hoà Mộc thật đáng sợ. Sau trận đánh, tất cả những con đường dẫn về thành Tuyên Quang đều bị cày xới lên, xơ xác, tan hoang và la liệt tử thi binh lính hai bên. Mùi hôi thối xông lên lộn mửa và lính Pháp thì "không thể tin vào mắt mình" (18).
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #47 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2008, 01:12:29 pm »

  Tháng 1/1885, với lực lượng tăng viện trong đó có 2 tiểu đoàn Lê dương, tướng Briere de L'isle quyết định dồn quân lên phía Bắc đánh chiếm Lạng Sơn, mở thông con đường cái quan đến biên giới Trung Hoa. Ngày 3/2/1885, 12 tiểu đoàn Pháp, tổng cộng khoảng 9 nghìn quân và hàng nghìn nông dân bị bắt đi phục dịch lên đường dưới mưa phùn nặng hạt. Khi đoàn quân rời khỏi đồng bằng, bắt đầu tiến vào vùng đồi núi, Bôn-mat, một sĩ quan Lê dương viết " Mọi người cảm thấy rằng nhiệm vụ sẽ khó khăn, rằng chúng tôi tiến về nơi vô định. . . Chúng tôi nhìn về phía sau, nhìn lại đồng bằng một lần nữa . . . Chúng tôi biết vùng đồng bằng, đông dân và trù phú, đầy các loại sản vật, là xứ Bắc Kỳ nơi người ta sống, nơi người ta vui chơi. Chúng tôi lại đi tìm một xứ Bắc Kỳ nơi người ta chịu đựng, nơi người ta chết" (19).
 
  Sau hai ngày hành quân xuyên qua đồi núi, đội tiền tiêu của quân Pháp vấp phải đồn Đông Sơn, cửa ngõ vào Lạng Sơn. Tại đây, liên quân Việt-Hoa xây dựng nhiều pháo đài kiên cố. Bôn-mat viết: "Mỗi thung lũng đều có hào, mỗi ngọn núi đều có công sự" (20). Lính Lê dương tổ chức tấn công nhưng phải trả giá đắt. Một đại đội Lê dương chết toàn bộ ban chỉ huy và 1 phần 3 quân số trong trận đánh này. Quyền chỉ huy đại đội rơi vào tay một trung sĩ nhất. Sau trận thua đau, quân Pháp tổ chức đánh bọc sườn. Trận đánh kéo dài 3 ngày thì Đông Sơn thất thủ. Lính Lê dương của Bôn-mat tiến vào những pháo đài quân Thanh bỏ lại, không để ý gì những thử thi của quân Thanh còn nằm lại đây đó, họ nằm lăn ra những ổ rơm và chưa kịp ăn miếng lương khô đã ngủ thiếp đi. Tất cả đều kiệt sức. Ngày 9/2/1885, quân Pháp tiếp tục tiến lên phía Bắc dưới bầu trời vần vũ. Liên quân Việt-Hoa chỉ đánh trì hoãn chiến nhưng con đường đã trở thành một vũng lầy. Đoàn xe tải chỉ đến nơi trú quân khi đã muộn sau khi trải qua một cuộc hành quân vất vả dưới những ngọn đuốc. Cũng trong ngày đó, quân Pháp chiếm đồn Tuần Muội (Chi Lăng), đối phương rút lên phía Bắc. Ngày 12/2/1885, quân Pháp đánh đồn Bản Vầy. Bản Vầy là một bản nhỏ có vị trí quyết đỉnh thị xã Lạng Sơn, ở đây có 6 nghìn quân Thanh đóng. Đại bác Pháp bắn dữ dội đánh bật quân Thanh khỏi tuyến phòng thủ thứ nhất nhưng các pháo đài trên các ngọn núi cầm cự được đủ thời gian để quân Thanh rút lui. Quân Pháp chiếm được Bản Vầy với cái giá phải trả là hơn 200 sĩ quan và binh lính chết. Ngày 13/2/1885, quân Pháp tiếp tục tiến lên. Dọc đường, họ chỉ bị bắn tỉa quấy rối. Những ngọn núi dường như lùi xa, con sông ngoặt gấp về bên phải và đột nhiên, Lạng Sơn xuất hiện chỉ cách khoảng 1 dặm.


Trận Lạng Sơn

  Thành Lạng Sơn xây hình vuông, mỗi cạnh khoảng 425m, bên trong thành có vài ngôi chùa, một số nhà cửa và nhiều khoảng đất trống. Phần lớn dân cư sống ở làng Kỳ Lừa, khoảng 3/4 dặm phía Bắc Lạng Sơn. Ngày 13/2/1885, quân Pháp tiến công thị xã Lạng Sơn. Trận đánh diễn ra đầy máu và lửa. Hai vạn quân Thanh chống trả quyết liệt. Nhờ hoả lực mạnh, quân Pháp chiếm được thị xã nhưng hơn 300 lính và sĩ quan chết và bị thương. Quân Thanh đốt cháy một phần thị xã trước khi rút lui. Thừa thắng, quân Pháp tràn sang chiếm Kỳ Lừa và Đồng Đăng. Ngày 22/2/1885, tướng Negrier phá cửa ải Nam Quan, quân Thanh rút về Long Châu (Trung Quốc). Tin Trấn Nam Quan thất thủ làm triều đình Thanh lo sợ, vội vã phái đề đốc Phùng Tử Tài đem quân cứu viện. Hai giờ đêm ngày 22/3/1885, Phùng Tử Tài bất ngờ cho quân tràn sang chiếm ải Nam Quan. Quân Pháp gồm 2 tiểu đoàn Lê dương và 1 tiểu đoàn lính tay sai Bắc Kỳ phản công. Quân Thanh rút lui và quân Pháp thừa thắng tiến sang lãnh thổ Trung Hoa. Quân Pháp chiếm được một tuyến công sự nhưng khi tiến đến tuyến công sự tiếp theo thì một cánh quân Thanh xuất hiện đánh vào cánh phải quân Pháp nhưng bị đạn pháo Pháp đẩy lùi. Đêm xuống, hai bên tạm nghỉ.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #48 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2008, 05:47:51 pm »

  Sáng ngày 24/3, lúc 11 giờ, sương tan, lính Lê dương nhìn cảnh vật xung quanh gồm những ngọn núi đá dốc và những thung lũng hẹp có rất nhiều công sự của quân Thanh. Quân Pháp tổ chức tấn công. Hai bên đánh nhau dữ dội đến 3 giờ chiều thì một đạo quân Thanh đến tiếp viện. Quân Thanh chuyển sang tấn công, đông hằng hà sa số. Sĩ quan Lê dương Bôn-mat cho là quân Thanh đông đến khoảng 25-30 nghìn quân (21). Lính Lê dương Maury nhớ lại trận đánh xoay chuyển bất lợi khi đại đội Lê dương của anh ta thấy tiểu đoàn thuộc trung đoàn 143 Pháp tháo chạy khỏi một đồn (quân Thanh bỏ lại) về phía đại đội anh ta. Viên đại uý chỉ huy đại đội Lê dương quan sát xem tại sao tiểu đoàn lại rút. Nguyên nhân được xác định rất nhanh. Những đám đông quân Thanh xông lên từ mọi phía đến cách vị trí đại đội vài chục mét. Viên đại uý gào lên: "Bắn, bắn... Chúng nó kìa, cách 3 mét" (22). Nhưng không được, quân Pháp phải rút lui. Lính Lê dương đi đoạn hậu và họ lùi về phía ải Nam Quan. Tình hình trở nên xấu hơn, đạn dược dần dần cạn. Lính Lê dương Maury nhớ lại: "Đội hình chúng tôi cứ ngắn lại. Đạn dược cạn... Tôi chỉ còn 2 viên... Tôi nghĩ tôi không thể trốn thoát khỏi trận đánh này... Đại đội tôi có 90 người, chỉ còn lại 27 người sống sót... Những người bị thương bị bỏ lại và không bao giờ thấy họ nữa" (23). Đến đêm, quân Pháp qua ải Nam Quan về Đồng Đăng. Quân Thanh không truy kích.

  Ngày hôm sau, quân Pháp cho một đội quân tiến lên thăm dò và tìm kiếm người mất tích. Họ tìm được 12 người nhưng số đông chỉ còn là những thi hài nằm rải rác đó đây. Tiểu đoàn 2 Lê dương chết 1 đại uý, 9 lính, 54 người khác bị thương và 2 mất tích. Tướng Negrier cho rút về Lạng Sơn. Lúc 7 giờ sáng ngày 28/3/1885, quân Thanh cờ rong trống mở theo đường cái quan tiến xuống đánh Lạng Sơn. Quân Lê dương lúc này được tăng viện 1700 lính. Hai bên đánh nhau suốt ngày và đến chiều thì quân Thanh rút về Đồng Đăng. Nhật ký hành quân của quân Lê dương viết: "Phải thừa nhận rằng cuộc rút lui có trật tự và quân Trung Hoa hành quân rất tốt (24). Trong trận đánh này, tướng Negrier bị thương nặng, phải đưa về cấp cứu ở Hà Nội. Cũng chiều 28/3/1885, quân Pháp phải bỏ Lạng Sơn chạy về đồn Kép, Bắc Giang. Nhưng ngày 7/4, triều đình Thanh đã ra lệnh đình chiến để giảng hoà với Pháp.

  Ngày 29/3, tin thất trận bay về Paris làm xôn xao dư luận. Thủ tướng Pháp Jules Ferry phải từ chức. Tướng Briere de L'isle thua trận bị triệu hồi. Tướng De Courcy (nhân dân ta thường gọi châm biếm là Cú-xy) sang thay với 2 sư đoàn tăng viện.

  Tuy nhiên, nhà Thanh đã chủ tâm giảng hoà với Pháp. Ngày 22/6/1885, Hoà ước Pháp-Hoa (Thiên Tân 2) được ký, theo đó nhà Thanh nhận rút quân, công nhận quyền "bảo hộ" của Pháp ở Việt Nam. Đổi lại Pháp nhường cho Trung Hoa một số quyền lợi. Sự tham chiến của quân Thanh trên chiến trường Bắc Kỳ, Việt Nam đã chấm dứt.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #49 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2008, 05:53:53 pm »

II. Bình định Bắc Kỳ lần 2 "Việt Nam không phải là Morocco"

  Sau hiệp ước 1883, nước Việt Nam đã trở thành thuộc địa của Pháp. Sau khi quân Thanh rút đi, những trận đánh lớn trên chiến trường Bắc Kỳ, Việt Nam đã chấm dứt nhưng không có nghĩa là mọi việc đã kết thúc. Tại triều đình Huế, sau khi Tự Đức mất, Thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết, dựa vào số quan lại và binh sĩ có tinh thần yêu nước, đã lần lượt phế truất các vua Dục Đức, Hiệp Hoà, Kiến Phúc và đưa Hàm Nghi lên ngôi năm 1884.

  Về phía Pháp, năm 1883, Chính phủ Pháp quyết định thông qua khoản ngân sách 5,5 triệu frans chiến phí cho chiến trường Việt Nam, đồng thời điều thêm 4000 quân và 1 hạm đội sang tăng viện. Quân Pháp ở chiến trường Bắc Kỳ từ 600 quân (1882) tăng dần lên gần 2 nghìn quân (1883), 15 nghìn quân (1884) và 42 nghìn quân (1885) do một bộ tham mưu hùng hậu gồm 9 tướng, 36 sĩ quan tham mưu và 600 sĩ quan đủ loại chỉ huy (25).

  Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết lãnh đạo phe kháng chiến trong triều tích cực chuẩn bị lực lượng đánh Pháp. Đầu năm 1885, Tôn Thất Thuyết cho chuyển ra Quảng Trị nhiều tài sản quý và súng đạn, đồng thời đưa quân vào kinh thành chuẩn bí chiến đấu. Đêm 4/7/1885, quân ta mở cuộc tấn công tiến công quyết liệt vào Toà Khâm sứ và đồn binh Pháp trong thành Mang Cá ở Huế. Sau lúc lúng túng, quân Pháp củng cố lại và mở cuộc phản công sáng ngày 5/7/1885. Quân Pháp binh lực hùng hậu, súng ống tối tân. Nghĩa quân vũ khí lạc hậu, tồi tàn. Dân có nhiệt tâm nhưng hai tay không làm sao chặn được quân thù. Trung tá Pháp Metzinger chỉ huy 4 đại đội lính Zouaves xung kích vượt qua tả ngạn sông Hương đánh chiếm Hoàng thành. Khi chiếm được kỳ đài, quân Pháp muốn kéo cờ Pháp nhưng không có sẵn cờ ở đó. Metzinger cho lấy vải trắng, vải đỏ kết với những dải thắt lưng màu xanh của lính Zouaves kết thành cờ tam tài treo lên đỉnh kỳ đài báo cho tướng Courcy bên hữu ngạn sông Hương biết. Kinh thành bị Pháp chiếm, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi ra sơn phòng Tân Sở (Quảng Trị). Ngày 13/7/1885, vua Hàm Nghi ban chiếu Cần vương kêu gọi văn thân sĩ phu và nhân dân đứng lên đánh giặc giúp vua cứu nước. Chiếu Cần vương được chuyền đi nhanh chóng khắp cả nước.


Vua Hàm Nghi

  Hưởng ứng chiếu Cần Vương, văn thân sĩ phu và nhân dân cả nước đã hăng hái đứng lên đánh giặc Từ năm 1885 trở đi, khắp cả ba kỳ không nơi nào là không có khởi nghĩa. cao trào đấu tranh yêu nước này kéo dài đến tận năm 1896 (26). Cá biệt có cuộc khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám tức Đề Thám lãnh đạo (ông được phong Tham tán quân vụ liên tỉnh Bắc Ninh-Bắc Giang, Quyền Phó thống tướng triều Hàm Nghi) lãnh đạo đã kéo dài đến tận những năm đầu thế kỷ 20. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta đã làm cho Pháp thiệt hại nặng. Từ năm 1887 đến năm 1909, chỉ riêng đạo quân Lê dương đã tổn thất 2976 sĩ quan và binh lính chết trong chiến đấu và vì bệnh tật (27).
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM