Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:27:14 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương  (Đọc 39513 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2013, 12:57:19 pm »

Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương
Nhà xuất bản Thanh niên
Năm xuất bản: 1997
 
BÀ MẸ CỦA MƯỜI LIỆT SĨ

(Viết về Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Người mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Rành, dân quân xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh)

I. QUÊ HƯƠNG:
 
Tại ấp Phước Hòa, xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi có một người mẹ sinh được mười người con (tám trai và hai gái). Tám con trai và hai cháu trai của mẹ (một cháu nội, một cháu ngoại) đã lần lượt hi sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Dáng người mẹ dong dỏng cao, vầng trán rộng, mắt to, vành tai lớn; khuôn mặt vuông vắn, nhân hậu, đầy những nếp nhăn, ghi dấu cuộc đời khổ cực. Bà con ở xã trìu mến đặt cho má nhiều tên: Má Tám Trầu (vì má hay ăn trầu), bà mẹ đất Thép, bà má Dũng sĩ. Tháng 12 năm 1977, tại Đại hội đại biểu những gia đình thương binh, liệt sĩ họp ở Hà Nội, má lại thêm một cái tên khác: Bà mẹ anh hùng.
 
Tên thật của Má là Nguyễn Thị Rành, sinh năm 1900. Má không nhớ rõ ngày tháng sinh. Hồi còn con gái má được nghe mẹ mình kể lại: Gia đình ta ở xóm Đìa, sát bờ sông Sài Gòn. Dạo ấy đang mùa mưa, nước sông Sài Gòn lên cao. Mẹ chuyển dạ đẻ con vào lúc nửa đêm. Bà con bơi thuyền qua bên kia sông rước bà mụ. Bà mụ đến nhà thì thấy con đã nằm trong chiếc thúng. Bà mụ lẹ làng đến giúp, bà khen: Ồ, năm nay má sinh được con gái là quý lắm rồi đó. Đặt tên cháu là gì nào?
 
- Dạ, quê tôi có phong tục bao giờ cũng nhờ bà mụ đặt tên cho con mình. Vậy, xin bà cho cháu một cái tên.
 
Bà mụ nói:
 
- Anh chị có lòng nhờ, tôi không dám từ chối. Con nhỏ này trông kháu khỉnh lắm. Tôi chọn cho cháu cái tên là Rành. Chữ Rành có nghĩa là thông minh, giỏi giang, cần mẫn.
 
Rành lớn lên ở xóm Đài. Xóm Đìa ngày xưa vẻn vẹn có khoảng mười nóc nhà. Những gia đình nghèo nhất mới đến đây lập nghiệp. Họ làm nghề câu cá, bắt tôm, hay đi mót lúa. Vì cùng cảnh nghèo nên cả mười gia đình ấy thương yêu đùm bọc nhau như anh em ruột thịt. Xóm giềng kính nể gọi ba mà của Rành là anh Hai, chị Hai.
 
Dòng sông Sài Gòn hiền hóa, khi nước ngả màu nâu là màu cá và khi nước đã pha màu bạc là mùa tôm. Bà con xóm Đìa có kinh nghiệm làm ăn như vậy. Rành thích theo ba đi bắt tôm. Mẻ tôm đầu tiên bao giời ba cũng chọn những con tôm to nhất bỏ vô bếp than bừng, nướng rồi bóc vỏ, chấm muối tiêu cho Rành ăn, ngọt lịm.
 
Khi Rành biết đi chợ chiều ngoài xóm Giữa bán mớ cá vụn, biết chọn mua cho ba vài rê thuốc ngon, mua cho má vài quả cau tươi cũng là thời gian ba bỏ nhà đi.
 
Bà con xóm Đìa không ai biết anh Hai đi đâu, nhưng họ tin rằng từ xưa đến giờ anh Hai làm việc gì cũng đúng. Anh Hai ra đi để làm việc có ích cho làng, cho nước như anh Hai vẫn thường nói với họ. Bà con coi việc giúp đỡ gia đình chị Hai là bổn phận của mọi nhà. Mẹ con Rành sống trong tình thương yêu của cả xóm Đài.
 
Những lần anh Hai bất chợt trở về, thường có hai người bạn cùng trạc tuổi đi theo. Đêm đêm, độ gà gáy canh một, ba người bơi thuyền ra giữa sông giả vờ câu cá để bàn bạc những việc gì có vẻ hệ trọng lắm. Gần sáng họ mới về nhà.
 
Anh Hai nói với vợ:
 
- Mình về nhà, ráng làm lụng nuôi mấy đứa con. Thiếu thốn gì thì nhờ bà con xóm giềng giúp đỡ. Quê hương mình từ trước tới giờ vẫn giữ được tập quán lá lành đùm lá rách. Nên dầu có đi xa, tôi cũng yên tâm. Bây giờ tôi có việc riêng. Việc của tôi là việc của làng, của nước có thể lúc này mình chưa hiểu được, nhưng sau này mình sẽ hiểu.
 
Sau lần gặp ấy, anh Hai đi mãi, đi mãi không thấy trở về làng nữa. Chị Hai thương anh mòn mỏi, héo hon. Cả xóm Đìa nhớ anh. Đêm đến, xóm Đìa vắng lặng. Gió chướng từ sông Sài Gòn thổi về luồn qua khe cửa sổ phả hơi nước bạc vào nhà. Rành thao thức lắng tai nghe tiếng gõ be thuyền của những người đánh cá ngoài sông như trước đây cô vẫn thường lắng nghe, để tìm xem đâu là tiếng gõ của ba mình. Rành rùng mình choàng tay ôm chặt cổ má, hỏi:
 
- Má ơi, chừng nào ba về hả má?
 
Má vuốt nhẹ mái tóc của Rành, nói trong vị mặn của nước mắt:
 
- Thế nào rồi ba cũng về, con ạ!
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #1 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2013, 12:57:48 pm »

Một hôm, một trong hai người bạn của anh Hai trở về báo tin cho gia đình Rành: Anh Hại bị bọn mật thám Tây bắt bỏ tù. Chị Hai như người mất hồn, sinh bệnh. Bà con xóm Đìa bây giờ càng hiểu ý nghĩa việc ra đi của anh Hai, họ càng yêu mến, hết lòng giúp đỡ gia đình anh chị.
 
Rành chưa hiểu được vì sao ba mình lại bỏ nhà ra đi, vì sao bọn mật thám Tây lại bắt ba bỏ tù. Nhưng qua tấm lòng cao cả của bà con xóm Đìa đối với gia đình, từ việc nhà này cho thúng gạo, nhà khác cho thước vải, đêm hôm tắt lửa, tối đèn lúc nào cũng có người đến hỏi ham chăm sóc, Rành mường tượng được rằng việc ba mình ra đi làm việc gì đó là có liên quan, gắn bó với các gia đình nghèo khổ nhất ở xóm Đìa này.
 
Rành biết rằng hai người bạn của ba mấy lần trước cùng về đây đều rất tốt. Các bác ấy nói rằng nhà các bác ấy ở xa lắm, ngoài Bắc cơ. Ngoài Bắc là ở đây nhỉ? Có một đêm đi bắt tôm, có một bác cao lớn, có bộ râu quai nón chỉ tay về hướng chóm sao bắc đẩu nói với Rành, nhà bác ở phía đó. Bác cũng có một đứa con gái út bằng độ tuổi với Rành. Còn bác người gầy gầy, mắt to ve sáng, lúc nào cũng đeo kính trắng, nói rằng nhà bác ấy cũng ở cạnh một dòng sông, quanh năm đỏ ngầu phù sa. Bây giờ thì ba và bác có râu quai nón đều bị Tây bắt bỏ tù.
 
Đêm đêm, Rành theo má đi bắt tôm. Nhìn chòm sao bắc đẩu lấp loáng tên mặt nước, Rành lại nhớ đến bác có bộ râu quai nón, trông bề ngoài có vẻ dữ tợn mà lại hiền khô. Người con gái út của bác tên gì nhỉ, bạn ấy đã biết ba của bạn bị bọn Tây bắt chưa? Rành tự hỏi.
 
Vào mùa mưa, nước sông Sài Gòn dâng cao, nhận chìm màu cây xanh biếc ven bờ, giữa dòng cuồn cuộn lớp sóng trắng mênh mông. Chị Hai lâm bệnh nặng. Rành đã bơi được thuyền qua bên kia sông lấy thuốc về cho má. Cuối mùa đông năm ấy chị Hai qua đời. Rành khóc hết nước mắt, mắt sưng lên.
 
Giáp Tết năm ấy, tên Lí Hoạnh, ở xóm Giữa chống ba-toong đến nhà Rành. Đi theo sau nó có có hai thằng lính. Lí Hoạnh nói ngọt như mía lùi:
 
- Rành, ba má mày còn một món nợ với tao khá lớn. Mày còn nhỏ, tao có nói cái khoản nợ ấy là bao nhiêu, mày cũng không thể nào trả nổi. Tao thấy mày đơn chiếc quá, tao đến đây để dẫn mày về nhà tao mà ở. Công việc hằng ngày của mày chỉ có quét nhà, quét sân và rửa bát thôi.
 
Rành bưng mặt khóc. Hai thằng lính đến xóc nách kéo rành lôi đi. Năm ấy Rành 14 tuổi.
 
Nhà Lí Hoạnh có bốn người ở gồm hai nữ, hai nam. Một ông giáo còn trẻ, hằng ngày dạy học cho lũ con của Lí Hoạnh. Bốn người ở làm việc quần quật suốt ngày. Sáng, họ nhịn đói, xế chiều mới ăn được miếng cơm trưa, nửa đêm mới ăn được miếng cơm tố. Rành phải làm đủ mọi việc như xay lúa, giã gạo, chăn bò, nuôi heo, lau nhà, giặt giũ áo quần cho lũ con Lí Hoạnh. Rành cũng bị đòn roi không kém những người khác. Riêng Rành, đêm đêm còn phải đấm bót cho vợ Lí Hoạnh. Vợ Lí Hoạnh nói rằng, đôi tay của Rành mềm mại, đấm bóp mới êm. Mùa nắng, Rành phải quạt cho mụ suốt đêm. Có lần buồn ngủ quá, Rành làm rơi quạt xuống giường, mụ chồm dậy, tát lấy, tát để vào mặt làm Rành chảy máu mũi, máu miệng, mụ vẫn chưa thôi. Lời nói của mụ cũng ồm ồm hợp với thân hình phì nộn của mụ. ở trong cái dinh cơ này, mụ nắm quyền hành. Nếu so sánh bề ngoài, lão Lí Hoạnh như con nhái bén, thì mụ là cái cột đình.
 
Mỗi lần Rành bị đánh như vậy, mấy người ở như Rành đều phải chạy xa, không dám đến cứ. Thương nhau thì đành để bụng, chứ đứng gần, nhất định sẽ bị đòn lây. Duy chỉ có ông giáo trẻ tên là Nguyễn Văn Cầm dán đến can ngăn, không cho mụ đánh Rành nữa. Mụ buộc phải dừng tay, nhưng cơn thịnh nộ vẫn chưa chịu lùi, nên lỗ mũi của mụ đỏ như quả cà chua chính, hai gò má bự thịt của mụ giật lên giật xuống như hai mang cá mè bị nắng. Mụ khoa chân, múa tay rồi nghiến răng ken két, nói:
 
- Tao là tao nể thầy Cầm, đành để cho mày yên. Mày liệu cái thần hồn của mày đấy. Mày ở đây suốt đời cũng chưa trả hết nợ tao đâu.
 
Rành thầm cảm ơn thầy Cầm, người duy nhất ở trong cái hang cọp này dám đứng ra che chở cho Rành. Nói đúng hơn là thầy đã bênh vực cho tất cả những người đến làm thuê, làm mướn trong cái dinh cơ này.
 
Thời gian trôi nhanh như những tán mây mùa mưa, lúc ùn ùn éo đến đen kịt, sà xuống như sắp giội nước lên những mái nhà xiêu vẹo ở xóm Đìa, lúc đột ngột kéo đi để lại một vùng trời thoáng đang, cao rộng. Mới ngày nào đó, Rành thẫn thờ xách chiếc bị rách đi giữa hai tên lính đến nhà Lí Hoạnh mà hôm nay có đã tròn 18 tuổi rồi. Những gì đau khổ, cay đắng, buồn vui, tủi nhục, với bốn năm sống cơ cực trong nhà Lí Hoạnh, đã làm cho Rành suy nghĩ rất nhiều về sự bất công của xã hội. Nhưng Rành chưa cắt nghĩa được vì sao có sự bất công ấy. Có cũng như bao người khác đành cam chịu chữ số phận. Số phận là của trời
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #2 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2013, 12:58:23 pm »

Những năm tháng sống cuộc đời tăm tối ấy, thầy Cầm đến với Rành. Thầy giảng giải vì sao thực dân Pháp sang đây cướp nước ta, vì sao có bọn địa chủ phong kiến, quan lại, vì sao có người giàu sang như nhà Lí Hoạnh, người lại nghèo xác nghèo xơ như bà con xóm Đìa. Con người sinh ra cần phải được tự do và được hưởng quyền ấm no, hạnh phúc. Không bao giờ có số phận giành cho lớp người này được sung sướng, cho lớp người kia làm nô lệ, như Rành nghĩ.
 
Nghe những lời thầy Cầm nói, Rành thấy như mình đang đi trong đêm tối chưa tìm ra phương hướng, bỗng có người cầm đuốc dẫn đường.
 
Đêm đêm, trong giấc ngủ nửa tỉnh nửa mê của mình, Rành như nghe rõ những tiếng nói thủ thỉ, ấm áp của thầy Cầm. Hình ảnh thầy Cầm trong những lần giúp Rành thoát khỏi đòn roi của mụ Lí Hoạnh, những lần thầy lấy khăn lau máu trên mặt Rành, những lần thầy gạt nước mắt khi biết Rành bị mụ Lí Hoành phạt bỏ đói, lại hiện ra. Những đêm như vậy lòng Rành cảm thấy xốn xang. Nhưng những tìm cảm đẹp đẽ ấy lập tức tan biến, vì đối với Rành, thầy Cầm là một ân nhân, là một con người cao thượng, vừa gần gũi, vừa rất xa xăm khó với.
 
Từ ngày Rành về làm người ở trong nhà Lí Hoạnh, thầy Cầm cảm thấy vui vui, càng về sau lòng thầy càng xáo động bởi những ước mơ vừa chân thành, vừa táo bạo. Thầy nhận ra ở Rành là một cô gái xinh xắn, nết na, hiền dịu, giỏi giang và cương nghị. Thầy có một tình thương thầm kín đối với Rành đến nỗi chính thầy cũng không hiểu được tình cảm ấy có từ lúc nào.
 
Đã từ lâu, thầy Cầm không thấy thích thú gì với cái nghề dạy tư cho con cái bọn địa chủ. Đây cũng chỉ là cái nghề làm mướn kiếm cơm ăn. Vợ chồng Lí Hoạnh bề ngoài làm ra điệu bộ như quý trọng thầy, vì lũ con nhà nó dốt nát, chúng có mở mang hiểu biết ra được chút nào là trông cậy vào công lao dạy bảo của thầy. Kí thực thì bọn chúng nó xem thầy cũng như những người ở mướn làm thuê.
 
Thầy Cầm không muốn kéo dài thời gian kém dạy lũ trẻ ở nhà Lí Hoạnh nữa. Nhưng vì cảm tình của thầy đối với Rành làm thầy cứ băn khoăn, dùng dằng khó dứt. Trải qua nhiều đêm không ngủ, đắn đo, suy nghĩ mãi, thầy quyết định phải nói rõ với Rành.
 
Một buổi sớm, nhân lúc vợ chồng Lí Hoạnh đi ăn giỗ ở làng trên, những người ở khác lo mỗi người mỗi việc, chỉ còn một mình Rành ngồi nấu cám heo, thầy Cầm đến gần nói:
 
- Em định làm đầy tớ mãi cho nhày này sao?
 
Bị hỏi đột ngột, nghĩ lại những năm tháng cơ cực ở đây, Rành nghẹn ngào không trả lời, nước mắt kéo dài trên đôi má ửng hồng vì lửa nóng, khiến thầy Cầm cảm thấy mình luống cuống. Nhưng rồi thầy giữ được bình tĩnh lại ngay. Thầy nói giọng run run:
 
- Rành ạ, tôi thương Rành. Tôi mong Rành đừng phụ lòng tôi. Nếu Rành cũng thương tôi, tôi sẽ đưa Rành đi nơi khác ở. Hay tôi sẽ đưa Rành về nhà tôi.
 
Rành chùi nước mắt ằng ống tay áo. Cô để thêm mấy que củi vào bếp. Bếp lửa cháy bùng lên, ánh lửa xanh, hồng quyện vào nhau. Lòng Rành xao xuyến dữ dội. Rành nói ngập ngừng.:
 
- Thầy thương em nghèo khổ thì thầy nói vậy, chớ… em đi… với thầy đâu có xứng.
 
- Rành ơi, tôi được học hành chút ít, nhưng thời buổi này có chữ, có nghĩa cũng chẳng làm gì được đâu. Người ta mua quan bán chức mà. Nhà tôi cũng nghèo lắm. Học được ít chữ một phần vì tôi là con một, một phần vì ba má tôi từ hồi còn nhỏ cũng là người rất hiếu học. Ông, bà thường nói: “Phải học để biết làng, biết nước, biết đông, biết tây, biết thù, biết bạn, để khỏi bị người ta đè nén…”. Thế mà rồi học xong tôi lại phải chui vào cái dinh cơ này để dạy thuê. Tôi cũng là một người làm mướn thôi Rành ạ. Người nghèo như nhau nên mình dễ gần gũi, thương yêu nhau. Rành đừng coi tôi là hạng người quyền quý. Rành thương tôi, tôi sẽ lấy Rành làm vợ. Mình sẽ đi khỏi nơi này. Rành tin tôi đi, tôi đã suy nghĩ nhiều lắm rồi.
 
Thầy Cầm muốn nói nữa, nói mãi, muốn trút cả tấm lòng yêu thương chân thành của mình đến với Rành. Định không nói rõ ràng như thế, nhưng khi nói, thầy Cầm không ghìm được lòng mình. Vì tình yêu đối với Rành khiến thầy can đảm vượt qua những e thẹn ban đầu.
 
Ánh sáng buổi sớm mỗi lúc càng thêm rực rỡ. Thầy Cầm trìu mến nhìn Rành, lòng bồn chồn khó tá. Rành cúi gầm mặt tì má lên hai đầu gối, tay phải di di hòn than vẽ những đường ngoằn ngoèo trên nền đất. Hai người im lặng một lúc, rồi Rành ngẩng mặt lên, nói ngập ngừng:
 
- Em còn khờ dại, thầy thương em thầy bảo sao em nghe lời thầy vậy.
 
Mấy tháng sau đó, một dịp may hiếm có xảy ra: lão Lí Hoạnh tự nhiên lăn đùng ra chết. Dân làng bảo rằng: Tại vì lão ta ác quá nên trời tru đất diệt. Lão ta chết, nên mụ vợ dù có vênh váo đến mấy cũng phải xuống thế. Nhân cơ hội đó, thầy Cầm đưa Rành rời khỏi nhà mụ Lí Hoạnh.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #3 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2013, 12:58:53 pm »

II. NGƯỜI CẦM CỜ ĐỎ BÚA LIỀM TRÊN NGỌN CÂY ĐIỆP
 
Rành về làm dâu gia đình thầy Cầm ở ấp Phước Hòa. Bà con xóm giềng đều khen ngợi. Vợ thầy Cầm đẹp người đẹp nết. Thầy Cầm tiếp tục làm nghề dạy học. Nhưng Thầy không dạy cho con cái của bọ nhà giàu nữa. Con em nhà nghèo đến học ở nhà thầy rất đông. Gia đình các em, người có tiền góp tiền, người có gạo góp gạo cho thầy. Nhà ai nghèo quá thầy không nhận tiền mà chỉ dạy giùm con em họ. Rành vừa lo làm mấy sào ruộng nhà, vừa lo làm mướn, lúc được mùa, thu hoạch khoảng sáu bảy chục giạ lúa. Năm mất mùa cũng được bốn, năm chục giạ, gọi là đủ ăn, đủ mặc.
 
Thầy Cầm sống ấm cúng, hạnh phúc bên Rành. Mấy con trai và gái của thầy Cầm và Rành là Nguyễn Văn Đúng, Nguyễn Thị Săn, Nguyễn Văn Sóc, Nguyễn Thị Lệ, Nguyễn Văn Dé lần lượt ra đời.
 
Dịp hè năm 1941, thầy Cầm nói với học trò:
 
- Sau tháng nghỉ hè này, các em sẽ nghỉ học luôn. Con nào muốn học tiếp thì tìm thầy khác mà học. Từ nay thầy nghỉ, không dạy nữa.
 
Mây chục học trò không đứa nào cầm được nước mắt. Có đứa khóc to lên:
 
- Thưa thầy tụi con chỉ học thầy thôi ạ. Thầy đừng bỏ tụi con.
 
Hết hè năm đó, lũ học trò như thường lệ, vẫn cắp sách đến nhà thầy. Nhưng thầy Cầm không còn ở nhà. Rành nói với chúng nói:
 
- Thầy Cầm đã nói với các con rồi là thầy sẽ không dạy nữa. Sao các con vẫn đến đây. Bây giờ thầy đã đi xa lắm rồi.
 
- Dựa thưa, thầy đi đâu ạ?
 
- Cô cũng không biết nữa.
 
Chúng nó đi thất vọng, lặng lẽ ra về.
 
Trước khi “đi xa”, thầy Cầm bàn bạc với vợ:
 
- Tôi có một số bạn thân thiết ở miền Long Xuyên. Nghe nói tình hình dưới đó có nhiều chuyện không ổn, tôi đi thăm bạn bè xem họ làm ăn sinh sống ra sao. Tôi đi có thể hơi lâu đó, mình ở nhà cố gắng là lụng nuôi con. Ở Long Xuyên chắc là tôi sẽ tiếp tục dạy học, rồi tôi sẽ đem tiền về cho mình thôi mà.
 
Thực ra mấy tháng trước đi Sài Gòn gặp hai người bạn cũ đang tham gia hoạt động bí mật, thầy Cầm sung sướng vô cùng. Thầy quyết định thôi dạy học để đi làm hội kín với các bạn.
 
Thầy Cầm đi qua những vùng đất mà cuộc khởi nghĩa Nam Kì đã diễn ra.
 
Thầy Cầm gặp được những chiến sĩ cách mạng vừa vượt ngục Côn Đảo về hoặc vừa thoát khỏi khám Chí Hòa. Thầy được giác ngộ thêm, ngày càng hăng hái bước vào cuộc chiến đấu.
 
Một năm vài ba lần, thầy Cầm trở về nhà với thân hình gầy guộc, nước da xanh xao. Rành khóc hết nước mắt, bán những gì có trong nhà từ con heo, con gà đến buồng cau, nải chuối, để có tiền thuốc thang, chăm sóc sức khỏe cho chồng. Khỏe rồi, thầy Cầm lại ra đi. Một mình Rành phải lo toan cuộc sống cho cả một đàn con nhỏ. Nhưng Rành không ngại. Nghĩ lại hồi thời ba đi hoạt động rồi biệt tăm để má một mình ở lại xóm Đìa, Rành rùng mình lo âu.
 
Sau này Rành mạnh dạn hỏi chồng:
 
- Mình đi đâu mà khổ cực vậy?
 
Hiểu vợ sâu sắc hơn ai hết, biết Rành là người mang nặng mối thù giai cấp và rất giàu nghị lực, thầy Cầm tìm cách giảng giải mỗi ngày một ít để vợ mình hiểu về cách mạng. Lần này, thầy thấy cần phải nói thật rõ ràng hơn:
 
- Mình đừng giận cho rằng trước đây tôi nói dối. Mấy năm nay tôi đi làm cách mạng đó.
 
- Cách mạng là gì, mình nói rõ hơn cho tôi biết.
 
- Cái chữ ấy nghĩ rộng lắm. Nhưng nói tóm tắt cách mạng là làm sao cho đông đảo dân mình phải đồng tâm, hiệp lực đánh đuổi thực dân Pháp, lật đổ bọn địa chủ phong kiến, để xã hội không còn người bóc lột, ai cũng được no ấm.
 
Cũng như trước đây, lúc hai người còn ở nhà Lí Hoạnh, thầy Cầm từng giảng giải cho Rành biết vì sao bọn địa chủ phong kiến lại đè đầu cưỡi cổ dân ta. Lần này, thầy lại nói làm cách mạng là để đánh đổ bọn áp bức, bóc lột. Ôi, những lời nói của chồng thật mộc mạc, rõ ràng. Rành tự thấy mình phải cùng chồng gánh vác, hoặc ít ra cũng giúp chồng, tạo điều kiện cho chồng yên tâm làm cách mạng. Rành nghĩ, giá như mình còn con gái nhất định mình cũng đi làm cách mạng.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #4 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2013, 12:59:47 pm »

Một hôm khác, thầy Cầm lại giảng giải cho vợ biết thêm Cách mạng có nhiều việc, việc lớn như tổ chức lực lượng, tuyên truyền giác ngộ quần chúng, việc nhỏ như giúp đỡ, bảo vệ cán bộ cách mạng, rải truyền đơn… đều quan trọng cả. Ai cũng làm được cách mạng nếu người đó có lòng yêu nước, căm thù giặc.
 
Cứ như vậy, thầy Cầm làm cho vợ hiểu dần. Những băn khoăn lo lắng ba đầu của Rành ngày càng lắng xuống. Rành càng thương chồng hơn.
 
Sau đó, vào những tháng đầu năm 1945, thầy Cầm đi biền biệt. Bỗng một đêm trời mưa tầm tã, Rành thao thức nghe tiếng cuốc gọi ngoài đồng, chợt có thầy Cầm từ mé vườn sau gọi giật giọng:
 
- Mình ơi! Mình!
 
Rành nhận ra tiếng quen thuộc ấy, bật dậy như chiếc lò xo bị nén. Rành lấy diêm quẹt châm đèn, rồi nhẹ nhàng mở cửa.
 
- Trời, mình ướt sũng hết, chết lạnh bây giờ.
 
Rành lật đật lấy áo quần cho chồng thay, và dọn cơm.
 
Rành lật đật lấy áo quần cho chồng thay, vào dọn cơm.
 
- Thủng thẳng rồi ăn cũng được, tôi chưa đói lắm đâu. Mình giúp tôi việc này đã.
 
Thầy Cầm kéo vạt áo trước, rút ra một gói giấy to bằng bắp chân, cuộn chặt, lớp ngoài ướt hết. Thầy ghé sát miệng vào tai vợ, nói qua hơi thở:
 
- Truyền đơn của cách mạng kêu gọi toàn dân khởi nghĩa cướp chính quyền đó. Mình nhóm lửa lên hơ giúp. Tất cả là ba trăm tờ, đứng làm cháy tờ nào nhé.
 
Thầy Cầm ngồi xuống giượng, lùa vội mấy chén cơm rồi cùng vợ hơ khô số truyền đơn còn lại.
 
Gà gáy canh ba. Trời đã tạnh mưa. Một vài ngôi sao lấp lánh trên nền trời. Rành giục chồng:
 
- Mình ngả lưng một chút đi kẻo lạnh đó.
 
- Tôi phải đi ngay trước sáng, công việc như nước đến chân rồi, anh em đang chờ. Vài ngày nữa, chắc tình hình chộn rộn lắm. Cách mạng sẽ rổ ra, mình biết không. Kẻ thù đang tìm cách đàn áp, khủng bố, nhưng trước sau gì đằng mình cũng thắng thôi. Tôi muốn nhờ mình giúp một việc nhé, không biết mình có làm được không?
 
Lâu này hằng mơ ước được làm một nhiệm vụ gì đó, thật cụ thể để giúp chồng, nên khi nghe chồng nói như vậy Rành sung sướng, trả lời ngay:
 
- Mình tin tôi. Mình giao việc gì tôi cũng làm được.
 
Thầy Cầm đắn đo:
 
- Việc này phức tạp lắm, lỡ xảy ra chuyện gì ai nuôi “bầy” con. Tôi định giao cho thằng Đúng.
 
- Thằng Đúng tuy lớn rồi, nhưng còn dại lắm. Bạn bè nó đông, nếu lỡ mồm lỡ miệng, có khi chưa làm đã hỏng việc.
 
Nghe vợ nói có lí, thầy Cầm yên tâm.
 
Thầy lấy trong ngực áo ra một vuông vải đỏ, chiều dài hơn một mét, chiều rộng khoảng tám mươi phân, chính giữa có hình cái búa và cái liềm màu vàng xếp chéo nhau. Lần đầu tiên Rành được trông thấy lá cờ như vậy. Thầy Cầm giải thích cho vợ hiểu:
 
- Đây là cờ cách mạng. Màu đỏ là màu tranh đấu, búa là hình ảnh giai cấp công nhân, liềm là tượng trưng cho giai cấp nông dân, búa liềm giao nhau là tiêu biểu cho sức mạnh đoàn kết công nông.
 
Ôi lá cờ cách mạng. Rành sung sướng ôm lá cờ và lòng.
 
Thầy Cầm nói giọng chậm rãi:
 
- Đêm mai, hoặc chậm lắm là đêm mốt sẽ có một cuộc biến động lớn (Thầy Cầm không dùng chữ khởi nghĩa, e vợ không hiểu). Đó là cách mạng đã về. Chừng nào mình nghe tiếng súng lớn, súng nhỏ ở Sài Gòn và các vùng ven nổ liên hồi, thì mình đem lá cờ này treo lên ngọn cây điệp lớn ở ngã ba, sát đường quốc lộ đó.
 
- Mình yên tâm. Tôi làm được mà. Mình không nhớ hồi còn ở nhà Lí Hoạnh tôi đã trèo cau đó sao.
 
- Công việc coi vậy mà khó lắm đó. Khi làm, mình chú ý đừng để ai trông thấy. Những ngày đó tôi bận không về được. Nếu có chuyện gì xảy ra, mình tự lo liệu là chính. Nói vậy chớ tôi đã nhờ chú Ba Phi chú ý giúp đỡ nữa đó. Chú Ba Phi là người cách mạng mà.
 
Tây nâng lá cờ, mắt nhìn chồng đăm đăm, Rành nói nhỏ, môi rung rung vì xúc động:
 
- Mình ra đi nhớ hết sức cẩn thận nhé! Nhất định tôi sẽ treo được lá cờ này lên ngọn cây điệp lớn như mình muốn.
 
Thầy Cầm gật đầu, nhét gói truyền đơn vào bên hông, phủ áo ra ngoài, bước ra sân. Bóng thầy khuất sau hàng dâm bụt. Trời vẫn tối, vài hạt mưa nhỏ lách tách trên ngọn xoài.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #5 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2013, 01:00:27 pm »

Sáng hôm sau Rành xách rựa dạo qua bốn khóm tre mới tìm được một cây tre đực von von cỡ ba thước để làm cán cờ.
 
Hai đêm trôi qua yên ắng, không có động tĩnh gì. Rành trằn trọc, thỉnh thoảng lại ngồi dậy mở lá cờ ra xem. Đầu óc Rành căng thẳng. Hay là cách mạng thất bại rồi?
 
Đêm thứ ba, sao hôm vừa lặn một lúc, cả ấp Phước Hòa bông náo động lên vì lời bán tán xôn xao của các bà, các chị đi buôn bán ở Sài Gòn chạy về.
 
- Quân cách mạng đã về Sài Gòn!
 
- Việt Minh đã nổi lên cướp chính quyền ở dưới đó rồi.
 
- Sài Gòn đánh nhau to lắm, súng lớn súng nhỏ nổ liên hồi.
 
- Cờ đỏ búa liềm nhiều ơi là nhiều, chỗ nào cũng có. Bà con các vùng Hóc Môn, Bà Quẹo, Bình Chánh tay giáo, tay mác, gộc tiến về thành phố như nước vỡ bờ.
 
Nghe bà con bàn tán lòng Rành như mở cờ trong bụng. Rành trèo lên cây ổi nhìn về hướng Sài Gòn thấy có những đám cháy lớn, những vệt đạn lửa vút lên trờ, và nhiều tiếng nổ vọng về.
 
Càng về khuya, tin Sài Gòn khởi nghĩa dội về Củ Chi càng dữ. Rành tắt đèn, giục mấy con đi ngủ. Chúng nó vào giường gần hết, chỉ còn thiếu thằng Đúng. Thằng Đúng lớn rồi, nó biết đường tên mũi đạn nó tránh, không lo lắm. Rành nghĩ như vậy và chuẩn bị sẵn sàng đi làm nhiệm vụ mà thầy Cầm đã giao.
 
Giữa đêm. Sao đầy trời. Chợ Củ Chi tối om. Tiếng trống, tiếng mỏ thôi thúc. Ánh đuốc bừng sáng từ Phú Hòa Đông sang Phú Hòa Tây, đến An Nhơn, An Phú. Cả xã Phước Hiệp không ai ngủ. Ai cũng náo nức chờ đón cách mạng về.
 
Giờ hành động đã đến. Rành giấu lá cờ vào ngực, một tay xách cán cờ, tay cầm con dao phay. Rành không đi theo con đường chính mà lội ruộng, rồi cắt ngang qua mấy khu giồng và bãi tha ma.
 
Cây điệp đây rồi. Cây điệp không biết sống đã bao năm, chỉ biết rằng khi lớn lên Rành đã thấy tán của nó cao lớn một vùng với lớp vỏ xù xì nhăn nhúm. Mỗi lần qua lại Rành thường dừng dưới gốc, nghỉ chân. Mùa hoa điệp Rành thường trèo lên bẻ những nhánh hoa tươi đỏ thắm nhất đem về bày chơi với chúng bạn. Cây điệp đối với Rành quen thuộc lạ thường. Có phải nó muốn căn dặn Rành rằng: Trước đây cô trèo lên cây điệp là để hái hoa. Bây giờ cô leo lên để cắm lá cờ cách mạng. Lá cờ sẽ cổ vũ bà con Củ Chi đứng lên cướp chính quyền. Lá cờ cách mạng là hình ảnh của ấm no và hạnh phúc. Lần trèo lên cây điệp hôm nay khác xưa nhiều. Nó thiêng liêng lắm. Khi lòng người thấy được điều đó thì cảnh vật tự nhiên cũng biến hóa theo lòng người. Cây điệp nó nghiêm nghị là vậy. Đứng bên gốc điệp, Rành nghĩ miên man.

Rành xỏ ngọn tre đực vào lá cờ, buộc chặt hai đầu, rồi quan sát xung quanh một lượt trước khi trèo. Với động tác nhanh nhẹn, loáng một cái Rành đã buộc xong cán cờ trên ngọn cây điệp. Rành đứng lên một chạc cây, lắc lắc cán cờ trên ngọn cây điệp, coi lại thật chắc chắn rồi mới tụt xuống.
 
Rành về tới nhà, sao mai lấp ló trên ngọn dứa dại ngoài bờ mương, Rành đi rửa tay chân, thay áo quần rồi vào bàn thờ đốt đèn, thắp ba nén hương, miệng lẩm bẩm cầu khấn cho cách mạng thành công, khởi nghĩa thắng lợi.
 
Trời sáng rõ. Ánh nắng mùa thu trải vàng trên cánh đồng Củ Chi lúa đang thì con gái. Bà con đổ ra ngõ, ra đồng hướng về cây điệp hả hê hoan hô lá cờ cách mạng. Khắp các xã An Nhơn, An Phú, Đức Lập, chợ Củ Chi đều có cách mạng cách mạng. Nhưng bà con xã Phước Hiệp về lá cờ ở xã mình hơn. Vì nó bay phất phới trên ngọn cây điệp một cách ngạo nghễ trước sự run sợ của kẻ thù.
 
Mặt trời đứng bóng. Chú Ba Phi đến nhà Rành. Chú mặc bộ đồ bà ba đen, quần xắn ống cao, ống thấp, vai khoác cây súng “mát”. Đi sau chú là một cậu thanh niên mang một thanh kiếm dài. Cậu này trông giống thằng Đúng? Rồi, thằng Đúng nhà này chứ còn ai. Rành phấn khởi nước mắt chực rơi. Vừa bước tới sân, chú Ba Phi đã nói oang oang:
 
- Thắng lợi rồi. Cách mạng đã thắng lợi rồi. Chú đến đây để hoan hô cháu Rành đã dũng cảm làm tròn nhiệm vụ. Nhân tiện cũng nói cho cháu biết, thằng bé này khá lắm, khá lắm – chú Ba Phi vỗ vai Đúng cười hà hà – Rõ là giống nào khoai đó. Nó giống ba má nó cái tính gan dạ.
 
- Thưa chú còn nhà cháu thế nào?
 
- Cầm hả? Nó đang làm phận sự. Nó là người có học. Chữ nghĩa của nó là vốn quý của cách mạng nên lúc này nó rất bận rộn.
 
- Mời chú vào nhà uống nước!
 
- Chú đến thăm một chút cho cháu yên tâm, chứ cũng đang bận trăm công nghìn việc.
 
Quay sang phía Đúng, chú nói:
 
- Thằng Đúng có ở nhà thì ở lại với má vài giờ, chiều đi làm tiếp nhiệm vụ với ông.
 
- Dạ, cháu xin đi luôn với ông Ba.
 
Sợ má giận, Đúng nhìn má phân bua:
 
- Má ạ, ông Ba bây giờ là Chủ tịch xã mình đó. Con có nhiệm vụ bảo vệ ông Ba.
 
Đó là những ngày cách mạng mùa thu năm 1945.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #6 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2013, 01:00:53 pm »

III. PHẢI CƯỚP SÚNG ĐỊCH DIỆT ĐỊCH CON Ạ!
 
Năm 1946, Nguyễn Văn Đúng được chánh quyền cách mạng xã Phước Hiệp giao nhiệm vụ giữ chức xã đội trưởng. Rành tuy mới tròn 45 tuổi, nhưng vì khổ cực từ tấm bé, mái tóc điểm bạc, làm cho người già đi, ai cũng cớ ngỡ là Rành đã ngoài 50. Chánh quyền cách mạng xã phân công Rành làm hội trưởng Hội mẹ chiến sĩ. Từ đó, mọi người đều gọi Rành là Má Tám.
 
Má Tám nói với đồng chí Chủ tịch xã:
 
 - Ông Ba nghĩ thế nào mà phân công thằng Đúng nhà tôi làm xã đội trưởng?
 
- Cô cho rằng nó không làm được hả?
 
- Nó là con tôi, nên tôi biết tính nết của nó mà. Nó lông bông lắm, chả cầm quân được đâu. Làm xã đội trưởng là phải biết địch, biết ta, biết súng đạn, biết tiến, lùi. Thế mới đánh được giặc. Xã ta sát quốc lộ 1, lại ở cạnh chợ Củ Chi, địch từ Sài Gòn càn lên, từ Trảng Bàng kéo xuống, hoặc từ Hóc Môn qua, Đồng Dù lại. Tứ phía đều có địch. Lúc nào địch cũng có thể tràn vào xã được. Tôi e rằng thằng Đúng không làm nổi xã trưởng đâu.
 
Chú Ba cười khà khà:
 
- Những điều cô Tám nói, thằng Đúng có khả năng làm được cả. Mặt nào nó còn yếu thì có chính quyền, có các chú các bác giúp đỡ nó. Cô cũng phải làm “chính ủy” tham mưu cho nó nữa chớ. Tập thể ủy ban xã cân nhắc rồi, thằng Đúng nó có thể làm tròn nhiệm vụ đó. Nhân đây tôi căn dặn thêm cô phải bày vẽ, chỉ bảo cho nó. Nó không làm tốt nhiệm vụ thì cô gánh chịu một phần đó nhen.
 
Đúng làm xã đội trưởng chưa được một tuần thì gặp ngay một trận càn lớn của địch.
 
Hôm ấy, bầy chim chèo bẻo dậy sớm kêu ra rả, báo hiệu một ngày nắng gắt. Mặt trời vừa nhô lên khỏi lũy tre bên kia bờ sông Sài Gòn, thì súng các cỡ của địch ở quốc lộ 1 đã nổ rầm rầm. Bọn địch dùng súng cối 60 li từ xóm Giồng rót liên tục và xã Phước Hiệp. Vài ba nóc nhà bốc cháy.
 
Đúng đang ăn cơm, nghe súng địch nổ, anh liệng bát cơm xuống mâm, quấn vội chiếc khăn rằn lên đầu, chụp khẩu súng “mát” với ba quả lựu đạn tự tạo lao đi.
 
Má Tám gọi với theo:
 
- Đúng ơi! Cẩn thận nghe con!
 
Địch đã vào đến thôn ba rồi thôn bồn. Đi đến đâu chúng cũng cướp bóc, đốt phá đến đó. Nhà cháy, tiếng kêu khóc thảm thiết của bà già, trẻ con, náo động một vùng.
 
Xã đội trưởng Đúng và các chiến sĩ du kích nén căm thù, dàn thế trận. Một phút sau, súng du kích bắt đầu nổ. Bọn địch buộc phải lùi ra quốc lộ. Trưa, chúng lại tiếp tục tấn công vào xã. Xã đội trưởng Đúng và các chiến sĩ ít súng, thiếu đạn; nhiều người chỉ có giáo mác, nên đành phải rút lui. Địch tiến sâu vào tàn phá hai thôn nữa. Chiều chúng mới rút về Hóc Môn.
 
Trận ấy du kích xã Phước Hiệp chưa làm tốt nhiệm vụ đánh địch bảo vệ dân. Xã đội trưởng Đúng tỏ ra buồn rầu. Hiểu rõ nỗi băn khoăn của Đúng, má Tám nói:
 
- Thua trận này, ta bày trận khác con ạ. Người cầm quân mới qua một trận mà đã nản lòng là người cầm quân kém. Bà con trong xã biết rõ du kích mình, không đánh được giặc là do các con thiếu súng, thiếu đạn, chứ không phải các con thiếu tinh thần gan dạ, dũng cảm. Bây giờ chỉ có cách phải cướp súng địch diệt địch là hay nhất. Má bàn với con thế này, ta dùng mìn tự tạo phục kích ô tô địch chạy trên quốc lộ 1. Bà con đi chợ cho biết, dạo này địch thường có nhiều xe chở súng đạn từ Sài Gòn đi Tây Ninh. Hoặc là ta bí mật cướp bót Trảng Bàng. Cướp được bót Trảng Bàng là lấy được kho vũ khí của chúng ở đó.
 
Đúng sung sướng ôm chầm lấy má:
 
- Ý kiến của má hay quá. Thế mà má chẳng nói cho con biết sơm hơn.
 
Ngay hôm đó, Đúng tổ chức hai tổ chiến đấu, mỗi tổ ba người do Đúng trực tiếp chỉ huy, dùng mìn tự tạo ghép lại, đào hố ngụy trang kĩ, chuẩn bị đánh xe địch.
 
Đúng chọn một quãng đường vắng, có chỗ rút lui thuận lợi, bố trí trận địa. Đúng nói với anh em:
 
- Một xe chở vài thằng lính cũng đánh. Một khẩu súng đối với du kích xã mình lúc này rất quý.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #7 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2013, 01:01:38 pm »

Ngày thứ nhất có một xe địch từ Tây Ninh về Sài Gòn, chở 5 tên lính, súng đạn đầy đủ. Xe vào trận địa phục kích. Mọi người chờ lệnh của Đúng, nhưng Đúng ra hiệu để xe qua. Anh em thắc mắc:
 
- Ngon ăn thế mà không đánh, xã đội trưởng?
 
- Các cậu không thấy trên xe có ba người dân hay sao?
 
Ngày thứ hai, má Tám giả vờ đi chợ Củ Chi sớm để trinh sát. Trưa về, má cho biết có 3 ô tô từ Sài Gòn lên. Má bảo:
 
- Ba xe chở nhiều lính lắm. Nhưng má e khó đánh lắm. Nếu tụi bay diệt không gọn ba xe, nó vẫn lấy lại súng được thôi.
 
- Con sẽ tùy thời cơ xử trí – Đúng trả lời.
 
Xe địch lên tới Củ Chi dừng lại. Sau đó, chỉ có một xe chở mười tên lính đi tiếp về hướng Tây Ninh. Anh em rất hồi hộp. Chờ cho xe địch lọt vào trận địa phục kích, Đúng ra lệnh phát hỏa. Bốm cụm mìn cùng nổ một lúc, lật chiếc xe xuống ruộng, mười tên lính đều chết và bị thương. Du kích thu mười khẩu súng và bốn thùng đạn, trong đó có cả một khẩu trung liên Bơ-ren đầu bạc.
 
Mười khẩu súng chiến lợi phẩm đầu tiên quý thật, nhưng chả thấm vào đâu dso với lực lượng du kích xã ngày càng đông tới mấy trung đội. Đúng hỏi má Tám:
 
- Má có cách nào giúp con lấy được kho vũ khí địch ở Trảng Bàng không? Có lấy được kho đó mới có vũ khí trang bị cho du kích, và chống được giặc càn má à!
 
Má Tám bóp trán suy nghĩ: Được rồi, mai má đi chợ bán bánh xem tình hình thế nào đã.
 
Má làm ngay một rổ bánh ít thật ngon. Chiều tối má sang nhà dì Bảy Chánh, vì má biết dì Bảy chuyên buôn bán ở miệt đó và quen biết bọn lính ở Trảng Bàng. Má nói với dì Bảy:
 
- Ngày mai dì cho tôi theo đi chợ Trảng Bàng cho vui hen!
 
Dì Bảy Chánh là người tốt bụng, thật thà, luôn luôn hướng về Cách mạng, nhưng vì con đông, nhà nghèo nên dì chưa đóng góp được gì cụ thể. Biết gia đình má Tám là gia đình cách mạng, dì Bảy cũng muốn làm một việc gì đó để góp phần giúp đỡ anh em đằng mình. Có lần dì cho du kích xã cả một gánh bánh tráng, nhưng xã đội Trưởng Đúng không lấy vì thấy dì nghèo. Nay nghe má Tám nói vậy, dì nhận lời ngay:
 
- Dạ! Có chị Tám cùng đi với em thì vui lắm.
 
Mờ sáng. Hai người gánh hai gánh bánh nặng ra đi. Vừa đi má Tám vừa hỏi:
 
- Lâu nay đi buôn bán ở đó có gặp khó khăn gì không?
 
- Dạ, buôn bán với bà con mình thì tốt, chớ buôn bán với bọn lính ngụy ở đồn Trảng Bàng thì rầy rà lắm. Nó ăn chịu, mình nhớ đòi thì nó bảo chưa có tiền, mình không nhớ đòi thì nó lờ đi. Nợ lâu là nó quỵt luôn. Từ quan đến lính đều như vậy.
 
- Nó nợ nhiều, quỵt nhiều thì mình không thèm bán cho nó nữa.
 
- Đâu có được chị Tám. Mình không bán cho nó, nó làm tình làm tội, “đá thúng đụng nia” chớ nào có yên.
 
- Đồn Trảng Bàng có chừng bao nhiêu đứa?
 
- Hai chục đứa với ba đứa gác kho súng không thuộc lính của đồn, mà thuộc quân biệt phái của Sài Gòn. Tôi có đứa cháu họ bị bắt lính trong đó nên nó nói với tôi như vậy mà.
 
- Kho súng có xa đồn không?
 
- Không xa, nhưng khuất một bức tường.
 
- Hằng ngày bọn lính ra chợ bao nhiêu đứa, ở nhà bao nhiêu đứa?
 
- Ngày thường chợ thưa, chúng ra chợ chơi ít. Hôm chợ đông như hôm nay hầu như chúng ra hết ngoài chợ.
 
- Chúng nó mang theo súng không?
 
- Đứa mang theo ra chợ, đứa không mang. Chúng có mang cũng để làm phép, chớ ra tới chợ thì dựng bừa bãi ở lều, ở sạp của bạn hàng quen, rồi đi nhậu nhẹt, tán gái, chớ có màng chi tới súng đạn.
 
- Cháu của dì Bảy tên chi?
 
- Tên Bình. Phạm Văn Bình.
 
- Hôm nay nếu cháu nó có ra chơi dì bảo nó gặp tôi chút xíu, được không?
 
- Dạ, được chớ!
 
Má Tám liên tiếp đi bán bánh ba phiên chợ để trực tiếp nắm tình hình địch. Rồi bá so những lời dì Bảy Chánh nói với những gì má thu thập được, thấy khá khớp nhau. Qua ba lần gặp Phạm Văn Bình, má Tám đã tranh thủ được Bình. Bình nhận nhiệm vụ của má phân công.
 
Má về trao đổi với Đúng:
 
- Tình hình địch sơ hở như vậy đó. Nhưng muốn chắc ăn, tụi bay cử người đi trinh sát một lần nữa.
 
Đúng muốn tổ chức cướp đồn ngay, nhưng má Tám không cho,bắt phải cử người đi lại nhiều lần, nắm tình hình địch cho chắc và nhân thể thử thách Phạm Văn Bình luôn.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #8 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2013, 01:02:05 pm »

Hôm du kích xã họp thông qua phương án cướp kho vũ khí đồn Trảng Bàng lần cuối cùng, có chú Ba Phi chủ tịch đến kiểm tra cho ý kiến. Má Tám được chú Ba chỉ định phát biểu trước.
 
Má Tám đứng lên đưa hai tay quấn lại chiếc khăn rằn trên đầu, rồi trình bày một mạch lưu loát, làm cho xã đội trưởng Đúng cũng không ngờ má anh lại am hiểu về quân sự đến như thế. Má nói:
 
- Tình hình địch tôi đã nhiều lần báo cáo với chú Ba và xã đội rồi. Cách đánh của thôi là thế này: Ta sẽ đánh vào ngày 23 âm lịch, đúng phiên chợ Tết, vừa là ngày chủ nhật, địch càng sơ hở. Lực lượng du kích có khoảng ba chục tay súng đột nhập vào trong bót, cộng với năm chục người nữa ở vòng ngoài, giả vờ đi chợ, sẵn sàng hỗ trợ khi bất trắc, cũng là lực lượng chuyển vũ khí về phía sau. Tôi và dì Bảy Chánh đã có cách dụ địch ra chợ và giữ chân chúng ở đó bằng cách mượn các bà, các chị tổ chức cho chúng một bữa nhậu no say. Phạm Văn Bình sẽ đón lực lượng ta vào cổng sau của bót và khóa cổng trước lại. Việc cuối cùng là ta thủ tiêu ba tên lính gác kho. Tất các các bàn, các chị Hội mẹ chiến sĩ hôm ấy đều đi chợ để làm lực lượng chuyển vũ khí và cầm chân địch. Bót Trảng Bàng gần chợ, ta đánh bằng cách đó êm hơn, cái chính là lấy được kho súng mà không thiệt hại đến bà con.
 
Chú Ba Phi ngồi nghe vừa nhổ râu, vừa gật đầu lia lịa. Khi má Tám dứt lời, chú hỏi ngay:
 
- Nếu bọn địch không đi chơi chơ hết thì sao?
 
- Lúc ấy, theo sự hướng dẫn của Bình, xã đội trưởng Đúng trực tiếp chỉ huy một phần lực lượng, trong số ba chục người đã ém vào bên tỏng sẽ giải quyết bằng cách dùng võ tay không và dao găm. Tránh nổ súng, vì nổ súng thì bọn lính ngoài chợ sẽ chạy về tiếp ứng.
 
Chú Ba Phi rít một hơi thuốc rê thật dài, phả khói trắng đầy gian nhà, cười vang:
 
- Giỏi. Giỏi lắm! Hay lắm! Giá cô Tám còn trẻ, tôi bố trí làm xã đội trưởng thì tuyệt! – Chú quay sang phía Đúng - Thằng Đúng có nhất trí với kế hoạch của má cháu không?
 
- Báo cáo ông Ba, cháu hoàn toàn nhất trí với kế hoạch của má cháu ạ!
 
Chú Ba Phi nói:
 
- Thay mặt Ủy ban, tôi đồng ý kế hoạch này. Từ nay đến ngày 23 âm lịch, còn mấy hôm nữa, phải hết sức giữ bí mật, để lộ là hỏng việc lớn. Phải bám sát địch liên tục xem nó có đánh hơi, hoặc đề phòng gì không, phải lla chặt chẽ với Phạm Văn Bình. Nếu có gì thay đổi phải hỏi ý kiến lại tôi nghen.
 
Ngày 23 âm lịch đã đến. Buổi sớm đẹp trời, người đi chơi chợ Tết chặt đường số 1. Từng tốp, từng tốp du kích đi xen lẫn vào đám bà con. Súng đạn họ giấu kín vào gánh chiếu, gánh củi, đồng hàng rông như người đi chợ.
 
Trận chiến đấu diễn ra đúng như kế hoạch đã định. Chỉ có khác một chút khi ba tên gác kho thấy du kích bật thần đột nhập, hoảng quá liền giơ tay xin hàng. Tên mặt rỗ, chắc là chỉ huy, run rẩy trao chìa khóa kho cho xã đội trưởng Đúng và còn chỉ cho du kích đào lấy nốt mấy hòm đạn súng cối chôn sâu gần mấy ngách tường gạch.
 
Chợ Trảng Bàng đang lúc rầm rộ đông nhất, thì du kích đã rút. Máy chục khẩu súng các loại, với bốn chục thùng đạn của địch, ngay trưa hô đó đã được chuyển về đến Phước Hiệp. Lúc ấy nghe bà con nói quân tiếp viện từ chợ Củ Chi lên chi viện cho quân Trảng Bàng, chú Ba Phi cười rung chòm râu bạc.
 
Số vũ khí chiến lợi phẩm huyện phân phối ưu tiên cho xã Phước Hiệp. Số còn lại chia cho các xã khác.
 
Nhờ “cái vốn” ban đầu ấy, lực lượng du kích xã Phước Hiệp càng đánh càng mạnh, càng trưởng thành. Câu nói của má Tám Rành “Phải cướp súng địch” trở thành tư tưởng tiến công và phương châm tác chiến của du kích xã Phước Hiệp trong suốt thời kì chiến tranh chống Pháp và đánh Mĩ.
 
Tháng 12 năm 1949 giặc Pháp mở một chiến dịch càn quét quy mô lớn vào vùng tam giác: Đức Hòa, Củ Chi, Trảng Bàng.
 
Khi một cánh quân chúng dẫn xác vào xã Phước Hiệp, đã bị lực lượng du kích trừng trị đích đáng, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Mười ngày đêm ròng rã, một tiểu đoàn địch, có máy bay yểm trợ, vẫn không sao “làm cỏ” nổi xã Phước Hiệp như chúng rêu rao.
 
Tất cả các đợt tấn công của địch đều bị du kích Phước Hiệp đánh bật ra. Ngày thứ mười một chúng phải rút lui, sau khi bị thương vong lớn về người và cả xe cơ giới.
 
Nhưng trong trận chống càn đó, xã đội trưởng Nguyễn Văn Đúng, người chỉ huy xuất sắc của xã đã hi sinh trước khi địch tháo chạy.
 
Má Tám đang làm nhiệm vụ tiếp tế cơm nước cho du kích đánh giặc, nghe tin Đúng chết, má ngất xỉu. Tỉnh dậy, má lau khô nước mắt, chạy lại bên Đúng, ôm chặt xác con vào lòng. Má gọi qua tiếng nấc;
 
- Đúng ơi! Đúng! Sao con chết sớm quá vậy? Kẻ thù còn hung ác lắm, côn không sống thêm để cùng đồng đội diệt chúng nó. Các em con sẽ thay phần con. Con đã làm tròn nhiệm vụ, thôi con yên nghỉ nghen.
 
Noi gương xã đội trưởng Nguyễn Văn Đúng và quyết trả thù cho anh, cả Phước Hiệp sau khi đưa anh về nơi an nghỉ cuối cùng, đánh dành ra một ngày đêm đào địa đạo. Tất cả chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #9 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2013, 01:02:28 pm »

IV. GIẾT GIẶC LÀ NHIỆM VỤ CỦA CÁC CON
 
Nguyễn Văn Sóc (Tư Sóc) sau khi mai táng anh Hai của mình là Nguyễn Văn Đúng xong, về đến nhà bỗng nhiên tính tình thay đổi, lầm lì hẳn. Hai hôm sau, anh xách con dao bầu chào cả nhà nói là đi bộ đội. Má Tám hỏi:
 
- Mày biết bộ đội ở đâu mà đi?
 
Sóc vừa nói vừa bước ra khỏi nhà:
 
- Con đi tìm. Phải tìm cho được bộ đội để xin đi chiến đấu, trả thù cho anh Hai con.
 
Cả nhà còn đang ngỡ ngàng, Sóc bước đi thật nhanh, như sợ ai giữ lại. Ra khỏi sân, Sóc quay lại nói:
 
- Ba má và các em yên tâm. Đánh thắng giặc con sẽ trở về.
 
Má Tám lao theo Sóc, ôm chầm lấy con:
 
- Sóc! Sóc ơi, má không ngăn cản con đi bộ đội đâu. Nhưng con phải dừng lại một chút để má dặn dò con đã. Con vào nhà đi.
 
Sóc đành theo má trở vào nhà. Cả nhà quây quần đông đủ. Má Tám lại phía bàn thờ có ảnh Nguyễn Văn Đúng, thắp hai ngọn nến và ba nén hương. Quay về phía các con, má nói giọng trầm trầm:
 
- Anh Hai các con đã hi sinh giữa cái tuổi bắt đầu làm được việc lớn. Má đứt ruột, đứt gan. Ngày xưa má cực khổ tủi cực nhiều, vì đế quốc thực dân, vì phong kiến địa chủ. Cách mạng thành công thì má tuổi đã cao, sức đã yếu chẳng đóng góp gì được bao nhiêu. Ba các con thì đau yếu, không đóng góp gì được cho cách mạng nữa, nên má trông mong vào các con. Rồi đây thằng Sóc, thằng Dé, Hè, Huội, Sướng, Nảng và thằng Luông đều phải tiếp bước nhau đánh giặc. Non sông đất nước còn giặc, thì giết giặc là nhiệm vụ của các con. Hôm nay Sóc đi tìm bộ đội để xin đi đánh giặc, ba má đời nào ngăn cản mà con vội vội vàng vàng không kịp chuẩn bị cái gì cả. Con nói cho ba má biết, con đi về hướng nào?
 
Sóc đứng dậy nhìn các em, rồi thưa với ba má:
 
- Con sẽ tìm đi về hướng Đông Thành, Đồng Tháp!
 
Má Tám cười âu yếm:
 
- Ôi, con đi về hướng đó nhất định gặp bộ đội mình. Con ra đi, ba má chẳng kịp chuẩn bị thứ gì. Má móc trong túi áo lấy ra một gói vải nhỏ nhỏ bằng bao diêm nói với Sóc: Ba má cho con đôi bông tai, đề phòng khi ốm đau, bán lấy tiền uống thuốc. Khi đi đến nơi, tìm được đơn vị bộ đội rồi, con nhớ viết mấy chữ gởi về cho ba má biết tin nghe con!
 
- Dạ, ba má yên tâm, con sẽ nhớ.
 
Sóc ra đi chỉ mặc một bồ đồ bà ba đen cũ, đội chiếc nón lá xơ vành như người đi kiếm củi. Một năm sau, gia đình mới nhận được thư Sóc gởi về. Sóc viết:
 
“Kính gửi ba má và các em!
 
Con ra đi đến nay tròn một năm. Con có tội với ba má là không viết thơ về sớm để cả nhà trông đợi. Nhưng mong ba má thông cảm và tha thứ cho con. Hồi đó con đi, đi mãi, vừa đi vừa làm mướn để kiếm ăn, mất bốn tháng con mới tìm được đơn vị bộ đội. Cũng may cho con, hôm áy một đơn vị bộ đội vượt sông Vàm Cỏ. Bộ phận cấp dưỡng đi sau cùng, vì có nhiều nồi niêu, soong chảo nên phải đi nhờ ghe của đồng bào. Lúc đó, con đang chèo ghe mướn cho vợ chồng ông lão ở bến Lộc Giang. Con nhận ra thằng Soạn, con dì Bảy Chánh làm cấp dưỡng cho đơn vị. Soạn giới thiệu con với ông chỉ huy. Ông chỉ huy tên là Hùng, người cao, to, râu cứng và thưa, lông mày rậm. Ông ấy nói rằng ông đã gặp má hồi đầu năm ngoái khi má dẫn đầu đoàn đại biểu Hội mẹ chiến sĩ ở Củ Chi ra tận Hố Bò thăm thương binh. Ông giữ con lại làm liên lạc cho đại đội. Đây là đơn vị bộ đội địa phương thuộc tỉnh mình.
 
Báo tin cho ba má và các em mừng: con đã chiến đấu được mười trận, tự tay diệt được năm tên địch, thu bốn khẩu súng. Con được tỉnh đội cấp một bằng khen. Thằng Soạn nó bảo rằng con sướng hơn nó, vào bộ đội được sau mà được đánh giặc. Nó vào bộ đội trước mà cứ lo nấu chơm hoài. Đại đội trưởng Hùng giải thích: “Nấu cơm cho bộ đội ăn cũng là nhiệm vụ cách mạng”. Từ đó Soạn không so bì với con nữa.
 
Bá má có mạnh khỏe không? Các em con có mạnh ngoan không? Ba má đừng lo gì cho con cả, con sẽ giết thật nhiều giặc để trả thù cho anh Hai. Con của ba má và anh của các em đây”.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
Trang: 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM