Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:43:51 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương  (Đọc 39510 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #10 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2013, 01:03:16 pm »

Bốn năm sau, Sóc có dịp đi phép về thăm nhà. Lúc ấy, anh đã là đại đội trưởng bộ đội đặc công. Má Tám bắt anh phải lấy vợ. Má nói:
 
- Con đã đi biền biệt bốn năm mới trở về. Lần này con ra đi với trọng trách nặng nề hơn. Biết bao giờ con mới về nữa. Ba má thì ngày càng già yếu, nên má khuyên con nên lấy vợ, rồi đi đâu thì đi.
 
- Con còn phải đi đánh giặc thì lấy vợ làm chi hả má?
 
- Đánh giặc cứ đánh giặc, lấy vợ cứ lấy vợ ai có bảo máy lấy vợ rồi ở nhà với vợ đâu.
 
- Lính tráng sống nay, chết mai ai người ta ưng hả má!
 
- Con nghĩ vậy chớ. Giá ở làng này khá nhiều đứa nết na. Má chỉ sợ con kén cá, chọn canh thôi.
 
Sóc chiều ý má để má vui lòng. Tôi hôm ấy má Tám mời thím Lương và mợ Lành là người bà con sang nhà chơi để hỏi ý kiến. Má khêu ngọn đèn dầu cho sáng cả gian nhà, mời thím Lương và mợ Lành ngồi xuống chiếc chõng tre, vừa ăn trầu, vừa uống nước trà. Má nói với thím và mợ của Sóc:
 
- Thằng Sóc nó được nghỉ phép thăm nhà một tháng. Tôi muốn nhân dịp này tổ chức cưới vợ cho nó. Thím Lương với mợ Lành là người trong họ, tôi muốn nhờ thím với mợ giới thiệu cho cháu vài đám để chọn, chớ chẳng phải mai mối gì. Ý của tôi, tiêu chuẩn trước tiên phải là người có đạo đức tốt.
 
- Làm dâu nhà này phải là con nhà có tham gia hoạt động cách mạng. Thím Lương vừa têm trầu vừa nói – Tôi giới thiệu cháu Nga, con bà Đài có được không?
 
Mợ Lành vừa quệt nước cốt trầu vừa nói:
 
- Con Nga thì đẹp gái thiệt, trông bề ngoài nó có vẻ thùy mị, nết na, nhưng chấm về điệm lao động chân bùn, tay lấm thì con bé ấy hơi lười. Chồng đi bộ đội mà vợ lười thì lấy gì mà nuôi con? Theo tôi, cháu Sóc mà lấy con Vân nhà bà Sáu Nhường thì xứng đôi vừa lứa. Bà Sáu Nhường cũng trong Hội mẹ chiến sĩ. Vân lại tham gia du kích. Chỉ có ba nó là ông Điều chẳng tham gia việc gì cho cách mạng suốt ngày lo đóng cối xay với uống rượu. Nhưng Sóc nó lấy cháu Vân về làm vợ chớ có lấy ông Điều đâu mà lo.
 
Thím Lương, mợ Lành tiếp tục nêu tên vài cô nữa. Má Tám cảm ơn hai người. Khi thím Lương và mợ Lành ra về, má Tám hỏi Sóc:
 
- Bao nhiêu đám các bà ấy giới thiệu, con có chọn được đám nào không?
 
- Sóc cười, lắc đầu:
 
- Hãy chờ dịp khác má ạ. Việc vợ con là việc lâu dài. Có muộn gì đâu.
 
- Mày lại bàn lùi rồi. Lấy vợ cho mày cũng phải lẹ như đánh giặc vậy. Hễ thấy có dịp rồi thì mình cứ việc làm đại đi là xong.
 
Hai mẹ con đều im lặng, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ. Má Tám quyết cưới vợ cho Sóc. Còn Sóc thì nghĩ sao cũng được, nếu không tìm được cô nào càng tốt. Anh đang nghĩ xem trong xóm có những cậu thanh niên nào đạt tiêu chuẩn để anh sẽ chọn vào đơn vị đặc công của anh. Má Tám vừa nhai trầu vừa nghĩ ngợi vền hững cô gái má được giới thiệu. Có cô má biết nhiều, có cô má biết ít. Nói chung các cô đều là con gái trong xã này cả, ba má họ đều là những người lao động cần cù, tha thiết hướng về với cách mạng. Má không dám chê, khen đám nào cho thật rõ ràng. Nhưng, nhìn chung má vẫn cảm thấy còn những chỗ băn khoăn chưa thật vừa ý về các cô đó, huống chi thằng Sóc nó lưỡng lự là phải.
 
Lát sau, má nói:
 
- Sóc à, bây giờ đến lượt má giới thiệu cho con một cô ở ấp Phước Bình là Nguyễn Thị Quen, con ông Tiến làm bên Nông hội xã, và bà Lộc ở Hội mẹ chiến sĩ. Anh nó tên là Hội cũng đi bộ đội năm ngoái. Cô Quen vừa tham gia du kích vừa là ủy viên Ban Chấp hành xã Đoàn. Hồi con đi bộ đội nó mới mười sáu tuổi, bây giờ nó tròn hai mươi. Về sắc đẹp thì trung bình, nhưng cô ấy rất nết na, vào loại dễ thương nhất xã này. Ông Tiến trước đây tham gia hoạt động bí mật cho đến ngày Tổng khởi nghĩa như ba con. Quen nó rất mến má, mỗi lần đi họp xã, họp huyện là nó tìm đến ngồi bên má để têm trầu, bửa cau cho má. Nó thường hay nhắc đến con, như hỏi má: “Anh Sóc lâu này có gởi thư về không má? Anh Hội con cũng ở bộ đội may ra thì được gặp anh Sóc ngoài mặt trận”. Theo má thì cô ấy được đó. Tao mà bằng lòng thì ba mày cũng bằng lòng. Mày mà thấy được thì nên đi lên thăm ông bà trên đó, coi như con đi chiến đấu lâu ngày, nay có dịp ghé về thăm bà con làng xóm, nhất là họ cùng gia đình bộ đội với mình, chẳng ai nghĩ ngợi gì đâu. Nhân đó con xem mặt nó luôn.
 
Hai má con nói chuyện rất khuya. Sóc kể chuyện bốn năm qua anh đánh giặc ở những chiến trường nào. Sóc đã gặp bao nhiêu bà má hết lòng thương yêu bộ đội như má vậy. Má Tám ngồi nghĩ quanh quẩn, lại động viên Sóc lấy vợ: “Ba má già rồi, cần có cháu nội mới vui. Mày là anh của sắp nhỏ, mày lấy vợ thì lũ em mày mới tính chuyện lập gia đình được”.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #11 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2013, 01:03:44 pm »

Sáng hôm sau má Tám giục Sóc đi Phước Bình sớm. Má nói:
 
- Đi sớm thì mới gặp được đông đủ gia đình người ta.
 
Xế chiều, Sóc mới trở về. Nhìn nét mặt Sóc tươi tỉnh, má Tám càng vui. Má hỏi:
 
- Trưa nay con ăn cơm ở đâu?
 
Sóc nhìn má cười không trả lời.
 
- Ông bà trên ấy mời cơm à?
 
- Dạ!
 
- Con có gặp con Quen không?
 
Sóc lại nhìn má cười, không trả lời.
 
- Thế nào, con có đồng ý không, để ba má lo làm lễ hỏi?
 
Ít lâu sau má Tám đi hỏi vợ cho Sóc. Liền sau đó đám cưới của Sóc với Quen được tổ chức đơn giản, đông vui.
 
Hết một tháng nghỉ phép, Sóc trở lại đơn vị. Quen tiễn chân anh đi khỏi cánh đồng làng. Hai dòng nước mắt của Quen ướt đẫm vai anh. Sóc mở túi áo ngực lấy ra một gói vải nho nhỏ, đưa cho vợ, nói âu yếm:
 
- Đây là đôi bông tai của má cho anh hồi mới đi bộ đội. Anh trao lại cho em làm vật kỉ niệm ngày cưới của vợ cơ mà.
 
Quen cũng nhẹ nhàng tháo chiếc nhẫn cuối ở tay mình, luồn vào ngón tay của Sóc:
 
- Anh còn đi xa, nên giờ chiếc nhẫn này để luôn luôn nhớ tới em.
 
Mặt trời đã lên cao. Những triền gò bên kia đường quốc lộ nhấp nhô. Chân trời thoáng đãng. Đồng lúa sắp chín, tỏa hương ngào ngạt, hai người không muốn rời nhau.
 
Sóc lên đơn vị được hai tháng thì nhận được thư của Quen. Quen viết:
 
“Anh thương yêu!
 
Chúng mình thương nhau rồi lấy nhau ngắn ngủi quá, chưa kịp nói hết tâm tình đã phải xa nhau. Nhưng em cũng biết rằng tình nghĩa vợ chồng là tình nghĩa trăm năm, rồi chúng mình sẽ có dịp gần nhau, tâm tình với nhau nhiều hơn.
 
Xa anh, em nhớ anh vô cùng. Nhưng em biết không thể giữ anh ở nhà lâu được, vì như anh đã nói: Chiến dịch sắp mở rồi, đơn vị đang mong đợi anh.
 
Từ ngày anh đi, sức khỏe của em vẫn bình thường. Chỉ có điều là dạo này em hay thèm chua và thích ăn vặt. Nhân đây em báo tin cho anh mừng là em đã nghén rồi.
 
Em được điều lên Huyện Đoàn công tác từ tháng trước. Công việc dạo này bận nhiều quá anh ạ! Tuy vậy, em vẫn ghé thăm má luôn. Sức khỏe của má dạo này hơi yếu. Ba ho luôn. Bác sĩ khám nói là ba đau phổi nặng. Em lo quá!
 
Anh nhớ chú ý giữ gìn sức khỏe nghe anh!
 
Em ngày đêm cầu mong cho anh luôn luôn mạnh gỏi, chân cứng đá mềm, đánh trận nào cũng thắng giòn giã.
 
Em luôn luôn mong tin anh!
 
Sóc đi mãi, đi mãi. Anh viết thư về cho vợ biết lúc thì anh lên Long Nguyên, khi về Phú Thứ, lúc đánh gần sát Sài Gòn, gặp cả người làng đi chợ mà không dám gọi vì sợ lọ.
 
Quen sinh được cậu con trai thật kháu khỉnh. Vì thấy Quen thương nhớ chồng đi xa hay khóc nhiều, má Tám đặt tên cho cháu đích tôn của mình là Nguyễn Văn Rưng.
 
Nhận được tin vợ sinh con trai đầu lòng, Sóc rất mừng, nhưng anh vẫn không về thăm gia đình được. Chiến dịch mở liên tiếp. Cuộc chiến đấu vô cùng khẩn trương. Năm ấy, Hôi, anh trai của Quen gặp Sóc ở mặt trận Bến Cát, lúc ấy Sóc đã lên tiểu đoàn trưởng bộ đội đặc công.
 
Ngày 30 tháng 5 năm 1954, Sóc chỉ huy đơn vị đánh vào thị trấn Hiệp Hòa. Anh đã hi sinh anh dũng, đơn vị anh cắm lá cờ đỏ sao vàng lên nóc đồn chính trong thị trấn.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #12 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2013, 05:36:27 pm »

V. LỚN LÊN CÁC CHÁU PHẢI TRỞ THÀNH CHIẾN SĨ
 
Được tin con gái thứ ba là Nguyễn Thị Săn bệnh nặng, chồng nó hoạt động thoát li, má Tám tất bật chuẩn bị đi thăm con. Má đem theo một kí nếp hương, mười lăm quả trứng gà. Má tần ngần suy nghĩ. Nó bệnh nặng chắc là chỉ ăn cháo, phải cho nó thêm một kí đậu xanh để nấu cháo. Lại còn quà cho lũ trẻ nhỏ. Bầy con nó đông quá, biết cho cái gì mới đủ bây giờ. Má lấy thêm một kí bắp ngô và một kí đậu phộng bỏ vào chiếc túi vải. Ra sân, ngoảnh nhìn cây mận góc hè đang độ chín, má Tám lại tìm cây choèo mươi chùm. Chiếc túi vải căng phồng má mang nặng trình trịch. Má khoác túi lên vai, chống gậy, rảo bước.
 
Nhà chị Săn cách nhà má nửa ngày đường. Trời mùa hè, nắng như đổ lửa, má đi một mạch không nghỉ. Má mệt gần đứt hơi, nhưng má nghĩ phải đi như vậy thì mới kịp quay trở về trong ngày. Dạo này sức khỏe ba sắp nhỏ tức thầy Cầm yếu lắm, má không thể ở lại với con gái và bầy cháu ngoại được.
 
Đến nơi, thấy nhà cửa bề bộn quá, má bàn với chị Săn:
 
- Hai vợi chồng con đề là du kích, việc nhà việc nước bận rộn, con cái lại đông, làm sao trông nom được chúng nó? Má ngồi sát lại đầu giường, một tay nâng đầu con gái, một tay bưng chén thuốc đang bốc hơi đổ cho con. Má nói tiếp: Chúng nó là con của mình mà, cũng là cái vốn quý của xã hội. Đẻ ra được thì phải nuôi chúng nên người. Mày xem, mười anh chị em chúng mày tao nuôi thế nào? Tao tính với mày thế này để rồi mày bàn lại với chồng mày xem sao. Mày đưa thằng bé út về trên nhà cho tao nuôi. Mày đang bệnh, không có sữa cho nó bú. Nhìn cái thằng nhỏ bụng ỏng, đít teo đó tao đứt ruột lắm, không khéo nuôi thì nó chết mất.
 
Chị Săn nằm nghe má nói, hai dòng nước mắt đầm đìa. Suốt cuộc đời má vất vả, ở mướn, làm thuê, nuôi chồng và một đàn con, nay còn lo đàn cháu. Tình thương của má là tình của biển cả bao la, vô bờ bến.
 
Một tuần sau chị Săn khỏi bệnh. Chị đưa cậu con trái út là Huỳnh Văn Cường, vừa biết bò, lên ở với bà ngoại. Chị nói nửa đùa, nửa thật:
 
- Bà cho cháu ở luôn trên này nhen.
 
Má Tám cười xởi lởi:
 
- Nó mà đã lên đây ở với bà ngoại thì mày đứng có hòng đưa nó về.
 
Bé Cường được bà ngoại cưng và cho “ưu tiên” mọi thứ. Bé Cường thích nhất là món lòng đỏ trứng gà đánh kem và món xương heo hầm gạo. Chẳng bao lâu bé Cường đã lớn trông thấy. Bà đi làm ở bờ mương bờ ruộng, cõng Cường sau lưng. Tối về nhớ má, Cường lại bú vú da của bà. Bà bảo Cường:
 
- Mai cho mày ở với má mày hen!
 
Cường nũng nịu, lắc đầu:
 
- Cháu ở với ngoại thôi!
 
Đến tuổi đi học, bà xin cho Cường vào trường làng. Chẳng bao lâu Cường đã biết giúp ông bà đuổi gà, quét sân.
 
*
*    *

Hồi nghe tin Sóc hi sinh gần một năm, má Tám ân cần nói với Quen:
 
- Con à. Má nghĩ sao nói vậy, nếu có điều chi không phải thì con đừng giận. Chồng con hi sinh sắp đến ngày giỗ đầy năm rồi. Chẳng lẽ con cứ ở vậy nuôi con, thờ chồng hay sao? Tục lệ ngày xưa người ta cho như vậy là người đàn bà chung thủy. Bây giờ mình nghĩ khác đời sống mới rồi, chữ chung thủy cũng phải hiểu cho nó mới, chứ đừng có nghĩ hẹp như trước.
 
Theo ý má, con cũng nên tính chuyện lấy chồng đi. Đàn bà con gái, việc sinh con đẻ cái nó có thì của nó. Dù con có đi bước nữa, má coi con như là con đẻ của má. Nay tuy con vẫn làm công tác trên huyện, má thấy con bận rộn vất vả quá. Lúc thường đã vậy, lúc địch nó nghi ngờ dòm ngó thì phải chui bờ rúc bụi, nằm mương, nằm hầm, có khi còn phải vào tù, ra khám nữa. Má đắn đo mãi, hôm nay mới bàn với con việc này.
 
Má dừng lại thăm dò thái độ của Quen, thấy chị lấy khăn lau nước mắt và vẫn ngồi lặng lẽ nghe má nói. Má bèn nói tiếp:
 
- Má định đem thằng Rưng về nuôi.
 
Quen òa lên khóc nức nở. Má âu yếm lau khô nước mắt cho con dâu, nói nhẹ nhàng:
 
- Má chẳng hề suy nghĩ không phải về con đâu. Con là con dâu thảo, hiền. Má nghĩ mấy đứa em thằng Sóc đi vắng luôn. Nhà cửa vắng vẻ lắm. Má đem thằng Rưng về nuôi để là cho vui cửa, vui nhà; lại có thằng Cường nữa, chúng nó sẽ có anh có em. Với lại cũng để cho con rảnh tay để gây dựng cơ sở cách mạng với anh em.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #13 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2013, 05:36:59 pm »

Sau đó một tháng, Nguyễn Văn Rưng về ở với ông bà nội. Má Tám cũng dành cho rưng mọi thứ như trước đây “ưu tiên” cho Cường. Rưng nhỏ hơn Cường một tuổi, nhưng vóc người có vẻ chững chạc hơn. Nhưng nuôi Rưng khổ hơn nuôi Cường. Cường phàm ăn. Nhà con đàn, con lũ có khác. Rưng kén ăn. Thịt là phải thịt nạc, cá thì không còn tí xương. Nhưng má Tám chiều được tất cả. Nó là con một mà.
 
Hai anh em lớn vèo vèo như tằm ăn lá dâu. Cả hai đều ngoan ngoãn, chăm học, chăm làm lụng giúp ông bà. Từ lúc còn bé xíu, cho đến lúc tụi nó trưởng thành, má Tám thường nhắc đi nhắc lại với các cháu của mình một câu làm cho Cường và Rưng nhớ mãi: “Các cháu phải yêu nước, yêu đồng bào của mình. Lớn lên các cháu đều phải trở thành chiến sĩ. Các cháu không được làm điều gì có hại cho cách mạng, nhân dân”. Đó là những năm sau đồng khởi.
 
Huỳnh Văn Cường và Nguyễn Văn Rưng mỗi ngày một khôn lớn, má Tám dạy cho hai đứa biết theo dõi, nắm mọi hoạt động của địch để báo cáo cho chú Bảy Vinh xã đội trưởng. Hai đứa còn biết rải truyền đơn vào quận Củ Chi và tiếp tế lương thực cho đội nữ du kích của cô Lê Thị Sương ngoài địa đao. Cường và Rưng làm được nhiều việc khá xuất sắc, chính má Tám cũng không ngờ rằng các cháu của mình thông minh và dũng cảm đến vậy. Nhất là chuyện hai anh em cứu đồng chí Chủ tịch huyện.
 
Hôm ấy trời mưa lâm râm. Một toán biệt kích địch bất ngờ lùng sục vào làng. Đồng chí Hai Chánh, Chủ tịch huyện đang bị bệnh, được má Tám nuôi trong nhà. Nghe súng địch bất thần nổ ở đầu làng, má Tám ra hiệu cho anh Hai luồn ra phía sau sườn. Địch không đi ngõ trước như thường lệ, lần này chúng đạp rào luồn vào ngõ sau. Má Tám đang nghĩ cách để cứu đồng chí Chủ tịch, vì má cho rằng địch vào đúng đường rút của anh Hai. Nguy hiểm vô cùng. Tính mạng của đồng chí Chủ tịch như ngàn cân treo sợi tóc. Đúng lúc ấy Cường và Rưng giả vờ tranh nhau chiếc ná cao su. Cường giật ná cao su chạy ra hướng địch đang ập vào. Rưng vừa khóc vừa đuổi theo. Tên sĩ quan ngụy tay cầm khẩu súng lục, má đỏ bừng như đang say rượu, lớn tiếng hỏi:
 
- Đ…m, hai thằng nhỏ, chơi ở đây có thấy một thằng cộng sản mặc đồ bà ba đen chạy qua không? Hả, hả!
 
Cả hai đều nói:
 
- Có một tên lạ mặt vừa chạy hướng kia kìa, chẳng biết có phải là cộng sản không.
 
- Thiệt hay dóc đó hai đứa?
 
- Thiệt mà, thiệt mà!
 
Thế là các em đã chỉ chúng đi lạc hướng khác. Tiếng súng xa dần. Cường và Rưng hớn hở nhảy cò chân, vừa đi vừa chạy vào nhà. Má Tám ôm chặt hai cháu vào lòng, xúc động rưng rưng nước mắt.
 
Hai đứa cũng rất thích được bà giao những nhiệm vụ cụ thể. Ví dụ như điều tra địch sắp sửa càn quét lớn vùng nào, đơn vị nào của chúng vừa đến căn cứ Đồng Dù, địch bố trí pháo ở nơi nào nhiều, nơi nào ít… Má Tám dạy hai cháu cách lăn lê, bò toài, biết tránh đạn pháo, cách ẩn nấp máy bay lên thẳng, và biết cách đánh lừa bọn biệt kích… Ba bà cháu gắn bó với như bóng với hình. Anh Hai Chánh, Chủ tịch huyện nói rất đúng: Đó là một tổ chiến đấu xuất sắc của ấp Phước Hòa.
 
Đầu xuân năm 1967, bọn địch ở vùng Củ Chi ráo riết tăng quân, bắt lính. Má Tám nói với Cường:
 
- Năm nay cháu đến tuổi quân dịch. Bà không muốn gia đình ta có một người bị Mĩ ngụy bắt đi lính. Bà sẽ đưa cháu ra căn cứ du kích ngoài Hố Bò để cháu đi bộ đội giải phóng.
 
Cường nhoẻn miệng cười, nói với bà ngoại:
 
- Ngoại tưởng cháu của ngoại vẫn là thằng Cường “còi” như hồi nào sao? Cháu đã gia nhập đơn vị du kích tập trung của huyện rồi. Cháu sợ ngoại không cho đi nên cháu vẫn còn giữ “bí mật” với ngoại đó chớ… Ngoại xem này - Cường rút ở túi quần ra một khẩu súng lục do tự tay Cường diệt một tên ác ôn, lúc hắn đi la cà tán gái và cướp được - Tuần trước, bọn địch ngoài thị trấn Củ Chi báo động rùm beng về việc trung tá Thò mất tích, ngoại đi chợ ngoài đó có nghe không? Cháu khử nó đấy! Bây giờ cháu đã là tiểu đội trưởng du kích rồi. Đánh giặc mà nằm ngay ở làng mình cũng thích ngoài hè! Nhưng nếu có dịp thì cháu cũng xin đi bộ đội giải phóng, để được đánh to, thắng lớn như chú Sóc vậy, mới sướng. Các chú trên huyện nói sắp đến sẽ bổ sung từng đơn vị du kích tập trung của huyện cho “R” (bộ đội miền). Thế nào rồi cháu cũng được đi bộ đội giải phóng đó ngoại ạ! Ngoại không phải đưa cháu đi nữa.
 
Má Tám sung sường cốc yêu vào đầu cháu:
 
- Thế mà mày chẳng cho ngoại biết. Máy bí mật cả với ngoại phải không?
 
Giữa năm ấy, Cường chỉ huy một trung đội du kích chiến đấu dưới địa đạo. Trong một trận đọ sức quyết liệt với địch, Cường diệt hai xe tăng, 15 tên Mĩ và đã anh dũng hi sinh sau đó. Trước lúc tắt thở, Cường vẫn mơ thấy mình đang hành quân trong đội ngũ điệp trùng của quân giải phóng. Bà ngoại chạy theo Cường, gọi thật to: “Cường ơi! Cường ơi!”. Bà trao gói cơm nếp đậu phộng cho Cường như bao lần bà vẫn mang cơm nếp ra địa đạo. Gió mồm mát rượi. Cánh đồng Củ chi đang vào mùa gặt. Cây lúa ở vành đai này cũng thấm má và nước mắt.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #14 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2013, 05:37:19 pm »

*
*    *

Cường hi sinh đột ngột làm Rưng sững sờ một dạo. Đầu năm 1968, thầy Cầm tức ông nội của Rưng, bệnh nặng qua đời. Ông chết vì chứng đau phổi và ho ra nhiều máu. Hơn mười năm rồi, từ lúc biết chống trở bệnh nặng, má Tám đã bán tất cả những gì có thể bán được của gia đình để chạy thuốc thang, cứu chữa cho chồng. Bà con cả làng đều nói bệnh của thầy Cầm nặng như vậy, thế mà sống được đến ngày hôm nay là nhờ tốt thuốc và có bàn tay chăm sóc của má Tám Rành. Trước lúc tắt thở, ông cho gọi cả nhà quây quần lại dặn dò: Tôi có qua đời, bà ở lại gắng sức chăm sóc con, cháu, sống sao cho xứng đáng với phận làm người. Cuộc kháng chiến của dân tộc mình còn gặp nhiều khó khăn, phức tạp lắm. Gia đình mình dù có phải hi sinh thêm đứa nào, hoặc giả có hi sinh tất cả đi nữa, thì hãy coi đó là niềm vinh dự tự hào cho gia tộc. Các con, các cháu hãy nối tiếp nhau góp sức mình vào cuộc chiến đấu này. Dòng họ tổ tông nhà ta từ trước đến giờ không có người phản bội và hèn nhát. Các con cháu không được phép làm ô nhục truyền thống đó.
 
Rưng xúc động nghe lời trối trăng của ông nội như một bài học sâu sắc, khắc sâu vào tâm trí mình và không thể nào quên được.
 
Ông nội mất được một tháng thì Rưng đi bộ đội. Chị Quen tiễn con trai ra đi đánh giặc vẫn trên con đường làng quen thuộc năm xưa chị đã tiễn chồng. Qua khỏi ngã ba có cây điệp cao sừng sững là cánh đồng mông mênh bát ngát, lúa đang thì con gái. Đàn trâu đen bóng đang mài sừng trên mấy bờ gò… Đồng làng với bao kỉ niệm từ ngày anh Sóc ra đi, thì bây giờ vẫn gắn bó với cuộc đời của chị. Chóng thật! Chị không bao giờ ngờ đời chị mới ngày nào vừa phải tiễn chồng nay lại tiễn con ra mặt trận. Trong niềm thương nhớ vô hạn đó, chị thấy rõ trách nhiệm và lòng tự hào của người mẹ ở hậu phương như chị, một hậu phương thép, sát cửa ngõ Sài Gòn.
 
Lúc sắp chia tay, chị Quen lấy trong túi áo ra một gói vải nhỏ bằng bao diêm, trao cho Rưng, chị nói:
 
- Đây là đôi bông tai của bà nội trao cho ba, lúc ba con đi bộ đội và ba con đã trao lại cho má. Bây giờ má đưa cho con giữ làm kỉ niệm. Chị lau khô nước mắt, vừa trao tiếp cho con gói cơm nếp vừa dặn dò: Con ra đi mạnh giỏi, chiến đấu dũng cảm để trả thù cho ba. Khi đến đơn vị nhớ biên thư ngay về cho má và bà nội, nghe con!
 
Một sự tình cờ rất lạ, vẫn khớp với xưa kia là Rưng được bổ sung vào đại đội đặc công thuộc bộ đội địa phương tỉnh Long An, đơn vị mang truyền thống “Ra quân là chiến thắng” mà cách đây 15 năm, đồng chí Nguyễn Văn Sóc ba của Rưng trưởng thành và hi sinh.
 
Năm 1969, Rưng hi sinh trong một trận chiến đấu chống bọn Mĩ càn quét.
 
Đó là vào một ngày hè, trời nắng gắt. Giặc Mĩ đổ quân càn qué căn cứ giải phóng của ta rất sớm. Rưng chỉ huy một tiểu đội giữ chốt phái trái căn cứ. Gần xế chiều, địch vẫn chưa “nhổ” được chốt của tiểu đội Rưng. Chúng tức tối giội hàng trăm quả pháo, rồi thúc quân bao vây. Rưng xem đồng hồ, biết mình đã hoàn thành nhiệm vụ giữ chốt, đến giờ phút phải rút. Nhưng địch lại siết chặt vòng vây: “Chúng nó muốn diệt gọn đơn vị mình đây. Được, tao sẽ cho chúng mày biết tay…”. Rưng nghĩ thầm như vậy. Anh hạ lệnh cho tiểu đội bí mật rút theo địa đạo. Còn một mình Rưng với khẩu AK và mười quả lựu đạn. Anh chờ địch đến thật gần mới tung lựu đạn và bắn từng loạt ngắn. Khi còn băng đạn cuối cùng, Rưng bị thương nặng. Anh dồn hết sức còn lại, đứng thẳng người lên, nghiến răng, quét lưới lửa về phía địch, địch chết như rạ.
 
Tất cả đồng đội của Rưng rút về phía sau an toàn. Giặc Mĩ rất cay cú, vì trận càn quét ấy bị quân ta đánh gãy xương sống.
 
Trước khi tắt thở, Rưng không kịp nói với đồng đội một lời nào. Nhưng các đồng chí của anh đã viết chiến công của anh thành một bài ca:
 
… “Nguyễn Văn Rưng trẻ tuổi yêu đời. Mang truyền thống đất thép anh hùng Củ Chi vào trận đánh. Một mình, một súng chặn đứng quân cướp Mĩ dã man…”.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #15 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2013, 05:38:07 pm »

VI. BIẾN ĐAU THƯƠNG THÀNH SỨC MẠNH, TIẾP TỤC TIẾN CÔNG QU N THÙ
 
Mùa Đông năm 1967, một đêm, vào lúc má Tám đang thiu thỉu ngủ dưới hầm phải chồm dậy vì tiếng súng, tiếng pháo đủ loại nổ dậy đất. Trận địa pháo của địch ở Bầu Ngang bắn qua, đạn bay đỏ lừ. Má Tám trèo lên miệng hầm nhìn về phía xã Nhuận Đức, lửa đạn và những đám cháy lớn sáng rực một vùng.
 
Cả ấp Phước Hòa thức dậy.
 
- Bà con ơi! Súng nổ dữ dội thế này, là quân chủ lực của mình về riềng bọn ngụy ở bốt Nhuận Đức rồi. Bác Hai Xanh đứng trên mô đất cao giữa ấp, vỗ tay đôm đốp nói to như vậy.
 
Những vệt lửa kéo dài từ bốn phía chụp xuống. Những tiếng nổ chắc nịch như bị nén từ trong lòng đất. Xã Nhuận Đức chìm ngập trong bão thép. Bác Hai Xanh lại đắc chí cười vang:
 
- Pháo binh của bộ đội mình đó bà con có thấy không? Lần này thì bọn ngụy nhừ đòn.
 
Bác Hai gái kéo chồng ngồi xuống, nói:
 
- Ông đánh giặc mồm nó vừa chứ.
 
- Tôi là tôi căm thù bọn ngụy ở bốt Nhuận Đức vô cùng. Tụi nó khét tiếng dã man, tàn ác nhất vùng này. Bây giờ bộ đội mình nện chúng là tôi ưng cái bụng lắm.
 
Bọn địch ở thị trấn Củ Chi báo động. Các xe nhà binh bật đèn, còi rú thất thanh, chạy đi chạy lại nhốn nháo suốt đêm. Chúng đề phòng Việt cộng đột nhập vào sở chỉ huy quân. Trận địa pháo của Mĩ ở căn cứ Đồng Dù bắt đầu rót đạn về hướng Hố Bò, hòng chặn các đường rút của bộ đội ta. Đạn pháo bay u ú qua ấp Phước Hòa, nhưng không ai xuống hầm cả.
 
Mờ sáng. Má Tám đi chợ Củ Chi sớm để nghe ngóng tin tức. Má thấy hàng chục xe tải của chúng chở đầy bọn lính ngụy chết và bị thương từ Nhuận Đức về. Nhiều thằng quấn băng trắng trên đầu, xông vào chợ cướp giật. Có thằng một tay đeo băng trước ngực, một tay cặp súng vào nách bắn hàng tràng. Thằng khác nằm trên cáng nói tục, chửi bới bọn sĩ quan thậm tệ.
 
- Đ. mẹ chúng nó chỉ có nói dóc, nào là Mĩ súng nhiều, pháo lớn, hào sâu, dây thép gai dày, thách bọn Việt cộng vào được Nhuận Đức. Thế mà họ vào ung dung, họ đánh cho tơi bời cả đám.
 
- Tiên sư cha tụi Mĩ, nó nói pháo Đồng Dù của nó bắn nhiều, có khả năng ngăn chặn Việt cộng từ xa, vậy mà bắn chẳng trúng cái đếch gì.
 
- Tổ bố tụi lính quận Củ Chi này, tăng viện lên đến nơi thì chủ lực Việt cộng đã rút đi hết rồi, còn đánh đấm cái gì nữa.
 
Mặt trời lên hơn một con sào, đồng chí Sáu Mĩ, xã đội phó Nhuận Đức đóng giả người thợ mộc tìm gặp má Tám, nói nhỏ:
 
- Má Tám ơi! Đêm qua anh Sáu Dé là đại đội trưởng bộ đội chủ lực miền, chỉ huy đơn vị về diệt bót Nhuận Đức. Trận đánh thắng lợi rất lớn. Nhưng anh Sáu đã anh dũng hi sinh. Việt giải quyết thương binh liệt sĩ là do địa phương đảm nhận. Nhưng ta mới đưa được hết anh em thương binh ra khỏi trận địa thì trời đã sáng rõ, quân tiếp viện của địch đã chiếm lại đồn bót cũ. Chúng con đang tìm mọi cách để lấy xác anh Sáu về. Vậy con phải lập tức đi tìm má để báo tin cho má hay.
 
Má Tám đứng lặng người hồi lâu. Mắt má hoa lên, cảnh vật nhào lộn, toàn thân bủn rủn. Dì bảy Toàn, thím tư Chánh, cô năm Luận, bác tư Tố dìu má về nhà. Bà con ấp Phước Hòa chạy đến thăm má mỗi lúc một đông. Người vò lá cây cho má uống, kẻ cặp tóc đi chợ tìm thuốc tây trợ sức. Má tỉnh lại dần. Nguyễn Văn Dé là con thứ sáu của má. Dé đi bộ đội từ năm 1963 đến nay. Nhất là từ lúc hoạt động ở địa bàn Củ Chi, làm cho bọn địch rất khiếp sợ. Bọn thám báo địa phương biết mặt anh, nên mỗi lần chúng bị đơn vị anh đánh đau, là chúng lại gọi má Tám lên quận tra khảo.
 
Năm ngoái, đơn vị anh tập kích vào căn cứ Đồng Dù, làm sư đoàn 25 “Tia chớp nhiệt đới” của Mĩ bị diệt thiệt hại nặng. Tên trung tá quận trưởng Năm Phó cho lính bắt má Tám lên nhốt vào xà lim năm ngày, không cho ăn uống. Ngày thứ sáu nó cho má ăn một bát cháo loãng nấu bằng gạo mục. Ngày thứ bảy Năm Phò đến xà lim quát nạt má:
 
- Bà Rành. Nếu bà gọi được thằng Sáu Dé, con của bà về hồi chánh với chánh phủ quốc gia thì tui sẽ kí lệnh thưởng ngay cho bà nửa kí vàng. Cho bà luôn một cái nhà lầu ở ngay thị trấn này nữa. Bà nghĩ sao?
 
Má Tám quắc mắt nhìn thẳng vào mặt nó:
 
- Thà chết chớ tao không bao giờ làm việc đó. Tao không thèm những thứ dơ bẩn của chúng mày. Tao đẻ con ra nó có chí hướng của nó, tao không thể bảo nó làm khác được.
 
Phò vung tay, đấm vào mặt má. Máu ở mũi và miệng má ộc ra. Nó còn đạp giày đinh vào ngực má. Má ngã ra nền xi măng bất tỉnh. Hôm sau, nó đem má ra phơi nắng và ní:
 
- Bà già này lì lắm. Để xem cái gan của bà có to bằng cái gan của thằng Dé không.
 
Lần ấy má tưởng chết, nhưng má không chết. Ngày nào thằng Phò cũng chỉ hỏi má có một câu: “Bà có chịu gọi thằng Dé về không?”. Và nó cũng chỉ được nghe một câu trả lời cộc lốc của má là “Không”. Nó đánh, đạp, phơi nắng, bỏ đói và đổ nước xà bông vào mũi, hắt ớt hột vào mắt má. Má chịu đựng đủ mọi thức cực hình, nhưng má vẫn vững vàng như cây sao, cây dâu trên đất thép. Sau ba tháng giam cầm, kẻ thù biết không khuất phục được má, chúng đành phải thả má về làng. Khi thả má, thằng Phò còn dọa:
 
- Nếu thằng Dé còn đưa Việt cộng về đây quấy rối thì tôi sẽ treo cổ bà lên.
 
Bà con cả xã Phước Hiện ân cần đớn má về. Má biết rằng các con, cháu của má đi chiến đấu cả, nhưng ở nhà má không cô đơn, má sống trong tình thương bao la của Đảng và bà con Củ Chi.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #16 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2013, 05:38:34 pm »

Lần này, chúng hèn hạ trả thù má bằng cách phơi xác anh Sáu Dé trên ngọn cây bàng, rồi báo cho má Tám lên nhận mặt. Má giáp mặt tên Mười Láo đồn trưởng từ dưới quận mới điều lên, nói thẳng:
 
- Đánh giặc thì có người chết, kẻ bị thương. Bên nào cũng vậy, chết thì phải được chôn cất, bị thương thì phải băng bó. Tôi đề nghị với ông đồn trưởng cho tôi đem xác người chiến sĩ này về chôn cất.
 
Mười Láo béo ị, lùn tịt, đầu hớt cua, mắt ti hí như mắt lươn, răng vổ ra phía trước như bàn cuốc. Tháng nào Mười Láo cũng ăn vài ba cái gan người.
 
- Thằng Việt cộng này là con bà phải không? - Mười Láo hoạnh họe.
 
- Phải.
 
- Lúc còn sống nó lì lợm, ngoan cố lắm. Bây giờ phải để xác nó cho quạ ăn.
 
- Ông ác đến ba mươi chín cửa, ông cũng nên để lại một cửa cho vợ con ông nhờ. Ông còn làm đồn trưởng cái đồn này, dân Củ Chi còn đây, có ngày ông sẽ biết đâu là nhân nghĩa, đâu là ác tà. Trời cũng có mắt ông à!
 
Để hỗ trợ cho má Tám, chi bộ hai xã Phước Hiệp và Nhuận Đức kịp thời tổ chức “đội quân tóc dài” kéo đến đấu tranh chính trị kết hợp với công tác binh vận. Bà con được số đông binh sĩ ngụy trong đồn ủng hộ, nên bọn ác ôn phải nhượng bộ trả xác anh Sáu Dé lại cho bà con.
 
Nhân đà thắng lợi cuộc đấu tranh chính trị ấy, bà con hai xã Phước Hiệp và Nhuận Đức tổ chức đám tang đại đội trưởng Nguyễn Sáu Dé rất chu đáo trước mặt kẻ thù. Mộ anh được đặt trên mảnh đất gò của quê hương, nơi gia đình anh khai hoang từ những ngày anh còn niên thiếu.
 
Thương Dé, má Tám mất ăn mất ngủ mấy tháng trời. Trong lúc người còn xanh xao như tàu lá, mái đầu má đã bạc càng thêm bạc, thì má lại nhận được một cái tin sét đánh ngang tai. Buổi sớm nọ khi má còn đang mơ mơ, màng màng thì bà Năm Thành nhà bên cạnh, cũng là gia đình liệt sĩ chạy sang gọi thất thanh:
 
- Chị Tám ơi, chị Tám!
 
Má Tám choàng dậy. Bà Năm Thành ôm lấy má khóc nức nở. Má Tám đoán biết có chuyện chẳng lành. Má bình tĩnh, vừa lấy chiếc khăn rằn quấn đầu, vừa hỏi:
 
- Chuyện gì vậy, thím Năm?
 
- Thằng Hè nó hi sinh rồi, chị Tám ơi!
 
- Thím nói sao? Thằng hè con tui nó chết hồi nào?
 
- Thằng Đức con tôi cùng ở đơn vị với thằng Hè, chị có nhớ không? Hôm qua giặc càn lên ấp Cây Trôm, đơn vị của nó chặn đánh. Ta thắng to lắm. Nhưng thằng Hè hi sinh, thằng Đức bị thương ở cánh tay. Nó vừa về ngang qua đây báo tin như vậy. Tui hỏi nó anh Hè mày nằm ở đâu? Nó vừa đi vừa nói: Ảnh còn nằm lại trên trận địa, tụi con nhờ cô bác trên đó coi giùm.
 
Má Tám ngất xỉu. Má không còn nghe những gì bà Năm Thành nói sau đó nữa.
 
Bà con ấp Phước Hòa lại kéo đến chật nhà, để hỏi han, chăm sóc má. Lần này má yếu quá, cứ tỉnh rồi lại ngất, ngất rồi lại tỉnh.
 
Một lúc sau, đồng chí Chủ tịch xã đến thăm má. Đồng chí dặn dò mọi người: Má Tám cần được nghỉ ngơi và chăm sóc thật chu đáo. Trưa nay ta sẽ tổ chức một đoàn địa biểu nhân dân lên tận mặt trận để tổ chức khâm liệm và đưa xác anh Hè về đây cho má.
 
Nguyễn Văn Hè, có thân hình vạm vỡ, nước da bánh mật. Anh ít nói, nhưng đã nói là như dao chém đá, đã quyết là làm bằng được. Má Tám thường khoe: “Nó rất giông tính của ba nó”. Năm 1965, từ công tác ở xã, Hè được chuyển lên bộ đội địa phương huyện Củ Chi. Năm sau, do yêu cầu nhiệm vụ mới, anh Hè lại chuyển qua công tác ở một đơn vị công an vũ trang huyện. Tháng trước được tin anh Sáu Dé hi sinh, hè có về qua nhà thăm má Tám, nhân tiện đưa người yêu của Hè về cho má biết mặt. Người yêu của Hè là cô Trần Thị Hải Yến, nữ du kích tập trung huyện Củ Chi. Hai người quen nhau và yêu nhau trong dịp cùng đi dự Đại hội chiến sĩ thi đua mặt trận Bắc Sài Gòn.
 
- Các con định chừng nào thì tổ chức cưới? - Gặp Yến mà hỏi như vậy.
 
Yến bùi ngùi thưa:
 
- Dạ thưa má. Ba má còn đều bị Mĩ ngụy giết cả rồi. Bây giờ con chỉ có một mình. Đơn vị nữ du kích là gia đình của con. Được anh Hè yêu, nên con coi má cũng như má của con. Má cho phép thời gian nào thì con nghe theo như vậy ạ!
 
Má Tám thầm khen con dâu tương lai của mình được người, được nết, nói năng dịu dàng, đánh giặc gan dạ. Má định trong bụng Tết này sẽ tổ chức đám cưới cho hai đứa.
 
Chẳng ngờ hôm rồi giặc Mĩ càn lên ấp Cây Trôm, Nguyễn Văn Hè chỉ huy một trung đội chiến đấu suốt ngày. Sẩm tối, xác địch ngổn ngang trên rìa làng. Địch điều thêm một đại đội lính ngụy ở Trung Hòa lên vây chặt, thế chân cho Mĩ chở xác chết và bọn bị thương của chúng rút về. Chờ đến khi trời tối hẳn, Hè nổ súng thu hút bọn địch về phía mình tạo thuận lợi cho cả đơn vị cải trang thành dân, được bà con che chở rút lui khỏi vòng vây của địch an toàn. Nguyễn Văn Hè chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Anh bị thương nặng vào đầu, và ngực. Anh gắng sức còn lại đập nát khẩu tiểu liên, vùi xuống ruộng, rồi hi sinh. Bà con ấp Cây Trôm tìm được xác anh giữa một vòng tròn ngổn ngang xác địch, đem về vùng căn cứ của ta ở phía sau mặt trận.
 
Trưa hôm ấy, một đoàn cán bộ và nhân dân Phước Hiệp, do đồng chí Chủ tịch xã dẫn đầu, cùng với má Tám đi lên ấp Cây Trôm dự đám tang anh Hè. Đến nơi, mọi người đã trông thấy đơn vị công an vũ trang huyện và bà con ấp Cây Trô có mặt đông đủ quanh thi hài anh Hè. Má Tám chạy đến, giơ đôi bàn tay gân guốc, run run ôm lấy xác con còn sạm mùi thuốc súng. Má vuốt nhẹ mái tóc xanh mịn màng của Hè và nói nhỏ như chỉ để đủ hai mẹ con cùng nghe: “Con ơi! Lúc còn sống, ba con thường nói với má “gia đình mình còn mấy đứa con trai nữa. Hi sinh đứa này, còn đứa khác, lo gì. Miễn là giành được độc lập”. Bây giờ đến lượt con ngã xuống khi đã hoàn thành nhiệm vụ. Má chỉ tiếc là con không còn sống để góp sức cùng anh em đồng chí giết sạch kẻ thù. Thôi, hồn con cứ yên nghỉ. Má tuy già rồi, nhưng má sẽ biến đau thương thành sức mạnh để tiếp tục tiến công quân giặc”.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #17 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2013, 05:38:55 pm »

*
*    *

Mảnh trăng lưỡi liềm cuối tháng lờ mờ dưới tầng mây đục. Trận địa pháo bót Cây Xoài chốc chốc lại bắn về hướng Giồng Con Khỉ. Đạn rít u u qua đầu mọi người như tiếng sáo diều. Trời về khuya. Tiếng chim “chóp bóp” từ rừng cao su lanh lảnh vọng về. Má Tám thao thức không tài nào chợp mắt được. Má nhớ lại lời đồng chí Chủ tịch xã nói tuần trước trong cuộc họp của các bà mẹ và các chị: “Hiện nay ở ngoài mặt trận, bộ đội ta đánh to, thắng lớn. Sắp đến, chiến dịch sẽ mở đến sát Sài Gòn. Hậu phương chúng ta có nhiệm vụ rất quan trọng là thu lúa thuế, quyên góp lương thực, thuốc men chở gấp ra vùng căn cứ. Lâu nay các bà má và các chị xã chúng ta có nhiều kinh nghiệm làm việc đó. Ủy ban xã tin thưởng giao nhiệm vụ đó cho các má, các chị, làm sao hoàn thành tốt và cáng sớm càng hay”.
 
Sau cuộc họp, đồng chí Chủ tịch xã gặp má Tám:
 
- Chúng tôi thấy chị tám còn yếu quá. Đợt công tác này chị nên tạm nghĩ đã.
 
Má Tám khẩn khoản:
 
- Chú Ba Tiến - tên đồng chí Chủ tịch - tôi khỏe rồi, tôi đủ sức tham gia công tác đợt này, chú cho tôi đi với chị em.
 
Đồng chí Chủ tịch biết rằng không thể nào ngăn cản được nhiệt tình của má Tám khi má đã quyết tâm. Đồng chí tươi cười, nói:
 
- Thôi được. Chị Tám khỏe mạnh thì làm, mệt thì nghỉ, đứng có ráng quá mà kiệt sức đó.
 
Má Tám là người gom gạo trong tổ hậu cần của Hội mẹ chiến sĩ. Chiều nay là lần thứ năm má bị bọn cảnh sát địch bắt, giờ đây hai bả vai của má còn đau nhức vì báng súng Mĩ dộng vào. Về nhà, má nghĩ má tức lộn ruột. Đến đêm, má ngồi dậy thắp đèn đi tới giường, trút hết số gạo ăn còn lại của nhà vào trong túi vải, chuẩn bị mang đến cho tổ hậu cần.
 
Tổ hậu cần của Hộ mẹ, cũng do má Tám phụ trách. Chưa đầy nửa tháng toàn tổ đã chuẩn bị đủ lương thực, thực phẩm, áo quần, thuốc men theo số lượng được giao, đủ chở một đoàn xe bò mười chiếc.
 
Đêm nay đoàn xe bò này chở hàng ra tiền tuyến, do má Tám chỉ huy. Trời tối đen. Gió chướng từ sông Sài Gòn thổi qua rừng cao su nghe ào ào. Tiếng móng bò giẫm lộp bộp và tiếng bánh xe vành sắt nghiến trên con đường sỏi đá gồ ghề, khô khốc.
 
Má Tám ngồi trên chiếc xe bò đi đầu, một ánh đèn leo lét trong chiếc ống bơ che kín ba mặt. Loài xe bò này đồng bào niền Đông gọi là “chà-rẹt”, chuyên đi đường rừng trong mùa mưa lầy lội. Nó có đôi bánh gỗ cao lêu nghều, chạy bằng ổ bi, hai bên thành xe có hai tay ngai dài, dùng để đỡ cho xe không lật úp khi vượt qua những đoạn đường nghiêng, chỗ có rãnh sâu, lệch một phía.
 
Có tiếng ù ù trên trời khiến má Tám vội tắt đèn, rồi nhảy xuống xe, đi dò đường. Trận địa pháo Mĩ ở căn cứ Đồng Dù lại bắn vụt qua đầu đoàn xe. Mọi người dừng lại sau đợt pháo, rồi lại đi. Qua khỏi rừng cao su, đường bằng phẳng, má Tám nhảy lên xe, lấy một miếng trầu bỏ vào miệng nhai bỏm bẻm. Đoàn xe đến lưng chừng dốc thì một tốp máy bay Mĩ đến thả đèn dù và một loạt bom bi phía trước. Trong ánh sáng lơ lửng, má Tám ngẩng lên nhìn, chợt thấy một vật tròn treo đu đưa trên một cành cây vươn ra đường cái, cách xe bò của má chừng mười lăm mét về phía trước. Đó là quả bom bi sót lại, chưa nổ, tròn như một cái ấm pha trà nhỏ màu vàng như nghệ, những cánh đuôi bằng thép không gỉ, lấp lánh phản chiếu ánh sáng của đèn dù. Nếu nó đứt khỏi ngọn cây kia mà rơi xuống thì sẽ nổ ngay trước mặt, chính giữa đường. Má Tám hơi rùng mình, cho xe ngừng lại.
 
Chỗ đường này dốc, rừng rậm, không thể vòng xe đi tránh được. Chờ đợi sao? Biết bao giờ nó mới nổ cho xong chuyện. Lùi lại sao? Cũng không thể được. Các chiến sĩ ngoài mặt trận đang mong chờ, gà gáy canh ba. Nếu dừng nghỉ, chờ ở đây thì không kịp vượt quốc lộ 1 trước khi trời sáng, trễ hẳn một ngày chở lương thực, thuốc men cho mặt trận. Phải liều thôi. Năm ăn, năm thua mà. Má Tám nghĩ nhanh, vừa hét vừa quất mạnh roi vào mông hai còn bò. Chiếc “chà-rẹt” lao mạnh lên dốc. Cả đoàn xe bò đằng sau nhanh chóng tiến lên theo. Vượt qua khỏi quả bom bi rồi, má Tám nghĩ thầm trong bụng: “Đúng là nhờ hương hồn các liệt sĩ, nhờ phước đức ông bà, nên mới tai qua nạn khỏi”.
 
Đoàn xe của má Tám tiếp tục lên đường. Trời sáng rõ,đoàn xe đã vượt qua khỏi quốc lộ, đi sâu vào vùng căn cứ.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #18 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2013, 05:39:27 pm »

VII. SỰ HI SINH MÀ QU N THÙ KHIẾP SỢ LÀ ĐIỀU QUÝ BÁU VÔ CÙNG
 
Má Tám dành riêng cho anh Tám Thắng, Bí thư huyện ủy Củ Chi ở và làm việc trong một gian hầm đặc biệt, có hai cửa thông đi hai đường. Một cửa nối liền với địa đạo, một cửa ra bờ mương, từ bờ mương đi tới những khu giồng phía xa.
 
Gian hầm của anh Tám ở, đêm đêm thường chật ních người. Lúc thì họp cán bộ, lúc thì các đồng chí Bí thư, Chủ tịch xã lên nhận chỉ thị, nhiệm vụ, lúc thì tiếp các đồng chí của thành phố, của “R” về nắm tình hình. Đêm nào cũng vậy, má Tám thắp ngọn đèn dầu hỏa tù mù trước mái hiên, ngồi đan đệm để cảnh giới. Những cọng bàng mềm mại qua bàn tay lao động cần cù của má trở thành những chiếc đệm khá đẹp. Cứ năm bảy đêm cảnh giới, thì làm xong một chiếc đệm khá lớn đem ra chợ Củ Chi bán, mua được vài kí gạo và ít trầu cau. Huyện ủy cho má gạo hoặc tiền, má nhất định không nhận. Nhiều lúc anh em cứ để gạo lại nhà má rồi ra đi, hoặc phải nói dối rằng “Má cho chúng con gởi lại để má dùng nuôi cán bộ, bộ đội”. Ma Tám buộc lòng phải nhận. Lâu lâu má lại gởi tất cả tiền, gạo ra địa đạo cho đơn vị nữ du kích Củ Chi của cô Sương, cô Thảo, cô Hường.
 
Nhiều đồng chí trên miền lần đầu tiên về công tác ở Củ Chi, thấy gian hầm làm việc của đồng chí Bí thư huyện ủy chắc chắn và thuận tiện quá, hỏi:
 
- Đồng chí đào cái hầm này lâu chưa?
 
Anh Tám Thắng tươi cười, trả lời:
 
- Hầm này là do má Tám Rành, Mẹ chiến sĩ Củ Chi đào.
 
Anh em ngạc nhiên hỏi má:
 
- Thưa má, má già yếu thế này làm sao má đào được ạ.
 
Má vừa ngoáy trầu, vừa âu yếm trả lời:
 
- Các con ở xa vừa mới về không biết đó chớ, má đào hầm nhiều lắm. Chục năm nay rồi, cứ mỗi lần địch cào nhà là má vừa sửa nhà, vừa phải đào lại hầm trên nền nhà mới. Dụng cụ của má chỉ có con dao phay cùn với chiếc nồi nhôm cũ. Má cứ đào hoài, đào hoài, suốt ngày, thâu đêm, tháng này qua tháng khác. Má đưa cối trầu làm bằng vỏ đạn 12 li 7 lên miệng vừa lùa, vừa nhai trầu, đôi mắt còn nhanh nhẹn nhìn ra cánh đồng. Một lúc, má nói tiếp: Ở đất Củ Chi này, địch nó chà đi, xát lại, hết bom đạn, lại chất độc, cái cây, ngọn cỏ cũng chết rụi, nên con người không có cài hầm vững chắc thì không sống nổi đâu.
 
Đồng chí Bí thư Huyện ủy nói thêm vào:
 
- Từ ngày giặc Mĩ đến đây dùng bom, pháo bắn phá, bà con làm nhà hầm lún sâu dần vào lòng đất với tất cả mọi vật dùng cần thiết đem theo, để trụ lại, bám chặt từng tấc đất, mảnh vườn, bờ tre, đám ruộng. Chúng nó dùng lính đánh thuê, vũ khí hiện đại, kể cả chất độc hóa học để hòng trục xuất chúng ta ra khỏi mảnh đất này. Nhưng nhân dân Củ Chi quyết bám chặt lấy đất. Những gian hầm, những công sự, những địa đạo ta xây dựng ngày càng nhiều, rộng khắp để có chỗ ăn ở và chiến đấu lâu dài, sống chết với kẻ thù. Anh Tám Thắng cười hề hề nói tiếp: Giặc Mĩ không thể nào hiểu nổi tại sao ta lại có thể sống được trong lòng đất. Chúng nó lại càng không thể nào hiểu nổi sức mạnh nào làm cho những bà má như má Tám Rành, mười năm liên tục đào hầm tạo nên một cuộc sống bình thường trong cuộc chiến tranh nhân dân. Đó là ý chí sắt đá của người dân Củ Chi. Tất cả đều đứng lên đánh giặc bằng cả sức mạnh tổng hợp của mình. Hầm của du kích và thanh niên là ổ chiến dịch, vừa là nơi cất giấu lương thực. Hầm của các má, các chị là nơi bảo vệ cán bộ, bộ đội thương binh. Mặt trận thầm lặng của hệ thống hầm trong lòng đất Củ Chi thật sôi động và thần kì.
 
Suốt đêm hôm trước đồng chí Bí thư huyện ủy làm việc với đồng chí cán bộ quân giải phóng miền. Hai người bàn bạc với nhau rất tỉ mỉ kế hoạch sắp đến phối hợp giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương huyện và du kích đánh mạnh ở vùng Củ Chi tạo bàn đạp và chỗ ém cho cánh quân mặt trận phía Bắc Sài Gòn.
 
Thấy hai người làm việc thâu đêm, má Tám nấu một rổ khoai từ, bưng xuống hầm. Má nói:
 
- Các con ăn thứ khoai má trồng có ngon không - Má cười xởi lời: Giặc Mĩ nó rải bom đạn dày đặc thế mà vẫn còn sót được mấy bụi khoai, nên má đặt tên khoai này là giống “khoai thắng Mĩ” đó.
 
Má Tám cho khoai từ khuya, mà đến gần sáng tỏ,khi xong công việc hai người mới ăn. Đang ăn thì đồng chí Ba Tiến, Chủ tịch xã Phước Hiệp bước vào. Đồng chí cán bộ quân giải phóng miền đứng lên bắt tay đồng chí Chủ tịch và tự giới thiệu mình là Chín Phương.
 
Sau một hồi trò chuyện thân mật với đồng chí Tiến, Chín Phương nói:
 
- Nhân dịp về huyện công tác, được gặp đồng chí, đồng chí cho tôi gởi cái công văn này của cơ quan chính sách mặt trận miền, nhờ chuyển.
 
Ba Tiến mở phong bì ra xem. Trong phong bì có một giấy tuyên dương công trạng của Bộ chỉ huy Miền, hai giấy chứng nhận Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất, hạng Hai và hạng Ba. Cuối cùng là giấy báo tử. Tất cả đều là của liệt sĩ Nguyễn Văn Hội của má Tám Rành.
 
Ba Tiến xem xong, nín lặng hồi lâu. Anh đưa những giấy tờ cho đồng chí Bí thư Huyện ủy xem. Tám Thắng cắn chặt môi im lặng để cho khỏi bật ra tiếng khóc. Chín Phương biết hai anh đang xúc động nên cùng ngồi lặng lẽ. Một lát sau, Chín Phương nói giọng trầm trầm:
 
- Đó là công văn của cơ quan chính sách mặt trận. Các đồng chí biết tin tôi về dưới này công tác nên nhờ chuyển giùm cho đỡ thất lạc. Gia đình liệt sĩ này ở ấp nào, đề nghị các anh tổ chức báo hộ.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #19 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2013, 05:39:46 pm »

Đồng chí Chín Phương - Anh Tám Thắng nói - Liệt sĩ Nguyễn Văn Huội là con của má Tám Rành, này này đây. Điều chúng tôi đang băn khoăn là những năm qua má đã chịu đựng quá nhiều về sự hi sinh của các con của má. Lần này, đồng chí Huội hi sinh là liệt sĩ thứ bảy trong gia đình này. Việc báo tử cho gia đình là nhất định phải làm rồi. Nhưng chúng tôi đang tính, đối với má thì làm như thế nào và vào lúc nào, để má giảm bớt sự xúc động mạnh mẽ, nhất là tuổi má đã già yếu.
 
Ba Tiến nói:
 
- Tôi đề nghị với đồng chí Bí thư và anh Chín Phương thế này, các anh xem có được không. Nhân có anh Chín Phương về đây, lại có đồng chí Bí thư đang ở làm việc trong gian hầm này của má; tôi nghĩ rằng đây là điều kiện thuận lợi để ta báo tin này cho má. Chúng ta tiến hành cụ thể như thế này: Tôi sẽ mời má đến đây, anh Chín Phương thay mặt cho cơ quan và đơn vị báo tin buồn cho má. Sau đó, anh Tám thay mặt Huyện ủy có ý kiến với má. Tôi tin rằng sự có mặt đông đủ này sẽ giúp má đỡ căng thẳng. Những ngày anh Tám còn ở và làm việc ở đây sẽ là niềm an ủi động viên má thêm.
 
Ba người trao đổi thêm hồi lâu, dự kiến cả tình huống xấu có thể xảy ra và nhất trí với ý kiến của anh Ba Tiến Chủ tịch xã Phước Hiệp.
 
Trưa mùa thu trời lúc mưa lúc tạnh, mây nhiều nhưng vẫn có những những mảng da trời phơn phớt xanh dương và nắng sớm vẫn ánh vàng rực rỡ.
 
Ba Tiến chưa kịp mời má vào thì má đã bưng mâm cơm vào hầm. Má nói:
 
- Cũng đã gần trưa rồi, mời đồng chí Bí thư, đồng chí bộ đội giải phóng và chú Ba Tiến nghỉ một chút xíu, ăn cơm đã. Mấy bữa rày địch bắn pháo rát quá, má không đi chợ được nên chẳng có cái gì tươi để anh em ăn bồi dưỡng cả - Má đặt mâm cơm xuống phiến gỗ vuông giữa mâ, rồi lại ngồi cạnh đồng chí Chín Phương nói tiếp - Tội nghiệp, con ở trên rừng khổ cực, được về đồng bằng mấy ngày, mà má chẳng có cái gì ngon cho con ăn cả.
 
- Tôi xin phép thưa với chị Tám - Ba Tiến là người bà con với má Tám Rành nên gọi má bằng chị - Việc này hơi đột ngột, nên tôi mong chị phải hết sức bình tĩnh. Được phép anh Tám, Bí thư Huyện ủy, tôi xin giới thiệu với chị,đồng chí Chín Phương, cán bộ quân giải phóng Miền, nhân dịp về công tác ở xã nhà, sẽ báo cáo với chị một việc.
 
Má Tám thấy lòng dạ bồn chồn trước câu nói của Ba Tiến. Má nghĩ rằng có chuyện gì chẳng lành đã xảy ra. Hay là con của má đứa nào đó lại hi sinh. Cho dù sự thật có xảy ra như vậy, má cũng sẽ sẵn sàng chịu đựng. Đã từ lâu rồi, má khẳng định rằng, má còn bốn người con trai nữa đang làm nhiệm vụ. Cuộc chiến đấu ác liệt như thế này làm sao có thể tránh khỏi sự tiếp tục hi sinh, mất mát. Má lấy lại bình tĩnh và nói rất chậm rãi:
 
- Chắc là có chuyện gì chẳng lành cho tôi hả? Dù có chuyện gì đi nữa, mất má đến đâu đi nữa, tôi cũng chịu đựng được.
 
Anh Chín Phương nói:
 
- Thưa má, được sự đồng ý của anh Tám, Bí thư huyện ủy và anh Ba Chủ tịch xã, con thay mặt cho cơ quan và đơn vị, xin báo tin cho má rõ: Đồng chí Nguyễn Văn Huội, đảng viên, con của má, là đại đội trưởng bộ đội đặc công của Miền, đã anh dũng hi sinh sau khi hoàn thành nhiệm vụ chỉ huy đơn vị đánh cháy kho xăng Nhà Bè của Mĩ ngụy. Trận đánh táo bạo ấy làm cho địch tổn thất nặng nề về sinh lực và nhiên liệu, đồng thời gây cho chúng nỗi kinh hoàng, khiếp sợ chưa từng có. Bộ chỉ huy Miền quyết định tuyên dương công trạng liệt sĩ Nguyễn Văn Huội và truy tặng Huân chương chiến công giải phóng hạng Nhất cho đồng chí ấy. Con xin phép trao cho má toàn bộ giấy tờ của cơ quan và đơn vị của đồng chí gởi về.
 
Đồng chí Bí thư huyện ủy nghĩ giờ phút này thật khó có lời nào cho xứng đáng để phát biểu với má Tám. Đồng chí nhìn má đang ngồi im lặng, hai hàng nước mắt chảy dài trên khuôn mặt đầy những nếp nhăn. Tuy vậy, anh vẫn nói với giọng run run đầy xúc động:
 
- Thưa má Tám. Bà con cả huyện Củ Chi này đều xem má là tấm gương trong sáng nhất về tinh thần hi sinh cao cả của một gia đình cách mạng tiêu biểu trong sự nghiệp chiến đấu giải phóng đất nước. Những người con, người cháu ruột thịt của má đã nối tiếp nhau ra mặt trận và nhiều người lần lượt ngã xuống. Nhưng má không bao giờ chùn bước. Tình thương dân thương nước của má thật dạt dào, má đã chia sẽ cho tất cả mọi chiến sĩ ở hậu phương và tiền tuyến. Đối với má, một du kích, một cán bộ hoặc một chiến sĩ giải phóng hi sinh làm má đau như cắt ruột. Bây giờ đồng chí Nguyễn Văn Huội làm tròn nhiệm vụ, bà con Củ Chi càng học tập tấm gương vững vàng và tinh thần hi sinh, chịu đựng rắn rỏi của má để động viên con cháu tiếp tục xốc tới.
 
Má Tám lấy chiếc kăn rằn đang quấn trên đầu lau khô hai dòng nước mắt. Má nói:
 
- Tôi nghĩ rằng: đánh giặc thì phải có hi sinh. Nếu sợ hi sinh không tham gia đánh đuổi giặc ngoại xâm thì sẽ mất nước, phải làm nô lệ. Cho nên sự hi sinh mất mát trong chiến đấu là lẽ thường tình. Nhưng đứa con, đứa cháu của tôi ngã xuống vừa qua đều không uổng. Sự hi sinh của chúng đã đem lại lợi ích cho cách mạng, đã làm cho quân thù khiếp sợ là điều quý báu vô cùng.
 
Một vài tia nắng xuyên qua lỗ thông hơi lọt vào gian hầm. Ngoài trời, một chiếc trực thăng rè rè bay qua. Nó gọi pháo bắn vu vơ. Tiếng đại bác của Mĩ ở căn cứ Đồng Dù lại gầm gào. Họng súng chúng nó chĩa về phía Phước Hiệp, nên mặc dầu ở dưới hầm, mọi người vẫn thấy đinh tai, nhức óc. Mỗi viên đạn phát hỏa nghe như chiếc nút bị ém chặt, bật khỏi một cổ chai khổng lồ nào đó, kêu bưng bưng, dội vào vách hầm nghe thật căng thẳng.
 
Sau những loạt đại bác của Mĩ ở căn cứ Đồng Dù, là các trận địa pháo của quân ngụy ở Cây Trôm, Cây Sộp Bãi Giữa, Bãi Ngang bắn phá họa theo. Dứt pháo là các loại súng liên thanh các đồn bót thi nhau nổ như rang bắp.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM