Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:09:17 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bà mẹ của mười liệt sĩ - Truyện kí của Tô Phương  (Đọc 39524 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #40 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2014, 07:50:04 am »

…

Sự việc trên đã xảy ra được năm tháng rồi. Phúc không nhớ rõ sau đó chị còn phải nói bao nhiêu đêm như vậy nữa Gấm mới dần dần ưng thuận lấy anh Vũ Đình Tiệu. Còn thằng Láu cũng sau lần bị chị Phúc đuổi ra khỏi nhà, không thấy hắn mò về làng nữa. Hắn bắn tin cho bọn tay chân cũ còn lại trong làm, dọa: “Láu sẽ không để yên cho con Gấm lấy thằng Tiệu”. nhưng lời của hắn cũng như tiếng chó sủa trăng, không ai sợ cả.

Đêm qua hai vợ chồng Phúc đã bàn bạc kĩ: Tết này ngoài đồng có dăm nén hương, trong chuồng có một con lợn choai choai khoảng bốn mươi kí với chục con gà, vịt, gói vài chục đòn bánh tét, giã mấy cây giò, nhân tiện đón năm mới, tổ chức xây dựng gia đình cho Gấm và Tiệu luôn.

Sáng nay hai bố con Gấm đi gặt sớm. Một lúc, anh Tiệu tất tưởi chạy đến. Phúc hỏi:

- Sao nghe anh Lợi nói sáng nay anh đi họp!

- Thưa bác, con phải đi họp ngay bây giờ, nhưng nghe tin bác không được khỏe, con tìm được mấy viên thuốc đem đến cho bác uống và hỏi xem bác trai với cô Gấm đi gặt ở hướng nào, để trưa họp xong con sẽ đưa ghe đi đón.

- Anh cứ yên tâm lo họp đi. Tình hình xây dựng lực lượng vũ trang ra sao thì về nói lại cho tôi biết với. Còn việc đi đón Gấm đã có cụ Quyến lo rồi.

Anh Tiệu lễ phép trao cho chị Phúc gói thuốc viên rồi vội vã ra đi. Chị Phúc xúc động nhìn theo bóng anh, lẩm bẩm:

- Cái thằng thật là chu đáo!
*
*   *

Thời gian trôi đi nhanh như nước dòng sông Nam Thái phía trước. Gấm đã sinh được một trai đầu lòng, đặt tên là Vũ Đình Lạc. Chị bận rộn nhiều việc, anh Tiệu họp hành liên miên, ít khi được ở nhà. Gấm là người lao động trụ cột của gia đình, nhưng vẫn hăng hái tham gia các đoàn thể phụ nữ, thanh niên và du kích. Bé Lạc luôn ở trên tay bà ngoại.

Từ khi Tiệu trở thành con rể của chị Phúc, và nhất là từ lúc chị có cháu ngoại, tự nhiên người ta không gọi là chị Phúc, thím Phúc như trước nữa. Bà con gọi là bác Tám, mặc dù lúc ấy chị mới bốn lăm tuổi.

Một hôm anh Lợi Bí thư chi bộ kiêm Chủ tịch xã đến thăm, nói:

- Chị Tám à. Chúng tôi thấy gia đình ta dạo này đông người mà lại hóa ra neo đơn. Bác Tám trai thì phụ trách nông hội cũng lắm việc. Cậu Tiệu, cô Gấm, một người phải đảm nhiệm hai ba việc. Chị còn phụ trách lực lượng vũ trang làng này nữa thì nhà chỉ còn có cu Lạc thôi. Chúng tôi bàn nhau chuyển chị sang phụ trách Hội mẹ chiến sĩ toàn xã, thích hợp với sức khỏe và hoàn cảnh của chị. Chớ thiệt ra chúng tôi không dám chê vai trò của chị trong việc chỉ huy lực lượng vũ trang ở làng này đâu - Lợi cười hề hà - Chị biết không, cái đòn xóc của chị đánh vào đầu thằng “Bùi Kiệm” ấy mà, chị phải giữ kĩ để sau này làm kỉ vật truyền thống cho xã đấy.

Bác Tám vui vẻ nói:

- Các anh lãnh đạo tin tưởng giao cho tôi làm việc gì thì tôi sẽ cố gắng làm cho thật tốt việc đó.

- Nhiệm vụ của Hội mẹ chiến sĩ lúc này nặng nề lắm. Vận động các mẹ hăng hái cử con em của mình vào vệ quốc đoàn, vào du kích và nhận anh em vệ quốc đoàn làm con nuôi để an ủi, chăm sóc họ. Quyên góp quà từ lòng hảo tâm của đồng bào, tổ chức các đoàn úy lạo đi ra mặt trận. Khi có chiến đấu thì lo chăm sóc thương binh, liệt sĩ, lo cơm nước. Ôi chao, bao nhiêu là việc, bữa nào rồi sẽ mời chị họp để trao đổi cụ thể… Thôi, thăm bà chị một tí, tui đi họp đã nghen! Hà hà…

Anh Lợi vừa nói oang oang vừa bước vội ra ngõ.

Trời bỗng đổ mưa. Trong buổi bình minh, cánh đồng tràm phía ngoài kinh Ba như lui xa hơn. Giữa những khoảng sáng tối của nước mưa và thân cây ẩn hiện một bóng người cao lớn. Bác Tám dõi theo bóng anh Lợi, người cắm cờ năm xưa trên ngọn cây gòn, kêu gọi bà con khởi nghĩa, người đảng viên đầu tiên của xã Nam Thái Sơn, nay là Bí thư chi bộ kiêm Chủ tịch xã, hết lòng tận tụy việc dân, việc nước.

Bác Tám làm công tác Hội mẹ chiến sĩ được một thời gian ngắn mà phong trào của Hội sôi nổi hẳn lên. Hàng trăm bà mẹ cho con minh tòng quân. Hàng trăm gia đình du kích gặp khó khăn về đời sống được các mẹ quyên góp giúp đỡ. Những gia đình cán bộ, chiến sĩ thoát li được các mẹ phân công nhau chăm sóc. Các đợt bộ đội hành quân qua xã đều được các mẹ phục vụ cơm nước chu đáo. Từ đó, bộ đội và du kích đã trìu mến gọi bác Tám là má Tám.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #41 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2014, 07:51:19 am »

*
*   *

Suốt mấy năm nay má canh cánh một nỗi buồn riêng trong lòng. Má chưa hề nói với chồng và con cái. Và càng chưa hề để lộ nỗi buồn thầm lặng ấy với người ngoài.

Từ ngày vào làng Nam Thái Sơn đến nay má đã sinh nở ba lần, hai trai một gái, má chẳng nuôi được đứa nào. Bây giờ phần tuổi đã cao, phần bận trông nom cháu ngoại cho vợ chồng Gấm đi hoạt động, má không nghĩ đến chuyện chửa đẻ nữa. Với lại đã là mẹ chiến sĩ rồi mà còn bụng mang, dạ chửa, thì làng nước họ cười cho. Hơn nữa cuộc đời đã cực, cái số nó như thế thì phải gắng mà gánh chịu, đừng có làm cho người khác vì mình mà khổ lây, đó mới là điều phúc đức. Má nén đau để chịu đựng sự thiệt thòi về việc không nuôi dưỡng được con trai. Nhưng còn cả cái dòng họ Đinh của bên chồng… Nhiều lần má gợi ý với chồng:

- Nhà ạ! Trời chỉ cho tôi nuôi được mình con Gấm thôi. Tôi chẳng sinh đẻ gì được nữa đâu. Hay là tôi kiếm bà hai cho nhà.

Ông Xừ cau mặt, nhìn má, sửng sốt;

- Nhà nói cái gì kì cục vậy. Nhà điên rồi phải không? Nhà coi tôi là con người như thế nào?

Má Tám điềm tĩnh dịu dàng phân giải:

- Hơn hai chục năm nay vợ chồng mình ăn ở với nhau như bát nước đầy. Từ Bắc vào Nam, vượt qua trăm thác ghềnh, nghìn cay đắng, chỉ có đôi bàn tay và chiếc bị rách, vợ chồng mình đã chung lưng đấu cật, dựng nên cửa nhà. Vợ chồng mình cũng đã sinh nở được cả thảy bốn mặt con, trai có, gái có, nhưng trời chỉ cho nuôi được mình con Gấm. Bây giờ nó đã có chồng, có con. Nhà là một người chồng đức độ. Tôi biết nói ra lời ấy, là chạm đên tấm lòng thương vợ, thương con của nhà. Nhưng xin nhà hãy bình tâm nghĩ lại. tôi muốn nhà có thêm vài đứa con nữa. Tôi khổ nhiều rồi, tôi quen chịu đựng rồi, bây giờ tôi dẫu mất mát đi một ít tình cảm, nhưng rồi nhà sẽ có thêm con, nhất là con trai để nối nghiệp nhà. Tôi sẽ coi nó như con của tôi, nên tôi chịu đựng được. Mới lại lấy vợ hai cho nhà, có phải rồi tôi bỏ nhà đâu. Tôi sẽ bảo đảm để thu xếp, chị em chung sống hào thuận. Nhà đừng có nhìn cảnh vợ lớn, vợ bé của người khác mà ngại. Họ khác, tôi khác.

Ông Xừ vãn còn giận, nói nhát gừng:

- Nhà già rồi đâm ra lẩm cẩm, bày vẽ lắm chuyện kì cục, tôi chẳng biết bà hai, bà ba gì hết.

- Nhà thương tôi thì nhà suy nghĩ lại cho thật kĩ, thật chín lời tôi nói đi. Tôi lo là lo cho cả dòng họ…

- Thôi, nhà đừng nghĩ đến chuyện lo vợ hai cho tôi nữa. Nhà thích thì nhà cưới người ta về, rồi nhà ở với họ. Năm nay tôi đã ngoài năm mười rồi, tôi chả thiết…

…

Ngày tháng lại lặng lẽ trôi nhanh.

Má Tám lựa lời, lựa lúc tiếp tục nhỏ to khuyên giải chồng và khuyên giải cả Gấm nữa. Lúc đầu Gấm cũng không bằng lòng. Nhưng vì thương mẹ có một cách nhìn độ lượng một tình thương rộng mở, nên dần dà rồi Gấm cũng thuận theo ý mẹ.

Những ngày tháng ấy ông Xừ cảm thấy khó xử trước ý định của vợ. Đêm nằm vắt tay lên trán ông trằn trọc suy nghĩ rất nhiều. Lợi vợ thực lòng thiết tha. Ông càng thấy yêu quý người vợ có tấm lòng cao thượng. Lời Gấm cũng dạt dào đồng cảm. Những sụ suy nghĩ căng thẳng về việc này của ông lùi dần, lùi dần. Mãi đến cuối năm ấy ông mới thực sự đồng ý lấy vợ hại.

Nhưng chị nào sẽ là vợ hai của ông ấy? Từ trước, má Tám đã để ý ngầm chuẩn bị sẵn mấy đám. Như chị Tư Châu ở xóm Bài, người gốc Cần Tơ lấy chồng về sống ở đây, có ba con trai. Chống chết mấy năm rồi, chị lằm ăn đảm đang, tính tình nết na ai cũng yêu mến. Như chị hai Cần bên kia sông Ba Thê, ngoài ba mươi tuổi, có chống chưa có con thì chồng chết, chị làm nghề buôn thúng bán bưng ở chợ Rạch Giá. Như chị Năm An ở làng Ba Hòn, tuổi cũng ngoài ba mươi nhưng chưa có chồng vì quá lứa. Chị cũng là một cán bộ phụ nữ tốt…

Má Tám nói rõ lai lịch từng người như vậy để tùy ý ông Xừ chọn. Nhưng đám nào ông Xừ cũng lắc đầu quầy quậy. Má Tám thở dài: “Hay là ông ấy vẫn không ưng thuận việc lấy vợ hai, nên dùng mọi cách để thoái thác”. Nhiều lúc má Tám càng thấy ngao ngán. Dựng vợ gả chồng cho ai cũng vậy. Là việc hệ trọng của một đời người, chứ đâu phải là việc mua bán hàng hóa ngoài chợ. Những người má để ý toàn là những người tốt, nhưng cũng phải cân nhắc lắm mới trình bày với ông Xừ. Bây giờ chẳng được ai, hay đành thôi vậy?

Mấy tháng sau má Tám tâm sự với chồng:

- Nhà ạ, tôi giới thiệu bao nhiêu đám, nhà không chê ai, mà nhà cũng chẳng đồng ý ai. Thôi, nó là cái duyên, cái số nên tôi chẳng dám ép nhà. Bây giờ tôi lại mách một đám nữa. Nhưng trước khi nói rõ, tôi mong nhà thương tôi với - Má Tám dừng lại lấy khăn lau nước mắt, một lúc sau mới hỏi tiếp - Đó là chị Tuất ở làng Hòn Đất. Năm nay chị ba mươi ba tuổi, đã có hai con, một gái một trai. Chồng chị chết ba năm rồi. Các cháu còn bé, nhà nghèo quá chị làm không đủ để nuôi các cháu. Chị là một người đàn bà biết diều. Tôi muốn giúp đỡ chị ta. Tôi thương các cháu quá! Tôi mong nhà lần này để cho tôi yên tâm thu xếp…

Ông Xừ im lặng nhìn vợ nét mặt đầy xúc động.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #42 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2014, 07:51:56 am »

*
*   *

Mùa xuân năm ấy má Tám đứng ra tổ chức đám cưới cho chồng thật chu đáo.

Má Tám mua đất, mua vườn, thuê nhân công dựng ba gian nhà gỗ lợp lá thốt nốt, sắm sửa giường chõng, bàn ghế khá đầy đủ, rồi đón mẹ con chị Tuất về ở. Các cháu con riêng của chị Tuất được má Tám trông nom như con đẻ, áo quần lành lặn, được học hành.

Cuối năm, chị Tuất sinh được một cậu con trai đặt tên là Đinh Văn Cừ. Cừ kháu khỉnh giống mẹ ông Xừ như đúc, từ cái mồm, đôi mắt, cái mũi. Má Tám vui như mở cờ trong bụng. Má thấy mình khỏe khoắn và dường như niềm vui làm má trẻ lại mấy tuổi.

Ông Xừ cũng quý má Tám.

Một mùa đông nữa lại đến. Tiếng mưa rả rích. Nước trong cánh đồng dềnh lên, chảy ào ào xuống những khu ruộng thấp. Hương tràm mùa đông thơm ngọt như mùi mật, bay tỏa khắp một vùng đồng quê bát ngát. Lúa con gái mơn mớn trên những thửa ruộng cao. Những ngày hửng sáng, biển lúa nghiêng mình, nhảy nhót. Làng Nam Thái Sơn đang sống một mùa đông yên tĩnh, yên tĩnh gần như phẳng lặng.

Nhưng mùa đông ấy đối với má Tám lại là một mùa đông đau khổ, một mùa đông tang tóc dội vào cuộc đời má.

Ông Xừ bỗng dưng đau nặng. Ngày đầu sốt cao, bỏ ăn uống. Ngày thứ hai vừa tháo dạ vừa ói tới mật xanh, mật vàng. Cả nhà chia nhau chạy mua thuốc khắp nơi, nhưng bệnh tình vẫn ngày càng trầm trọng. Đến ngày thứ tư ông Xừ lả dần. Ngày thứ năm ông mửa ra cả máu tươi và lịm dần. Sau đó ông Xừ qua đời không kịp một lời trăng trối lại.

Cái chết của chồng đột ngột quá làm cho má Tám ngẩn ngơ đến cuối mùa đông. Má ôm nặng. Nhưng rồi nhờ thuốc thang và nghị lực, má đã thắng cái chết. Má bắt đầu ăn được lưng bát cháo, nhưng lòng má vẫn nặng như chì.

Những cơn mưa cuối mùa đông thường đột ngột như luồng gió chướng. Tạnh mưa, bầu trời lại cao lồng lộng. Nhìn ra bãi trám, má Tám giật mình như trông thấy bóng dáng chồng hiện lên. Ông Xừ vác cuốc đi giữa cánh đồng. Bên này cánh đồng Tam Quang mùa tràm đang thay lá mới. Bên kia Tam Quang, ruộng lúa nếp chín vàng. Bóng ông vẫn lướt đi giữa cánh đồng bao la rồi nhòa dần. Sóng biển vẫn dội ầm ầm. Má Tám thấy rùng mình giơ hai bàn tay chai sạm ôm lấy mặt, hai dòng nước mắt chảy dài nóng hổi. Một lúc sau má vội quay nhìn về phía cũ, nhưng không còn thấy bóng dáng người chồng kính yêu, suốt một cuộc đời lam lũ đâu nữa. Má Tám như vừa sự tỉnh, thấy mình vẫn đứng trước bàn thờ với ba nén hương đang cháy nghi ngút. Trên bàn thờ là tấm ảnh chồng lồng trong khung kính, viền vải đen. Ông đang nhìn má, muốn nói một điều gì với má như những ngày ông còn sống.

Sự đau khổ với dần, vơi dần theo thời gian. Má Tám lao vào công tác ở địa phương như nuôi cán bộ, du kích, vận động thanh niên tham gia vệ quốc đoàn, hô hào con cháu đi dân công hỏa tuyến… để tìm lấy niềm vui trong những chiến công mới.

Nam Thái Sơn những năm này trở thành vị trí tập kết quan trọng đối với những đơn vị chủ lực lớn từ vùng Bảy Núi, Hà Tiên hành quân đến, chuẩn bị đánh vào Rạch Giá. Nam Thái Sơn là mục tiêu số một của bọn thực dân Pháp và lính ngụy trong các trận lùng sục, càn quét. Cuộc chiến đấu giành đi, giật lại trên địa bàn Nam Thái Sơn rất quyết liệt. Nhiều thời kì cả làng tản cư, nhưng má Tám vẫn ở lại. Má đào hầm, vác dao, khiêng thương binh… Má trở thành “chính trị viên” của tất cả các đơn vị đóng quân ở đây và của anh chị em du kích.

Một hôm, má Tám bàn bạc thân tình với chị Tuất:

- Bây giờ chẳng may ông nhà đã qua đời đột ngột quá. Đó là cái tang chung của chị em mình. Lâu nay tôi hay nghĩ điều này dữ lắm, tôi thấy cần phải phơi bày với dì. Nếu có điều gì không phải chỉ mong dì cũng bỏ qua cho.

Chị Tuất lau nước mắt nói nhỏ nhẹ:

- Từ ngày lấy lẽ ông nhà, được nương bóng chị, em thấy cuộc đời mình đỡ vất vả đi nhiều. Em cứ tưởng rằng… Nào ngờ đâu ông nhà lại qua đời đột ngột. Từ ấy đến nay, người em như cây đứt rễ. Em chẳng hiểu cuộc đời mình rồi sẽ ra sao. Bây giờ chị dạy thế nào, em cũng xin nghe theo lời chị.

Má Tám nhẹ nhàng giơ tay bế bé Cừ từ trong tay nồng ấm của chị Tuất, vừa nựng vừa nói:

- Dì Tuất ạ! Chị em mình chung sống với nhau chưa thật lâu, nhưng mà nghĩ tình đối với nhau thì như chị em ruột thịt vậy. Cuộc đời lắm nỗi éo le mà không lường trước được. Nếu cứ để dì sống thế này thì tội nghiệp cho dì. Dì còn trẻ quá, mới có ngoài ba mươi tuổi. Chẳng lẽ dì phải chịu sống cảnh đơn chiếc đến hết đời. Mà đã định liệu bước nữa thì phải định liệu sớm đi. Đàn bà có thì của nó…

Chị Tuất khóc nức nở. Má Tám ôm chầm lấy chị, lấy chéo khăn rằn lau nước mắt.

- Dì Tuất ạ! Tình thật tôi khuyên dì thế này… Dì nên đi lấy chồng, không cần phải chịu tang lâu. Bây giờ cách mạng thực hiện đời sống mới rồi, mình cũng phải từ bỏ những cái ràng buộc cũ kĩ đi. Tất cả các cháu để tôi nuôi, nhà này dì cứ ở. Dì lấy ai thì tùy dì chọn. Tôi sẽ đứng ra giúp đỡ mọi việc. Dì đừng giận và hiểu lầm về tấm lòng thực thà của tôi. Chị em mình dù có phải xa nhau, vẫn mãi mãi giữ mối tình chị em tròn vẹn nghen dì Tuất!

- Dạ! Em xin đa tạ tấm lòng của chị. Đột ngột quá, để em suy nghĩ đã chị ạ!

Má Tám một mặt vừa tiếp tục khuyên bảo, mặt khác vẫn giúp đỡ tận tình mẹ con chị Tuất. Hơn một năm sau, chị Tuất lập gia đình mới. Chồng chị là anh Tình cán bộ địa phương bên kia sông Ba Thê. Anh Tình gần năm mươi tuổi rồi mà chưa có vợ, vì cuộc đời lam lũ đi làm thuê ở mướn quanh năm. Cách mạng thành công, anh được đổi đời, nhưng lại bận rộn nhiều công tác. Anh đã nghĩ đến chuyện xây dựng gia đình, nhưng chưa có dịp.

Má Tám lại đứng ra tổ chức đám cưới cho chị Tuất. Anh Tình xin nhận hai đứa con riêng của chị Tuất từ đời chồng trước về nuôi. Má Tám tha thiết xin được nhận lại cậu bé Cừ.

Lúc ấy bé Cừ mới biết đi lững chững.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #43 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2014, 07:53:31 am »

IV

Cái đồn giặc ở đầu Kinh Một có một lô-cốt chính cao hai tầng. Những buổi trời chiều đỏ rực, người ta vẫn thấy ở trên đó hiện lên hai cái đầu người rối bù như tổ quạ và hai họng súng máy đen ngòm.

Đó là hai tên lính ngụy gác cố định trên lô cốt. Theo như lời bọn lính đồn đại, hai tên đó bắn súng rất giỏi. Trăm phát trăm trúng. Chúng được trả lương cao và trấn giữ trên ấy để làm nhiệm vụ bảo vệ đồn này ở đầu làng Nam Thái Sơn.

Bà con trông mặt mà đặt tên, gọi chúng là Râu-dê và Mũi-lõ. Râu-dê có tài là nhắm mắt mà bắn trúng mục tiêu. Chẳng có gì lạ, hắn nhìn kĩ trước mục tiêu, nhắm mắt lại, rai một hồi chừng nửa băng đạn, ít khi sai. Mũi-lõ có vẻ đàn anh hơn, hắn canh sẵn những mục tiêu hiểm yếu xung quanh đồn, lúc nào muốn bắn thì chỉ việc nằm ngửa ra mà lẩy cò. Mũi-lõ còn có tài khi ném lựu đạn ra ngoài lô-cốt, muốn cho quả nào nổ là nổ, vì hắn chuẩn bị sẵn một quả lựu đạn không có ruột, cốt để bịp bọn lính và dân chúng

Thử súng, ném lựu đạn cũng là một thú vui hằng ngày của chúng. Ngày nào chúng cung thử ba lần: sáng, trưa, chiều. Dưới chân lô-cốt là dòng kinh trong xanh. Cạnh đó là con đường làng rộng và mát chạy dài vào trong xóm đến nhà má Tám, hai bên đường phủ đầy hoa tràm. Như thường lệ, Râu-dê thử trước, Mũi-lõ thử sau, đạn ria lên ngọn cây, chim sẻ giật mình bay lên cao, hoa tràm rơi xuống mặt đường, trắng xóa. Lựu đạn nổ, những cột khói dựng đứng lên như những cái nấm cứt chó.

Cuộc sống của chúng cứ đều đều trôi qua như vậy. Thử súng, đánh bạc, uống rượu, rồi lại thử súng. Thỉnh thoảng bọn con gái giang hồ từ Rạch Giá lên để mua vui cho chúng.

Má Tám chú ý khai thác xem hai đứa có điểm nào đó còn mang dáng dấp tính người hay không. Thỉnh thoảng má cũng nghe chúng hát nghêu ngao vài ba câu vọng cổ hoài tình vào những buổi chiều.

Má Tám tự hỏi: Hằng ngày chúng nó đang làm bao điều ác, mình có cách nào giáo dục để chặn đứng hoặc ít ra cũng hạn chế được tội lỗi của chúng?

Một hôm chúng nó đang bắn như vãi đạn vào xóm, má Tám xách một nải chuối sứ to bự, chín mọng, miệng ăn trầu bỏm bẻm, đầu quấn khăn rằn, đi thẳng đến lô-cốt. Má gọi thật to:

- Ngừng bắn! Ngừng bắn!

Má đến sát chân lô-cốt, ngước lên:

- Cậu hai, cậu ba ơi xuống đây ăn chuối. Nhà thím có buồng chuối vừa chín cây, đem vào các cậu một nải đây này.

Râu-dê và Mũi-lõ đều lấy làm lạ. Trước đây mỗi lần chúng bắn, bà con trong xóm kéo ra chửi như tát nước vào mặt. Lần đầu tiên chúng mới thấy một bà già chẳng những không chửi mà còn mời chúng ăn chuối.

Râu-dê nói với Mũi-lõ:

- Đ… mẹ nghỉ bắn, xuống xem bà già kia giở cái trò gì.

Mũi-lõ vừa xuống, má Tám đưa nải chuối và nói:

- Thấy các cậu gác suốt ngày chắc là mệt. Cây nhà lá vườn, thím có buồng chuối chín, đem cho các cậu một nải ăn cho vui.

- Bà già khá quá đa. Mụ cho thì tụi tui lấy nhậu - Mũi-lõ vừa nói vừa bẻ một quả, lột vỏ ăn ngấu nghiến.

Râu-dê thấy vậy cũng lao xuống. Hắn nói:

- Bà già là Việt cộng phải không? Bà định tẩm thuốc độc ám hại bọn này à?

Má Tám vẫn bình thản ăn trầu bỏm bẻm, rồi thong thả nói:

- Thím mà là Việt cộng đã vào được đến tận đây thì chỉ cần một quả mãng cầu (lựu đạn), các cậu ngoẻo lâu rồi, chứ chả phải mời các cậu ăn chuối. Thím coi các câu đáng tuổi con cháu nên thím mới ra đây - Má Tám liếc nhìn hai đứa im lặng ngồi ăn. Hình như những nét hung dữ, ác đức thường ngày của chúng nó thoảng biến đi trước lời nói dịu hiền của bà mẹ. Má Tám hỏi có vẻ thân mật hơn:

- Cậu này quê ở đâu? Ba má còn mạnh giỏi không?

- Tui ở Sóc Trăng, ông bà già còn đủ - Mũi-lõ trả lời.

- Ờ, quý hóa quá. Còn cậu kia - Má Tám quay sang hỏi Râu-dê - Cậu quê có gần đây không, ông, bà, ba má, các anh chị em trong gia đình bao nhiêu người?
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #44 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2014, 07:54:05 am »

Râu-dê ném cái vỏ chuối cuối cùng vào góc lô-cốt, cặp mắt lơ đãng nhìn ra phía cánh đồng, dường như bây giờ hắn mới có dịp nghĩ về quê quán. Hắn trả lời lơ đãng:

- Nhà tui ở Cần Thơ. Gia đình ông bà, nội ngoại đều đông đủ anh chị em, ba má tôi đều là thứ hai, sinh ra được mười anh chị em, tôi là con út. Vì được chiều nên tôi làm gì thì làm. Tôi theo phường trộm cướp từ khi 15 tuổi, nay gần 30 tuổi rồi chưa lần nào về nhà, chẳng biết ở quê hương bản quán ai còn ai mất - Hắn thở dài - À mà nói làm gì với bà cái chuyện nhảm nhí đó nhỉ?

- Ồ, thì ra cả hai cậu đều có quê quán, ba má, anh chị em đều làm ăn phúc hậu cả. Vùng Sóc Trăng và Cần Thơ thím đều đã đến đó buôn bán, những năm trước còn yên ổn cơ. Thật là một vùng đất đẹp cảnh, đẹp người làm ăn dễ dàng. Các cậu đi lính lâu mà không hề nhớ đến quê nhà, cũng thật là lạ. Thím ở ngoài Bắc vào đây mấy chục năm rồi, làng này đã thành quê hương thứ hai. Thế mà lúc nào thím cũng nhớ đến nơi chôn nhau cắt rốn và mồ mả ông bà tổ tiên mình.

Nhổ cái bã trầu đang nhai trong mồm, má Tám nói tiếp, giọng trầm trầm:

- Kể ra đi lính như các cậu cũng khó có điều kiện về thăm nhà được. Nhưng ở đâu cũng là bàn con nghèo của mình cả thôi. Các câu ở đây chớ nên làm điều gì ác đức với bà con thì bà con nhờ ơn các cậu. Trời đất nói vậy chớ đều có tai, có mắt cả đấy. Ở lành thì gặp lành, ở ác thì gặp ác phải không các cậu?

Râu-dê và Mũi-lõ không nói gì thêm nữa. Nhưng dường như cả hai đều có suy nghĩ chút ít và kính nể má Tám. Lúc má ra về hai đứa đều mời má thỉnh thoảng đến chơi. Má Tám cười nói:

- Các cậu đừng bắn nữa nghen. Bắn nhiều bà con không thích đâu. Với lại bắn như vậy cũng mệt lắm chớ. Rảnh rang thì nằm nghỉ có khỏe không? Nhiều lúc thím muốn đến hỏi thăm các cậu một câu, mà nghe các cậu bắn dữ quá, lựu đạn thì liệng tùm lum, nên cũng ngại.

Râu-dê cười giơ cả hai hàm răng bàn cuốc to bè:

- Tụi tui tập chớ thím.

- Tập thì ra ngoài ruộng, ngoài núi, chớ tập chi mà bắn trong làng. Lúc các cậu tỉnh thì không sao, lúc các cậu say có phải chết bà con cô bác không nào. Dân ở đây đổ bao mồ hôi nước mắt lập được làng này. Các cậu đừng hại dân thì dân mới giúp đỡ các cậu. Dân cũng như người nhà của các cậu vậy, các cậu thương dân ở đây thì ba má các cậu ở nhà mới có người giúp đỡ lại! Các cậu cứ ngẫm mà coi.

Vài ba hôm má Tám lại đến lô-cốt một lần, lúc thì chó chúng dăm bảy điếu thuốc lá, lúc thì vài lóng mía chặt ở góc vườn. Lần nào má cũng tranh thủ giảng giải cho chúng nghe từ chuyện quê hương làng xóm, chuyện cư xử giữa con người với nhau sao cho nó có tình có nghĩa, đến việc thằng Nhật thằng Tây, thằng Mĩ tại sao nó thù ghét dân mình. Má Tám ánh chỉ những đứa làm tay sai như Khải Định, Bảo Đại, Ngô Đình Diệm bị dân mình căm ghét như thế nào. Râu-dê và Mũi-lõ lúc đầu còn nói: “Thôi thím đừng nói chính trị nữa. Tụi tui là lính trơn chẳng biết chính trị đâu”. Má Tám cứ kiên trì nói: “Thím nào có biết chính trị là gì, chẳng qua thím lớn tuổi hơn các cậu, thím biết được nhiều việc, thím thấy các cậu vui, thím nói cho các cậu nghe vậy thôi mà!”. Chúng nó đau ốm, má Tám nấu bát cháo hành hoặc tìm cho vài viên thuốc cảm sốt. Râu-dê nói với Mũi-lõ: “Bà già này thương tụi mình như con bả vậy”. Dần dần chúng nó tin má và quý trọng má thực sự. Lâu lâu má Tám không ra lô-cốt, chúng cũng thấy mong. Từ đó chúng cũng giảm bớt bắn súng và ném lựu đạn. Khi nào buồn lắm chúng mới bắn vài loạt chỉ thiên ra phía bờ biển. Bây giờ bà con làng Nam Thái Sơn mới hiểu hết tại sao má Tám lại thường hay đến lô-cốt chuyện trò với hai thằng lính ngụy, mà hầu hết người làng ai cũng căm ghét chúng nó.

Một hôm Râu-dê nói với má Tám:

- Tôi coi thím là bà già của tôi, nên mới để lộ điều cơ mật này nghen: Tuần sau chúng nó đưa tiểu đoàn “Gấu biển” về đây cào làng, xúc dân ra lộ 80 đó. Bà con làm sao thì làm, chớ tụi này là địa phương quân, chẳng dám đụng chạm vào công việc của bọn chúng đâu.

- Ai chỉ huy? - má Tám hỏi.

- Thằng đại úy Năm Khum chỉ huy - Mũi-lõ trả lời - Thằng này đi đến đâu thì nhà tan cửa nát, người chết như rạ dưới bàn tay nó.

Má Tám báo ngay cho anh Tám Lai biết. Đó là những ngày cuối năm 1963 đầu năm 1964, sau khi Diệm đổ. Bọn tay sai mở chiến dịch gom dân lập ấp mạnh hơn, hòng chống phong trào nhân dân nổi dậy dưới cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng. Bọn ác ôn lớp dưới muốn chứng tỏ cho chủ mới biế sự trung thành của chúng, nên chúng càng đàn áp nhân dân một cách đẫm máu.

Đồng chí Tám Lai phân công cho má Tám phụ trách một mũi đấu tranh chính trị. Một là bẻ gãy chiến dịch cào nhà dồn dân lập ấp, hai là bảo vệ hoa màu, tài sản của nhân dân.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #45 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2014, 07:54:34 am »

Ngày 15 tháng 1 năm 1964, Năm Khum phái hai đại đội thiện chiến do trung úy Rệu chỉ huy, dùng xe M113 càn vào xã Nam Thái Sơn. Thấy vậy, trung tá Láu chỉ huy chi khu Rạch Giá hỏi:

- Đại úy Khum! Ông sử dụng lực lượng như thế nào có mạo hiểm quá không? Ông đã ngấm đòn thất bại của đại úy Đằng năm xưa đối với Nam Thái Sơn chưa?

- Thưa trung tá! Đại úy Đằng là lính “Hổ xám”, còn tôi là Gấu biển”. Nhiều năm chỉ huy tiểu đoàn này, tôi biết rõ sức mạnh của nó, xin trung tá yên tâm. Lần này không cào được làng Nam Thái Sơn ra lộ 80 thì tôi xin trao cái lon đại úy lại cho trung tá.

Láu đắc chí cười vang:

- Khá lắm! Tôi đang chờ chiến tích cào làng dồn dân của ông - Hắn nghiến răng nói từng tiếng một tỏ vẻ quan trọng - Đây là nhiệm vụ quan trọng để tiêu diệt du kích Việt cộng, dù có phải tốn bao nhiêu tiền của, xương máu cũng phải làm, ông hiểu chưa?

- Thưa trung tá, trung tá dạy rất đúng.

Khum tính toán chỉ cần dùng lực lượng như vậy thôi,cùng với sức mạnh của xe M113 và tài chỉ huy đáng tin cậy của trung úy Rệu là có thể nghiền nát làng mạc và đồng lúa làng này, bắt dân chúng phải khuất phục. Hắn căn dặn Rệu:

- Trung úy phối hợp chặt chẽ với xã trưởng Nấm và lực lượng địa phương quân nha!

- Dạ đại úy yên tâm - Rệu đáp.

Nấm ngồi bên trung úy Rệu trên xe M113 chỉ huy thọc vào xã Nam Thái Sơn. Những con “ngựa thần” bọc thép chồm lên để lại phía sau những vết xích ngoằn nghèo nhàm nhở. Trên trời năm bảy chiếc “cán gáo” bay lượn phành phạch. Rệu tỏ vẻ khoái trá nói với Nấm:

- Hành quân kiểu này có ngon không xã trưởng?

- Có một trái mìn là chết ông nội bây giờ chớ ngon ngon cái gì - Nấm cau có nói thầm.

Bỗng từ trong những mái lá phía ngoài cánh đồng hiện ra một số chị em mặc áo trắng, áo màu hối hả chạy lên phía trước, dưới chân họ lúa đang thì con gái, xanh rờn. Và từ trong đám người ấy, má Tám đầu bịt khăn rằn, đứng trên mô đất cao la lớn, át cả tiếng máy xa gần:

- Xe bọc thép không được chạy vào lúa của dân!

Má Tám bước xuống mô đất chạy đến, dang tay cản chiếc xe đi dầu lại. Trung úy Rệu hất hàm nhìn xã trưởng Nấm, rồi hét ằng cái giọng sanh sự:

- A… con mụ này lại to gan…

Hắn khoát tay ra lệnh cho tên lái xe cán luôn. Tên lái xe còn lưỡng lự thì nhiều chị em đã chạy đến kịp. Rồi những ông già, bà già, trẻ con cũng ùn ùn kéo đến. Rệu rút một trái lựu đạn cay ném vào giữa đám người, để cho bà con bị ngạt giạt ra tránh đường. Nhưng họ lấy khăn rằng nhúng nước ruộng bịt mũi, vắc chạy ào tới đầu các xe hô to: “Không được cho xe phá lúa”. Rệu liên tiếp ném ba quả lựu đạn cay nữa, nưng gió ngoài cánh đồng thổi mạnh, xua tan những đám khói hơi độc rất nhanh. Gió lại đưa hương tràm từ bên kia sông Nam Thái Sơn tràn đến thơm ngát. Xã trưởng Nấm lắp bắp:

- Lựu đạn cay Mĩ chẳng ra cái của khỉ gì cả.

Má Tám lại tiến lên cản đầu xe la lớn:

- Ông muốn tan sác hay sao mà cho xe chạy vào lối này. Mìn của du kích đặt ở phía trước bờ kinh kia nhiều lắm. Liệu xe ông chịu nổi một quả thì hãy chạy. Không tin thì ông cứ hỏi hai cậu lính gác ở lô-cốt đầu Kinh Một kia.

Má Tám nói tiếp:

- Chắc là ông cũng không muốn phải bỏ vợ con ở lại sống một mình!

Rệu quắc mắt:

- Tại sao mụ biết phía trước có mìn của du kích gài? Mụ là Việt cộng phải không?

- Vùng này thì ban đêm bộ đội cộng sản với du kích làm chủ. Các ông muốn diệt họ, thì ban đêm cứ việc đưa quân về đây mà đánh.

Một bà khác - má Thái - bước đến, giả vờ kéo tay má Tám khuyên ngăn:

- Bà nói như thế đã nhiều mà các ông không tin thì cứ để cho xe đi tới tí xíu nữa thôi, sẽ biết.

Má Tám lại nói với Rệu:

- Ông thấy không! Mỗi một đường xe chạy từ ngoài lộ vô đây coi như đi đứt một mẫu ruộng.

Trung úy Rệu móc thuốc lá ra hút. Số đông bà con khác quây quanh các xe tranh thủ tác động bọn lính. Rệu thấy dừng lại lâu không lợi, hắn nói to:

- Lính của chánh phủ quốc gia là phải cào nhà, dồn dân ra lộ. Việc này ông Nấm xã trưởng đã nói cho dân biết rồi. Tránh hết ra. Chúng tôi có phận sự phải ủi cái làng và cày phá hết cánh đồng này cho Việt cộng chết đói. Trá... nh... ra! Lái xe, tiê... ến lê... ên!
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #46 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2014, 07:54:56 am »

Rệu khoát tay cho hai chiếc xe phía sau lách bên trái chạy lên. Chiếc xe đi đùa tiến lên phía trước khá xa. Khi vừa chạm đầu vào bờ kinh rìa làng, thì một tiếng nổ rung chuyển, xé toạc chiếc xe M113, bốc cháy rần rật. Chiếc xe thứ hai liền quay đầu lại.

Sau khi được má Tám cho biết tình hình, anh Tám Lai bàn với ban chỉ huy xã đội tổ chức một trận địa mìn chống xe bọc thép khắp các ngả địch có thể cho xe vào, để phối hợp với mũi đấu tranh chính trị. Trong làng, du kích tổ chức sẵn các trận địa đánh bộ binh nếu chúng liều lĩnh tiến quân vào, và giúp đỡ bà con tránh đạn pháo. Thấy bọn địch ngoan cố bị đền tội, bà con hả làng hả dạ lắm...

Má Tám hỏi:

- Bà con chúng tôi có nói sai đâu! Mấy đêm nay Việt cộng họ về gài mìn không biết bao nhiêu mà kể. Các cậu mà liều mạng thì số phận cũng như chiếc xe kia thôi! Rồi má Tám lại quay về phía trung úy Rệu:

- Ông trung úy! Cho lui quân thì ông sợ cấp trên quở à? Sao ông không biết nói ông đưa quân tới đây thì sẽ đụng Việt cộng?

Má Tám lại nhìn về phía tên Nấm:

- Còn ông xã trưởng nữa. Là dân làng này mà ông cũng hùa với lính để hại bà con à. Chiếc xe này mà đi tới một chút xíu nữa thì ông không còn chút gì lành để cho vợ con ông khóc đâu.

Trung úy Rệu hạ lệnh các xe dừng lại và nghếch nòng súng vào làng. Hắn chỉ vào hàng cau xanh xanh giữa làng hô to: “Bắn”. Các cỡ súng trên xe nổ một hồi như điên. Mấy ngọn cau trúng đạn gãy gục.

Sau đó Rệu hạ lệnh: “Ngừng bắn”. Hắn cho một số lính lên nhặt xác bọn lính chết và bị thương trong chiếc xe M113 đang cháy dở, chất lên chiếc xe có dấu chữ thập đỏ rồi hạ lệnh: “Rút lui!”. Xã trưởng Nấm vẫn ngồi trên xe, vẻ mặt xị xuống như một bị thịt thiu. Hắn phì phèo điếu xì gà và chửi thầm trong bụng: “Mẹ, kiểu này thì là bị binh vận chớ còn gì nữa! Khiếp đàn bà làng này thiệt”.

Đêm hôm đó, trong cuộc họp chớp nhoáng để rút kinh nghiệm ở nhà má Tám, anh Tám Lai nói:

- Lần này chúng nó dùng biện pháp phát xít để buộc bà con ta phải ra lộ 80 lập ấp. Lực lượng du kích xã mình chưa đủ sức để bẻ gãy một chiến dịch quy mô rộng lớn của địch. Thế nào ngày mai chúng nó cũng sẽ trả thù sự thất bại nhục nhã hôm nay của chúng. Chủ trương của ta là đẩy mạnh thế đấu tranh chính trị. Nếu bị địch cào làng ra lộ 80 thì vận động bà con liên tục đấu tranh đòi trở về làng cũ. Bằng bất cứ giá nào cũng phải có một số người bám đất, bám làng để tạo bàn đạp cho du kích và bộ đội mình trở về hoạt động.

Mờ sáng hôm sau đại úy Khum đích thân chỉ huy cả tiểu đoàn “Gấu biến” chia làm ba mũi tiến công làng Nam Thái Sơn. Mũi thứ nhất từ lộ 80 ấp xuống, mũi thứ hai càn qua cánh đồng đánh thẳng vào giữa làng, mũi thứ ba vượt sông Nam Thái, vòng qua bãi tràm đánh vào cuối làng.

Cả ba cánh quân đều bị du kích chặn đánh quyết liệt, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Mãi tới xế chiều bọn lính “Gấu biển” này mới vào được làng. Tối hôm đó du kích rút ra ngoài căn cứ.

Tên Khum đứng trên lô-cốt đầu Kinh Một dùng máy điện đàm chỉ huy các cánh quân. Hắn lồng lộn gào trong máy: “Đốt! Đốt sạch.Đứa nào chống lại thì bắn!”. Hắn gọi xã trưởng nấm đến nói:

- Ông phải ra lệnh cho dân ở đây trong hai ngày phải ra hết ngoài lộ 80, để tiểu đoàn còn hành quân đi nơi khác.

Bọn “Gấu biển” tha hồ đốt sạch, cướp sạch à chặt đầu, mổ bụng người già, trẻ em.

Làng Nam Thái Sơn thành một biển lửa rần rật suốt mấy ngày. Ngót hai mươi năm dựng làng, bà con Nam Thái Sơn đã biến vùng đồng chua nước mặn, chỉ có tràm, lác, cỏ bàng, thành vùng sầm uất, bây giờ kẻ địch biến tất cả thành đống tro tàn. Nén đau thương uất hận, bà con dìu dắt nhau đi giữa lưỡi lê, mũi súng của bọn “Gấu biển” ra lộ 80, sống cảnh màn trời, chiếu đất.

Năm rồi má Tám đã cho con và cháu là Đinh Văn Cừ và Vũ Đình Lạc đi bộ đội chủ lực Miền. Trong tình hình địch cào làng dữ dội thế này, má đoán thế nào rồi chúng nó cũng bắt lính. Má gọi tất cả mấy đứa cháu ngoại còn lại đến, má nói:

- Má của các con đang hoạt động hợp pháp bằng cách giải vờ đi buôn bán, lúc thì ở ngoài căn cứ, lúc thì về làng. Ở nhà chỉ còn mấy bà cháu làm lụng nuôi nhau. Năm ngoái Cừ với Lạc đi bộ đội bà đã thấy gia đình vắng vẻ rồi. Bây giờ bà không muốn có đứa nào nữa phải xa bà. Nhưng các cháu đứa nào trông cũng nhỉnh nhỉnh cả, bà sợ sẽ bị địch bắt đi lính.

Liệu nói:

- Bà ơi, cháu sẽ đi bộ đội chủ lực!

Lăng cũng nói:

- Cháu cũng đi bộ đội chủ lực!

Má Tám vui vẻ nói:

- Đi bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương hay du kích cũng đều được đánh giặc cả. Má của các con có nhắn về với bà: Thằng Liệu gặp chú Chín Đơn huyện đội trưởng để chú dẫn đi bộ đội Miền, còn thằng Lăng tuổi còn bé, sức còn yếu, chưa theo bộ đội chủ lực được đâu, bây gặp bác Tám Lai để bác ấy dẫn ra căn cứ du kích. Các cháu phải sắp xếp lẹ lẹ lên, để sớm rời khỏi làng - Má Tám nhìn bé Tiến vừa tròn ba tuổi nói - Còn bé Tiến vào “ấp chiến lược” với bà nghen con. Tội nghiệp, có mẹ mà thằng nhỏ chưa có đêm nào được ngủ với mẹ cả.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #47 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2014, 07:55:28 am »

Đêm hôm ấy má Tám lau khô nước mắt, lặng lẽ tiễn cháu Liệu và Lăng ra đi. Mảnh trăng non phủ ánh sáng vàng mơ trên xóm làng vừa cháy trụi. Má Tám trao cho mỗi đứa một số tiền nhỏ dành dụm từ lâu và một nắm cơm vắt, bên trong có muối với đậu phộng rang. Má nói:

- Các cháu hãy đi đánh giặc thiệt giỏi để trả thù cho ba nghen. Các cháu có nhớ ám hiệu và địa điểm của các bác hẹn đón chưa?

Liệu và Lăng cùng đáp:

- Dạ thưa bà, chúng cháu nhớ kĩ rồi ạ! Chúng cháu đi ạ!

Bóng Liệu và Lăng khuất dần sau bụi cây tràm. Má Tám lưu luyến nhìn theo. Sóng biển vỗ rì rào như những tiếng ru. Gió thổi nhẹ, hương tràm thoang thoáng mùi thơm mát dịu trong làn sương trắng đục mênh mông.

Tiểu đoàn “Gấu biển” theo kế hoạch của đại úy Khum chỉ cần chốt lại hai ngày đêm là trục được dân làng Nam Thái Sơn ra lộ 80 cả. Nhưng thời gian lùi lại đã quá gấp đôi mà dân vẫn còn ở lại rất nhiều trong làng. Khum tức giận, lồng lộn lên gọi xã trưởng nấm đến:

- Ông chỉ huy cái làng này hay là mấy mụ già chỉ huy mà lần nào bảo ông đàn áp, ông cũng sợ chúng nó. Ngày mai là thời gian cuối cùng ông phải cào sạch chúng nó ra hết ngoài lộ 80 nghe không?

- Dạ thưa đại úy, tôi sẽ cố gắng.

Chiều hôm sau, Khum lại hỏi:

 Thế nào ông Nấm, cào dân ra hết chưa?

- Dạ chỉ còn vài chục gia đình nữa ở quanh quanh chỗ nhà mụ Tám già, họ nghe mụ ấy dụ ở lại nên chưa chịu đi. Xin đại úy thư thư cho đến tối thì nhất định xong ạ!

- Đứa nào không đi thì bắn bỏ, nghe chưa ông Nấm!

- Dạ, xin tuân lịnh!

Xã trưởng Nấm là một tên ác ôn khét tiếng, láu cá hơn những thằng xã trưởng trong vùng. Nấm tổ chức nhiều lưới gián điệp ngầm và dùng bọn đàn em đắc lực để thực hiện mọi âm mưu tội ác. Nấm giết người như ngóe, nhưng nó biết lúc nào cần ra mặt, lúc nào cần mượn tay khẻ khác.

Trong trường hợp này không phải Nấm thương gì bà con hoặc không biết cách thẳng tay đàn áp để lập công với chủ. Cái chính là Nấm cũng phải lo giữ cái đầu của hắn. Hắn nghĩ, đại úy Khum cùng tiểu đoàn “Gấu biển” gây tộc ác đẫm máu rồi bỏ đi. Còn hắn và gia đình vợ con ở đây liệu có thoát nổi sự trừng trị của nhân dân không. Nhiều gia đình có con, cháu đi bộ đội, vào du kích, đã chửi bọn lính “Gấu biển” khủng bố, đàn áp nhân dân nữa là. Du kích Kiên Giang đã từng xử án bao thằng xã trưởng. Nấm biết rõ hơn ai hết.

Mãi tới mười giờ đêm, Khum lại hỏi Nấm;

- Chắc bây giờ ông đã cào hết dân trong làng rồi chớ, ông Nấm?

Nấm lúng túng và ấp úng đáp:

- Dạ, dạ chưa, đến bây giờ chỉ còn mụ già với thằng cháu bé ở lại trong làng thội ạ!

- Ông chịu thua mụ già đó à? Giết!

- Dạ thưa đại úy, giết bà cháu mụ ta thì không khó. Nhưng mụ ta chết thì cái đầu của tôi cũng rời khỏi cái cổ.

- Tại sao?

- Con cháu mụ ta đều là bộ đội và du kích Việt cộng. Với lại cả làng này ai cũng quý mến mụ ta. Đụng đến một người thì phải nghĩ đến sự tức giận của cả ngàn người. Dạ thưa đại úy...

- Thế ông hết cách, hết sách rồi hả? Ông chịu để cho tiểu đoàn “Gấu biển” của tôi mang cái nhục lại lần xuất quân mà không cào hết dân làng này ra lộ được à? Hả?

- Dạ... thư...a...

- Không có thưa thưa đếch gì hết. Khiêng nghe hông? Cho người khiêng bà cháu mụ ta ra lộ ngay bây giờ nghe hông?

Khum mỏi mệt lầm bầm: “Một tiểu đoàn mạnh, hai lần xuất quân, mất một xe M113, mười đứa chết và bị thương, tốn hết một tuần căng thẳng mới cào được một làng. Thế mà bảo bình định cấp tốc. Cấp tốc cái con khỉ. Toàn là kế hoạch trên giấy. Đ... mẹ mấy cái thằng ngồi ở trên chỉ có nhậu nhẹt rồi bốc phét...”.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #48 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2014, 07:32:03 am »

*
*   *

Tiểu đoàn “Gấu biển” đã rút đi các nơi khác. Làng Nam Thái Sơn bây giờ nằm dọc theo lộ 80, xung quanh bao bọc hàng rào kẽm gai bốn lớp và bốn cái lô-cốt kiểu “chuồng cu” ở bốn góc. Chiếc lô-cốt của hai tên lính Râu-dê và Mũi-lõ gần bên túp lên của bà cháu má Tám. Ngày ngày chúng nó thay phiên nhau xuống túp lều của má uống nước và nghe má Tám nói chuyện. Má hay nói về tội ác của bọn giặc và khuyên chúng đừng hại dân, cố gắng giúp đỡ cách mạng và khi nào có điều kiện thì bỏ hàng ngũ giặc về nhà. Má nói:

- Không phải ở đâu cho xa. Các cậu đóng bót ở đây đã lâu, thấy cái làng Nam Thái Sơn này trước đây giàu đẹp thế nào, bà con sống sung túc thế nào mà bây giờ chỉ còn một bãi tro tàn. Rồi hàng trăm người chết. Số dân bị gom ra lộ 80 ở chui, ở rúc, không có cái ăn, cái mặc. Các cậu nghĩ như thế nào nếu ba má các cậu ở quê nhà cũng lâm vào cảnh sống bị xua đuổi, màn trời chiếu đất như thế này?

Râu-dê nói:

- Bọn lính “Gấu biển” này ác như một bầy chó dại. Đối với tụi tui mà chúng nó còn hống hách, huống chi đối với dân. Mấy ông Việt cộng ở đâu mà không về nện cho chúng nó một trận nhừ tử ra.

Mũi-lỗ tỏ vẻ sợ sệt:

- Mày trông Việt cộng về hả? Mấy ông mà về đây thì mình cũng ra ma - rồi nó quay lại phía má Tám - Chừng nào Việt cộng về đây, thím nhớ nói với mấy ông giùm tụi tui hổng có làm gì hại đến bà con cả, nghen thím.

- Ôi, đi lính ngụy thì dù ít hay nhiều cũng đều có tội với nhân dân. Nhưng nếu các cậu biết ăn năn hối lỗi, biết tìm cách lập công chuộc tội khi có điều kiện thì Việt cộng có chính sách đối xử khác. Chẳng hạn như bây giờ các cậu giúp đỡ bà con hằng ngày được trở về làng cũ làm ăn, đừng làm điều gì ác đức với bà con thì bà con sẽ giúp đỡ lại cho các cậu khi cần. Tai mắt của nhân dân sáng tỏ lắm. Các cậu nghĩ xem thím nói như vậy có đúng không?

Ngay ngày hôm sau, má Tám khéo léo vận động được Râu-dê cùng má dựng lại một căn trại trên nền nhà cũ. Tên xã trưởng Nấm đi ngang qua, định làm khó dễ, nhưng thấy Râu- dê đang ở đó lại thôi. Má Tám tinh ý nói luôn:

- Chào ông xã trưởng. Cậu lính này cho phép và cũng giúp tôi một tay, dựng cái lều cỏn con để hằng ngày còn về đây trông nom cây trái bán mà mua gạo. Ông tính già lão như tôi thì còn cày cấy thế nào được. Mà cứ ở ngoài lộ thì có nước ăn đá trừ cơm. Nấm cười nhăn nhở:

À à, cậu lính nà mà đã đồng ý thì được. Nhưng chỉ một mình bà tôi đấy, bà đừng thấy vậy mà lôi kéo cả xóm cùng về lập trại như kiểu này thì chủ trương dồn dân ra lộ của chánh phủ quốc gia còn hữu hiệu ở chỗ nào.

Thực ra Nấm không bằng lòng việc làm này của Râu-dê. Hắn có quyền lực chỉ huy cả Râu-dê, hoặc ít ra thì Nấm cũng có thể báo cáo với bọn chỉ huy cấp trên để phạt Râu-dê. Nhưng vì cái tính vốn nham hiểm buộc Nấm cũng phải gờm thằng Râu-dê có thể cáu tiết lên bắn súng hoặc ném lựu đạn vào nhà hắn bất cứ lúc nào. Và hơn nữa, Râu-dê có thể cho hắn chầu trời. Lính giết xã trưởng là cái chuyện không phải hiếm ở vùng Kiên Giang này.

Nghe Nấm nói, má Tám cười khẩy, đáp:

- Hoàn cảnh của tôi chắc ông đã thấy, một bà một cháu, lo cho mình chưa đủ, hơi sức đâu mà còn đi lôi kéo người khác. Mới lại tôi có hoàn cảnh của tôi, bà con cô bác có hoàn cảnh riêng của họ, biết thế nào mà lường được hở ông!

Râu-dê đốp chát, sừng sộ:

- Xã trưởng Nấm nè, ông hách vừa vừa vừa chứ! Không có hai thằng lính gác ở lô-cốt này thì cái đầu của ông không đứng yên trên cái cần cổ đâu nhé.

Xã trưởng Nấm cười lạt, ngượng ngùng bỏ đi.
*
*   *

Cái trại của má Tám dựng trên nền nhà cũ bây giờ cũng khá khang trang. Trước đây, ban ngày bà cháu ra trại, chiều lại trở về cái lều dưới chân lô-cốt. Nhưng nay thì cả ngày lẫn đêm hai bà cháu đều ở ngoài trại, hai ba bữa mới trở lại lều. Má rủ một số bà con cơ sở như bà Hân, ông Năm Thịnh, cô Bích, chị An… về dần. Cả dân về lại làng cũ, cán bộ và du kích ngoài căn cứ đêm trở về nắm tình hình địch và lấy lương thực. Gấm cũng trở về cùng má Tám đào thêm một chiếc hầm bí mật mới tương đối rộng rãi.

Bằng cách làm lén dần như vậy, má Tám vừa vận động dần, vừa làm công tác binh vận, chừng nửa năm sau, hầu hết bà con đã dựng được trại trên nền nhà cũ. Lúc đầu Nấm đưa bọn bảo an, dân vệ đi xua đuổi dân. Chúng đốt phá, đánh đập hành hạ dân đủ điều, nhưng bà con vẫn kiên trì đấu tranh bám đất, bám làng cũ. Bộ đội địa phương huyện Châu Thành hoạt động khá mạnh, đã cùng với du kích, tạo được bàn đạp để tổ chức những đợt hoạt động mới. Do đó mà kẻ địch cũng phải nhượng bộ với bà con. Những cuộc họp cán bộ, tổ Đảng bắt đầu nhóm lại tại hầm bí mật của má Tám như cuộc họp diễn đưa anh Tám Lai đi nhận công tác mới. Anh Tư Hương thay anh Tám Lai làm Bí thư chi bộ, anh Năm Lầu thay anh Tư Tân làm xã đội trưởng cũng được tổ chức phổ biến ở trại của má Tám.

Xã trưởng Nấm hoang mang lo sợ. nấm chạy xuống Rạch Giá cầu cứu Láu. Trung tá Láu đích thân dẫn quân về vây ráp, lùng sục từ ngoài bờ biển cho đến bãi tràm. Trên trời thì lũ “Ốc nóc” bây vù vù như nhặng xanh, trên đường, xe bọc thép chạy như trâu điên, dưới những dòng kinh thì xuồng máy với những nòng súng đen ngòm cùng truy quét. Chúng đòi đánh trốc gốc Việt cộng ở làng Nam Thái Sơn, nhưng Việt cộng vẫn cắm rễ trong lòng người, lòng đất ở đây.

Mờ sáng, má Tám tiễn chân anh Tám Lai và anh Tư Tân đi ra căn cứ nhận công tác mới. Gấm cần mái chèo đứng sẵn đầu bờ kinh. Chiếc ghe đêm qua dìm giấu dưới nước vừa được Gấm kéo lên tát nước khô ráo, sẵn sàng rời bến. Gấm có nhiệm vụ chở các anh đi. Má Tám trao cho mỗi người một gói xôi nóng.

Má Tám lấy khăn rằn lau hai dòng nước mắt chảy dài trên khuôn mặt nhăn nheo, gật gật đầu, mái tóc bạc vờn trong gió sớm. Má dặn với theo con gái:

- Cẩn thận nghe Gấm!

Gấm vừa chèo vừa quay lại:

- Má yên tâm! Má yên tâm!
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #49 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2014, 07:32:37 am »

Không ngờ, Gấm ra đi lần ấy là đi mãi mãi không bao giờ trở lại. Sau này gặp má Tám, anh Tám Lai và anh tư Tân kể lại; “Chiếc ghe rời biển, Gấm ra sức chèo rất nhanh. Đôi tay Gấm dưa tới đưa lui thoăn thoắt, chiếc ghe lướt nhẹ trên mặt nước. Hơi nước bốc lên hòa với sương sớm từng mảng mở mịt, trôi bồng bềnh, làm cho Gấm rất khó quan sát phía trước, Gấm thuộc luồng lạch như thuộc chỉ bàn tay mình, nên chiếc ghe không lúc nào giảm tốc độ. Buổi sáng se lạnh mà lưng áo Gấm ướt đẫm mồ hôi. Khi qua những chỗ địch phục kích, Gấm ra hiệu cho chúng tôi nằm xuống lòng ghe.

Mặt trời lên. Chúng tôi đã đi khá xa làng Nam Thái Sơn. Bỗng Gấm thét lên như ra lệnh; “Địch! Địch phục kích! Các anh nhảy xuống nước bơi vào bãi tràm, để mặc em!”. Hai chúng tôi làm theo lệnh cô. Chúng tôi lặm một hơi tới bờ tràm mọc um tùm, khi ngóc đầu lên khỏi mặt nước đã nghe súng các cỡ nổ loạn xạ, và tiếng địch la “Bắt sống lấy nó”. Gấm vẫn đứng thẳng trên chiếc ghe để thu hút sự chú ý của địch, tạo cơ hội cho chúng tôi chạy thoát. Hàng loạt đạn bắn xối xả theo. Gấm bị thương và sa vào tay địch. Thằng chỉ huy ra lịnh: “Tiếp tục lùng sục bắt cho được hai thằng Việt cộng!”. Sau khi tìm được nơi ẩn núp an toàn, chúng tôi đau đớn theo dõi từng giây phút chiến đấu cuối cùng rất oanh liệt của Gấm. Chúng trói Gấm vào gốc tràm, thằng chỉ huy hất hàm hỏi:

- Gấm. Má mày nói rằng mày đi buôn bán kia mà?

- Tao đi buôn bán kiếm ăn và đi làm cách mạng!

- Hà, hà. Mày trả lời khá lắm. Ta sẽ cắt cái lưỡi của mày. Mấy thằng con trai của mày đi đâu?

- Đi trả thù cho ba chúng nó!

- Hôm nay mày chở những thằng nào, đi đâu?

- Đó là những đồng chí của tao, không bao giờ tao khai với chúng mày.

“Đốp, đốp”, “hự, hự”. Nó chồm lên vừa tát vào mặt vừa đá mũi giày vào bụng Gấm. Máu miệng Gấm ộc ra. Gấm nhổ toẹt nước bọt lẫn máu vào mặt thằng giặc.

- Láo này “Đốp, đốp”. Láo này “Huỵch, huỵch”!

Gấm lả đi. Hai tai ù ù như biển động. Mắt lóa lên, trời đất quay cuồng. Gấm nghĩ thương mẹ già và thằng bé Tiến còn nhỏ đang sống trong nanh vuốt của giặc. Gấm nghĩ đến những đứa con đã ra đi: thằng Lạc, thằng Liệu, thằng Lăng đầy tương lai của Gấm. Các con của chị sẽ trả thù cho ba má chúng. Thằng chỉ huy ra lệnh:

- Bay đây! Đào lỗ chôn sống con này cho đỡ tốn đạn.

Một lúc sau, chúng nó mở trói lôi Gấm nhấn xuống cái hố vừa đào dưới gốc tràm. Thằng chỉ huy ra lệnh: “Lấp đất”. Trong giây phút ngoắc ngoải, Gấm dồn hết sức lực còn lại hô to:

- Cách mạng nhất định thắng!

Chúng tôi không ai nói với ai, đứng lặng người đi. Xế chiều bọn địch rút, chúng tôi trở lại nơi Gấm vừa hi sinh, sửa sang lại nấm mồ của chị và hứa sẽ mãi mãi học tập hí thiết cách mạng tuyệt vời của chị trước quân thù. Trên mặt đất chẳng còn gì, chỉ thấy hai chiếc cúc áo của chị.

Má Tám vô cùng đau đớn. Nỗi đau đớn to lớn quá làm trái tim má thắt lại, tóc bạc rụng nhiều, hai gò má nhô cao lên, khô khốc, tưởng như không còn vắt ra một giọt nước mắt. Khi mà sự mất mát dường như quá sức chịu đựng của con người, con người sẽ đanh lại như một thỏi thép. Nước mắt cũng không chảy được nữa.

Đêm đêm má Tám rất ít ngủ. Má lắng tai theo dõi từng tiếng động trong làng và ngoài cánh đồng. Tiếng chó sủa, tiếng vịt giật mình kêu “cạc cạc”, tiếng mõ điếm canh trên lô-cốt địch và tiếng gió rít qua khe liếp. Má hồi hộp hơn cả là có tiếng sột soạt sau vườn, và tiếng gõ cạch cạch hai tiếng vào cửa sổ, đó là ám hiệu của anh em cán bộ, du kích đã về. Chốc chốc, má lại đến trước bàn thờ thắp nén hương. Má chắp hai tay trước ngực, nhìn thẳng vào ảnh của Tiệu và Gấm đặt giữa bàn thờ mà khấn:

- Hai con sống sao thác vậy, đều anh dũng, đều vẻ vang. Các con, hãy hết lòng phù hộ cách mạng, phù hộ bốn đứa con của các con, để chúng nó làm tròn nhiệm vụ, chiến đấu lập công, trả thù cho các con! Nam-mô A-di-đà-phật! Nam-mô…!

Gần sáng má Tám nghe hai lần gõ cửa đúng ám hiệu. Má hồi hộp và nhẹ nhàng mở cửa. Anh Tư Hương Bí thư chi bộ bước vào trước, một người dong dỏng cao đi sau. Má châm đèn - ngọn đèn được che ba góc. Người dong dỏng cao tươi cười nói:

0 Xa quê hương lâu ngày quá, nên cả thím Tám cũng quê tôi mất rồi.

- Trời! Anh Hai Phương! - Má Tám xúc động chạy lại nắm chặt tay anh Hai Phương giật giật - Anh đi lâu quá, dạo này coi sức khỏe anh khá hơn hồi mới ra tù về ở đây!

- Thím Tám ạ! Đồng chí Mười Bình gửi lời thăm thím và các cháu. Anh ấy theo dõi tình hình rất sát biết cả mọi việc ở làng ta đấy. Do yêu cầu công tác, cấp trên chuyển anh ấy về Miền. Nếu có điều kiện anh ấy sẽ được cấp trên cho ra Bắc an dưỡng. Tuổi anh ấy đã cao mà lăn lộn hết miền Đông, đến miền Tây rồi còn gi. Bây giờ tôi lại về đây công tác như cũ.

- Ờ! Vậy thì mừng quá!

Rồi má Tám gục đầu vào vai Hai Phương khóc:

- Quân giặc nó ác quá chừng. Bây giờ chẳng còn gì là làng xóm nữa cả.

- Chúng sắp đến ngày tận số thì càng hung dữ. Bây giờ quân giải phóng của ta mạnh, phong trào du kích ở khắp nơi lên cao. Vùng giải phóng càng được mở rộng. Huyện Châu Thành cũng như bà con làng Nam Thái Sơn ta rất kiên cường. Các đồng chí cấp tên cũng gởi lời thăm hỏi sức khỏe của thím và khen ngợi đội quân tóc dài của thím.

Nghe anh Hai Phương nói, má Tám vừa mừng, vừa hồi hộp. Nghe lời anh Hai Phương, má như thấy cả miền Nam đang thừa thắng xốc tới không có trở lực nào ngăn cản nổi.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM