Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 07:50:54 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc đời tôi - Một trăm giờ với Fidel Castro  (Đọc 106938 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #180 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2013, 03:28:03 pm »

Ở rất nhiều nước trên thế giới, án tử hình đã được bãi bỏ. Tất cả các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu đều bãi bỏ lệnh nảy, và rất nhiều người không hiểu tại sao ở Cuba đã có rất nhiều tiến bộ xã hội nhưng án tử hình vấn được áp dụng.

Tôi nghĩ đây là vấn đề khó và là câu hỏi rất thú vị. Cũng như vấn đề môi trường và những vấn đề khác, chúng tôi đã bàn bạc rất nhiều.

Chúng tôi đâu có đề cập đến án tử hình khi làm cách mạng, khi chiến đấu và khi Cách mạng thắng lợi? Không, thực sự chúng tôi không hề đề cập. Chúng tôi có đề cập đến nó trong những năm bị xâm chiếm, các vụ ám sát, phá hoại? Không, chúng tôi cũng không hề đề cập. Chúng tôi đã suy nghĩ rất kỹ hình thức, cách thức áp dụng và khía cạnh pháp lý của vấn đề, chúng tôi cũng đã có chút kinh nghiệm trong lĩnh vực này.

Như vậy là sao? Các phong trào chính trị cần phải được bảo vệ. Cũng như giai cấp tư sản... cả cách mạng lẫn phản cách mạng được bảo vệ bằng cách này cách khác, hình thức này, hình thức khác. Với chúng tôi, điều quan trọng là chúng tôi phải tự bảo vệ mình bằng luật pháp, quy định, các thủ tục pháp lý và quan trọng hơn cả là phải tránh bất công. Và để tránh bất công, như tôi đã giải thích với ông, những gì vượt quá khuôn khổ của luật pháp chúng tôi đều tránh.

Không phải chúng tôi thích áp dụng án tử hình. Đã có thời gian chúng tôi bãi bỏ lệnh xử trảm, nhưng rồi sau đó chúng tôi liên tục phát hiện các kế hoạch khủng bố, ám sát... Trong năm đầu của Cách mạng, khi án phạt xử trảm được bãi bỏ, phải thừa nhận là có những người được cứu sống, nhưng lại có quá nhiều vụ xảy ra, một số còn trốn tránh được, sau đó chúng tôi buộc phải áp dụng trở lại án phạt tử hình. Kết quả lập lại trật tự ngoài sự mong đợi của chúng tôi.

Chúng tôi đã xem xét vấn đề từ nhiều khía cạnh, từ vấn đề giữa sự sống và cái chết, từ những yêu cầu mà thực tiễn cách mạng đặt ra. Nói chung có một vấn đề có tính nguyên lý mà những người tham gia hoạt động đó đặt ra, đó là vấn đề giữa sự sống và cái chết. Vì vậy, nếu không còn khả năng bảo vệ được chính mình thì người ta phải trả giá bằng sinh mạng.

Chúng tôi nghĩ, như thế là rõ ràng. Với những loại tội phạm nghiêm trọng, chúng tôi thường hỏi, “Làm thế nào để chấm dứt được?”. Quá chú trọng tử hình cũng không được. Rất may là chúng tôi không có những con người cuồng tín. Nhưng chúng tôi có quyền chống lại bọn tay sai, bọn người quá tham vọng vật chất, kinh tế, xã hội.

Chỉ là bọn tay sai đơn thuần chứ không phải những kẻ cuồng tín muốn tạo dựng sự nghiệp lớn.

Chúng tôi chưa bao giờ thực sự thoát khỏi được bọn cuồng tín - Cuộc đời tôi liên tục gặp phải những âm mưu ám sát. Không ai có thể thoát khỏi được bọn cuồng tín, nhưng rất may là không phải những kẻ cuồng tín kia chống lại chúng tôi mà đó chỉ là những âm mưu, toan tính. Nhưng nếu người ta cho rằng giết người, ám sát giáo viên, tiêu diệt mạng sống của những người lính - khi những người lao động và những người lính là nguồn tạo sức mạnh của chúng ta - nếu người ta cho rằng mình sẽ được giải thưởng khi gây ra những hành động đó thì quả là một sai lầm đáng tiếc... Mặc dù đó chính là những gì mà họ đang hy vọng.

Ông có bắt quả tang được những kẻ tay sai này không?

Tất nhiên là có - chúng tôi đã áp dụng rất nhiều biện pháp, thành lập các tổ chức, làm tất cả những gì có thể để ngăn chặn những hành động phá hoại từ bên ngoài. Bọn chúng tìm cách đột nhập, sử dụng thông tin tình báo, thậm chí là dùng cả các thủ đoạn công nghệ cao. Bọn chúng không phải là người duy nhất có thể phát hiện ra ông đang gọi điện ở đâu. Tất cả những ai có hiểu biết về công nghệ bây giờ đều có thể làm được việc đó.

Họ có bị cầm tù không?

Những người đánh bom ở khách sạn đã bị kết án tử hình, nhưng quyết định đưa ra không phải để áp dụng cho những trường hợp có lý do chính trị rõ ràng. Họ là những người lính của châu Mỹ La-tinh rất trẻ, có tới hàng nghìn người, và chúng tôi hoàn toàn có thể giảm tội cho họ. Đó là sự khoan dung cho tất cả những kẻ phạm tội.

Luật pháp vẫn còn tồn tại và có hiệu lực, nhưng án phạt thì không còn được áp dụng. Như vậy không có nghĩa là chúng tôi sẽ không bao giờ áp dụng án tử hình nữa, vì người ta sẽ không bao giờ lường hết được những hành vi nghiêm trọng mà con người có thể gây ra. Nếu người ta đánh bom máy bay có hành khách trên đó thì đất nước này sẽ không bao giờ dung tha cho kẻ phạm tội, vì dư luận cũng không cho phép chúng tôi làm như vậy.

Như thế không có nghĩa là một chính phủ phải luôn luôn làm theo những gì mà người dân kêu gọi. Ở rất nhiều nơi án tử hình được người dân ủng hộ hơn là phản đối. Ngay cả ở châu Âu cũng có rất nhiều nước muốn áp dụng án tử hình.

Vâng, công luận đồng tình với việc đó. Ở Pháp, đa số người dân ủng hộ án tử hình.

Nhưng người ta không được để ý kiến của công luận cuốn đi, không được mù quáng nghe theo những gì dư luận nói cho dù dư luận đó có rộng rãi đến thế nào. Rất có thể ý kiến của dư luận bị thái quá.

Ở Cuba có phải hầu hết nguời dân ủng hộ việc áp dụng án tử hình?

Ở đây người dân có xu hướng quyết liệt hơn. Bởi vì có những việc gây ra sự căm phẫn sâu sắc trong dân chúng. Khi có ai đó bị bắn, bị thương hay bị trúng đạn từ căn cứ Guatanamo và thiệt mạng, nếu ông hỏi người dân ở đây ông sẽ thấy họ quyết liệt đến thế nào... Nhưng không phải bắt buộc, ý tôi muốn nói là không bắt buộc phải làm theo những gì mà người dân mong muốn.

Khi một tội ác như thế xảy ra, ông không thể tưởng tượng được tình hình khó khăn đến thế nào đâu! Nhưng cũng có những lý do đặc biệt, chẳng hạn như người ta phạm tội nghiêm trọng nhưng vì còn trẻ nên cấp quyết định cao nhất thường có xu hướng ân giảm, nhưng rồi người ta lại gặp rắc rối với những người khác (là người thân của nạn nhân), gia đình họ, công luận. Nhưng dù sao thì ý kiến công luận cũng không phải là quyết định cuối cùng. Để trả lời câu hổi của ông, tôi phải nói với ông rằng điều đó là không đơn giản.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #181 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2013, 03:33:37 pm »

Liệu việc bãi bỏ án tö hình, như các nước châu Âu đã làm, có phải là việc làm dễ dàng nhất không?

Chúng tôi chưa xóa bỏ nó trong các văn bản luật, nhưng trên thực tế từ tháng 4 năm 2000 1 đến nay, chúng tôi chưa áp dụng án tử hình nào - như vậy cũng không có nghĩa là chúng tôi sẽ không bao giờ sử dụng nó nữa. Tôi không nghĩ rằng thế giới này không cần đến nó. Họ có tôn trọng công thức Ford không? Không thấy ai nói với chúng tôi về điều đó - chúng tôi không hề nghe được tin gì cả. Quyết định được đưa ra bởi Tổng thống Gerald Ford cấm các quan chức Mỹ tổ chức, lên kế hoạch, và tiến hành ám sát các nhân vật đối lập với nước Mỹ. Không ai biết rằng ngay ở thời điềm hiện tại này đây vẫn có rất nhiều các học thuyết hiếu chiến, và việc chính quyền Bush có tôn trọng quyết định đó hay không. Có người nói họ không hề tôn trọng.

Nếu vẫn tiếp tục sử dụng chủ nghĩa khủng bố để chống lại đất nước chúng tôi, gây ra tội ác, giết chết trẻ em ngay tại trường học thì tôi dám khẳng định với ông rằng sẽ rất khó nếu không áp dụng án phạt khắc nghiệt nhất; ông có thể gọi hành động đánh bom ở trường học là gì? - (đó là) phục tùng sức mạnh bên ngoài.

Hơn nữa, người châu Âu đâu có bị cấm vận, họ không hề bị đánh bom hàng ngày. Tôi không biết họ đã làm gì khi có những nhóm như Lữ đoàn đỏ 2, nhưng tôi đã nghe rất nhiều chuyện tội ác chống lại các thành viên thuộc Lữ đoàn đỏ... Tôi còn biết người ta bị xử tử ở nước thứ ba - ví dụ như trường hợp người xứ Ba-xcơ, tới vài chục...

Có phải ông đang muốn nói đến GAL 3? Bởi vì ở Tây Ban Nha không hề có án tử hình...

Có thể sẽ không còn án tử hình, nhưng có những việc vẫn xảy ra mà chúng ta chưa hề thấy bao giờ - người ta bị xử tử vì lý do chính trị mà không hề được xét xử, ở châu Âu, rất nhiều người bị xử tử kiểu đó.

Ý ông muốn nói đến hành động phi pháp phải không?

Cứ thử để lịch sử của những thành viên thuộc Lữ đoàn đỏ bị xử tử được viết lại mà xem! Hoặc cứ để lịch sử các thành viên thuộc lực lượng ETA ở Tây Ban Nha bị xử tử phi pháp khi ở Tây Ban Nha không hề có án tử hình!

Ở đây chúng tôi có án tử hình, nhưng chúng tôi không hề có hầnh động xử tử phi pháp. Cứ so sánh sự khác biệt đó thì sẽ thấy đâu là sự thực còn đâu chỉ là chính sách mị dân, sự giả tạo.

Chúng tôi khẳng định rằng không bao giờ có chuyện xử tử phi pháp ở Cuba; ở Cuba sẽ không bao giờ có hành động tra tấn. Ông cứ hỏi những kẻ đánh bom (năm 1977) xem họ có nói lời nào về việc tra tấn, hay có ai trong số họ bị một quả đấm nào không. Tất nhiên họ không phải là những kẻ cuồng tín, họ chỉ là kẻ hám lợi; họ nói ra tất cả ngay lập tức - và chúng tôi chỉ việc chứng minh cho họ thấy tội lỗi của mình... Ý tôi muốn nói là họ giải thích việc đã mang thuốc nổ vào trong những chiếc hộp đựng tivi như thế nào, cách thoát khỏi sự kiểm tra của chó nghiệp vụ thế nào, họ mang loại thuốc nổ mà chó nghiệp vụ không thể phát hiện ra được, các kíp nổ, dây cáp được giấu ở đâu, cả những chiếc đồng hồ đeo tay để kích nổ nữa. Họ có thể đặt bom ở khách sạn và kích nổ nếu muốn, năm phút sau, hoặc một giờ, hoặc thậm chí là chín mươi giờ... Tất cả sẽ rất phức tạp.

Nhưng họ tỏ ra hợp tác. Họ khai ra tất cả, bởi vì họ được thuê làm việc đó... Còn chúng tôi thì không hề trả tiền cho họ. Họ rất ngoan ngoãn nghe lời chúng tôi. Có rất nhiều người như bọn họ.

Sau những xung đột và rắc rối ở Trung Mỹ và một vài nơi khác, có những người sẵn sàng làm tất cả mọi chuyện chỉ để đổi lấy 5.000 đô la... thậm chí là ít hơn nhiều. Có người sẵn sàng đi đánh bom với giá 2.000 đô la và một tấm vé máy bay. Họ lợi dụng chính sách du lịch dễ dàng của chúng tôi, và đó là mối nguy hiểm, bởi vì trên máy bay chỉ cần đãng trí, thiếu quan sát là có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của rất nhiều người. Không có máy móc nào tuyệt đối an toàn cả (có nghĩa là không có máy quét nào có thể phát hiện ra mọi thứ); người ta sẽ sử dụng thuốc nổ ở dạng đặc biệt, đeo những loại đồng hồ đeo tay rất bình thường, một loại trang sức nào đó, mang theo một hộp tivi, và chúng ta buộc phải cho họ vào thôi. Đó là vấn đề mà người Mỹ đang phải đối mặt ở thời điểm hiện tại, sau vụ 11 - 9, đó chính là mối hiểm họa từ chính những loại công nghệ mà họ dạy cho bọn khủng bổ chống lại Cuba.

Ví dụ như trường hợp Posada Carriles đã lên kế hoạch đánh bom máy bay khi nó đang trên đưòng từ Trung Mỹ đến Cuba trên đó chở toàn người Mỹ. Tôi nghĩ mọi người đều có lợi khi được chia sẻ cách phát hiện những kế hoạch hoạt động của bọn khủng bố, và cả cách phát hiện ma túy nữa. Đó là hai vấn đề lớn, và tất cả những loại công nghệ được phát minh ra để chống lại chúng sẽ làm lợi cho không chỉ riêng ai.

-----------------------------------------------------------
1. Một phần của cuộc nói chuyện này diễn ra vào tháng 1-2003, trước vụ cướp con tàu xảy ra vào ngày 1-4, vụ bắt giữ bọn cướp, việc xét xử và két án tử hình 3 tên vào ngày 11-4-2003. Việc thực thi án tử hình này chấm dứt giai đoạn tạm ngưng áp dụng trên thực tế án tử hình từ tháng 4-2000. Theo Tổ chức Ân xá Quốc tế, vào tháng 11-2003, khoảng 52 người đã bị kết án tử hình ở Cuba và đang chờ bị xử tử; họ được lợi với giai đoạn tạm hoãn áp dụng này.

2. Lữ đoàn đỏ lµ tổ chức khủng bố cực tả của Ý mang danh là những người theo chủ nghĩa Mác đã hoạt động rất tích cực trong những năm 1970 và 1980. Thành viên của tổ chức này đã tiến hành rất nhiều các vụ đánh bom, bắt cóc mà khét tiếng nhất là vụ bắt cóc cựu Thủ tướng Aldo Moro, sau đó ông này bị giết chết. Mặc dù nhóm này ban đầu chiến đấu vì các liên đoàn của người lao động chống lại các tập đoàn tư bản lớn, nhưng sau đó ngày càng tham gia sâu vào các hoạt động chính trị và mục tiêu công khai của nó là “tiến hành đình công tập trung chống lại trung tâm đầu não của nhà nước, bởi vì nhà nước là nơi tập hợp của các tập đoàn xuyên quốc gia theo chủ nghĩa đế quốc”.

3. GAL là chữ viết tắt của Grupos Antiterroristas de Liberation (Các tổ chức giải phóng chống khủng bố); đây là những tổ chức giết người bất hợp pháp (chủ nghĩa khủng bố vì sự nghiệp chống chủ nghĩa khủng bố) do các quan chức chính phủ Tây Ban Nha dựng lên để chống lại Tổ chức ETA (Tổ chức vì tự do và mảnh đất quê nhà xứ Basque), tổ chức ly khai xứ Basque nhận trách nhiệm cho rất nhiều vụ đánh bom và tấn công khủng bố ở Tây Ban Nha đặc biệt trong những năm 1970 và 1980, nhưng xuất phát từ cuối những năm 1950 của thế kỷ trước và tồn tại đến những năm đầu của thế kỷ mới. Nhằm theo đuổi mục tiêu của mình, từ những năm 1983 đến 1987, GAL đã tiến hành các hành động bắt cóc, tra tấn, tội phạm kinh tế; họ không có hệ tư tưởng rõ ràng mà chỉ đơn thuần “phản ứng” chống lại các thành viên hay những người ủng hộ ETA mà họ chứng kiến hay chỉ cảm nhận thấy. Giai đoạn này được gọi là “cuộc chiến bẩn thỉu” ở Tây Ban Nha. Ít nhất 26 vụ giết người được cho là do tổ chức này gây ra. Chính phủ của Felipe Gonzalez có liên quan và hỗ trợ tài chính cho các tổ chức này, và sau khi bị tờ báo El Mundo phơi bày sự thực, đã thất bại trong cuộc bầu cử sau đó trước Jose Maria Aznar của Đảng Nhân dân.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #182 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2013, 03:35:58 pm »

Bao nhiêu án tử hình đã được tuyên bố nhưng chưa thực thi cho đến thời điểm hiện tại?

Chúng tôi chưa xử tử bất cứ người nào không phải là người dân của chúng tôi cho dù họ thực hiện hành động đánh bom phản cách mạng. Tôi không thể nói chính xác là từ khi nào, nhưng chắc cũng phải vài năm rồi.

Đối với các tội ác thông thường, án tử hình vẫn được áp dụng cho đến tháng 4 - 2000, và tôi không thể nói chính xác với ông con số là bao nhiêu, nhưng chúng ta có thể hỏi, tôi nghĩ con số vào khoảng từ hai mươi đến hai mươi lăm trường hợp. Tôi không dám nói chính xác bởi vì tôi không có thông tin bên mình.

Kể từ đó đến giờ, án tử hình chưa được áp dụng?

Không hề có trường hợp nào (cho đến 11-3-2003).

Từ ba năm trước.

Có thể coi đó là một kiểu tạm ngừng hoạt động. Nhưng tôi phải nói với ông điều này: án tử hình không hề bị bãi bỏ. Sau này nếu ông muốn tôi sẽ cho ông biết ý kiến riêng của tôi, nhưng bây giờ thì nó chưa bị bãi bỏ. Có rất nhiều kiểu giết người, nghệ thuật và khoa học giết người ngày càng tinh vi, và bây giờ thì chúng ta chưa thể nói câu, “Chúng tôi sẽ bãi bỏ án tử hình”. Có hai vụ giết người rất nghiêm trọng đang chờ được xét xử trong đó có một vụ cả gia đình bị giết trong đó có một trẻ em. Trước đó gia đình này đã có một người khách đến thăm từ Miami. Đó là những loại tội phạm nghiêm trọng do những tên tội phạm thông thường gây ra nhưng lại khiến dư luận rất căm phẫn, và hai vụ đó vẫn chưa giải quyết xong. Không phải vì chúng tôi thích làm như vậy, chúng tôi cũng không muốn vội vàng, và lại càng không hề muốn phải áp dụng án tử hình, nhưng chúng tôi cần có một khoảng thời gian nào đó trước khi án tử hình được bãi bỏ hoàn toàn đối với tất cả các loại tội phạm, đó là điều chúng tôi mong muốn. Tuy nhiên, không bắt buộc khi nào thì chúng tôi không phải trì hoãn nữa mà là bãi bỏ hoàn toàn án này.

Có phải Cuba đang nghiên cứu vấn đề này không?

Tôi đã nói chuyện với ông về những mối quan ngại của chúng tôi, về sự thực là việc áp dụng án tử hình đã làm giảm các loại tội phạm mang bản chất chính trị; tôi đã nói chuyện với ông về bọn hám lợi mang bom đến đánh nước tôi, và việc chúng tôi đã áp dụng án tử hình được một thời gian rồi. Nhưng chúng tôi chưa thể từ bó nó được vì chúng ta đang sống trong một thời đại phức tạp.

Với những tội phạm thông thường, chúng tôi không áp dụng án tử hình, nhưng chúng tôi vẫn không bãi bỏ, bởi vì, như tôi đã giải thích, tôi không muốn lừa dối bất kỳ ai, và chúng tôi tin rằng không những người dân hoàn toàn ủng hộ nó mà nếu chúng tôi bãi bỏ thì có thể sẽ gây ra sự phản đối trong công chúng. Mặc dù ông có thể chắc chắn rằng ở đây sẽ không có hành động vi phạm công lý nào, nhưng những người phạm tội nghiêm trọng cũng không đáng được hưởng sự rộng lượng mà bản thân họ không nhận ra, họ cần phải được giáo dục. Chúng tôi phải giáo dục họ, Cách mạng sẽ làm được điều đó, đó là điều kiện tối thiểu cần thiết để áp dụng chính sách này.

Cá nhân ông nghĩ thế nào về án tử hình?

Tất nhiên, tôi có rất nhiều ý tưởng, và tôi nghĩ bản thân án tử hình thì không giải quyết được vấn đề gì cả; nhưng sự ảnh hưởng của nó thì đáng kể.

Cho đến bây giờ chúng tôi vẫn tìm hiểu về tội phạm và nguyên nhân gây ra nó. Chúng tôi cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, và tôi rất hài lòng với những gì chúng tôi đang làm. Có những vụ án vô cùng khủng khiếp nhưng luật pháp lại quy định những người không hoàn toàn kiểm soát được khả năng của mình thì không bị kết tội. Chúng tôi đang xem xét rất kỹ việc này, sàng lọc các vụ do người bị bệnh tâm thần gây ra... Ở Mỹ, rất nhiều người có vấn đề về tinh thần. Luật pháp thì quy định: Phải chứng minh - vậy chứng minh thế nào? - chứng minh thế nào là người gây ra tội ác kia không phải do bị bệnh tâm thần.

Bao nhiêu nghiên cứu đã được tiến hành về các vụ tội phạm gây ra do nguyên nhân tâm thần? Có thể họ bị gien di truyền, có thể do tai nạn khiến họ trở thành những con người bạo lực... Vấn đề gien hay yếu tố tai nạn ảnh hưởng đến chức năng thần kinh con người ta thế nào mà có thể biến họ thành quỷ dữ?

Chúng tôi luôn trăn trở với thực tế đó, và ở đây không hề có trường hợp mọi người bị trừng phạt vì lý do chúng tôi muốn trả thù. Trong các án phạt, chúng tôi còn có cả án chung thân, đó cũng là hình thức thay thế án tử hình...

Tôi nghĩ chúng tôi đang hướng tới một tương lai sẽ không phải áp dụng án tử hình ở đất nước này nữa. Chúng tôi sẽ là một trong những nước bãi bỏ nó. Chúng tôi mong muốn điều đó trên cơ sở thực tế và công lý chứ không phải vấn đề triết học. Đó là quan điểm hiện tại của chúng tôi về án tử hình.


Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #183 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2013, 08:49:47 am »

19

CUBA VÀ LÀN SÓNG TOÀN CẦU HÓA TỰ DO MỚI


Chủ nghĩa tư bản kiểu mới - Chủ nghĩa xã hội ngày nay là gì? Sự lẫn lộn về hệ tư tưởng
- Thảm kịch môi trường - Bảo vệ môi trường
 - “Cuộc chiến giữa các ý tưởng” - Hướng tới một nền giáo dục đại chúng


Trước đây tôi đã từng hỏi ông dự định sẽ làm thế nào để ngăn chặn làn sóng toàn cầu hóa tự do lan sang Cuba, và ông trả lời là: “Chúng tôi sẽ kiên nhẫn chờ đợi thời khắc toàn cầu hóa sụp đổ”. Bây giờ ông còn nghĩ như vậy không?

Khi tôi trả lời câu hỏi đó thì Stiglitz 1  chưa hề viết cuốn sách nào; Soros 2  thì chắc cũng chỉ được ông biết đến thông qua mấy câu tuyên bố dự đoán; cuộc khủng hoảng tài chính ở Ác-hen-ti-na vào tháng 12-2001 cũng như rất nhiều các cuộc khủng hoảng khác mà chúng ta đang chứng kiến chưa xảy ra.

Chúng ta ngày càng ý thức rõ toàn cầu hóa là gì, và có những lúc chúng ta tình cờ đọc được cuốn sách nào đó giúp chúng ta rút ra được kết luận rằng tình hình hiện tại có thể sẽ còn nguy kịch hơn cả cuộc khủng hoảng năm 1929, vì vậy tôi đã phải nghiên cứu lại cuộc khủng hoảng năm 1929, và đọc lại các tác phẩm của Galbraith 3  cũng như các nhà kinh tế khác nghiên cứu chủ đề này, những tư tưởng cơ bản của hệ thống sản xuất tư bản chủ nghĩa, thậm chí tôi đã tự hỏi mình là không biết những gì còn sót lại của hệ thống sản xuất đó, mà nếu có còn thì liệu đó có phải là cạnh tranh tự do, kinh doanh tự do và tất cả những “sự thực” được coi là tín điều thần kỳ đó hay không.

Chính ông cũng đã từng dùng một cái tên khác cho cái gọi là toàn cầu hóa đó - hình như ông gọi nó là “triết lý một bên” 4 ; có những người thì đã từng nhắc đến “sự kết thúc của lịch sử” 5 . Nhưng tôi thì cho rằng nó sẽ còn tồn tại, còn sức kháng cự. Đó là điều chắc chắn.

Ông tự hỏi mình không biết chủ nghĩa tư bản còn lại những gì. Ông có cho rằng toàn cầu hóa đang phá hủy chính chủ nghĩa tư bản không?

Không hề có chủ nghĩa tư bản ngày nay, không hề có cạnh tranh. Thời đại ngày nay chúng ta chỉ có các công ty độc quyền ở mọi ngõ ngách của thế giới. Có sự cạnh tranh nhỏ giữa các nước trong sản xuất tivi, máy tính - thậm chí ngân hàng thế giới cũng sản xuất xe hơi - nhưng chủ nghĩa tư bản kiểu đó thì không còn tồn tại nữa rồi.

Năm trăm tập đoàn toàn cầu hiện nay chiếm tới 80% tài sản của thế giới. Giá cả không phải do cạnh tranh quyết định, Ví dụ như thuốc chống AIDS được bán với giá độc quyền. Mặt hàng thuốc nói chung vẫn bị lạm dụng, bị đẩy cao để khai thác túi tiền của thế giới; Giá thuốc bán cho người dân có khi cao hơn gấp mười lần giá thành chi phí sản xuất ra nó. Quảng cáo mới là yếu tố quyết định cái gì được bán và cái gì không. Người không có tiền để quảng cáo thì sẽ không thể bán được sản phẩm của mình cho dù nó tốt đến thế nào. Sau cuộc chiến tắm máu của thế giới những năm 1940, chúng ta tưởng sẽ có một thế giới hòa bình, khoảng cách giàu nghèo sẽ thu hẹp lại, những nước phát triển sẽ giúp đỡ những nước chưa phát triển. Nhưng tất cả chỉ là sự lừa dối khủng khiếp. Trật tự thế giới đang áp đặt lên chúng ta không hề công bằng, không đáng được duy trì mà lẽ ra không nên có nó. Thế giới này đang bị đẩy vào ngõ cụt.

Cho đến thời điểm này thì có thể nói tất cả những gì chúng ta cho rằng chủ nghĩa tư bản dựa vào đó để tồn tại đã không còn nữa, lý thuyết tán thành của “Người Chicago” 6  không hề tồn tại. Và lý thuyết cũng như thực tế về chủ nghĩa xã hội cũng chưa được phát triển và chưa được viết ra.


-----------------------------------------------------------
1. Joseph E. Stinglitz (sinh năm 1942), được giải Nobel kinh tế năm 2001, cựu chủ tịch Ngân hàng thế giới (1979-1999), cố vấn của chính quyền Tổng thống Clinton, tác giả của cuốn Toàn cầu hoá và những vấn đề mâu thuẫn của nó (Luân Đôn: Allen Lane, 2002) và Thập niên 90 bùng nổ: Lịch sử mới của một thập kỷ thịnh vượng nhất của thế giới (Luân Đôn: Allen Lane 2003).

2. George Soros (sinh năm 1930), Sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản toàn cầu: Hiểm hoạ đối với xã hội mở (New York: Publicaffairs 1998)

3. John Kenneth Galbraith (1908-2006), giáo sư danh dự Trường Đại học Harvard, thường được coi là nhà kinh tế danh tiếng nhất thế giới và là tác giả của cuốn sách được nhiều người đọc nhất ngoài hơn 30 cuốn khác, Cuộc khủng hoảng vĩ đại năm 1929 (New York: Mariner, 1997).

4. Ignacio Ramonet, Un mundo sin rumbo, Madrid: Debate, 1997.

5. Francis Fukuyama, Cáo chung của lịch sử và người sống sót cuối cùng, New York: Harper Perenial, 1993.

6. Nhóm “Những chàng trai Chicago” là nhóm các nhà kinh tế ủng hộ thị trường tự do làm việc ở Chile dưới thời chế độ độc tài Pinochet, họ được đặt cái tên khá châm biếm này là bởi vì rất nhiều trong số họ đã từng theo học ở trường đại học Chicago và là sinh viên hoặc những người ủng hộ Miltor Friedman và trường đại học kinh tế Chicago. Sau khi Salvador Allende bị lật đổ, họ viết một bản báo cáo kêu gọi thực hiện ngay lập tức việc tái tư nhân hoá các ngành và các tập đoàn đã bị Allende quốc hữu hoá. Trong những năm 1970 và 1980, học thuyết chống Keynesian của họ không được áp dụng không chỉ bởi chế độ Pinochet mà còn bởi chế độ Margaret Thatcher và Ronald Reagan.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #184 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2013, 08:55:45 am »

Có lần ông đã nói với tôi rằng trên lĩnh vực chính trị không hề tồn tại “mô hình” nào và rằng ngày nay không ai dám khẳng định chắc chắn khái niệm “Chủ nghĩa xã hội” là gì. Ông nói với tôi rằng cuộc họp của diễn đàn Sao Paulo tổ chức ở Havana có sự tham gia của tất cả các phong trào cánh tả Mỹ La-tinh phải đạt được thỏa thuận không nhắc đến từ “chủ nghĩa xã hội” vì nó sẽ gây ra sự “chia rẽ”.

Chủ nghĩa Mác là gì? Chủ nghĩa xã hội là gì? Chưa ai xác định khái niệm đó. Khái niệm kinh tế chính trị duy nhất tồn tại đó là khái niệm kinh tế chính trị chủ nghĩa tư bản, nhưng đó là kiểu chủ nghĩa tư bản của Adam Smith 1. Vì vậy ở đây chúng tôi cũng xây dựng chủ nghĩa xã hội với các yếu tố tiếp thu từ chủ nghĩa tư bản, đó là mối lo lớn nhất của chúng tôi. Bởi vì nếu ông áp dụng những gì của chủ nghĩa tư bản vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, ông sẽ buộc các tập đoàn phải cạnh tranh với nhau, và như vậy các tập đoàn ăn cắp, tội phạm cũng nổi lên, cướp biển hoành hành khắp nơi. Cần phải nghiên cứu rất sâu sắc về điều này.

Che đã từng tranh cãi gay gắt giữa việc sử dụng nguồn tài chính ngân sách và nguồn tài chính tự lực tự chủ. Chúng ta đã nói chuyện về điều này. Với tư cách là một bộ trưởng trong chính phủ, ông ấy đã nghiên cứu về tổ chức của một số tập đoàn lớn, và họ sử dụng nguồn tài chính từ ngân sách. Liên Xõ thì sử dụng phương pháp khác: Sử dụng nguồn tài chính tự chủ. Và ông ấy đã có quan điểm rất rõ ràng về điều này 2.

Trong cuốn Phê bình chương trình Gotha 3, Mác chỉ đề cập lướt qua chủ nghĩa xã hội sẽ như thế nào, bởi vì ông ấy là con người theo chủ nghĩa hiện thực quá thông thái và vĩ đại khi để cho người ta tự xác định chủ nghĩa xã hội sẽ là như thế nào. Vấn đề là việc thực hiện những học thuyết đó, đã có rất nhiều cách hiểu và cách thực hiện khác nhau. Chính vì vậy những người tiến bộ vẫn bị chia rẽ sâu sắc, đó cũng là lý do giải thích tại sao vẫn còn tranh cãi giữa những người theo chủ nghĩa phi chính phủ và những người theo chủ nghĩa xã hội, vấn đề nảy sinh giữa những người Trotskyite và những người theo chủ nghĩa Stalin sau cuộc cách mạng Bôn-xê-vich năm 1917, hay chúng ta có thể nói, những người thuộc hai bên chiến tuyến của cuộc tranh cãi vĩ đại, sự ly giáo về tư tưởng giữa hai nhà lãnh đạo lớn. Có thể khẳng định ngay được rằng những người Trotskyite có lý hơn.

Nhưng Stalin lại là nhà lãnh đạo thực tế hơn - ông ấy là con người túc trí đa mưu chứ không phải nhà lý luận, cho dù sau này cũng có thời gian ông ấy có xu hướng đi theo lý luận... Tõi còn nhớ có vài cuốn sách đã được xuất bản, trong đó Stalin cố giải thích thực chất của “chủ nghĩa duy vật biện chứng”, và ông ấy lấy ví dụ về nước. Người ta cố biến Stalin thành nhà lý luận, ông ấy là nhà tổ chức rất tài ba, tôi nghĩ ông ấy là nhà cách mạng thực sự - tôi nghĩ ông ấy không hề phục vụ cho đến độ Sa hoàng... Nhưng rồi ông ấy mắc những sai lầm mà chũng ta đã biết đến - sự đàn áp, thanh trừng.

Lê-nin là thiên tài; ông ấy qua đời khá trẻ, nếu còn sống ông ấy sẽ làm được rất nhiều việc. Nhưng đôi khi lý thuyết không giải quyết được tất cả mọi việc. Trong giai đoạn đang xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, Lê-nin áp dụng quá mạnh mẽ - bắt đầu từ năm 1921 - chính sách NEP 4, chính sách kinh tế mới. Chúng tôi đều biết đến chính sách đó, và tôi đã nói với ông rằng Che cũng không thích chính sách đó.

Lê-nin có ý tưởng cực kỳ tài tình: xây dựng chủ nghĩa tư bản dưới sự thống trị của giai cấp vô sản. Nhớ lại những gì mà các cường quốc kia đã làm với cách mạng Bôn-xê-vích khiến mọi người phản đối. Chắc người ta không thể quên được chuyện phá hoại mà các cường quốc kia đã gây ra ở đất nước kém phát triển đó; Nga lúc đó là nước kém phát triển nhất ở châu Âu, và tất nhiên Lê-nin theo công thức của Mác mà nhận ra rằng cách mạng không thể chỉ diễn ra ở một nước mà phải diễn ra đồng loạt ở những nước công nghiệp phát triển nhất trên cơ sở sự giác ngộ sâu sắc về lực lượng sản xuất.

Có nghĩa là sự bế tắc lớn nhất, sau khi cuộc cách mạng đầu tiên nổ ra ở Nga, lại chính là con đường mà chúng ta có thể đi theo. Khi phong trào cách mạng thất bại ở các nước châu Âu còn lại, Lê-nin không còn sự lựa chọn nào khác: ông ấy phải tự xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước mình: Đó là nước Nga. Ông thử tưởng tượng xem sẽ như thế nào khi xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước mà tới 80% dân số là mù chữ, trong bối cảnh phải bảo vệ chính mình khỏi những cuộc tấn công, còn những người dân trí thức thì hoặc là đã bỏ chạy hoặc là đã bị xử tử?

Quả là thời kỳ khủng khiếp với những tranh cãi gay gắt.

Có vô vàn những cuộc cãi vã. Vào thời gian đó thì Lê-nin mất. Tôi nghĩ trong mười năm áp dụng chính sách NEP, Liên Xô chỉ tốn thời gian dựng lên các hợp tác xã nông nghiệp. Sản xuất cá nhân đã phát huy được tối đa sức mạnh trong bối cảnh đó cho nên tập thể hóa đã bộc lộ rõ sự vội vàng của nó. Ở Cuba, luôn có tới hơn 100.000 địa chủ cá nhân. Điều đầu tiên chúng tôi làm năm 1959 là giao lại cho những lính canh, những người đi thuê phần đất mà họ đang làm việc trên đó.


-----------------------------------------------------------
1. Adam Smith (1723-1790), nhà kinh tế học người Scotland, là nhà lý luận vĩ đại đầu tiên của chủ nghĩa tư bản và là tác giả cuốn Sự giàu có của các quốc gia (1776).

2. Ernesto Che Guevara, “Chủ nghĩa xã hội và con người ở Cuba”, trong cuốn Công lý toàn cầu: Tự do và Chủ nghĩa xã hội, Mebourne: Ocean Press, 2002.

3. Karl Marx, Phê bình Cương lĩnh Gotha, với lời giới thiệu do Friedrid Engels viết, Mát-xcơ-va: Nhà xuất bản Tiến bộ, 1971.

4. NEP, hay còn gọi là chính sách kinh tế mới được ban hành tháng 3 năm 1921 và yêu cầu nông dân phải đưa một lượng sản phẩm nông nghiệp nhất định (chủ yếu là thực phẩm) tới các nhà kho của trung ương, coi đó là một hình thức đóng thuế, về cơ bản, nông dân được giao quyền sở hữu tư nhân; sản lượng cây trồng được tăng cao bởi vì sau khi nộp một phần sản lượng, nông dân được quyền bán phần còn lại những gì mà họ sản xuất ra; do vậy, đã có những khuyến khích về vật chất trong sản xuất nông nghiệp. Khi Stalin bãi bỏ chính sách này và bắt buộc thực hiện tập thể hoá, sản lượng sản xuất nông nghiệp của Liên Xô sụt giảm mạnh.


Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #185 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2013, 09:00:24 am »

Ông có cho rằng ở thời điểm hiện tại chúng ta đang bị lúng túng về hệ tư t­ưởng?

Tôi nghĩ như vậy. Khi nói đến vấn đề hệ tư tưởng luôn luôn có sự lẫn lộn. Chúng ta đang sống trong một thế giới rất khác. Có rất nhiều vấn đề mà các nhà triết lý chính trị, xã hội không tiên liệu được mặc dù những ý tưởng của họ sẽ có vai trò quyết định giúp chúng ta thông suốt về lập trường tư tưởng cách mạng.

Người ta phải đấu tranh chống đói kém, bệnh tật, mù chữ trong khi cái mà chúng ta gọi là giải pháp toàn cầu giải quyết những vấn đề của con người thì lại chưa thấy đâu. Những vấn đề chung của loài người không thể một nước nào đơn phương đứng ra giải quyết được bởi vì ngày nay, hơn bao giờ hết, sự thống trị đã lan ra phạm vi toàn cầu: đó chính là “toàn cầu hóa tự do kiểu mới” mà chúng ta đang nhắc đến được sự hậu thuẫn của các đế quốc và đồng minh của nó. WTO (Tổ chức thương mại thế giới), WB (Ngân hàng thế giới), Quỹ tiền tệ quốc tế lập ra những luật lệ và quy định để thống trị và bóc lột còn thậm tệ hơn gấp nhiều lần hành động bóc lột dã man nhất của chế độ thuộc địa.

Rất nhiều người đang muốn tìm cách thoát khỏi sự thống trị đó. Ông là người có tham dự Diễn đàn xã hội thế giới tổ chức ở Porto Alegre và ở Bombay năm 2004 và ông cũng là người biết tôi đã viết bao nhiêu bài báo về toàn cầu hóa tự do. Tôi đã đọc những bài báo của ông 1  và tôi còn đọc cả những bài báo nghiêm túc khác.

Ở đây, đã nhiều năm nay chúng tôi theo dõi các loại báo tương tự như báo của ông, các báo trung lập, báo cánh tả, và chúng tôi lưu lại tất cả các bài viết về các vấn đề kinh tế thế giới. Vì vậy, tôi phải công nhận rằng rất khó để người ta có thể nhận ra những vấn đề hiện nay bởi vì ở hầu hết các nước, người dân không được giáo dục căn bản về kinh tế, hay chính trị. Và các dân tộc trên thế giới cũng đang phản ứng ngày càng mạnh hơn trước các vấn đề kinh tế, chính trị đang ngày càng bất ổn.

Nhưng ông có cho rằng toàn cầu hóa tự do mới mặc dù đã có tác động mạnh nhưng mấy năm qua đã có chiều hướng bớt gay gắt?

Có, tôi có cảm giác như vậy, bởi vì tôi đã chứng kiến trường hợp ở Ác-hen-ti-na, thắng lợi hồi tháng 5 năm 2003 của Nestor Kirchner và sự thất bại của toàn cầu hóa tự do mới ở đất nước đó vào thời điểm quyết định của cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế. Đó không còn giới hạn là cuộc khủng hoảng ở khu vực Đông Nam Á như năm 1977; mà đã trở thành cuộc khủng hoảng toàn cầu cộng với cuộc chiến ở I-rắc, hậu quả của những khoản nợ khổng lồ, sự lãng phí và giá cả năng lượng gia tăng, mối hiểm họa các đồng tiền sẽ mất giá vì phát hành quá nhiều, sự suy thoái của cường quốc hàng đầu thế giới về kinh tế và quân sự.

Vấn đề đã trở thành vấn đề toàn cầu, và chính vì vậy nó thu hút được sự chú ý của toàn thế giới, và cũng rất có thể sẽ có ngày thắng lợi khi một thế giới khác tốt đẹp hơn xuất hiện. Tôi nghĩ rằng, và tôi cho rằng ông cũng nghĩ như vậy, câu nói đó ngày càng được nhiều người nghĩ đến: “Một thế giới tốt đẹp hơn”. Nhưng khi chúng ta đã có một thế giới tốt đẹp hơn rồi, chúng ta vẫn nhắc đi nhắc lại: Một thế giới tốt đẹp hơn, một thế giới tốt đẹp hơn, đó là bởi vì thế giới này đang đứng trước ngã ba đường - hoặc là sẽ tốt đẹp hơn hoặc là sẽ biến mất.

Tôi tin vào ý nghĩ, ý thức, kiến thức, giáo dục mà đặc biệt là giáo dục chính trị. Chúng tôi đã mất rất nhiều năm xây dựng ý thức và chúng tôi rất tin tưảng vào giáo dục nhất là giáo dục về chính trị. Chúng ta đang sống trong một thế giới thiếu giáo dục chính trị. Ông biết điều đó rõ hơn ai hết vì ông đã mang kiến thức chính trị ra để lý giải những vấn đề phức tạp như trật tự kinh tế mới hay vấn đề toàn cầu hóa tự do mới.

Hầu hết các trường học trên thế giới đều dạy con người ta tín điều - ngay cả ở đây chúng tôi cũng dạy cho người dân tín điều.

Có vẻ ông không bằng lòng với các tín điều?

Nói đúng ra là tôi chống lại tín điều, tôi đã đề cập chuyện này rồi. Đó là sự nói dối thông qua vô số những ý tưởng, thông qua những gì mà chúng tôi rút ra trong suốt 40 năm qua về giá trị của những ý tưởng và kiến thức. Nhưng những mối hiểm họa vẫn hiển hiện và vì thế chúng tôi phải tiếp tục giáo dục, giáo dục ngày một nhiều để tạo ra những thế hệ mới. Và vì thế giới toàn cầu hóa ngày nay bắt người ta phải có ngày càng nhiều kiến thức để xem xét và tìm lối thoát cho những vấn đề toàn cầu.

Chẳng hạn như?

Thứ nhất, để chắc chắn rằng loài người chúng ta được bảo vệ, vì tôi không hề thấy có gì đảm bảo cho sự tồn tại của chúng ta. Đó là điều chúng tôi rút ra được từ lịch sử về sự sinh tồn của các loài. Loài người chúng ta mói xuất hiện gần đây thôi; nó mới trải qua chưa đến một triệu năm tiến hóa và biến đổi.

Còn con người với tất cả khả năng trí tuệ ngày nay thì mới chỉ trải qua 100.000 năm thôi. Chúng ta biết rằng sự tiến hóa của sự sống bị gián đoạn bởi một thiên thạch - đây là điều mà ai cũng chấp nhận - rơi xuống eo đất Tehuantepec. Các nhà khoa học coi đó như một vụ nổ nguyên tử khổng lồ làm cho bầu không khí của trái đất đầy bụi, làm cho trái đất bị bao phủ trong bóng tối rất nhiều tuần. Nó đã giết chết vô số các loài khủng long và các sinh vật sống khác, trong khi có những loài thì lại tiến hóa... Nhưng lúc đó thì loài người chưa tồn tại.

Ngày nay lại có mối hiểm họa khác với thế giới công nghiệp này: Dân số đã lên đến mức 6,5 tỷ người và mỗi năm vẫn tiếp tục tăng thêm 100 triệu người, hoặc ít nhất cũng phải là 80 triệu. Hàng ngày tôi vẫn theo dõi tốc độ tăng giảm dân số thế giới. Và chúng ta phải thấy rằng Trung Quốc đã nỗ lực rất lớn để kiềm chế tăng dân - nếu không thì thế giới này đã có tới 6,7 tỷ người rồi.

Ai cũng biết dân số sẽ tăng lên đến đâu, mối quan hệ giữa mù chữ, thiếu giáo dục với số lượng con trong gia đình. Mọi người đều biết điều đó và hàng nghìn chuyện khác trong thế giới ngày nay. Thực sự là có sự bùng nổ dân số ở nhiều nước mà nền kinh tế không hề phát triển mà chỉ có nợ nần và thiên tai.

Nhưng toàn cầu hoá không hề đả động gì đến những thực tế khốc liệt đó. Các quy định của IMF ngày càng đẩy các nước vay nợ và người dân vào cảnh khốn cùng vì chính sách bóc lột dã man của nó. Trong khi đó, chủ nghĩa đế quốc, với mong muốn bảo vệ lợi ích của chính nó, vẫn chỉ làm những việc mà nó cảm thấy cần thiết, bất chấp thái độ của các nước khác - Mỹ áp đặt hàng rào thuế quan lên tất cá những gì họ muốn; họ thậm chí còn áp đặt tới 30% thuế lên mặt hàng gỗ xuất khẩu của Canada, gây chấn động cả thị trường có trị giá tới hàng tỷ đô la này.

Đó là một kiểu bá chủ thế giới... Khi họ muốn đánh đổ một vài nước, Mỹ sẵn sàng áp đặt thuế rất nặng lên mặt hàng thép nhập khẩu... nhưng lại hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ của mình bằng mọi giá. Nền kinh tế chính trị của Mỹ chưa bao giờ độc đoán với thế giới và các đồng minh của chính nó như bây giờ.

Trên khắp thế giới, các nước ngày càng chú trọng đến nội bộ nền kinh tế của mình. Và điều đó là không tốt; đã đến lúc những mối quan tâm, lo ngại của chúng ta không chỉ giới hạn ở phạm vi quốc gia mà phải được đưa ra phạm vi toàn cầu. Thế giới này phải hướng đến chủ nghĩa quốc tế, vì chúng ta không thể trở thành những con người của quốc tế nếu cứ đổ lỗi cho các nước khác. Tương tự như việc chúng ta đổ lỗi cho cả dân tộc Đức vì đã sản sinh ra chủ nghĩa phát xít kinh hoàng mặc dù cũng có thời điểm rất nhiều người Đức ủng hộ mối hiểm hoạ chết chóc này.

----------------------------------------------------------
1. Le Monde Diplomatique (Thế giới ngoại giao), tờ nguyệt san rất có ảnh hưởng ở Paris do Ignacio Ramonet phát hành; hơn 10 ấn bản được phát hành trên thế giới bằng nhiều thứ tiếng khác nhau.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #186 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2013, 09:04:55 am »

Đó là mối hiểm hoạ Hitler và Chủ nghĩa phát xít?

Nhưng Đức cũng là quốc gia từng phải gánh chịu hậu quả của Hiệp ước Versailles năm 1919. Điều khiến Hitler được đông đảo người dân ủng hộ vào năm 1933 đó là bọn chúng đã biết dựa vào những điều khoản của hiệp ước Versailles đã làm cho dân tộc họ lâm vào tình cảnh khốn cùng. Sau thất bại của họ, sau cuộc chiến chia cắt thế giới giữa các đế quốc, người dân Đức lại đoàn kết chặt chẽ với nhau. Và họ bầu cử. Đúng, bởi vì Hitler lên nắm quyền thông qua bầu cử và trở thành thủ tướng, người đứng đầu chính phủ. Không hề có cuộc đảo chính nào cả. Đúng là năm 1923 ông ta có lãnh đạo một cuộc nổi dậy ở Munich, một trong những hành động điên rồ, và ông ta đã bị bắt giam trong một thời gian... Ông ta lãnh đạo đất nước trên cơ sở cương lĩnh mang nặng tính dân tộc, học thuyết ác độc, lập dị và phân biệt chủng tộc. Tôi từng ghé thăm Auschwitz năm 1972, và không thể tưởng tượng nổi tội ác kinh hoàng diễn ra ở đó.

Tội ác của tội ác.

Bốn nghìn năm sau nhân loại vẫn kinh hoàng khi nhớ đến Holocaust (nạn tàn sát người Do Thái vào thời Hitler), tội ác diễn ra ở Auschwitz và những khu tập trung tiêu trừ khác...

Mặc dù không có gì có thể so sánh với mối kinh hoàng diễn ra ở Auschwitz nhưng ngày nay toàn cầu hoá lại gây ra những tội ác lớn lao đối với môi trường, gây thiệt hại nghiêm trọng, và gây ra những hậu quả chết chóc cho các thế hệ tương lai. Ông cảm thấy thế nào về vấn đề bảo vệ môi trường hiện nay?

Ba mươi năm trước không ai nhắc đến những vấn đề mà chúng ta đang nói hôm nay. Có câu lạc bộ Rome 1  - một vài nhân vật cộm cán ngồi lại với nhau đưa ra những dự báo, nói chuyện về rất nhiều vấn đề trên cơ sở các số liệu và việc phân tích tỷ lệ lãi suất. Bọn họ bị chỉ trích, người ta gọi họ là những con người không tưởng, duy tâm... Nhưng họ là những người đầu tiên nhắc đến chuyện này. Tôi nghĩ không quá ba mươi năm trước đâu. Vấn đề môi trường đã thu hút được sự chú ý nhất nhanh chóng trong một phần tư thế kỷ trở lại đây. Và thảm kịch thực sự chính là do thái độ thờ ơ của chúng ta với những mối hiểm hoạ xung quanh môi trường sống.

Ông có cho rằng người ta không biết, hay không muốn biết, bởi vì họ không tin tưởng vào khoa học và công nghệ?

Không có bất kỳ người nào - hai mươi lăm năm sau chiến tranh thế giới thứ hai năm 1945, thậm chí cả những người đã biết đọc, biết viết - nghe thấy ai nhắc đến việc con người đang mù quáng phá hoại không thương tiếc môi trường sống của chính mình. Không có bất kỳ thế hệ nào từ trước đến nay phải đối mặt với mối nguy hại gay gắt như ngày nay và phải chịu trách nhiệm lớn như ngày nay.

Thậm chí ba mươi năm trước, tôi nhắc lại, con người cũng không mảy may để ý đến thảm kịch lớn lao này. Khi đó, người ta chỉ nghĩ rằng, hiểm hoạ huỷ diệt chỉ có thể là những loại vũ khí hạt nhân sẵn sàng bắn đi bất cứ lúc nào kia. Ngày nay, mặc dù mối hoạ hạt nhân vẫn còn đó, nhưng đã xuất hiện một hiểm hoạ khác - hiểm hoạ khủng khiếp - đang lơ lửng trên đầu chúng ta. Tôi dám chắc rằng khi còn học đại học ông cũng không hề nghe thấy ai nhắc đến vấn đề tầng ôzon, hay việc thay đổi khí hậu. Những vấn đề đó chỉ được nhắc đến sau khi ông tốt nghiệp đã rất nhiều năm. Và ngày nay thì lại có những vấn đề mới rồi.

Ngày nay, chúng ta biết rằng, dầu mỏ, tài sản của thiên nhiên phải mất 300 triệu năm mới hình thành được, đang bị con người khai thác cạn kiệt cả trữ lượng đã phát hiện lẫn trữ lượng mới thăm dò thấy trong vòng 150 năm nữa. Thực tế đó cũng kinh hoàng không kém gì một thảm hoạ thiên tai khốc liệt nhất, bởi vì nếu chúng ta không còn dầu mỏ, toàn bộ xe hơi trên thế giới sẽ ngừng hoạt động. Chưa hề có nguồn thay thế nào cho dầu mỏ cả - có lúc người ta đã từng cho rằng có thể dùng năng lượng nguyên tử để thay thế.

Những thành viên của Câu lạc bộ Roma kia đã nhắc đến sự cần thiết của các nhà máy điện nguyên tử nhưng bây giờ thì người ta đã quá khiếp sợ vì ngày càng có nhiều nơi bị ô nhiễm chất phóng xạ.

Đã có thời Cuba muốn phát triển năng lượng nguyên tử và thậm chí đã xây dựng một nhà máy ở Cienfuegos mặc dù sau này ông từ bỏ dự án đó.

Đúng, dự án đó bị bãi bỏ. Nhưng dù sao đó cũng không phải là dự án nhà máy hở, làm mát bằng than đá như kiểu nhà máy ở Chernobyl; mà đó là nhà máy kín, làm mát bằng nước, công nghệ dễ sử dụng và an toàn nhất thế giới. Công nghệ năng lượng nguyên tử đã giúp một số nước giái quyết được bài toán về năng lượng, chẳng hạn như ở Pháp, họ đã thuyết phục được các nước láng giềng cho phép xây dựng nhà máy trên đất của họ, và khi các nhà máy này sản xuất thừa năng lượng, họ bán rẻ cho các nước châu Âu khác không xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Nhưng khi giá dầu bắt đầu tăng - điều mà không ai dự báo trước được bởi vì mọi người đều nghĩ dầu mỏ nhiều như nước Thái Bình Dương - lần tăng giá đầu tiên vào những năm bảy mươi có tác động tích cực: Nó buộc mọi người phải phát triển các loại công nghệ tiêu thụ ít năng lượng trong các nhà máy, các ngành công nghiệp... Người ta bắt đầu tiêu thụ dầu mỏ hiệu quả hơn cho các loại phương tiện đi lại như xe hơi, xe buýt, máy bay... và tuổi thọ của nó cũng kéo dài thêm được vài năm. Người ta bắt đầu phải tiết kiệm năng lượng và những nước như Pháp và một vài nước khác đã phát triển ngành công nghiệp hạt nhân; và nó sẽ ít ô nhiễm hơn hiện tại nếu giá dầu không tăng quá cao.

Pháp phát triển ngành công nghiệp hạt nhân, nhưng I-ran thì lại muốn sản xuất nhiên liệu hạt nhân, điều mà Washington không hề muốn, và một cuộc khủng hoảng thế giới đã xảy ra. Ông nghĩ gì về trường hợp của I-ran?

I-ran đang bảo vệ quyền được phát triển năng lượng hạt nhân của mình như rất nhiều nước công nghiệp phát triển khác đang làm, và không muốn buộc phải phá hủy nguồn nguyên liệu tươi vốn không chỉ dùng để sản xuất năng lượng mà còn dùng để sản xuất rất nhiều sản phẩm khác như: phân bón, nguyên liệu dệt, và vô số các sản phẩm khác đang được sử dụng trên thế giới hiện nay. Đế quốc Mỹ đang đe dọa tấn công nếu I-ran sản xuất loại nhiên liệu đó. Nhiên liệu hạt nhân không có nghĩa là vũ khí hạt nhân, nó cũng không phải bom nguyên tử. Cấm một nước sản xuất nhiên liệu hạt nhân phục vụ nhu cầu trước mắt chẳng khác gì cấm thăm dò tìm kiếm dầu khí, nguồn nhiên liệu chính của thế giới đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt. Và như vậy thì có nước nào trên thế giới bị cấm tìm kiếm các loại nhiên liệu như than đá, khí gas, hay dầu mỏ không?

Với hơn 70 triệu dân, I-ran đang nỗ lực phát triển công nghiệp và họ cho rằng, tôi nghĩ như thế là đúng, sẽ là tội ác khủng khiếp nếu họ lạm dụng khí gas tự nhiên, hay trữ lượng dầu mỏ của mình để sản xuất hàng tỷ kw giờ điện mà một nước thuộc thế giới thứ ba đang cần để phục vụ cho sự phát triển công nghiệp của mình. Mỹ muốn cấm việc làm đó và đe dọa sẽ đánh bom họ. Ở thời điểm hiện tại (Tháng 12-2005), một cuộc tranh cãi quốc tế đang diễn ra về việc ngày nào, giờ nào (việc đánh bom sẽ diễn ra), và liệu Mỹ có sử dụng - như họ đã sử dụng đối với I-rắc - các vệ tinh ở Israel để đánh bom phủ đầu các trung tâm nghiên cứu thử nghiệm công nghệ sản xuất nhiên liệu hạt nhân. Và chúng ta sẽ xem điều gì sẽ xảy ra nếu họ quyết định đánh bom I-ran.


----------------------------------------------------------
1. Câu lạc bộ Roma là một nhóm các nhà khoa học và những người thường có liên quan được tổ chức lại với nhau năm 1968 bởi nhà công nghiệp/học giả người Italia Aurelio Peccei và nhà khoa học người Scotland Alexander King; theo website chính thức, tổ chức này bao gồm “các nhà khoa học, các nhà kinh tế, doanh nhân, các quan chức cao cấp tầm cỡ quốc tế, người đứng đầu nhà nước đương chức và đã nghỉ hưu đến từ 5 châu lục, những ngưòi luôn tin tưởng rằng tương lai của nhân loại không thể chỉ được quyết định một lần và mãi mãi mà mỗi cá nhân đều có thể đóng góp sức mình vào sự thịnh vượng của xã hội chúng ta”. Một trong những thành tựu quan trọng nhất của Câu lạc bộ Rome là đã cảnh báo các nước trên thế giới về mối hiểm hoạ từ việc khai thác quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên của thế giới, hiện tượng trái đất nóng lên và những tác động khác của việc thay đổi khí hậu như đã được đề cập trong một số nghiên cứu, nhưng đặc biệt là trong cuốn sách tiên tri Giới hạn của tăng trưởng (1972).
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #187 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2013, 09:07:51 am »

Người Cuba bị cáo buộc là đã giúp đỡ I-ran về công nghệ hạt nhân.

Đúng, chúng tôi từng bị cáo buộc về điều đó - hầu như liên quan đến việc gì chúng tôi cũng bị cáo buộc. Họ cáo buộc chúng tôi hợp tác với I-ran, chuyển giao công nghệ vì mục đích đó. Trong khi những gì chúng tôi đang hợp tác với I-ran chỉ là việc xây dựng một nhà máy sản xuất dược phẩm chống ung thư! Đó là những gì chúng tôi đang làm! Cũng như Cuba, I-ran đã ký hiệp định không phổ biến vũ khí hạt nhân. Chúng tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc sản xuất vũ khí nguyên tử, bởi vì chúng tôi không cần đến loại vũ khí đó. Thậm chí về mặt công nghệ chúng tôi có thể sản xuất được, nhưng sẽ tiêu tốn mất bao nhiêu tiền? Và việc gì phải sản xuất vũ khí hạt nhân khi kẻ thù của mình đã có hàng nghìn đầu đạn đó rồi? Hành động đó sẽ chỉ dẫn đến một cuộc chạy đua vũ trang mới. Không ai có quyền sản xuất vũ khí hạt nhân, và chủ nghĩa đế quốc càng không có quyền áp đặt với thế giới và tước bỏ của các nước thế giới thứ ba nguồn nguyên liệu thiên nhiên và nguyên liệu thô của họ. Chúng tôi đã bác bỏ hành động đó hàng nghìn lần rồi. Và chúng tôi sẽ bảo vệ đến cùng trên tất cả các diễn đàn và các tòa án thế giới quyền của các nước được sản xuất nhiên liệu hạt nhân. Chúng tôi cần phải chấm dứt hành động ngớ ngẩn, hành động cường quyền, đe dọa, áp đặt thế giới này. Càng ngày sẽ có càng nhiều nước lên tiếng, và Mỹ sẽ không thể áp đặt trật tự xấu xa đáng ghét của mình lên các nước khác như họ đang làm. Salvador Allende đã nhắc đến vấn đề “không sớm thì muộn” - và tôi nghĩ không sớm thì muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ không còn là bá chủ thế giới nữa.

Ở một chừng mực nào đó thì cuộc khủng hoảng này là hệ quả đầu tiên của việc khai thác cạn kiệt dầu mỏ và những biến đổi mà hành động đó mang lại.

Đúng vậy, bởi vì tới 80% trữ lượng dầu mỏ của thế giới hiện đang nằm trong tay các nước thế giới thứ ba, vì các nước khác hầu như đã sử dụng hết trữ lượng của mình - trong số đó có Mỹ mặc dù họ có trữ lượng dầu mỏ và khí đốt khổng lồ. Hiện tại họ chỉ còn trữ lượng đủ dùng trong vài năm, chính vì vậy họ phải tìm mọi cách sở hữu các nguồn trữ lượng còn lại trên thế giới dưới bất kỳ hình thức nào. Tuy nhiên, nguồn năng lượng đó, như chúng ta thấy, đang cạn kiệt dần và trong vòng hai mươi lăm hoặc ba mươi năm tới, nguồn nhiên liệu chính dùng để sản xuất điện, ngoài năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng sinh học, sẽ chỉ còn là năng lượng hạt nhân. Công nghệ hyđrô vẫn đang trong quá trình phát triển và phải mất một thời gian dài nữa mới có thể trở thành nguồn nhiên liệu chính, nên nếu không có nguồn nhiên liệu hạt nhân, loài người sẽ không thể tồn tại được, ít nhất là ở một chừng mực nào đó của quá trình phát triển. Đây là vấn đề nghiêm trọng và chúng ta đang phải đối mặt với nó. Tiến trình phát triển của thế giới tất yếu sẽ phải trải qua.

Còn rất nhiều vấn đề về sinh thái mà con người chưa nhận ra; thảm họa nọ nối tiếp thảm họa kia. Có những thảm họa tự nhiên, như căn bệnh ung thư, còn tồi tệ hơn cả năng lượng hạt nhân.

Hoặc là AIDS

Hai mươi lăm năm trước chưa hề có AIDS, nhưng ngày nay đã có ít nhất 40 triệu người bị bệnh hoặc bị nhiễm vi-rút HIV-AIDS. Trong khi đó những nước có phòng thí nghiệm tốt nhất thì lại chỉ dùng đế sản xuất thuốc điều trị chứ không hề có thuốc phòng ngừa hay vắc-xin - điều này thì ai cũng biết - vì chi phí cho một ca điều trị lên tới 10.000 đô la một năm nhưng người bệnh vẫn phải bỏ tiền ra. Chi phí điều trị kiểu này mang lại cho họ lợi nhuận gấp nhiều lần một lần uống vắc-xin phòng ngừa. Hiện nay còn xuất hiện cả vi-rút SARS (Hội chứng suy giảm hô hấp cấp tính) mặc dù không ai muốn, cúm Nile (cúm do loại vi-rút West Nile gây ra) lây truyền vào khu vực đông bắc nước Mỹ, và bệnh sốt xuất huyết do bốn loại vi-rút khác nhau gây ra, và khi các loại vi-rút này kết họp với nhau sẽ gây ra căn bệnh xuất huyết vô cùng phức tạp. Cúm gia cầm có thể cũng sẽ bùng phát và gây ra đại dịch khủng khiếp ngoài sức tưởng tượng. Tất cả những loại bệnh này trước đây đều không có; ngày nay thì chúng ta đều biết những vấn đề này liên quan chặt chẽ với nhau - kinh tế, công nghiệp, dân số, phát triển, hệ sinh thái...

Nói chung, các nước thuộc khối Liên Xô - chúng ta đã đề cập chuyện này rồi - không thực sự quan tâm đến vấn đề môi trường. Vậy Cuba có quan tâm không?

Chúng tôi ngày càng quan tâm đến vấn đề môi trường - chúng tôi đã thấy và đánh giá được mức độ thay đổi khí hậu ở Cuba; sự thay đổi mực nước biển; và cả mức độ ô nhiễm môi trường. Và sự thực là, ở đất nước tôi, người dân ngày càng ý thức về vấn đề môi trường. Người dân được giáo dục; chúng tôi có các chương trình truyền hình liên tục đưa thông tin và định hướng; tất cả các cháu học sinh đều được giáo dục về vấn đè này, ngày nay chúng tôi có cả những nhà bảo vệ môi trường tý hon.

Trong vòng 100 năm, dân số thế giới tăng từ 1,5 tỷ người lên 6,5 tỷ người, như tôi vừa mói nói. Họ sẽ phải phụ thuộc vào các nguồn năng lượng chưa được khám phá và phát triển. Nghèo đói đang ngày một gia tăng; những căn bệnh vốn có và mới phát sinh đe dọa tiêu diệt hoàn toàn nhân loại; trái đất đang ngày càng suy thoái, bạc màu; khí hậu thay đổi; không khí và các đại dương đang ngày càng ô nhiễm.

Quyền lực của Liên Hợp Quốc về vấn đề này không còn nữa; cơ chế kiểm soát của nó đã bị cản trở hoặc thậm chí là phá vỡ. Viện trợ phát triển ngày một giảm. Các nước thế giới thứ ba còn đang nợ một khoản 2,5 nghìn tỷ đô la, trong khi đó với những điều kiện hiện tại thì họ hoàn toàn không có khả năng chi trả. Nhưng hàng năm vẫn có 1 nghìn tỷ đô la chi cho việc phát triển các loại vũ khí tinh vi, có độ sát thương cao hơn. Tại sao lại có điều này?

Một khoản tiền tương tự cũng đang được chi cho các hoạt động quảng cáo khiến hàng tỷ người muốn tiêu thụ những mặt hàng mà họ không có khả năng mua. Tại sao lại thế và vì lý do gì?

Lần đầu tiên trong lịch sử, loài người chúng ta đang đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt - tự tiêu diệt mình bằng những hành động điên rồ của chính mình, những nạn nhân của cái được gọi là “nền văn minh”.

Khoảng mười lăm năm trước, năm 1992, khi hầu hết các chính trị gia đều nhắc đến điều này tại hội nghị thượng đỉnh của Liên Hợp Quốc tổ chức ở Rio De Janeiro về trái đất và môi trường, tôi cũng đã nhắc đến điều này. Rất nhiều người cho rằng tôi phóng đại sự thực và tôi là người bi quan. Điều tôi cảnh báo tại hội nghị đó là có một loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng: Đó là loài người. Thời gian đã chứng minh rằng tôi nói đúng, đáng buồn là sự thực đó lại cứ diễn ra hàng ngày.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #188 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2013, 09:10:42 am »

Ông có thể rút ra sự liên quan nào giữa toàn cầu hóa tự do và vấn đề tàn phá môi trường quá mức?

Tôi nghĩ tất cả các nỗ lực bảo vệ môi trường đều không tương xứng với hệ thống kinh tế đang gây áp lực lên thế giới, làn sóng toàn cầu hóa tự do mới đang diễn ra quá mạnh mẽ với những điều kiện áp đặt mà IMF đưa ra khiến hàng tỷ người bị đe dọa về sức khỏe, giáo dục, và an toàn. Và với thủ đoạn tần nhẫn là việc tự do mua và bán các đồng tiền mạnh và các đồng tiền yếu của các nước thế giới thứ ba, hàng năm những khoản tiền khổng lồ vẫn bị rút ra khỏi nền kinh tế các nước thứ ba.

Nói một cách ngắn gọn, tôi cho rằng việc bảo vệ môi trường hiện tại không thể đáp ứng được với những chính sách mà WTO đưa ra cho phép các nước giàu tự do thỏa sức hoành hành thế giới, phá hoại phát triển công nghiệp và nông nghiệp của các nước nghèo vốn không còn sự lựa chọn nào khác nên buộc phải cung cấp nhân công và nguyên liệu thô với giá rẻ; với những chính sách của NAFTA và các hiệp định thương mại tự do khác được ký kết giữa bọn cá mập với đám cá trích; với khoản nợ nước ngoài xảo trá có khi chiếm tới 50% ngân sách của một nước và trong bối cảnh hiện tại thì họ không có cách gì trả được; với việc chảy máu chất xám, thì chưa thể xóa bỏ được sự độc quyền vẻ sở hữu trí tuệ, và việc lạm dụng không công bằng các nguồn năng lượng và tài nguyên thiên nhiên của thế giới.

Danh sách các hành động bất công sẽ không bao giờ kết thúc. Vực thẳm ngăn cách sẽ càng ngày càng rộng ra; nạn cướp bóc sẽ càng ngày càng thậm tệ hơn...

Cuba không phải là “xã hội tiêu dùng”; thực ra, sức tiêu thụ ở đây còn hạn chế và người dân có lúc than phiền về điều đó. Ông nghĩ gì khi người dân không có khả năng tiếp cận các sản phẩm của xã hội tiêu dùng kiểu tư bản?

Tôi sẽ nói với họ rằng xã hội tiêu dùng là một trong những mối hiểm họa khủng khiếp nhất, là phát minh đáng sợ nhất của chủ nghĩa tư bản phát triển đang trong giai đoạn toàn cầu hóa tự do mới. Thật đáng sợ khi nghĩ đến cảnh 1,3 tỷ người Trung Quốc sở hữu lượng xe hơi như nước Mỹ đang sở hữu... 1 tỷ người Ấn Độ sống trong xã hội tiêu dùng; 600 triệu người sống ở khu vực hạ Sahara châu Phi hàng ngày vẫn không có điện và ở một vài nơi khác tới 80% người dân mù chữ, tất cả đều sống trong xã hội tiêu dùng.

Với trật tự kinh tế rối loạn đầy hiểm họa này thì chỉ tối đa là 50 hoặc 60 năm nữa các nguồn nhiên liệu hóa thạch sẽ cạn kiệt. Không biết năm mươi năm nữa sẽ lấy đâu ra nguồn năng lượng để vận hành hàng tỷ chiếc xe các loại của các nước phát triển và thậm chí cả ở hầu hết các nước thế giới thứ ba hiện nay. “Xã hội tiêu dùng” là kiểu sống hưởng thụ hoàn toàn bất hợp lý và chắc chắn nó sẽ không phải là mô hình cuộc sống của 10 tỷ người trên hành tinh này khi kỷ nguyên dầu mỏ qua đi.

Trật tự kinh tế và mô thức tiêu dùng bất hợp lý đó không hề phù hợp với nguồn nguyên liệu hạn chế, không tái sinh của thế giới hiện nay cũng như quy luật của tự nhiên và đời sống. Và hoàn toàn trái ngược với những nguyên tắc luân thường đạo lý, đạo đức và văn hóa mà loài người sáng tạo ra.

Nhưng dù sao thì người dân vẫn cần những giá trị vật chất?

Đúng vậy, tôi không hề phủ định tầm quan trọng của nhu cầu vật chất - đó là thứ ưu tiên hàng đầu chúng ta phải đáp ứng cho họ bởi vì để học hành và nâng cao chất lượng cuộc sống thì những nhu cầu tối thiểu phải được đáp ứng - đó là nhu cầu về vật chất và thể chất. Nhưng chất lượng thực sự của cuộc sống lại nằm ở nền giáo dục và nền văn hóa. Giá trị là những gì làm nên chất lượng thực sự của cuộc sống, chất lượng rất cao của cuộc sống chứ không đơn thuần là nhu cầu ăn, mặc, ở.

Ông vẫn là con người mơ mộng cố hữu.

Con người mơ mộng không thể nghĩ được những điều đó, mà đó là những ý tưởng của một người biết nhìn vào thực tế khiến anh ta không còn dám mơ mộng nữa.

Chúng ta có nên thất vọng với loài người không? Hay chúng ta vẫn nên hy vọng loài người sẽ lấp đầy được hố sâu đang ngăn cách họ hiện nay?

Chúng ta đã biết mọi việc đang diễn ra như thế nào. Và tôi cho rằng, việc cần làm ngay là phải xây dựng được ý thức của toàn thế giới, của đông đảo quần chúng, của hàng tỷ người thuộc mọi lứa tuổi thậm chí cả trẻ em. Những điều kiện khách quan, sự chịu đựng của phần lớn người dân là những điều kiện chủ quan cho việc xây dựng ý thức. Tất cả mọi thứ đều có liên quan đến nhau: Nạn mù chữ, thất nghiệp, nghèo đói, bệnh tật; thiếu nước uống, nhà ở, thiếu điện sinh hoạt; sa mạc hóa, biến đổi khí hậu, tàn phá rừng, lũ lụt, hạn hán, suy thoái môi trường, mất cân bằng sinh thái, đại dịch và rất nhiều các thảm họa khác mà chúng ta đang chứng kiến.

Chúng ta đã đạt được những kết quả gì từ Hội nghị thượng đỉnh Rio năm 1992? Hầu như là con số 0. Thậm chí còn ngược lại. Nghị định thư Kyoto bị người ta tẩy chay thô bạo, lượng khí thải cácbon điôxit thay vì giảm thì lại tăng thêm 9%, và ở đất nước ô nhiễm nhất là nước Mỹ thì tỷ lệ này lên tới 18%! Các đại dương và các con sông ngày nay ô nhiễm hơn nhiều so với năm 1992; 15 triệu hécta rừng, gấp bốn lần diện tích của đất nước Thụy Sỹ đang bị tàn phá hàng năm.

Loài người đang gây ra những sai lầm khủng khiếp và họ sẽ tiếp tục mắc sai lầm này, nhưng tôi tin rằng loài người sẽ tiếp thu những ý tưởng quý giá, sẽ rộng lượng hơn, và vượt qua được những bản năng mạnh mẽ vốn có mà tự nhiên gieo giác lên chúng ta - chúng ta sẽ có thể hy sinh cuộc sống của mình vì những gì chúng ta suy nghĩ và cảm nhận. Điều này đã được chứng minh rất nhiều lần trong lịch sử.

Cuba đã có sáng kiến nào giúp bảo vệ môi trường chưa?

Khi thành trì của chủ nghĩa xã hội sụp đổ, chúng tôi đối mặt với khó khăn khủng khiếp, đất nước tôi bị cấm vận hơn 40 năm nhưng chúng tôi vẫn sản xuất được - và đang sản xuất - 3 triệu tấn rau một năm bằng phương pháp trồng trong nước ở các khu đất trống nằm giữa các thành phố. Chúng tôi dùng rơm và các chất thải nông nghiệp khác tưới nước nhỏ giọt với lượng vừa đủ, và còn tạo được việc làm cho 300.000 người - không thể thải một gram cácbon điôxit vào không khí.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #189 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2013, 09:16:03 am »

Cuba sản xuất thuốc lá trong khi ngày nay rất nhiều người phản đối thuốc lá vì cho rằng nó gây ra căn bệnh ung thư. Bản thân ông cũng là nguời nghiện xì gà rất nổi tiếng nhưng rồi ông cũng bỏ được, ông nghĩ gì về điều này?

Ai cũng biết rằng chúng tôi có truyền thống lịch sử sản xuất thuốc lá từ hơn 500 năm trước; đó là sản phẩm đặc trưng của miền đất này, được sản xuất và tiêu thụ ở đây khi Colombus đến phát hiện ra chúng tôi và cây thuốc lá của chúng tôi. Chúng tôi sẽ không từ bỏ nghề này trong khi bị cấm vận. Sẽ rất tuyệt vời nếu chúng tôi bỏ được nghề này. Nhưng khi tặng cho bạn bè một gói xì gà chúng tôi thường nói. “Nếu anh có hút thuốc thì hãy hút cồn nếu không thì có thể tặng lại cho bạn; nhưng tốt nhất là anh nên mang cho kẻ thù của mình”.

Cuba là nước sản xuất và xuất khẩu thuốc lá nhưng chúng tôi vẫn đang phát động chiến dịch vận động không hút thuốc. Cuba cũng là nước sản xuất rượu rum, tôi không bàn về chuyện này, nhưng nếu có uống thì ông cũng chỉ nên uống với lượng điều độ thôi. Nhưng với phụ nữ đang có mang thì tôi khuyên hoàn toàn không nên uống rượu hay hút thuốc. Chúng tôi làm như vậy vì chúng tôi biết rõ tác hại của rượu và thuốc lá với phụ nữ đang mang thai.

Ở Cuba đang diễn ra “cuộc chiến ý tưởng”, ông định nghĩa về “cuộc chiến của các ý tưởng” này như thế nào?

Đó chính là những gì chúng tôi đang làm. Có những việc mới, rất mới; có những việc mà tôi phải công nhận là khác thường. Chúng tôi đã học hỏi rất nhiều, nhưng sự việc đã lên đến đỉnh điểm và mấy năm qua đã trở thành vấn đề đặc quyền của chúng tôi.

Ông đã giúp đỡ chúng tôi, bởi vì cuốn sách ông viết về sự xâm nhập văn hóa   và những số liệu ông đưa ra về tập đoàn độc quyền xuyên quốc gia trên lĩnh vực truyền thông, chúng tôi nghiên cứu rất kỹ vấn đề đó, đã thảo luận và đưa ra một hội nghị chuyên đề về văn hóa. Trước khi diễn ra cuộc chiến ý tưởng, chúng tôi đã tranh cãi về việc làm thế nào để bảo vệ nền văn hóa của đất nước. Và các trí thức nhắc đi nhấc lại câu nói mà tôi thường dùng trong những dịp đặc biệt, khi tất cả mọi việc đều chưa rõ ràng: “Chúng ta phải bảo vệ nền văn hóa của mình”.

Chúng tôi đã có một cuộc họp với Liên hiệp các nghệ sỹ và nhà văn Cuba vài tháng trước, cuộc họp diễn ra rất dài và chúng tôi đã thảo luận vấn đề “xâm nhập văn hóa”, trong cuộc họp đó chúng tôi có đưa ra số liệu từ cuốn sách của ông, sau đó chúng tôi xuất bản nó ở đây. Sau đó các nhà báo cũng tổ chức hội thảo của riêng họ và cứ khoảng sáu tháng vấn đề lại được nhắc đến. Vì thế chúng tôi bắt đầu ý thức về điều này.

Chính ông cũng đã làm rõ rất nhiều vấn đề liên quan đến toàn cẩu hóa tự do mới. Các học giả, trí thức, nhà kinh tế của thế giới ý thức về điều này từ khi nào? Tôi nghĩ, có thể vì tôi là người lạc quan cho rằng thế giới này sẽ được cứu sống cho dù chúng tôi cũng có sai lầm, trong khi các cường quốc đơn phương thì xuất hiện ngày càng nhiều, và bởi vì tôi tin vào chiến thắng của ý tưởng trước sức mạnh.

Chính các ý tưởng đã soi rọi cho thế giới này, nhưng phải là những ý tưởng công bằng, những ý tưởng mang lại hòa bình cho thế giới, tìm lối thoát cho mối hiểm họa chiến tranh, chấm dứt cảnh bạo lực. Chính vì vậy chúng tôi thảo luận về “cuộc chiến của các ý tưởng”.

Cuba cũng tin tưởng vào cái gọi là “giáo dục đại chúng”, một sụ nâng cao về mức độ kiến thức, giáo dục và văn hóa cho mỗi người dân. Một kiểu xã hội hóa kiến thức mà kiến thức thì bao giờ cũng rất tốt, đúng không?

Phải mất rất nhiều thời gian chúng tôi mới phát hiện ra điều này: Rất nhiều người cho rằng tiền mới là yếu tố quyết định. Hoàn toàn sai. Mức độ của tri thức, giáo dục trong các tầng lớp xã hội mới là cái quyết định. Hàng chục nghìn người thuộc tầng lớn tư sản hoặc chí ít thì cũng ủng hộ nó, đã rời Cuba sang Miami. Cách mạng đã đào tạo được khoảng 800 chuyên gia và các nhà trí thức từ các tầng lớp ít có đặc quyền đặc lợi hơn trong xã hội.

Và chúng tôi đã phát hiện ra điều gì? Chúng tôi phát hiện ra rằng những người có kiến thức, có văn hóa nhất trong gia đình thường đi học các trường tốt nhất, bởi vì người ta được nhận vào những trường đó trên cơ sở nền tảng kiến thức vốn có, và họ cũng là những người có vị trí tốt nhất, có được những công việc tốt nhất. Còn những tầng lớp, những thành phần sản sinh ra các nhà lãnh đạo, các nhà quản trị doanh nghiệp, những quan chức chính trị thì có xu hướng tiếp tục duy trì và kế tục truyền thống đó trong khi những gia đình ít được học hành thì tự lo cho bản thân gia đình mình - những đứa trẻ nghèo nhất của những gia đình nghèo, những người bị phân biệt đối xử nhất trong những gia đình bị phân biệt đối xử.

Không phải tôi có ý nói đến sự phân biệt tầng lớp trên khía cạnh kinh tế; tôi đang nói đến sự khác biệt về trình độ học vấn liên quan đến nghèo đói và sự cách ly (so với sự giàu có và truyền thống được học hành). Xây dựng một xã hội mới khó khăn hơn người ta tưởng rất nhiều, bởi vì có rất nhiều việc càn phải làm.

Ở xã hội Xã hội chủ nghĩa như chúng tôi đây, sau rất nhiều năm, khi không còn người mù chữ, khi tất cả người dân đều được học ít nhất là hết lớp 9, vẫn xảy ra hiện tượng những thành phần có đặc quyền đặc lợi hơn chỉ quan tâm đến chính mình, còn những thành phần khác thấp kém hơn thì tự lo cho mình.

Sau năm 1959, chúng tôi thay đổi toàn bộ hệ thống giáo dục. Không còn nạn mù chữ, không còn những trẻ em không được đến trường, nhưng ngay cả ở các trường phổ thông cũng như các trường đại học vốn tiếp nhận học sinh theo hồ sơ học tập và các kỳ thi, vẫn có sự khác biệt giữa các thành phần xã hội, vẫn có thành phàn có nhiều lợi thế hơn các thành phần khác, vẫn có những người da đen, da trắng, những người Tây Ban Nha lai thổ dân Mỹ xuất thân từ những gia đình nghèo khổ nhất trong các gia đình nghèo khổ như trong thời tư bản chủ nghĩa. Mức độ giáo dục của bố mẹ, thậm chí cả khi chúng tôi đã tiến hành cách mạng, vẫn có ảnh hưởng rất lớn đến sự thành đạt của con cái sau này. Những đứa trẻ xuất thân từ gia đình nghèo, bố mẹ ít được học tập thường không đủ tiêu chuẩn được nhận vào học ở các trường tốt nhất. Xu hướng này thường kéo dài đến vài chục năm. Nếu chúng tôi cứ để mọi việc tự nó diễn ra như thế thì con em những gia đình nghèo sẽ không bao giờ có cơ hội được trở thành người lãnh đạo các tập đoàn, trở thành các giám đốc, hay nắm giữ những vị trí quan trọng, bởi vì trong thời đại ngày nay, người ta sẽ không thể quản lý được gì nếu không được học đại học. Những gì chờ đợi họ phía trước chỉ có thể là nhà tù.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM