Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:44:07 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ký ức chiến tranh - Hồi ký Vương Khả Sơn, CCB trung đoàn 271.  (Đọc 62173 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« vào lúc: 04 Tháng Chín, 2013, 03:06:28 pm »

Xin giới thiệu với bạn đọc Cuốn Ký ức chiến tranh - Hồi ký CCB Vương Khả Sơn, nguyên chiến sỹ C4-D9, C2-D8 & C3-D7, Trung đoàn Bộ binh 271 anh hùng Quân Giải phóng miền Đông Nam Bộ.

Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hà Tĩnh..
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #1 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2013, 03:06:58 pm »

 "Giữa những ngày cả nước đang sôi nổi chuẩn bị kỷ niệm 31 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam (30/4/1975 - 30/4/2006), chúng tôi nhận được tập Hồi ký với tựa đề Ký ức Chiến tranh của một người lính, anh Vương Khả Sơn.Cuốn hồi ký chân thực và cảm động của một người lính trẻ đã từng chiến đấu trên chiến trường miền Đông Nam Bộ.Hiện thực tàn khốc và dữ dội của cuộc chiến tranh đã đựợc anh tái hiện qua những dòng hồi ức hết sức chân thực, sinh động và cuốn hút. Trong đó, hình ảnh người lính hiện lên như là bức tranh toàn cảnh. Đó cũng chính là hình ảnh của một thế hệ thanh niên tài hoa yêu nước, ra trận với khí thế " Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh".

Biết bao người con ưu tú của đất nước đã ngã xuống vì nền độc lập tự do của đất nước hôm nay. Nhằm giáo dục cho bạn đọc, nhất là bạn đọc trẻ tuổi trong cả nước lý tưởng sống cao đẹp của thế hệ cha anh đi trước, với tinh thần hướng về nguồn cội, Nhà xuất bản Thanh Niên xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc cả nước cuốn Ký ức Chiến tranh của tác giả Vương Khả Sơn. Đây là cuốn sách nằm trong tủ sách "Tiếp lửa tryền thống - Mãi mãi tuổi Hai mươi"

 

                                                                                                            NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #2 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2013, 03:08:50 pm »

THƯA CÙNG BẠN ĐỌC!

      Anh từng là một người lính! Từng cầm súng ra trận, cùng đồng đội chiến đấu và chiến thắng, rồi trở về đời thường với bộn bề công việc. Nhưng dù ở đâu, làm gì, bản chất người lính trong anh chẳng ai có thể nhầm lẫn được. Là một người bình dị như bao người khác, nhưng ẩn chứa bên trong là những điều làm chúng ta hết sức ngạc nhiên. Đó là anh Vương Khả Sơn, mọi người thường thân mật gọi là anh Sơn.
     
     Vương Khả Sơn sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng tại xã Khánh Lộc (Can Lộc, Hà Tĩnh). Nhập ngũ tháng 5, năm 1971 khi anh chưa đầy 18 tuổi. Sau chiến thắng 30/4, anh được ra quân, tiếp tục học lớp cuối cấp THPT, rồi đậu vào khoa Văn, Đại học Sư phạm Vinh. Ra trường với tấm bằng loại ưu. Cùng một lúc anh có quyết định về giảng dạy Đại học sư phạm Quy Nhơn, và 1 quyết định về Ban nghiên cứu lịch sử Đảng thuộc tỉnh uỷ Nghệ Tĩnh. Do hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, anh đành phải xin về giảng dạy tại một trường THPT gần nhà.
 
     Sau 20 năm cầm phấn đứng trên bục giảng, năm 2001, anh được điều về Sở Giáo dục- Đào tạo Hà Tĩnh, cùng công tác và chung phòng làm việc với tôi. Tôi thuộc thế hệ sau anh. Tôi không có cái may mắn và vinh dự như anh được cầm súng chiến đấu giải phóng đất nước. Anh vốn là người ít nói, nhưng hay làm, rất lạc quan, yêu đời, sống hoà nhập với mọi người. Đặc biệt, ít khi nói về mình. Được hiểu sâu sắc về cuộc đời của anh, tôi thật sự cảm phục anh trong quá khứ và cuộc sống hiện tại.
     
     Sau chiến tranh, từ một người lính trở về đời thường, anh tiếp tục hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ trên cương vị công tác của mình, dẫu trên thân thể vẫn còn vết thương chưa lành hẳn và nhiều điều trăn trở: Bố là liệt sỹ, mẹ đã già yếu. Là anh cả của ba người em trai đều là cựu quân nhân. Vợ chồng anh có 4 người con (1 gái, 3 trai). Bản thân là thương binh nặng, và bị nhiễm chất độc da cam (dioxin). Vợ anh bị bệnh viêm cầu thận mạn tính nặng, thường xuyên đau yếu, chưa có việc làm ổn định. Năm miệng ăn chỉ trông vào đồng lương ít ỏi của anh. Anh có một ước muốn được trở lại thăm chiến trường xưa, nhưng đã hơn 30 năm rồi, niềm ao ước ấy vẫn chưa thực hiện được
   
     Trước ngày kỷ niệm 30 năm giải phóng hoàn toàn Miền Nam, anh trăn trở muốn ghi lại những kỷ niệm của đời lính để gửi đến bạn bè, đồng chí, đồng đội và những người thân của mình. Đây là niềm ao ước mà anh hằng ấp ủ. Từ tháng 11, năm 2004, anh bắt đầu viết. Mỗi ngày, sau giờ làm việc, anh ngồi bên máy tính để ghi lại những kỷ niệm của những năm tháng đầy hy sinh gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng ấy. Đến tháng 3, năm 2005 thì cơ bản đã hoàn thành. Và "Ký ức Chiến tranh" của anh được ra đời từ đó.
     
     Ngoài phần "Tựa" và "Vĩ thanh", cuốn sách được chia làm 4 phần. Phần I: Nhập ngũ; Phần II: Về trung đoàn; Phần III: "Xẻ dọc Trường sơn"; Phần IV: Vào trận. Với khoảng gần một trăm trang giấy A4, anh đã chắt lọc và ghi lại những kỷ niệm về quãng đời quân ngũ của mình và đồng đội cùng chung chiến hào trên những vùng đất mà anh đã từng sống, chiến đấu. Đó là những trang viết máu thịt của cuộc đời anh. "Ký ức Chiến tranh" là một bức tranh sinh động phản ánh một phần của cuộc kháng chiến đầy hy sinh, mất mát mà cả dân tộc ta đã gánh chịu và đi qua. Trong đó, chân dung của người lính được khắc hoạ đậm nét nhất. Cả một thế hệ thanh niên Việt Nam thời ấy đều có chung một lý tưởng cao đẹp, một tấm lòng nồng nàn yêu nước, cùng một quyết tâm ra trận "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Nội dung chính của cuốn sách, tự nó đã nói lên điều ấy.
 
      Như anh từng tâm sự, anh "không hề có ý định đem những trang viết này đăng tải trên báo, tạp chí hoặc đến một nhà xuất bản nào đó để in thành sách", nhưng càng đọc kỹ, tôi càng thấy "Ký ức chiến tranh" của anh là một cuốn sách không những có giá trị về mặt lịch sử và ý nghĩa nhân văn sâu sắc, mà còn mang giá trị Văn học đích thực. Bằng hồi ức và lối dẫn chuyện tự nhiên, chân thực, dí dỏm pha chút lãng mạn; với ngôn ngữ giản dị, trong sáng, kết cấu khá logic, chặt chẽ, cuốn hồi ký đã tác động mạnh ngay từ những trang viết đầu tiên và cuốn hút người đọc đến những dòng cuối cùng. Đây cũng là lời nhận xét chung của bạn bè khi đọc bản thảo của anh. Nhiều lần, tôi đề nghị gửi cho nhà xuất bản, dẫu biết rằng đây là cuốn sách mà anh chỉ khiêm tốn viết về mình và đồng đội, nhưng về giá trị tư tưởng của tác phẩm thì đã vượt xa ra ngoài ý định của tác giả, thế nhưng anh vẫn chưa đồng ý. Nhà văn Phan Trung Hiếu - Chủ tịch Hội VHNT Hà Tĩnh, cũng khuyên anh nên cho xuất bản, anh vẫn chưa có ý kiến gì. Sau đó, được anh cho phép, tôi đã trích một số đoạn, gửi đăng tải và phát trên đài Phát thanh- Truyền hình, báo Hà Tĩnh, và một số tờ báo như Báo Long An, Báo Sài gòn Giải phóng, Đài PT- TH Cần Thơ, Bến Tre...vào dịp kỷ niệm 30/4/2005.
   
       Cũng thời gian ấy, khi được biết anh có bản thảo "Ký ức chiến tranh", Trường THPT Năng khiếu Hà Tĩnh phối hợp với Tỉnh đoàn Hà Tĩnh, một số chi đoàn thuộc các cơ quan cấp tỉnh, Hội cựu chiến binh tỉnh có mời anh và nữ Anh hùng La Thị Tám đến nói chuyện về những kỷ niệm chiến đấu chống Mỹ, cứu nước. Khi biết tin này, mọi người tò mò pha chút hiếu kỳ đã mượn bản thảo hoặc xin được photo để đọc cho vui. Thế là anh đã phải photo gần 300 bản và copy một loạt đĩa mềm để tặng bạn bè với tổng số tiền trên 4 triệu đồng.
     Sắp tới, kỷ niệm 31 năm, ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, tôi lại trao đổi với anh lần nữa để được đem bản thảo đến Nhà xuất bản, anh chỉ mỉm cười. Tôi thầm đọc được trong nụ cười ấy như có sự đồng tình. Và lần này cho phép tôi được trân trọng gửi tới quý bạn đọc món quà đầy ý nghĩa của anh.
     Khi đọc "Ký ức Chiến tranh" của Vương Khả Sơn, bạn đọc có thể sẽ "tìm thấy bóng dáng mình hoặc của cha anh mình một thời máu lửa, để có thể sống tốt hơn với quá khứ vẻ vang ấy" như anh đã viết trong lời tựa của cuốn sách.
 
                                                                                     Xin được trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc
 
                                                                                                 Hà Tĩnh, 12 tháng 2 năm 2006
                                                                                                                DƯ LÝ TRÍ
                                                                                             P.Chánh Văn phòng Sở GD- ĐT Hà Tĩnh
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #3 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2013, 03:09:57 pm »

TỰA

"Tôi muốn viết những vần thơ tươi xanh
Vẫn nóng viết những dòng thơ lửa cháy!"

                                         (Tố Hữu)

 
      Ba mươi năm!...

      Với lịch sử, chỉ là một khoảnh khắc, nhưng với cuộc đời của mỗi con người thì đó là thời lượng rất dài, đủ để cho một thế hệ được sinh ra và trưởng thành về mọi mặt.

     Từ thời khắc lịch sử 30/4/1975 đến nay, đã có một thế hệ như thế. Lớp người ấy khả dĩ đã làm nên những điều kỳ diệu, nhằm góp phần thay đổi bộ mặt đất nước trong thời kỳ mới. Nhưng, với quá khứ thì họ khó có thể có được một cảm nhận tương đối đầy đủ về cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vĩ đại nhưng vô cùng tàn khốc mà cha ông họ đã phải gánh chịu và đi qua.

       Với chúng tôi - những người đã một thời cầm súng đánh giặc - thời gian ấy là một độ lùi cần thiết để mỗi người có được suy ngẫm về những gì mình từng nếm trải. Đủ để quên đi những điều phải quên và đọng lại những gì cần nhớ.

        Năm tháng qua đi. Bão táp thời gian có thể làm lu mờ mọi thứ. Nhưng cuộc chiến thường trực dài nhất và khốc liệt nhất trong lịch sử chiến tranh của nhân loại ở thế kỷ XX thì đã để lại trong chúng tôi bao nghĩ suy, trăn trở. Nó vẫn luôn đeo bám và hiện hữu trong kí ức của mỗi người.

       Ghi lại hiện thực của những tháng ngày vượt Trường Sơn gian khổ với những trận chiến đấu ác liệt mà mình cùng đồng đội từng tham gia và chứng kiến trong suốt quãng đời quân ngũ là tất cả tấm lòng, tình cảm sâu nặng của tôi - một người lính - về mình và đồng đội, những người đã ngã xuống cũng như những người may mắn còn sống, trở về sau chiến tranh.

       Phần mình, tôi thầm cảm ơn số phận đã dành cho một kết thúc thật may mắn. Bởi, biết bao đồng đội đã vĩnh viễn ra đi... Trong khi tôi và không nhiều những người khác lại còn được sống, trở về, mặc dù trên mình còn lắm vết thương, cơ thể không còn lành lặn. Sự may mắn ấy như một ẩn số lịch sử mà tôi chưa lý giải được.

       Nhưng, điều quan trọng hơn là sự tri ân. Đó là nén tâm nhang thành kính, thắp trước vong linh những bạn bè, đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại trên khắp các chiến trường...

     Thời gian cứ lặng lẽ trôi... Chiến tranh đang dần đi vào cổ tích... Nhưng những kỷ niệm của một thời đạn bom thì vẫn mãi hằn sâu trong ký ức. Có thể nói, đó là quãng đời đẹp nhất của tuổi hoa niên mà chúng tôi có được. Và, tôi mang theo nó như một thứ hành trang vô giá, đi suốt cuộc đời mình.

     Tôi không nghĩ mình đang "ăn mày quá khứ". Nhưng trong cuộc mưu sinh, với nhịp sống ồn ã, xô bồ thời mở cửa và của nền kinh tế thị trường hôm nay, nhiều lúc tâm hồn chợt lắng lại để hoài niệm về một thời trận mạc; một thời tuổi trẻ gian khổ, khốc liệt đầy mất mát, hy sinh mà rất đỗi hào hùng, tôi thấy canh cánh bên lòng như đang mắc một món nợ lớn với đồng đội và với cả chính mình... Dẫu biết rằng, ngày hôm nay, ai đó, trong chúng ta, có thể là những người đã từng cầm súng đánh giặc hay lớp hậu duệ, đã và sẽ có những suy nghĩ và cách nhìn khác đi về quá khứ, về cuộc chiến tranh đã qua. Dù sao, những giá trị tinh thần đích thực, khách quan, giàu ý nghĩa nhân văn, lịch sử, thời đại và rất minh triết của nó thì vẫn luôn hồi quang, thức tỉnh tâm hồn, nhân cách và lẽ sống cho chúng ta hôm nay và các thế hệ mai sau...

      Hiện thực lịch sử ấy vĩnh viễn không bao giờ có chỗ cho những kẻ cơ hội chính trị hay vì vụ lợi cá nhân mà sẵn sàng quay lưng với quá khứ.

      Tương lai sẽ "nã đại bác" vào chính họ!...

      ...Tôi không dám có ý định đem những trang viết này xin đăng tải trên báo hay tạp chí hoặc đến một nhà xuất bản nào đó để có thể in thành sách. Mà, chỉ có một khát vọng giản dị: Đồng đội tôi - những người đã cầm súng chiến đấu giải phóng Đất Nước, những người đã đi qua cuộc chiến tranh (hoặc con cháu họ) - khi đọc hồi ký này, có thể tìm thấy bóng dáng hay nỗi niềm của mình (hoặc cha ông mình) ở một thời máu lửa trong thế kỷ XX trên những trang viết, để có thể sống tốt hơn với quá khứ vẻ vang ấy...

      Chuẩn bị kỷ niệm 30 năm, ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, tôi ghi lại những dòng ký ức này và xin được gửi đến bạn bè, đồng chí, đồng đội cùng những người thân của mình. Xin được gửi đến bà con cô bác ở Hương Sơn (Hà Tĩnh), Bố Trạch (Quảng Bình) cùng những địa danh như Thiện Ngôn, Sa Mát, Bến Cầu, Trảng Bàng, Gò Dầu, Lò Gò, Xóm Giữa... của Tây Ninh hay Kiến Tường, Mỹ Tho, Đồng Tháp... đặc biệt là ở Đức Hoà, Đức Huệ, Bến Lức, Thủ Thừa, Tân Trụ... của tỉnh Long An cùng bất cứ vùng đất nào trên đất nước Triệu Voi hay Chùa Tháp - nơi tôi đã đến và chiến đấu - những tình cảm thân thương và trân trọng. Xin được xem đây là món quà nghĩa tình cùng sự tri ân sâu sắc nhất!

      Xin kính cẩn nghiêng mình trước anh linh những người đã ngã xuống cho Đất Nước "Nở hoa độc lập, kết trái tự do"!

      Hồi ký này được ghi lại khi chiến tranh đã ở phía sau lưng chúng tôi gần một phần ba thế kỷ. Tuy vậy, những con người, những trận đánh, những sự kiện, những tình huống... đã diễn ra, đối với tôi như chỉ mới ngày hôm qua. Hiện thực ấy thật dữ dằn, khốc liệt mà rất đỗi bi tráng nhưng cũng rất lãng mạn và nên thơ. Bởi bản chất của chiến tranh là vậy! Luôn có những điều nằm ngoài quy luật thông thường. Nói cách khác, trong chiến tranh, mọi cái có thể xảy ra! Cho nên, hiện thực có khi như vượt ra ngoài sức tưởng tượng của con người. Có thể, chỉ những người trong cuộc mới cảm nhận hết được.điều ấy. Bút pháp dạng ký đòi hỏi phải trung thành với những gì đã diễn ra. Bởi, "Sự thật vốn không ưa trang trí".nên nó chối bỏ mọi sự thêu dệt, cách điệu và hư cấu... Những con người, những trạng huống, những tình tiết... trong đó được tái hiện hết sức trần trụi như nó vốn có. Đó cũng chính là chủ đích của người viết.

       ở góc nhìn của người trong cuộc, hồi ký này có thể xem như một tư liệu lịch sử, còn những giá trị nghệ thuật khác, chắc chắn ít nhiều sẽ bị hạn chế. Điều ấy, khả dĩ làm độc giả chưa thật hài lòng; mong được sự tri âm, đồng cảm, sẻ chia và rộng lượng thể tất. Đặc biệt là những góp ý thẳng thắn. Nếu được như vậy, người viết xin vô cùng cảm kích, cúi đầu lĩnh nhận và lấy làm mãn nguyện lắm!
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #4 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2013, 03:13:59 pm »

   Phần I: NHẬP NGŨ

 
... Cha tôi cầm tờ giấy trong tay, điềm tĩnh, nói:
 - Con có lệnh gọi nhập ngũ rồi!

Tôi nhớ như in câu nói của cha.
Đó là một buổi tối cuối tháng 4 năm 1971. Bấy giờ, tôi đang sống với bà ngoại tại xã Trung Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh, cách nay 35 năm (Ngoại tôi không có các cậu, chỉ có hai chị em gái là mẹ và dì tôi. Họ đã có gia đình riêng, nên ngoại ở một mình và nuôi tôi ăn, học từ lớp 1 đến lúc nhập ngũ). Ngày ấy, tôi còn đang học lớp 9 (9/10, nay là lớp 11/12) trường huyện - trường cấp III Can Lộc (nay là trường Trung học phổ thông Can Lộc). Quê tôi ở Khánh Lộc. Cha tôi - một thương binh chống Pháp hạng nặng - và sau này là liệt sỹ (hy sinh do vết thương tái phát). Ông gia nhập Vệ quốc đoàn tháng 4 năm 1946, thuộc Trung đoàn 88. Cùng năm ấy, ông trở thành đảng viên. Từng tham gia chiến đấu ở nhiều chiến dịch lớn như Na Pê, An Khê, Bình Trị Thiên. Đến trận Thanh Lam Bồ 1951 (Quảng Bình) thì ông bị thương nặng, phải rời quân ngũ.

Ngày tôi lên đường, ông căn dặn nhiều điều nhưng có lẽ câu nói: "Con đi, dù gian khổ, ác liệt đến đâu cũng không được bỏ ngũ. Không được làm hoen ố truyền thống cách mạng của đại gia đình ta!" đã trở thành hành trang theo tôi ra trận và suốt cả quãng đời bộ đội. (Ông bà nội tôi có 4 người con tòng quân chống Pháp và chống Mỹ là bác, cha tôi và hai chú. Họ đều trở thành đảng viên Cộng sản. Sau này, cha và chú tôi là liệt sỹ).

Tôi mang theo lời dặn ấy lên đường.

Thế là:

Lớp cha trước, lớp con sau
Đã thành đồng chí, chung câu quân hành...


Mẹ tôi là một phụ nữ bình thường như bao người mẹ khác. Nhưng trước hoàn cảnh lại rất cứng cỏi và bản lĩnh. Tuy vậy, ngày tôi đi (18/5/1971), mẹ cũng không còn nước mắt để khóc tôi nữa. Ban ngày, bà cố làm vui nhưng đêm về lại lặng lẽ một mình ngồi khóc. Trắng đêm, mẹ không hề chợp mắt. Bởi tôi là đứa con trai đầu lòng; học hành còn dang dở, chiến trường thì ác liệt đạn bom. Ra đi, biết có còn ngày trở về?! Thế nhưng, sáng hôm sau, với đôi mắt ráo hoảnh, mẹ lại động viên tôi: "Con ra đi, cố gắng giữ gìn sức khoẻ, cố gắng theo kịp anh em, bạn bầu...".

Bất giác, tôi nhớ đến một đoạn thơ của Triệu Bôn:

... Những ngày ta tòng quân
 Trống làng khua như trống trận
 Mẹ khóc thầm mấy đêm, bịn rịn...
 Sáng ra, mắt mẹ lại cười
 Nước mắt đàn ông không dễ rơi
 Những ngày ấy, cha làm nhiều hơn nói
 Cha đã quá nửa đời bôn trải
 Mòn gót chân xuống bể, ngược mường
 Roi, cùm, sưu, thuế nặng oằn lưng
 Nên trái tim cha là trái tim chiến sỹ...

 
    ...Vào thời điểm ấy, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đang bước vào giai đoạn quyết liệt. Đó là những ngày cuối mùa xuân 1971, khi chúng tôi còn ngồi trên ghế nhà trường. Bạn bè tôi (sau này là những đồng chí cùng chung chiến hào đánh Mỹ) là những chàng trai mới lớn, chưa ai vượt qua tuổi 18, nhưng đều có chung một ý chí, một tình cảm và một quyết tâm: Ra trận. Tất cả vì miền Nam ruột thịt; Tất cả để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước! Lớp thanh niên chúng tôi thời ấy, hầu hết xem việc được cầm súng đánh giặc, giải phóng miền Nam là một hạnh phúc, một lý tưởng cao cả của tuổi trẻ. Dẫu biết rằng sự hy sinh, tổn thất là tất yếu và đang đợi ở phía trước. Biết vậy, mà chúng tôi vẫn rất hồn nhiên và vô tư quá đỗi. Hào khí dân tộc và cuộc chiến vĩ đại đã đi vào trang viết của các văn nghệ sỹ rồi biến thành sức mạnh vật chất, thôi thúc cả nước ra trận:

Hỡi miền Bắc đó nặng hai vai
Gánh cả non sông, vượt dặm dài
Xẻ dọc Trường Sơn, đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai

                   (Tố Hữu)


Lãng mạn hơn:

Đường ra trận mùa này đẹp lắm
Trường Sơn đông nối Trường Sơn tây...
                (Phạm Tiến Duật)


Ai trong chúng tôi cũng háo hức, bồi hồi...
Lớp 9C chúng tôi hồi ấy do thầy Trần Đức Ái, quê Xuân Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh làm chủ nhiệm. Năm nay, thầy tròn tuổi 70, nghỉ hưu đã 10 năm nhưng hãy còn khoẻ mạnh và vẫn tiếp tục cống hiến phần đời còn lại cho việc dạy chữ, dạy người. Hiện thầy đang dạy hợp đồng tại trường Trung học phổ thông dân lập Can Lộc. Tôi nhớ, ngày 18/5/1971, lớp tôi nhập ngũ khá đông, trong số đó Nguyễn Công Lam, Phan Anh Tuấn (Phan Cháu), Phan Công Vinh, Đặng Văn Thọ (đều quê Trung Lộc). Trần Văn Tam, lớp trưởng (Đại Lộc, sau này hy sinh) Nguyễn Văn Tám (Tiến Lộc, sau này hy sinh); Hà Duy Hưng (Tiến Lộc, sau này hy sinh) cùng tôi và nhiều người khác...

Chúng tôi tập trung quân tại xã Xuân Lộc, huyện Can Lộc. Do thiếu nơi ở nên phải chuyển sang Tân Nam Mỹ, xã Trung Lộc. Tôi nhớ nhập ngũ đợt ấy, Can Lộc giao hơn 200 quân. Tất cả chúng tôi ra đi ai cũng có người thân đưa tiễn. Đó là mẹ cha, anh chị em và bà con ruột thịt. Những ai đã có người yêu thì người yêu bịn rịn chẳng nỡ rời. Chúng tôi nhận quân trang. Lần đầu tiên cởi bỏ bộ thường phục, khoác lên mình màu áo xanh của lính, xúng xính, rộng thùng, ai cũng cảm thấy ngỡ ngàng và hình như thấy mình lớn lên hơn, chững chạc hơn hẳn. Chúng tôi ngủ tại nhà dân ở đấy một đêm. Sáng hôm sau (19/5) tôi là một trong 12 người được chọn đi tiền trạm cho đơn vị. Cũng là lần đầu tiên trong đời chúng tôi phải hành quân bộ hơn 70 cây số lên Hương Sơn. Nói là tiền trạm nhưng cuối cùng chúng tôi thành "hậu trạm". Bởi đi bộ xa chưa quen nên quá mệt mỏi và lại đi sai đường nên khi đơn vị tập kết tại địa điểm quy định ở Sơn Tây, chúng tôi vẫn đang còn ở bên này sông La thuộc địa phận xã Đức Hoà, Đức Thọ. Chiều hôm đó mới vượt sông bằng đò rồi tiếp tục đi. Mười một giờ đêm chúng tôi mới thất thểu đến nơi. Đôi chân và vai rã rời, như muốn đứt lìa ra. Đó là kỷ niệm đầu tiên của đời lính...

...Nơi huấn luyện tân binh chúng tôi thuộc hợp tác xã Hồ Tây, xã Sơn Tây, Hương Sơn, Hà Tĩnh. Tôi và mấy anh em nữa đóng quân trong nhà mẹ Trị. Năm đó, mẹ đã ngoài sáu mươi. Mẹ yêu quý chúng tôi như con đẻ. Có củ khoai bột mẹ cũng để dành phần cho. Đến mùa mít chín, mẹ lụi cụi làm cho chúng tôi mỗi người một bọc mứt mít sấy khô. Một thời gian sau, khi chúng tôi đã xây dựng xong lán thì chuyển ra ở tập trung. Mỗi trung đội một lán. Nhưng hễ có ngày nghỉ lại chạy về nhà mẹ. Biết là chủ nhật được nghỉ, mẹ chuẩn bị nước chè xanh, lạc luộc, mít chín và khoai cho chúng tôi ăn. Tấm lòng của mẹ và bà con cô bác ở Hương Sơn, chúng tôi ghi lòng tạc dạ.

Tiểu đoàn 8, Đoàn 22 huấn luyện có ba đại đội: 29; 30; 31. Đại đội 30 chúng tôi có ba trung đội. Trung đội 1 do anh Trần Văn Yên (quê Nghi Xuân) chuẩn uý, làm trung đội trưởng. Trung đội 2 do anh Trần Nhơn (quê Kỳ Anh) thượng sỹ, làm trung đội trưởng. Trung đội trưởng trung đội 3 chúng tôi là chuẩn uý Nguyễn Văn Lĩnh, quê Nam Đàn (Nghệ An) có tác phong huấn luyện làm cho mọi người phải nể trọng. Có thể nói, lúc bấy giờ anh là thần tượng đối với cánh lính trẻ chúng tôi. Tiểu đội trưởng huấn luyện là anh Nguyễn Văn Bồng, quê Đức Thịnh. Người thấp nhỏ, giọng nói lập bập, lúng búng. Tính hay cáu gắt...

Hồ Tây nằm ven hữu ngạn con sông Ngàn Phố nơi thượng nguồn. Mùa này nước trong như lọc. Hàng ngày sau mỗi buổi tập, chúng tôi lại cùng nhau sà xuống lòng sông để được ngâm mình trong dòng nước mát lạnh ấy. Nơi ấy cũng đã kịp để lại trong tôi và đồng đội nhiều kỉ niệm thân thương. Đó là những đêm lửa trại, vui văn nghệ với đoàn thanh niên địa phương kết nghĩa. Những buổi giúp dân thu mùa; những lần qua phà cáp treo Hà Tân  (nay là cầu Hà Tân) sang bên kia có cửa hàng thực phẩm để mua bánh kẹo Hải Châu, xà phòng... Nhưng có lẽ kỷ niệm đáng nhớ nhất là những ngày leo rừng chặt gỗ, nứa làm lán và những buổi hành quân mang vác nặng với ba lô gạch, tập vượt dốc, trèo đèo, chuẩn bị sức khoẻ và ý chí để vượt Trường Sơn trong nay mai. Tôi vốn nhỏ dẻ, nhanh nhẹn và tháo vát nên được điều làm liên lạc cho trung đội. Hai tháng sau, anh Lĩnh tin tưởng, cử tôi đi học lớp lái xe (lái xe là một ước mơ của cánh lính trẻ chúng tôi ngày ấy). Nhưng vì khám lại, không đủ sức khoẻ, tôi đành phải trở lại đơn vị. Đợt ấy có Nguyễn Công Lam (quê Trung Lộc), Nguyễn Trọng Đoàn (quê Nga Lộc, nay định cư tại thành phố Hồ Chí Minh) Vương Khả Hồng (quê Khánh Lộc), Trần Đắc Thường, Nguyễn Văn Trung (Đại Lộc) và một số người khác, học khoá lái xe ở Tràng Kè, Thanh Mỹ, Thanh Chương, Nghệ An. (Lam là bạn học ngồi cùng bàn với tôi hồi cấp III. Lính lái xe Trường Sơn. Sau này là đại đội trưởng một đại đội xe vận tải quân sự, phục vụ chiến trường B5, Quảng Trị. Sau chiến tranh, Lam chuyển ngành về Công ty đường I. Nay đã nghỉ chế độ tại ngã ba Bãi Vọt, thị xã Hồng Lĩnh). Còn nhớ, những ngày đầu nhập ngũ, chúng tôi ai cũng nhớ nhà, nhớ quê đến nao lòng. Vì đây là lần đầu tiên trong đời, chúng tôi xa nhà, xa vòng tay của những người thân. Nhưng rồi cái cảm giác ấy cũng nhanh chóng qua đi, bởi nhường lại là những tháng ngày huấn luyện gian khổ, vất vả, căng thẳng cho kịp với tình hình, nhiệm vụ cấp bách của chiến trường. Chúng tôi lần lượt bắn bài 1, bài 2, bài 3, bắn đêm... rồi học tập chính trị... chuẩn bị ý chí, tư tưởng cho ngày lên đường chiến đấu..

Ba tháng quân trường mà mọi người đều tưởng thời gian như dài vô tận. Ai cũng nóng lòng, muốn được ra trận ngay...
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #5 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2013, 03:15:23 pm »

Phần II: VỀ TRUNG ĐOÀN

 
    Sự chờ đợi ấy đã đến!

    Cuối tháng 8 năm 1971, chúng tôi được lệnh rời Đoàn 22 - Quân khu 4, hiện đang huấn luyện tân binh tại Hương Sơn, Hà Tĩnh, vào bổ sung cho Trung đoàn 271 đang đóng quân tại khu vực huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình. Trong kháng chiến chống Mỹ, 271 vốn là một trung đoàn bộ binh, từng tham chiến tại mặt trận B5, Quảng Trị, với những trận đánh vang dội, lập nhiều chiến tích xuất sắc; tham gia chiến đấu bẻ gãy trận càn lớn của Mỹ nguỵ mang tên Lam Sơn 719; tham gia mở đường Thắng Lợi... và hiện đang đứng chân trên địa bàn huyện Bố Trạch, chờ bổ sung quân để vừa an dưỡng vừa huấn luyện chiến đấu, chuẩn bị nhận nhiệm vụ chiến lược: Bổ sung cho mặt trận B2, đánh địch tại cửa ngõ tây bắc Sài Gòn. (Tất nhiên, nhiệm vụ lịch sử ấy, sau này chúng tôi mới được biết). Tôi và một số anh em tân binh được bổ sung về đại đội 4 hoả lực thuộc Tiểu đoàn 9, gồm 2 trung đội B41 và đại liên; 1 trung đội cối 61 ly, 1 trung đội cối 82 ly (hai khẩu) trong đó có anh Phạm Khắc Đính quê ở Minh Lộc, Can Lộc, nay thuộc thị xã Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh (sau chiến tranh, may mắn còn sống, trở về nhưng số phận vẫn không mỉm cười với Đính. Anh đã đột ngột qua đời trong một vụ tai nạn giao thông trên đường đi nhận thẻ thương binh, năm 2001. Chưa một ngày được hưởng chế độ thương tật mà Đính đã vội từ giã cõi đời. Tôi sẽ có dịp nói về những kỷ niệm xương máu giữa hai chúng tôi sau này). Anh Nguyễn Trọng Lục, quê ở Thuận Lộc, nay là liệt sỹ nhưng anh không hy sinh ở chiến trường mà là chết đuối ở ngầm Lý Hoà (Hải Trạch, Bố Trạch) trong một chuyến công tác lấy đạn cối 82 ly để chuẩn bị hành quân. Hôm ấy, trời mưa to, gây ngập lụt ngầm Lý Hoà, mọi người đều can ngăn Lục đừng qua, nhưng cậu ta không nghe, ra đến giữa ngầm thì bị nước cuốn trôi. Mãi hai ngày sau mới vớt được xác. Anh Hiếu - Hiếu Lác - chúng tôi hay gọi đùa như vậy vì mắt cậu ta hơi bị lác (lé) cùng quê Thuận Lộc với Lục, sau này cũng hy sinh ở Đức Hoà (Long An). Anh Hoàng Xuân Lý quê ở Thanh Lộc, Can Lộc học xong lớp 10, nhập ngũ cùng ngày, cũng bổ sung về đại đội hoả lực của chúng tôi. Nay Lý là bác sỹ, Chủ nhiệm khoa Gây mê hồi sức, bệnh viện Chợ Rẫy, thành phố Hồ Chí Minh. Lý là một xạ thủ đại liên gan dạ, dũng cảm, đi suốt các mùa chiến dịch và tham gia tất cả các trận đánh từ năm 1971 đến Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, năm 1975. Lý bị thương trong trận đánh ở An Ninh (Đức Hoà) năm 1972 và ở Bù Đăng (Quảng Đức) năm 1974. Nay anh đang định cư tại quận 11, thành phố Hồ Chí Minh cùng với vợ con. Anh Nguyễn Thống, quê ở Đại Lộc, Can Lộc cũng xạ thủ đại liên, ở cùng tổ ba người với Lý và Tiến. Thống cũng tham gia hầu hết các chiến dịch. Nhưng khác với Lý, Thống bị thương nhiều lần, nhưng hiện tại, anh vẫn chưa hề được giải quyết chế độ thương tật. Vì sau chiến tranh, giấy tờ thất lạc hết. Nay Thống đang sống trong hoàn cảnh hết sức khó khăn: Vợ yếu, con đông, bản thân lại đau ốm luôn vì vết thương chiến tranh và bệnh tật hành hạ. Lê Văn Tiến (Tiến Râu, vì râu quai nón cậu ta rất rậm, quê Vượng Lộc, Can Lộc), nay là thương binh 1/4. Hồi đó, cùng tổ đại liên với Lý và Thống… Còn bao anh em khác nữa, tôi chưa có dịp nêu tên nhưng hầu hết đều đã hy sinh hoặc bị thương. Số còn lại có nhiều người rất bất hạnh, vì bị nhiễm chất độc dioxin (da cam) mà nay thì con cháu họ lãnh đủ.

    Tôi bị thương nhiều lần trong các chiến dịch nhưng tỷ lệ thương tật hiện tại cũng chỉ mới có được 31% (4/4) vì giấy tờ chứng thương bị mất hầu hết. Đêm 26/4/1975, trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, một trái pháo 105 li của địch rơi trúng chỗ để "bồng" (một kiểu ba lô cải tiến). Tất cả những kỷ vật chiến trường, trong đó có hai tập nhật ký có tên "Dọc đường Chiến tranh" tôi bắt đầu ghi từ ngày11 tháng11 năm 1971 cùng với hồ sơ, giấy tờ của tên chuẩn uý "Thuỷ quân lục chiến" nguỵ bị thương nặng, được tôi băng bó rồi phóng thích tại trận trong trận đánh ngày18/4/1975, đều bay sạch.

    Nhập ngũ ngày ấy, Can Lộc có hơn hai trăm đồng chí. Nhưng sau ngày giải phóng miền Nam, điểm lại, chúng tôi thấy chẳng còn được bao người. Và đó mới chỉ là số người của một huyện trong một trung đoàn mà thôi. Mới biết rằng, cái giá phải trả cho độc lập tự do của dân tộc là vượt ra ngoài sức tưởng tượng!

    Ở Bố Trạch, đại đội chúng tôi đóng quân trên địa bàn xã Hải Trạch (vùng sơ tán, do chiến tranh phá hoại của Mỹ). Tôi và Đính được biên chế về khẩu đội 2 của trung đội cối 82 ly, thuộc đại đội 4 hoả lực. Đính là xạ thủ số1. Tôi, xạ thủ số 3. Anh Nguyễn Văn Tiến, (Diễn Châu, Nghệ An, nhập ngũ 1968, sau này bị thương) xạ thủ số 2 . Ngoài ra còn có các anh: Anh Kỷ (Nam Đàn, Nghệ An, sau này bị thương), khẩu đội trưởng; anh Chương (Thanh Chương, Nghệ An, sau này hy sinh) khẩu đội phó; anh Khang (Nam Đàn, Nghệ An, sau này hy sinh); anh Châu (Diễn Châu, Nghệ An, sau này bị thương), anh Chữ (Vượng Lộc, Can Lộc, sau này hy sinh), anh Xuân (Thanh Chương, Nghệ An, sau này bị thương), anh Dung (Quỳnh Lưu, Nghệ An, sau này hy sinh); Anh Chung (Quỳ Hợp - Nghệ An, sau này bị thương), Anh Kinh (Can Lộc), sau này hy sinh v. v... Chúng tôi gấp rút huấn luyện, nắm vững kỹ năng sử dụng loại binh khí này để hợp đồng chi viện cho bộ binh. Mấy anh em được ở trong nhà mẹ Thắng. Năm đó mẹ đã gần 70 tuổi. Mẹ cho biết, đã 15 năm nay, không hề đi đâu xa khỏi nhà. Vậy mà khi chúng tôi hành quân lên nông trường 1/5 (Việt - Trung) ở Cự Nẫm cách đó gần 20 cây số, mẹ vẫn bảo các con, cháu đèo xe đạp, chở mẹ lên thăm lần cuối trước khi chúng tôi vượt "Cổng Trời", lật cánh sang phía Tây, vào Binh trạm 5, mở đầu cho cuộc hành quân vượt Trường Sơn bằng con đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại vào Nam đánh giặc.

    Chúng tôi không bao giờ quên được tấm lòng của người dân Quảng Bình trong những năm tháng ấy. Có thể nói, mẹ Thắng cũng như nhiều bà mẹ khác ở Hải Trạch là điển hình về những tình cảm sâu nặng, thân thương của người người mẹ chiến sỹ nói chung dành cho những đứa con sắp ra trận. Hình ảnh ấy mãi thôi thúc, động v-iên chúng tôi trong những tháng ngày vượt Trường Sơn gian khổ cũng như trong những trận đánh ác liệt trên khắp các chiến trường của mặt trận B2 sau này... Mẹ Thắng có người con trai cũng tên Thắng, vóc người cao to, vạm vỡ, da nâu bóng, làm nghề đi biển. Lúc bấy giờ, anh có người yêu tên là Lăng. Họ yêu nhau thắm thiết. Thắng đôn hậu, hiền lành, tốt bụng và rất xởi lởi. Đi biển về, có con cá, con cua nào tươi, ngon là dành phần cho chúng tôi; giúp đỡ chúng tôi nhiều việc. Ngày tôi lên đường đi B, anh đã gửi ảnh của tôi chụp chưa kịp lấy từ hiệu ảnh về cho cha mẹ tôi. Hết chiến tranh trở về, tôi vẫn nhận ra tấm ảnh tôi chụp ở gần Ngã ba Hoàn Lão (Bố Trạch) hồi tháng 11 năm1971, do anh Thắng gửi ra. Tuy chưa cưới nhau nhưng Lăng vẫn thường qua lại nhà mẹ Thắng làm lụng, giúp đỡ gia đình như người trong nhà. Lăng có cô chị gái tên là Xâm cũng "ngọt nước" lắm (trong con mắt của chúng tôi thì Xâm xinh đẹp và da trắng hơn Lăng). Xâm thường cùng em đến chơi nhà mẹ. Mỗi lần đến, chúng tôi hay gọi đùa: "Anh Thắng ơi, bọn Xâm Lăng đã đến, chuẩn bị chiến đấu nghe!"... Giờ này, có lẽ họ đã có cháu nội, cháu ngoại cả rồi...

    Thời gian ở Hải Trạch tuy ngắn nhưng đã kịp để lại trong ký ức tôi nhiều kỷ niệm vui buồn. Ngoài những câu chuyện mang tính tiếu lâm và tự trào của vùng quê "hai bọ"    (hai người bố) kiểu như: "Bọ biết rồi, tối qua chú ngửi mồm (hôn) con gái bọ mà bọ không nói nghe!" Hoặc, vào nhà thấy hai cụ già cạo trọc đầu, áo quần nâu sồng, mặc giống hệt nhau, cùng chung một điếu cày đang hút thuốc. Lính ta lễ phép: "Con chào hai bọ ạ!". Tiếng người phụ nữ: "Không phải hai bọ mô (đâu)! Đây là mạ (mẹ) còn bên nớ (kia) mới là bọ!" người vừa nói chỉ tay sang người ngồi đối diện.

      Một mẩu chuyện khác: Khi nghe người con gọi bố là "bọ", mọi người thấy lạ bèn cười, ông già liền hỏi:

      - Rứa ở ngoài nớ các chú gọi bọ ra răng (là gì)?

      - Chúng con gọi bọ là dòi ạ! - Chúng tôi nháy nhau cười đáp lại.

     Ông thành thật:

      - Rứa chừng mô (nào) các chú về ngoài nớ cho bọ gửi lời thăm dòi với nghe?!...

       Cả bọn cười rộ lên.

      Tuy nhiên, để lại sâu đậm nhất trong tâm tưởng tôi vẫn là hai kỷ niệm suốt đời tôi mang theo.

      Thứ nhất: Một kỷ niệm vui.

     Hồi ấy, thao trường của trung đội chúng tôi thuộc xã Hải Trạch nằm ngay phía Tây nam chân đèo Lý Hoà. Trên đèo có mấy chiếc boong-ke (lô cốt) của Pháp để lại. Hàng ngày, trên bãi tập, hai khẩu đội cối 82 li dùng các boong-ke đó làm mục tiêu để lấy phần tử ngắm bắn. Phía dưới chân đèo có một cái giếng hoang (vì chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ nên dân đã sơ tán hết, chưa trở lại). Phía mặt đường, được che bởi các bụi ngấy thơm, nhưng phía chúng tôi chỉ mọc vài cây lưa thưa, trông mắt thường vẫn thấy khá rõ. Bãi tập của chúng tôi cách đó chừng 600 m (tính ly giác trên ống nhòm). Cuối mỗi buổi chiều, sau giờ ra mặt đường về, các cô thanh niên xung phong (đa phần, quê từ Thanh Hoá trở ra) lại kéo nhau đến bên giếng để tắm. Sau khi "thoát y", họ múc nước dội thoả thích, lại còn trêu đùa, so đo... nhau nữa. Cánh lính trẻ chúng tôi tranh nhau chĩa ống nhòm về phía cái giếng, trong khi các cô vẫn vô tư, hồn nhiên, tắm gội một cách thoải mái (họ không ngờ hoặc không biết chúng tôi đang huấn luyện, lại có ống nhòm). Qua ống kính, các "toà thiên nhiên" "trong ngọc trắng ngà" của các "Tiên Dung" hiện lên rõ mồn một. Những thân thể nẩy mầm của các cô gái - tác phẩm kỳ diệu của tạo hoá - đã làm ngây ngất chúng tôi, quên cả giờ về. Mới biết thiên tài của cụ Nguyễn ở Tiên Điền ngày trước!... Chúng tôi đấm lưng nhau thùm thụp rồi cấu véo nhau cười rũ rượi. Chỉ huy đại đội cũng chẳng hiểu sao hôm nào trung đội cối 82 cũng về muộn. Trong nhiều cuộc cuộc sinh hoạt đại đội, trung đội chúng tôi vẫn thường được biểu dương về "ý thức chấp hành thời gian huấn luyện nghiêm túc…”(!?)

    ...Thế rồi, ngày lên đường vượt Trường Sơn đi B, chúng tôi lại gặp chính những cô gái đó ngay trên mặt đường, nơi các cô đang lấp hố bom, thông xe ra tiền tuyến. Họ nức nở rồi khóc oà lên trong chứa chan nước mắt: "Các anh ơi! Các anh vào chiến trường hết rồi, ngoài này chúng em biết ở với ai!?". Tiếng khóc ấy bật ra khi trên xe, chúng tôi đồng loạt cất mũ tai bèo chào họ, để lộ những cái đầu trọc lóc vừa mới cạo (hồi ấy, trước khi đi B, chúng tôi, hầu hết cạo trọc đầu - B trọc) như muốn nói lên cái hiện thực dữ dằn "một đi không trở lại". Sự hy sinh của chúng tôi ở chiến trường là điều dễ hiểu. Bởi "Nam nhi thời loạn"! Nhưng sức chịu đựng, đợi chờ của người ở lại, nhất lại là phụ nữ thì quả là phi thường. Có thước nào đo được sự hy sinh thầm lặng của thế hệ những cô gái ấy, những người phụ nữ ấy! Tổ quốc và nhân dân ta cần có thêm những tượng đài to hơn, cao hơn mới ngang xứng với tầm vóc sự hy sinh vô bờ ấy của họ!!

      Mẩu chuyện thứ hai: Một kỷ niệm xương máu!

     ở Hoàn Trạch (Bố Trạch), đại đội ĐKZ 75 ly (Đại đội 17, trực thuộc) của trung đoàn cũng đang gấp rút huấn luyện để nắm vững kỹ, chiến thuật, chờ ngày lên đường. Hôm ấy như thường lệ, đại đội đưa bộ đội ra bãi tập. Đến khoảng 9 giờ sáng, chỉ huy cho nghỉ giải lao. Cánh tân binh lần đầu thấy khẩu ĐKZ mới, lạ nên khi anh em lính cũ đã nghỉ, họ vẫn mày mò bên khẩu súng. Phía sau khẩu ĐKZ là một tốp mới ngồì xuống vưà chia bài để đánh vừa uống nước. Bỗng, một tiếng nổ xé tai vang lên cùng với quầng lửa màu da cam phụt ra. Mọi người bàng hoàng, không hiểu chuyện gì. Tiếng la hét thất thanh… Dòng lửa và khói ấy đã làm ba người chết ngay tại chỗ, bốn người bị thương nặng. Trong đó có Nguyễn Văn Â., quê ở Xuân Lộc, Can Lộc, hà Tĩnh. May mà Â. bị nhẹ. (tôi xin giấu tên thật vì sau này, năm 1973, trong chiến dịch bảo về Hiệp định Paris, Â. có tư tưởng sợ địch, tôi sẽ nói kỹ ở phần sau).

Nguyên do, trong lúc mọi người nghỉ giải lao, tốp tân binh mới bổ sung, táy máy, đã lắp quả đạn thật vào súng và đạp cò. Trước đó, trong giờ tập, họ đã lấy phần tử ngắm bắn vào một chiếc boong-ke của Pháp để lại từ thời "Chín năm" (kháng chiến chống Pháp 1945-1954), cách đó gần hai cây số. Lúc nghỉ, họ đã khoá tầm, khoá hướng lại. Tuy nhiên, viên đạn đã đi chệch mục tiêu, cách lô cốt mấy mét. Nếu trúng lô cốt thì hậu quả sẽ khôn lường. Vì trong đó, lũ trẻ chăn bò đang chơi và tránh nắng.

    Một sơ suất nhỏ đã gây nên một tổn thất lớn không đáng có cùng một hậu quả nghiêm trọng. Bài học xương máu khi được rút ra thì cái giá phải trả đã quá đắt rồi! Lẽ ra, chiến trường đã có thêm những tay súng lập công, thì ngược lại họ phải chết một cách oan uổng, tức tưởi và thiếu ý nghĩa.

    Anh Cầu (Quảng Bình), chính trị viên đại đội lúc đó, bị kỷ luật Đảng và giáng chức làm cán bộ trung đội. Sau này, vào chiến trường, qua thử thách chiến đấu, anh lại được đề bạt, rồi điều về làm Chính trị viên đại đội 2 tiểu đoàn 8 chúng tôi (bấy giờ là cuối tháng 7/1972, lúc tôi đã chuyển về tiểu đoàn này). Hôm ấy, tôi mục kích sự kiện này khi đang trên đường lấy vũ khí từ Trung đoàn bộ. Sau này, thi thoảng tôi và anh lại nhắc đến kỷ niệm xương máu đau buồn ấy. Ngày giải phóng anh vẫn còn sống. Đã hơn 30 năm nay, tôi không được tin. Không rõ giờ đây, cuộc sống của anh và gia đình ra sao? Có thể nỗi dằn vặt về những tổn thất, hy sinh không đáng có của chiến sỹ trong đơn vị ngày ấy, cùng những gian khổ, mất mát ở chiến trường là gánh nặng đè lên đôi vai vốn đã gầy yếu của người chính trị viên đại đội năm nào. Sau này, vào tháng 5 năm 1973, chính anh cùng anh Nguyễn Tiến Đắc (Gia Lương, Hà Bắc - đại đội trưởng), là những người giới thiệu tôi vào Đảng...

    Sau gần hai tháng ở Bố Trạch, chúng tôi có 15 ngày phép để sum họp với gia đình trước khi đi B. Thật hãnh diện, tự hào trong bộ quân phục Tô Châu màu lá cây khi gặp lại số bạn bè cùng lớp hiện đã lên lớp 10. Có người được dịp tái ngộ với người yêu để nói bao điều về tình yêu, ước mơ, tương lai và khát vọng ... Có thể nói đó là những ngày phép ít ỏi nhưng đẹp nhất còn lại của chúng tôi trên hậu phương miền Bắc để rồi sau đó phải chia tay bạn bè và những người thân yêu nhất để ra trận. Và đó cũng là lần... cuối cùng đối với rất nhiều đồng đội tôi. Bởi vì sau lần ấy, họ vĩnh viễn không bao giờ trở lại nữa... Họ đã chiến đấu dũng cảm và hy sinh trên khắp các chiến trường...!
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #6 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2013, 03:16:31 pm »

Phần III: “XẺ DỌC TRƯỜNG SƠN...”

 
     17 giờ, ngày 11/11/1971 chúng tôi được lệnh lên xe từ rừng cao su của nông trường 1/5 (Việt - Trung) tại địa phận xã Cự Nẫm (Bố Trạch, Quảng Bình). Vào đầu mùa khô nhưng trời vẫn lất phất mưa và se lạnh. Đoàn xe Gat 63, mấy chục chiếc nối đuôi nhau lầm lũi tiến sang phía Tây. Càng đi sâu vào Trường Sơn, tiết trời càng lạnh. Chúng tôi ngồi trên ô tô rất chật nhưng vẫn phải trùm lên mình tấm poncho (tăng nilon), vậy mà hai hàm răng vẫn va vào nhau lập cập. Thỉnh thoảng, bắt gặp một vài chiếc xe đi ngược chiều trở ra, chở trên mình nó là những thương binh về từ các chiến trường. Vào sâu hơn, qua ánh đèn dù của lũ máy bay đánh đêm ở các trọng điểm, chúng tôi thấy dưới chân dốc, bên cạnh những hố bom nham nhở là những chiếc Zin "Ba cầu" hay “Giải Phóng” (xe vận tải của Trung Quốc giúp ta) nằm chổng kềnh, cháy sém. Những chiếc xe quân sự đó chở gạo hoặc khí tài vào từ miền Bắc đã gặp những trận oanh kích ác liệt của không quân Mỹ. Đang đi, xe chúng tôi như bị ai nhấc lên rồi đẩy xuống. Trên thùng xe, mọi người bị xô lệch về một phía, nháo nhác, đứng cả lên; có người định nhảy xuống. Thì ra, chiếc Gat đang đi, qua ánh đèn gầm, phát hiện ra một "ổ voi" lớn, liền tránh sang phải. Không may, xe bám mép sườn dốc trơn trượt nên bị tuột nghiêng xuống, thiếu tý chút nữa thì cả xe và người đổ nhào xuống vực. Thật hú vía! Đó là kỷ niệm hành quân đầu tiên trên đường Trường Sơn.

    Sau cú trượt kinh hoàng đó, chúng tôi quyết định xuống xe và hành quân bộ. Chừng 30 phút sau tất cả các xe chở quân đều quay trở ra. Một mặt, càng vào sâu trọng điểm, càng dốc và trơn trượt; mặt khác, cánh lái xe cũng sợ bị máy bay C130 và F4 ("Con ma") bay đêm phát hiện ra. Từ đây, mở đầu cho cuộc hành quân bộ hơn ba tháng trời trên đường mòn Hồ Chí Minh.

    Khoảng 3 giờ sáng, chúng tôi vượt qua một bãi lầy. Trên vai tôi là cái bàn đế cối 82 ly (15kg) cùng với ba lô quần áo, tăng, võng, thịt hộp, cá hộp, đường, sữa bột, mì chính, bao gạo 7kg, và lỉnh kỉnh quanh thắt lưng là túi mặt nạ phòng hoá, bi đông, dao găm, lựu đạn, túi thuốc cá nhân... ngót nghét 40 kg. Không rõ đi được bao lâu và đã cố gắng hết sức nhưng tôi không thể lê nổi thêm một bước chân nào nữa trên bãi lầy đó. Ngồi bệt xuống vũng bùn sền sệt, tôi kéo vội trong ba lô ra tấm poncho trùm lên người, bởi trời càng về khuya, mưa càng nặng hạt và lạnh thấu xương...

    Khoảng 7 giờ sáng, đang ngủ say trên vũng bùn, tôi giật mình vì ai đó đang nắm lấy vai tôi lay và gọi lớn: "Sơn! Sơn! Dậy đi, đơn vị đi xa rồi!" Tôi hoảng hốt, mở mắt. Thì ra đó là anh Đinh Bát Chương (Thanh Yên, Thanh Chương, Nghệ An) khẩu đội phó đang quay lại tìm chúng tôi (sau này anh hy sinh trong trận tôi bị thương vào ngày 18/5/1972). Đảo mắt nhìn quanh một lượt, tôi thấy trước và sau có rất nhiều người cũng tư thế giống mình. Chương giúp vác bàn đế cối 82 và kéo tôi đứng dậy. Bước đi, tôi kịp quay lại nhìn vào chỗ mình vừa ngồi, hơi nước bốc lên lãng đãng như sương. Nhiệt từ cơ thể tôi ngấm vào bùn, lúc ấy mới toả ra…

    Khoảng 9 giờ sáng, mình đầy bùn đất, tôi thất thểu vào tới binh trạm 5, binh trạm đầu tiên để từ đây, chúng tôi bắt đầu "xẻ dọc Trường Sơn". Ngày ấy, tôi vốn là một cậu học sinh mảnh mai với cân nặng 47 kg, sức khoẻ B1 và còn thiếu ba tháng nữa mới đầy tuổi 18. Ba tháng huấn luyện tân binh chưa đủ tiềm năng thử thách để vượt qua khó khăn ban đầu.

    Hai ngày nghỉ ngơi, tắm giặt, phơi phong quần áo tại binh trạm, chúng tôi đã lại sức. ở đây, hàng ngày các loại máy bay trinh sát L19, OV10, A3J vè vè trên đầu như ong suốt từ sáng đến tối, tạo nên một không khí chiến trường căng thẳng, sôi động. Nếu nấu bếp “Hoàng Cầm” không cẩn thận, chỉ cần một tia khói nhỏ bay lên để bọn trinh sát này phát hiện được thì hậu quả sẽ khôn lường. Trước tiên sẽ là các vụ không kích bằng bom, rốckét và đạn 20 li của "Thần sấm", "Con ma" (các loại chiến đấu cơ cường kích F105, F4); không lâu sau đó, sẽ là hàng loạt phi vụ B52 rải thảm, huỷ diệt (chúng tôi đã được nghe kể và sau đó là nạn nhân trực tiếp của tình huống trên ở binh trạm 36 ).

    Ngày thứ tư, anh nuôi dậy từ 4 giờ sáng để lo cơm nước cho bộ đội (ở đường dây này, không có anh nuôi cố định mà là cắt phiên nhau nấu ăn hàng ngày, mỗi ngày hai người). Bởi vậy, sau mấy tháng hành quân trên đường Trường Sơn, chúng tôi, anh nào cũng biết nấu cơm ngon, dẻo sau những thất bại ban đầu như cháy, khê, nhão nhoét...

    Đúng 7 giờ, bộ đội bắt đầu xuất phát. ở rừng nên mặt trời đến muộn. Ai cũng hăm hở. Có vào các binh trạm Trường Sơn mới biết sức mạnh của chiến tranh nhân dân thật kỳ diệu. Cuộc chiến đã huy động được hàng triệu lượt người náo nức ra trận. Đó là cái khí thế của "Những binh đoàn nối nhau ra tiền tuyến. Như tình yêu nối lời vô tận" (Phạm Tiến Duật). Trung đoàn 271 chúng tôi khi vào Trường Sơn được mang biệt danh là "Đoàn 2005". Trước và sau chúng tôi còn biết bao đoàn, đã và đang đi...

    271 khi vượt Trường Sơn là trung đoàn thực binh. Ngoài lương thực, thực phẩm dự trữ và quân, tư trang cá nhân, còn phải mang vác vũ khí, khí tài nặng từ ĐKZ 75 ly, 12,7 ly, cối 82, cối 60, đại liên, B41, B40, máy thông tin 2W, 15 W... Bởi vậy nên thường bị các đoàn như 2006, 2007 vượt lên trước. Đó là các đoàn thuộc Quân khu 2, Quân khu 3, Quân khu Việt Bắc... gồm hầu hết lính ở các tỉnh từ Thanh Hoá, Hà Nam Ninh trở ra. Họ mang vác nhẹ, chỉ có ba lô quần áo và bao gạo trên vai. Trẻ, sung sức, cùng một quyết tâm ra trận nên lúc nào cũng chen lấn để vượt đoàn chúng tôi. Bởi vậy, đôi lúc, đã có những xích mích nhỏ giữa chúng tôi với họ. Dù sao đó cũng là những kỷ niệm đáng nhớ và đáng yêu trên chặng đường hành quân đầy thử thách, hy sinh của những năm tháng hào hùng đó.

    Đến binh trạm 15, lác đác đã có người bị sốt rét. Có thể nói những anh chàng nào to mập, trông khoẻ mạnh, sung sức nhất xem ra lại bị quật đổ trước tiên. Thêm một nỗi lo và gánh nặng cho những đồng chí còn lại. Bởi vì, theo quy định và quyết tâm của trung đoàn trước khi hành quân là 100% quân số phải đến đích tập kết an toàn. Đoàn chúng tôi theo kế hoạch, phải tập kết tại Bộ Tư lệnh 470, thuộc B3 ở Tây Nguyên. Như vậy, không còn cách nào khác là buộc phải khiêng cáng những anh em bị sốt, không được gửi lại ở các binh trạm. Phải công nhận một thực tế là ai đã từng bị sốt rét mới thấy hết được sức tàn phá mau lẹ và khủng khiếp về sức khoẻ bởi căn bệnh quái ác đó. Chỉ vài ba ngày sốt cấp tính, người bệnh gần như không thể bước được nữa. Những cơn sốt kinh người với nhiệt độ cơ thể có khi lên tới 40, 41 độ C. Chỉ một tuần sau khi lâm bệnh thì dù đó là thanh niên khoẻ mạnh, cường tráng cũng biến thành một hình hài tiều tuỵ, suy sụp, đứng không vững nữa. Có người chỉ cần sau vài cơn co giật là trút hơi thở cuối cùng. Đó là trường hợp những ca bị ác tính. Tôi đã đau xót chứng kiến cái chết của người bạn thân cùng trung đội tên là Trần Văn Mão quê ở Nghi Lộc, Nghệ An. Mới buổi chiều còn cùng tôi ăn chuối (cậu ta tìm đâu được một buồng chuối rừng chín bói) ăn xong lại còn tặng tôi 40 đồng (tiền miền Bắc lúc đó), nói để ngày nào được ra Bắc dành mua quà cho người thân. Đêm. Khoảng 12 giờ, cậu ta lên cơn sốt cao, co giật mấy cái rồi im bặt. Mão hy sinh lúc tròn 20 tuổi. Chúng tôi mai táng Mão bên cạnh gốc một cây lim lớn rồi đánh dấu vào đó, hy vọng sau này ai đó có thể tìm lại được. Nhưng... có lẽ chẳng bao giờ hài cốt của Mão có cơ hội trở về được nơi quê cha đất tổ nữa bởi hai lý do: Thứ nhất, chúng tôi phải cuốn theo cơn lốc của cuộc hành quân thần tốc, thứ hai là mối ở Trường Sơn thật kinh khủng. Thi thể cậu ta sẽ bị đàn mối rừng xông trong vài hôm là hết sạch. Ngủ rừng ban đêm ở đây, nếu bất cẩn thì sáng ra, ba lô của anh chỉ còn một đống đất và súng AK thì chỉ còn lại phần thép mà thôi... Mối đã xông hết tự lúc nào!   
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #7 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2013, 03:18:05 pm »

Đêm nghỉ, ngày đi thấm thoắt đã đến binh trạm 36. Trước đó, chúng tôi đã vượt qua đường 9, đoạn nối từ Khe Sanh lên. Chứng tích về thảm bại chiến dịch Lam Sơn 719 của Mỹ - nguỵ phơi bày ra trước mắt. Xác chiến xa M41, M48 cùng xe bọc thép M113 và các loại chiến cụ khác ngổn ngang cả một bãi chiến trường. Vì phải bảo đảm bí mật đội hình hành quân nên chúng tôi phải vượt nhanh qua đoạn đường này (Đây là binh trạm có cung đường xa nhất trong suốt chặng đường hành quân trên Trường Sơn). Mấy ngày sau đó chúng tôi vượt sông Xê Pôn. Nước sông ở đoạn này chảy rất xiết. Các chiến sỹ công binh Trường Sơn đã lợi dụng các tảng đá chìm giữa lòng sông để bắc cầu ngầm tránh sự phát hiện của lũ trinh sát OV10 và L19 suốt ngày o o trên đầu. Tại đây, chúng tôi có một kỷ niệm khó quên. Đó là việc anh Trần Văn Khánh (Hưng Nguyên, Nghệ An) trung đội phó, khi vượt sông, do sơ ý trượt chân, đã làm rơi khẩu AK xuống dòng nước xiết. Cả anh và chúng tôi thay nhau lặn mò nhưng không thể tìm thấy. Khánh bị lưu Đảng và bị giáng chức từ B phó (trung đội phó) xuống làm A phó (tiểu đội phó)... Sau này trong trận đánh tại Ngã ba Lộc Giang (Đức Hoà, Long An) vào tháng 5 /1972, Khánh đã hy sinh...

    ...Trạm 36 là một binh trạm nằm giữa đại ngàn Trường Sơn với bạt ngàn cây cổ thụ thuộc các nhóm gỗ quý như lim, trắc, sến, săng lẻ... Có những rừng lim hoặc săng lẻ, đi cả ngày đường không hết. Ngày ấy, chúng tôi nghĩ: “Sau này, khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, nguồn lâm sản quý giá và phong phú chủng loại ấy sẽ góp phần làm giàu cho hai nước Việt - Lào..."

    Nếu ở binh trạm 5 là nơi địa đầu đối diện giữa tỉnh Quảng Bình với tỉnh Kham Muộn của nước bạn Lào thì chỗ này thuộc địa phận của tỉnh Xa Va Na Khet. Vào đến đây mới thấy hết được cái ác liệt của Trường Sơn dưới mưa bom B52. Buổi chiều hôm ấy, sau khi cả đội hình hành quân đã tập kết đầy đủ tại binh trạm, mọi người lo cơm nước và chuẩn bị nghỉ sớm để lấy lại sức cho chặng đường hành quân ngày mai.

Đúng 7 giờ sáng hôm sau, khi chúng tôi chuẩn bị xốc ba lô và vũ khí lên vai thì máy bay địch ập đến. Tiếng gào rít xé trời của phản lực F4 "Con ma" được cộng hưởng bởi thung lũng và vách núi làm cho đinh tai nhức óc. Sau mấy vòng lượn, chúng bổ nhào xuống cắt bom vào cạnh đội hình hành quân. Loạt bom thứ hai vừa nổ thì mấy chiếc “Zin“ chở gạo phía bên kia bốc cháy. Phát hiện được mục tiêu, chúng gọi các tốp khác bay đến đánh bồi. Bom nổ ngay sát đội hình. Có những trái rơi gần chúng tôi. Tuy nhiên, nhờ các cây cổ thụ nên bộ đội có chỗ ẩn nấp do vậy thương vong không nhiều. Mặt khác, từ phía đông, trận địa cao xạ 37 ly của đơn vị phòng không, bảo vệ binh trạm bắn mãnh liệt đã đẩy giạt lũ F4 ra xa. Sau trận không kích dữ dội ấy, trung đoàn ra lệnh nhanh chóng giải quyết hậu quả. Nhưng một khó khăn đột xuất xảy ra, đó là việc bộ đội không còn gạo để ăn nữa. Vì theo quy định thì đến binh trạm 36 sẽ nhận lương thực bổ sung vì đã hết. Thế nhưng, có được vài chiếc xe chở gạo, may mắn thoát khỏi các trọng điểm ác liệt do máy bay Mỹ đánh phá, vào tới đây thì đã bị cháy trong trận oanh kích sáng nay. Do đó, đành phải nằm chờ. Tôi có một kỷ niệm với Đính ở binh trạm này. Hôm ấy, đã hai ngày, chúng tôi ai nấy tự mình kiếm được gì thì ăn nấy. Tôi cùng Đính vào sâu trong rừng để mong tìm đào củ mài hoặc môn thục. Đang đi, bất chợt, phát hiện ra một tổ ong muỗi trong một hốc cây khô, tôi chỉ cho Đính rồi thò tay vào móc. Mật ong theo cánh tay tôi chảy ra. Đính lấy bát sắt hứng, hai người thay nhau uống. Tôi uống gần một "bát B52" (bát sắt tráng men Trung Quốc trang bị cho bộ đội dùng để ăn cơm, có dung tích khoảng 400 ml) mật ong giữa lúc bụng rỗng không. Về đến chỗ đóng quân, tôi liền treo võng nằm. Nước miếng trong miệng chảy ra cơ man nào mà kể.  Bị say mật, mọi người phải giã củ mài sống, lọc nước cho tôi uống, mãi sau mới tỉnh lại. Chắc là Đính khoẻ hơn nên không bị say. Tôi vốn hay đau bụng, vậy mà từ đó về sau không còn thấy hiện tượng đó nữa. Chắc... giun đã chết hết!...

    ... Có thể hình dung mức độ ác liệt của chiến trường: Cứ khoảng 100 xe vận tải xuất phát từ Quảng Bình, vào tới đây hoặc sâu hơn chút nữa, may ra chỉ còn lại mấy chiếc. Qua các trọng điểm ác liệt, hầu hết các xe đều bị bắn cháy. Gạo ăn của bộ đội hàng ngày tuỳ thuộc vào những chiếc xe này.

    Khác với trước đây, để chuẩn bị lương thực, thực phẩm cho bộ đội hành quân trên Trường Sơn, các đơn vị hậu cần của Bộ Tư lệnh 559 lo làm kho, lán dự trữ. Bộ đội đi đến đâu, tự giác lấy theo nhu cầu của mình. Đến giai đoạn này, quân vào đông, nguồn lương thực, thực phẩm dự trữ đã cạn. Mặt khác, một số kho lại bị ném bom, bị bọn thám báo, biệt kích đốt cháy hoặc qua các mùa mưa đã bị mục nát. Do vậy, việc tiếp tế cho bộ đội hàng ngày chủ yếu là dựa vào những chuyến xe đó. Những chuyến xe "mồ côi" như vậy khó có thể đáp ứng được nhu cầu tối thiểu hàng ngày cho bộ đội Trường Sơn…

    Rời binh trạm 36, chúng tôi tiếp tục hành quân... Lại vượt dốc, trèo đèo, đêm nghỉ ngày đi... Tôi lại có một kỷ niệm với Đính ở binh trạm 40. Vốn trước đó, do mang vác nặng, hành quân đường trường, lại đèo dốc, vực thẳm, tôi bị bong gân bàn chân phải, đau đớn vô cùng. Vậy mà trên vai vẫn bàn đế cối 82 ly, vẫn ba lô, bao gạo... Tôi cắn răng, cố lê từng bước để theo kịp đơn vị. Đang đi, bàn chân phải vốn bị bong gân của tôi bỗng vấp phải một cái rễ cây nổi lên giữa lòng đường. Ôi! Đau! Một cái đau không có ngôn ngữ để diễn tả. Có lẽ những lần bị thương sau này cũng chưa có lúc nào có cái cảm giác đau đớn hơn thế. Tôi ngã chúi cả người về phía trước. Nước mắt trào ra. Chiếc bàn đế rời vai tôi ném thẳng vào gót chân của Đính. Một mảng gân trắng hếu lòi ra. Tiếp theo là máu. Nhiều máu quá! Đính đau điếng, ngã theo. Cái nòng cối 82 đè lên cổ cậu ta. Còn chiếc bàn đế của tôi rơi xuống mép dốc thiếu tý chút nữa thì lăn xuống vực. Tôi hoảng hồn và không hình dung nổi mức độ kỷ luật dành cho mình sẽ như thế nào nếu như chiếc bàn đế đó nằm dưới đáy vực?! Cả đại đội được lệnh tạm dừng, chờ đợi để băng bó cho Đính. Phải mất hơn tuần sau, Đính mới cà nhắc, vác được nòng pháo theo đơn vị. Còn cái chân phải của tôi đã thành mãn tính không lành được nữa. Tối tối, sau một ngày hành quân trèo đèo, vượt dốc, tôi phải ngâm chân bằng nước muối nóng cho đỡ đau để ngày hôm sau tiếp tục theo kịp đơn vị. Đau mấy cũng phải cố gắng theo, bước đi mà phải giấu dòng nước mắt chảy tràn trên má vì đau. Bởi nếu chỉ một biểu hiện nhỏ về sự nhụt chí sẽ bị xem là "có vấn đề về tư tưởng..."

    ...Chúng tôi vượt sông Xê Công khi trời đã về chiều. Mùa khô nên nước sông không sâu, cá ở con sông này nhiều vô kể. Binh trạm đóng gần sông. Tôi nhớ ở gần chỗ trú quân là nơi uốn khúc của con sông, nước xoáy khoét sâu vào phía hữu ngạn tạo nên những cái vực sâu. Hôm ấy, một đồng chí trong đại đội (tôi không nhớ rõ tên) đã ném xuống đó một trái thủ pháo. Không biết cơ man nào là cá. Đại đội chúng tôi đã vớt được mấy bao tải (loại bao cát của Mỹ dùng để làm công sự dã chiến). Đồng chí này sau đó bị kỷ luật cảnh cáo. Nhưng, chúng tôi thì được ăn cá thoả thích, còn chia phần cho các đại đội khác... Mấy ngày sau, chúng tôi vượt dốc 2001 (độ cao 2001 mét so với mặt biển). Dốc dựng đứng. Đầu người này chạm đáy ba lô người kia. Bộ đội công binh đã căng sẵn hai bên hai sợi dây song (mây) to bằng bắp tay. Không biết cây song mọc từ đời nào mà dài đến thế? Nếu không vì nặng mà để nguyên cả cây có lẽ nó phải dài đến cả cây số. Họ phải chặt ra nhiều khúc, căng ra cho bộ đội bám vào đấy để leo lên. Dưới đất, công binh và giao liên 559 phải làm cấp, lát gỗ, nẹp chặt lại để định vị. Có đến hàng chục nghìn bậc như vậy ở cả hai sườn dốc. Quả là kỳ diệu! ở binh trạm này, bộ đội phải cõng nước từ dưới suối lên đỉnh dốc để nấu cơm tối ăn và nghỉ lại trên đó. Vì leo từ sáng đến 5 giờ chiều mới tới được đỉnh dốc. Cơm cũng không chín được vì nhiệt độ sôi có thể chỉ đạt mức 90 - 95 độ C. Đêm treo võng ngủ lại, sáng hôm sau mới từ đỉnh dốc leo tụt xuống.

    Cứ thế... chúng tôi lại mải mốt đi... Lại vượt dốc, trèo đèo. Thấm thoắt đã gần 2 tháng trời hành quân, chúng tôi đã vượt không biết bao nhiêu ngọn núi chót vót của Trường Sơn, qua bao nhiêu sông rộng và chảy xiết nữa như Xê Bang Hiêng, Xê Rê Pốc... Gian khổ, ác liệt là thế nhưng tất cả vẫn lạc quan, yêu đời. ở những thời điểm nghỉ giải lao 10 phút, giữa hai chặng hành quân, tiếng hát lại vang lên giữa núi rừng điệp trùng với đá tai mèo, dốc đứng:

"Ta vượt trên đỉnh núi cao Trường Sơn.
Đá mòn mà đôi gót không mòn.
Ta đi nhằm phương Nam, gió ngàn đưa chân ta về quê hương.
Quân về trong gió đang dâng triều lên.
Máu thắm đường ta di, lẫn mồ hôi rơi, tình quê tha thiết.
Ta đi theo ánh lửa từ trái tim mình..."


Hay:

 "Miền Nam kêu gọi ta, vượt Trường Sơn bay vọng ra. Ôi! Tiếng quê hương như thục dục chúng ta. Mười mấy năm đã qua, giặc tàn phá trên quê nhà; gieo tóc tang điêu tàn xóm làng. Miền Nam yêu dấu ta ơi! Xin hiến dâng cả trái tim chúng tôi đang sục sôi. Miền Nam ơi! Một tiếng của Người gọi, chúng tôi sẽ lên đường về ngay chống quân thù...".

Chúng tôi hít căng lồng ngực, hát say sưa quên cả mệt nhọc gian khổ và đau đớn! Cái thời tuổi trẻ của những năm đánh Mỹ ấy, nào ai có thể dễ quên? Thật xúc động và tự hào!

Hành quân Trường Sơn có những kỷ niệm rất vui, rất đáng nhớ và cũng cười... ra nước mắt. Đó là việc nghỉ giải lao, ăn cơm trưa của bộ đội. Không rõ từ lúc nào, ai đã đặt ra cái từ "ca nhạc" (ăn cơm). Cứ khoảng hơn 9 giờ sáng đã bắt đầu có tiếng "ca nhạc đi thôi". Vậy là cả một khoảng chiều dài rừng Trường Sơn nối nhau râm ran cái tiếng hấp dẫn ấy. Bởi cái tiếng ấy cất lên là báo hiệu sắp được nghỉ ăn trưa. Điều quan trọng không phải là được nghỉ mà là được ăn. ở Trường Sơn rất đói. Mặc dù buổi sáng, vừa mới ăn xong nhưng chỉ khoảng vài tiếng đồng hồ sau đã đói cồn cào. Vào đến đây, thực phẩm dự trữ của từng người trong ba lô đã cạn. Ngoài suất cơm ít ỏi ra, thức ăn chỉ có một dúm ruốc bông nấu với môn thục (rất hiếm) hay một thứ lá rừng nước lõng bõng, nêm một chút mỳ chính là xong. Chúng tôi thường gọi đùa là "canh toàn quốc". Buổi trưa mỗi người một nửa hăng-gô Trung Quốc cơm lèn chặt, vậy mà ăn xong, vẫn nghĩ, ước gì còn, sẽ ăn hết một hăng- gô nữa... Tôi chợt nhớ lại một kỷ niệm cũng cười ra nước mắt. Đó là ở binh trạm 49 ăn canh lá rừng. Hôm ấy, tôi và Đính đến phiên nấu cơm. Chiều hôm trước, khi đến binh trạm, vừa nấu cơm xong, nhìn lên tán cây, bỗng tôi phát hiện thấy lá "mỳ chính" (tôi tưởng là cây "mỳ chính" thật. Bộ đội Trường Sơn gọi là cây "mỳ chính" (bột ngọt) vì lá của nó ăn ngọt như nêm mỳ chính). Tôi gọi Đính và chỉ cho cậu ta, nhưng vì trời chiều tối rồi nên chúng tôi không trèo hái nữa. Sớm hôm sau, Đính nhóm bếp thổi cơm, tôi trèo lên hái xuống rửa sạch cho vào nồi nấu canh cho bộ đội (hành quân Trường Sơn mỗi trung đội tổ chức một bếp). Cơm sáng xong, đơn vị được lệnh hành quân. Vừa đi được một quãng, tôi bỗng thấy bụng quặn đau, sau đó đau quằn quại rồi nôn mửa. Tôi báo cho trung đội trưởng Lê Văn Thuần, (quê Diễn Châu, anh hy sinh trong trận đánh ngày 16/6/1972 tại Long Khốt, Kiến Tường (Long An) cùng 4 đồng chí khác). Rồi liền sau đó rất nhiều người trong đó có cả Thuần cùng kêu đau bụng và nôn thốc, nôn tháo. Người đi đầu đội hình mới leo được một đoạn dốc cũng ôm bụng kêu đau, rồi tất cả những ai ít nhiều ăn canh đều bị ngộ độc. Cả trung đội nằm la liệt trên triền dốc. Đại đội báo lên tiểu đoàn, tiểu đoàn gọi lên trung đoàn. Trung đoàn lệnh cho tiểu đoàn buộc phải khẩn trương tập trung các y tá, y sỹ của tiểu đoàn về đại đội chúng tôi tìm cách giải độc cho mọi người. Tôi ăn khá nhiều canh nên nôn mật xanh, mật vàng, mắt hoa lên, tai ù đặc. Tuy nhiên nhờ nôn sớm, nôn hết nên không ai làm sao cả, chỉ mệt thôi. Hú vía! Trung đội chúng tôi buộc phải dừng lại, ngày hôm sau mới lên đường đuổi theo đơn vị. Lần ấy tôi và Đính bị khiển trách. Tuy nhiên, nào ai muốn thế! Vì chính chúng tôi cũng là nạn nhân của nồi canh ấy mà. Cái thứ lá mà tôi nhầm tưởng lá "mỳ chính" ấy có tên gọi là lá bét. Từ đó trở đi, đơn vị cấm hẳn, không cho bất cứ ai nấu canh lá rừng nữa, trừ môn thục và rau tàu bay. Nhưng loại này ở Trường Sơn là "hàng quý hiếm", dễ gì tìm được!

Cái đói vẫn cứ đeo đẳng, bám theo chúng tôi. Cũng vì thiếu gạo và muốn cải thiện thêm chút ít cho đỡ đói lòng nên suýt nữa thì tôi bỏ mạng trên  dòng Xê Rê Pốc. Hôm ấy, đơn vị tôi dừng chân bên bờ sông này. Trước đó, đoàn thuyền chở gạo của hậu cần binh trạm đi trên sông, không may, có một chiếc đâm phải đá ngầm bị chìm và nước cuốn trôi. Nước ở con sông này chảy xiết, các bao gạo sau khi ngấm nước liền cuốn theo dòng rồi giắt kẹt vào giữa các lèn đá trên sông. Các đơn vị khác đi qua, đã có người mò vớt rồi. Tôi đến sau, khi được tin liền chạy ra bờ sông cởi ngay quần áo nhảy xuống. Tôi men theo một ghềnh đá giữa dòng nước xiết. Dưới tảng đá là một lỗ hổng to. Hai tay tôi bám trên đỉnh hòn đá ấy, thả người xuống thăm dò. Thật bất ngờ, như một ma lực, tôi bị dòng nước hút ngay vào lỗ hổng đó. Chân tôi chạm phải một bao gạo nhưng đuối tầm quá. Tôi cố đu người để kéo mình ra khỏi hút nước ấy, nhưng không thể được vì sức lực của hai cánh tay không thắng nổi dòng nước xiết. Tôi nghĩ ngay đến cái chết. Chỉ cần bất cẩn, trượt tay hoặc chùng cơ là dòng nước chết người ấy sẽ hút tôi giắt vào kẽ đá dưới lòng sông như những bao gạo kia. Và vĩnh viễn tôi gửi lại bộ xương của mình dưới đáy sâu của dòng sông Xê Rê Pốc dữ dằn đó. Nghĩ như vậy, tôi cố gắng lấy hết nghị lực và sức lực của mình trong cố gắng lần cuối một cách tuyệt vọng. Thật bất ngờ, hai cánh tay như có phép lạ, chúng kéo tôi lên được một đoạn, nhờ đó mà chân chạm phải một gờ đá. Chỉ chờ có thế, tôi đạp bám vào và nghĩ nhanh: "Thế là sống rồi!". Lấy chỗ đó làm điểm tựa, tôi đạp mạnh, rút người lên. Mặc vội quần áo rồi chạy ngay về nơi đóng quân. Tôi kể lại cho mọi người nghe, ai cũng tròn mắt, lắc đầu. Tôi nghĩ: “Có lẽ tổ tiên đã phù hộ, độ trì cho mình trong lần ấy và kể cả sau này, khi lâm trận".

Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #8 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2013, 03:18:46 pm »

Bây giờ thì chúng tôi đã tới địa phận của B3. Theo kế hoạch thì 271 sẽ được bổ sung cho Bộ Tư lệnh 470 ở Tây Nguyên. Đêm đêm, tiếng bom B52 vẫn ì ầm dội đến từ các binh trạm trước và sau chúng tôi. Nhiều lúc, đêm trước B52 vừa rải thảm ở cung đường trước mặt, sáng ra, chúng tôi liền vượt qua chỗ đó. Núi rừng Trường Sơn bị cày xới nham nhở bởi hố bom B52 dày đặc. Chứng tích về tội ác dã man của giặc Mỹ bởi B52, chất độc dioxin (da cam) và bom napan huỷ diệt còn nguyên trên những cánh rừng. Một hình ảnh đầy sức gợi tả và ám ảnh đã được Tố Hữu sau này ghi lại hết sức sinh động:

"Cây khô chết chẳng nghiêng đầu.
Nghìn tay than cháy, rạch màu trời xanh."


    Càng vào sâu, núi rừng càng trùng điệp. Tuy là mùa khô nhưng có những con suối rất sâu và vách thành dựng đứng. Công binh đã lựa những cây song (mây) lớn để bắc những chiếc cầu mây cho bộ đội qua suối. Phải thừa nhận là công binh Trường Sơn có đôi bàn tay tài hoa và thật kỳ diệu trong việc nối đường giao liên bằng những chiếc cầu mây có một không hai trong lịch sử chiến tranh. Những chiếc cầu mây được néo buộc từ những gốc cây của mỏm núi này sang các gốc cây của mỏm núi khác trông chót vót, chênh vênh như trong tranh thuỷ mặc cổ điển của Trung Quốc. Nhưng kể cả người và vũ khí nặng đều có thể đi qua một cách an toàn trong sự chòng chành nhẹ lay như đưa võng. Một hình ảnh thật lãng mạn! Tôi thoáng nghĩ, nếu ở góc nhìn điện ảnh chếch từ phía dưới lên, nhà quay phim sẽ có một cảnh quay thật ngoạn mục với hình ảnh sinh động của các chiến sỹ giải phóng đội mũ tai bèo, ba lô, súng đạn đang đi ngược với góc 90 độ, thân hình song song với mặt đất như các Nin-Ja Nhật Bản vậy! Dọc đường Trường Sơn, chúng tôi đi qua rất nhiều những chiếc cầu mây như thế. Đó là những chiếc cầu của trí thông minh, lòng quả cảm; của ý chí độc lập tự do và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam ở thế kỷ XX...

    ...Thấm thoắt, chúng tôi đã đến chân cao nguyên Bô Lô Ven (Nam Lào). Hôm ấy đúng vào ngày 22 tháng 12 năm 1971, sau một ngày hành quân, chúng tôi dừng chân trên sườn đỉnh cao nguyên này. Vì là ngày thành lập Quân đội nên Trung đoàn lệnh cho các đơn vị được nghỉ chân một ngày. Trưa hôm đó, trong cuộc nói chuyện với chúng tôi, đồng chí Chính uỷ Đoàn Sáu (quê Diễn Hoa, Diễn Châu, Nghệ An) có  một câu mà đến bây giờ tôi vẫn nhớ như in "...Nếu nhiệm vụ của các đồng chí chỉ là vượt Trường Sơn không thôi thì đến đây, đã đủ điều kiện để phong tặng danh hiệu Anh hùng cho tất cả mọi người. Nhưng đích của chúng ta là ở chiến trường, nơi đối mặt với kẻ thù, và buộc phải chiến thắng, nên nhiệm vụ trước mắt hãy còn hết sức nặng nề. Các đồng chí phải nỗ lực, cố gắng hơn nữa...".

    Quan sát và ghi chép vốn là một thói quen và sở thích của tôi. Bởi vậy, dọc đường Trường Sơn và kể cả sau này, khi chiến đấu, hễ có cơ hội là tôi ghi lại những gì đã diễn ra trong hai cuốn nhật ký "Dọc đường chiến tranh". Một hình ảnh đọng mãi trong tâm trí tôi. Đứng ở triền dốc cao nguyên Bô Lô Ven nhìn xuống, thấy cả một núi gậy và áo Thu đông, trang bị cho bộ đội chống rét trên Trường Sơn. Mỗi người khi qua đây đều quẳng xuống chân dốc một cái gậy và một cái áo ấm, sau khi không dùng tới nó nữa. Vì vào tới đây đã hết lạnh. Tôi chợt nghĩ vui: nếu bọn tình báo, gián điệp có thể đếm được núi gậy này thì đó sẽ là một số liệu tình báo sống, cực kỳ chính xác, vì nó sẽ giúp chúng biết được số quân ta vào chiến trường là bao nhiêu (?!) Một đống gậy có một không hai trong lịch sử chiến tranh. Chiếc gậy ấy đã đi vào cuộc sống của bộ đội, vào thơ ca, nhạc, hoạ trên đường ra trận. Nhạc sỹ Vũ Trọng Hối hoàn toàn có lý khi viết ca khúc "Chiếc gậy Trường Sơn", lời bài hát có đoạn: "Luyện cho đôi chân vượt đường xa không mỏi, luyện cho tinh thần (là) chỉ tiến không lui"...

    ... Đã trên hai tháng hành quân, vậy mà chặng đường như dài ra hơn trong cảm giác của mọi người khi đứng trên cao nguyên này nhìn tít tắp vào phía Nam. Bây giờ, chúng tôi đã đến địa phận của tỉnh A Tô Pơ, Nam Lào...

     Từ sườn đỉnh cao nguyên này, phóng tầm mắt ra xa, thấy những cánh rừng già lúp xúp như mâm xôi, hút tầm mắt chúng tôi đến tận chân trời phía Nam. Vào đến đây, tuy sức khoẻ của mọi người bị giảm sút nhưng cơ bắp thì rắn rỏi hơn. Số người bị sốt rét tăng lên từng ngày. Đôi vai chúng tôi ngày một nặng thêm.

    Tính hai mặt luôn là sự tồn tại của quy luật cuộc sống. Nó cũng giống như tấm huân chương. Mặt trước thì rực rỡ, sáng ngời, nhưng phía sau thì xù xì góc cạnh. Cuộc chiến vĩ đại này, bên cạnh cái hào hùng có cái bi thảm. Đối lập cái cao cả, tồn tại cái đớn hèn. Lương tri trong sáng song hành cùng sự phi nhân tính. Nếu như trong cái không khí hào hùng của những binh đoàn nối nhau ra trận như trẩy hội với những con người háo hức ngày đêm "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước"; với ý chí "Không có gì quý hơn độc lập, tự do!" thì vẫn có không ít những kẻ bạc nhược, sợ chết, tìm cách quay lại trước khó khăn, gian khổ, ác liệt. Nếu chưa có cơ hội đào ngũ được thì thoái thác nhiệm vụ hoặc giả vờ ốm đau để buộc đồng đội phải khiêng cáng, mang vác thay cho mình.

    Hồi ấy, ở khẩu đội tôi, có một cậu tên là H. (tôi xin được giấu tên thật), quê Kỳ Anh (Hà Tĩnh). Công bằng mà nói, anh ta cũng có ốm, nhưng so với những người khác, thì chưa thấm vào đâu. Vậy mà do tư tưởng sợ chết, sợ gian khổ, không muốn vào chiến trường nên lấy cớ, "đập bệnh" ra không chịu đi nữa. H. cố nhịn ăn để sức khoẻ nhanh chóng giảm sút, bắt chúng tôi phải khiêng. Nếu không khiêng, nhất định H. không chịu đi. Theo mệnh lệnh, chúng tôi buộc phải chấp hành. Khẩu đội thay nhau, hai người một, cáng H. Đường dốc, quanh co, lèn đá dựng đứng. Chúng tôi vừa mang vác nặng lại vừa phải khiêng thêm người nên hết sức vất vả. Vai bỏng rát, gối run, chân chồn. Mồ hôi ướt đẫm quần áo. Hôm ấy, đến lượt tôi và Đính khiêng H. Chúng tôi bảo nhau phải cho thằng này “biết thế nào là lễ độ”. Đợi khi đi qua chỗ dốc và cua gấp khúc, chúng tôi cùng nháy nhau va mạnh cậu ta vào lèn đá liên tục. Đau quá, và hình như cũng biết chúng tôi chơi khăm nên H xin xuống tự đi một cách "ngon lành". Có mặt mọi người, H. giả vờ không ăn được, nhưng khi nào vắng chúng tôi hoặc khi nằm trên cáng trùm chăn, H. lại lén lấy đường, sữa ra ăn một mình. Chúng tôi, ai cũng tức hắn nhưng vì phải chấp hành mệnh lệnh nên mọi người đành cam chịu vậy thôi. Sau đó mấy hôm, hắn nằm ỳ, không chịu đi nữa. Chúng tôi cũng quá mệt mỏi và không còn đủ sức khiêng hắn. Hơn nữa, đơn vị có thêm những người mới bị sốt rất nặng. Do vậy đã đề nghị đại đội cho gửi hắn lại binh trạm... Nghe nói, sau đó H. đào ngũ quay trở ra Bắc... Sau giải phóng trở về, năm1980 (bấy giờ tôi đang học năm thứ II, Đại học Sư phạm Vinh), tình cờ tôi gặp H. tại cầu phao Bến Thuỷ. H. hồng hào, khoẻ mạnh. Nói chuyện qua quýt, tôi được H. cho biết là đang trên đường đi công tác. Hiện đang làm cán bộ thương nghiệp huyện Kỳ Anh. H. cười rất mãn nguyện. Tôi hiểu, trong cơ chế bao cấp thời ấy (thập niên 80 của thế kỷ trước), thương nghiệp được coi là một nghề "thời thượng". Bây giờ thì tôi càng rõ hơn về bản chất con người này! Từ bấy đến nay, tôi không gặp lại H. nữa...

   
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #9 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2013, 03:19:51 pm »

...Tập kết tại địa bàn của Bộ Tư lệnh 470, chúng tôi bất ngờ nhận được lệnh mới: "Gấp rút vào B2 để đánh thí điểm địch ở đồng bằng". Chúng tôi lại tiếp tục hành quân... Càng đi sâu hơn vào phía Nam, núi rừng tuy không dốc như ở Trung Lào nhưng những rừng khộp, rừng le bạt ngàn, cùng những rừng săng lẻ vỏ bạc phếch như da trăn và thẳng như đũa, đi mấy ngày đường không hết.

Bây giờ đã là cuối tháng 1 năm 1972.

    Chiều mùa khô Trường Sơn, khi ánh chiều hắt xuống những giọt nắng cuối cùng như nhuộm vàng lên màu diệp lục của lá rừng là lúc lòng người tê tái, trống vắng bởi nhớ nhà, nhớ quê, nhớ hậu phương miền Bắc da diết. Đã có một chiến hữu của chúng tôi (thuộc thế hệ đi trước), nghe nói là một sinh viên Ngữ văn của một trường đại học. Cũng như chúng tôi, đã "gác bút nghiên " lên đường đánh Mỹ. Khi vào Trường Sơn, anh đã cảm tác viết bài thơ sau đây. Nhưng rồi trong một trận chiến đấu, không may anh hy sinh. Bọn địch đã lượm (nhặt) được bài thơ, sau đó chúng ghép thêm một đoạn sặc mùi "chiêu hồi", phản động, đem in thành truyền đơn rồi nhanh chóng cho máy bay thả xuống trên núi rừng Trường Sơn. Mục đích tâm lý chiến của chúng là dùng một mũi tên bắn trúng hai đích. Thứ nhất là bôi nhọ hình ảnh người chiến sỹ giải phóng. Thứ hai là hòng làm lung lay tinh thần của cán bộ chiến sỹ ta. Cũng phải thừa nhận một thực tế là bài thơ có những câu như xoáy vào gan ruột những chiến binh như chúng tôi ngày ấy. Nó lay thức tâm can, gợi lên nỗi nhớ nhà da diết, nhớ quê hương đến nao lòng (hồi ấy, chúng tôi nào ai dám đọc to lên đâu, vì có thể sẽ bị đánh giá về lập trường, tư tưởng ngay!). Tôi dẫn ra đây một đoạn:

Từ buổi con lên đường, xa mẹ
Theo anh em sang Lào, rồi dấn bước vào Trung
Non cao, núi biếc chập chùng
Sớm nắng biển, chiều mưa nguồn gian khổ...
Tuổi thanh xuân, cuộc đời như hoa nở
Vì hoà bình, đâu ngại bước gian nguy
Mấy tháng trời, đêm nghỉ, ngày đi
Giày bệt gót, áo sờn vai, thấm lạnh
Chiều Trường Sơn, núi rừng cô quạnh
Mẹ hiền ơi, con chợt nhớ quê nhà.
Khói lam chiều, giàn mướp lá lên xanh
Cây đa cũ, mái đình xưa. Ôi nhớ quá!...


    Quả thật, những vần thơ đó, tự thân nó có sức ám ảnh ghê gớm. Nếu không vững ý chí và niềm tin, có người sẽ "chùng chân, mỏi gối..."

                 

    ...Chúng tôi lại mải mốt đi... Đường hành quân đến đây bất chợt xuyên qua những đồi cỏ lau bạt ngàn một màu vàng chói mắt. Nắng mùa khô gắt gao cộng với màu vàng cỏ lau nhức mắt càng làm tăng thêm cơn khát cháy họng của mọi người. Điều ước ao duy nhất lúc này là được uống nước. Cái nắng cháy da người cộng với những cơn khát, khiến cơ thể như bị khô cong đi. Các đồng chí giao liên cho biết, phía trước mặt sắp đến sẽ có một con sông. Chúng tôi ai cũng nóng lòng, háo hức và càng thêm dồn bước. Tôi liên tưởng đến chi tiết Tào Tháo dụ lính gắng đi tiếp vì sẽ có một rừng mận trước mặt. Mọi người thì mải nghĩ tới con sông. Rừng mận trong "Tam Quốc" là giả tưởng còn con sông phía trước chúng tôi thì có thật… Đang đi, bỗng thoảng một luồng gió mang hơi nước mát rượi phả vào mặt. Cơn gió ấy đưa tôi trở về thực tại. Chúng tôi biết là sắp đến chỗ có con sông. Quả nhiên, đi chừng hơn một cây số nữa thì một dòng sông rộng hiện ra trước mặt. Giao liên cho biết đó là con sông Bạc. Chúng tôi sà xuống rồi để nguyên cả ba lô súng đạn trên vai gục xuống ừng ực uống như chưa bao giờ được uống. Làn nước ngọt lịm như thấm vào từng tế bào chúng tôi. Tự nhiên cái mệt mỏi, cái nóng bức biến đi đâu mất, nhường lại là sự tươi tỉnh, sảng khoái đến lạ kỳ. Có lẽ, trong đời, ít khi có thể tìm lại được cái cảm giác sung sướng, sảng khoái khi được uống nước như lần ấy trên con sông Bạc ở Nam Lào...

    Càng vào sâu, không khí chiến trường càng nóng lên và rộn rã. Chúng tôi qua các trạm 80, 81, 82... đến trạm 92 là hết đường dây 559 để vào trạm 01 "Giải Phóng". Chỉ mới gần ba tháng hành quân mà ai cũng tưởng chừng như đã lâu lắm. Đến đây không khí như trẩy hội. Băng rôn, khẩu hiệu chăng ngang đường hành quân. Nhìn từ phía Bắc là câu: "Chào những binh đoàn hùng mạnh của giai cấp vô sản, những người con ưu tú của miền Bắc XHCN vào giải phóng miền Nam" dành cho chúng tôi. Phía bên kia là câu: "Kính chào những người con dũng cảm vì Tổ quốc, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, trở về hậu phương" để đưa tiễn những đồng chí thương binh không còn khả năng chiến đấu từ các chiến trường ra Bắc. Có thể nói trong đời, đây là lần đầu tiên chúng tôi mới tận mắt mục kích chiếc xe máy Honda (loại 67 và 50) mà trên lưng nó là các cô giao liên đội mũ tai bèo, mình vận bà ba đen hay quân phục màu cỏ úa, chân đi dép lốp (dép râu), súng AK vắt chéo qua khuôn ngực thanh tân của tuổi mười tám, đôi mươi với gương mặt từng trải qua thử thách ác liệt của bom đạn Mỹ. Hình ảnh ấy đã tạo một ấn tượng mạnh trong mỗi chúng tôi. Nó như một thứ nam châm cực mạnh hút đôi mắt chúng tôi dồn về phía ấy. Vì đã lâu lắm rồi, chúng tôi mới được nghe tiếng cười và giọng nói của "phái đẹp". Suốt chặng đường hành quân từ dạo chia tay với các cô gái ở Quảng Bình đến giờ, hình ảnh ấy chưa một lần tái hiện. Có thể đó là những cô gái từng có mặt trong bài thơ "Lá đỏ" của Nguyễn Đình Thi đã được nhạc sỹ Hoàng Hiệp phổ nhạc thành bài hát cùng tên nổi tiếng: "Em đứng ở bên đường như quê hương vai áo bạc, quàng súng trường. Đoàn quân vẫn đi vội vã...". "Vội vã" thế mà ai cũng cũng ngoái đầu nhìn ngắm họ như nhìn những "sinh vật lạ". Mà lạ thật. Chưa có lúc nào chúng tôi được thấy những con người bằng xương bằng thịt với tư thế đó. Nói đúng ra thì dọc đường hành quân, thỉnh thoảng chúng tôi có gặp một vài phụ nữ. Nhưng họ im lặng, lầm lũi đi dưới phiên hiệu của các đoàn cán bộ dân chính Đảng để vào tiếp quản các vùng mới giải phóng hoặc chuẩn bị nguồn cán bộ cho ngày giải phóng miền Nam. Họ trông tiều tuỵ vì gian khổ và sốt rét rừng Trường Sơn. Vào đến đây, chúng tôi được ăn no, ăn ngon. Được xem phim của xưởng phim Giải Phóng. Có cả phim của Hãng phim truyện từ miền Bắc gửi vào và phim Thượng Cam Lĩnh của Trung Quốc... Gần như bao nỗi gian nan của chặng đường hành quân đầy vất vả ấy đã tiêu tan hết. Nhường lại là sự phấn chấn của những người lính sắp được vào trận. Chúng tôi được nghỉ lại binh trạm ba ngày.

    Tôi có một kỷ niệm vui khi đến binh trạm 3 "Giải Phóng". Hôm ấy, trước khi vào chỗ nghỉ, phải lội qua một con suối nhỏ, nước cạn. Ngay trên đầu chúng tôi có một tổ ong mật to như cái áo tơi, lủng lẳng treo trên một cành cây. Các đơn vị khác đi qua đều thấy, nhưng không ai dám đụng vào. Tôi nghĩ bụng: "Nhất định phải ném cho đứt đôi tổ ong này để lấy mật"(tôi vốn hiếu động và hay nghịch ngợm từ bé). Sau khi mắc màn xong, tôi bàn với Đính, cả hai quyết định đến phá tổ ong! Tôi thủ mấy hòn đá bằng nắm tay, chọn vị trí thích hợp rồi thẳng tay, liên tục ném hết những hòn đá ấy vào tổ ong. Một phần ba tổ ong đứt, rơi xuống. Đàn ong từ đó bay ra. Hoảng quá, tôi hét Đính chạy như bay về chỗ nằm chui ngay vào màn ngồi. Đàn ong đuổi theo nhưng không kịp, cứ bay rào rào quanh màn. Chúng bèn xông vào đốt túi bụi số anh em chưa mắc kịp màn. Cả đại đội chạy táo tác tìm chỗ núp tránh đàn ong quái ác ấy. Cũng may, lúc ấy trời đã nhá nhem, rồi tối rất nhanh (vì ở rừng). Đàn ong rút lui. Một số anh em bị ong đốt sưng vù mặt mày, có người yếu sức đã phát sốt lên. Lần ấy, tôi và Đính bị đại đội họp kiểm điểm và kỷ luật cảnh cáo. Lẽ ra sau đợt hành quân, tôi được chi bộ cho học đối tượng Đảng nhưng vì lý do ấy nên phải đình hoãn lại đợt sau.

Như vậy, từ các binh trạm của đường dây "Giải Phóng" (cũng vẫn là đường mòn Hồ Chí Minh) trở đi, đời sống vật chất của bộ đội được cải thiện đáng kể. Chúng tôi đã có thực phẩm tươi bổ sung khá đều đặn. Tôi nhớ khi vào binh trạm của đường dây này, chúng tôi được phát mỗi người ba hộp sữa. Đã lâu không được ăn đường, sữa nên thèm quá. Tôi và nhiều anh em uống hết một lúc cả hai hộp. Chỉ cần chọc mũi dao găm vào nắp hộp, lách một đường rồi bật nắp, ngửa cổ một lúc là hết sạch. Lần ấy, sau khi uống xong, tôi bị khản đặc cả cổ và mất tiếng vì sữa ngọt và uống nhiều quá. Phải mất mấy hôm mới trở lại bình thường. Đi sâu vào Hạ Lào, giáp giới với Campuchia, rừng chỉ còn lúp xúp, thoai thoải. ở đây những cánh rừng khộp được khai thác để lấy dầu. Cây khộp được đục một lỗ lớn ở gốc, sát mặt đất, có thể cho gáo vào múc được. Dầu ở trong thân cây chảy ra, đọng lại đó. Người ta chỉ việc cho gáo vào múc. Ngoài việc xuất khẩu và sử dụng trong công nghiệp, dầu khộp còn dùng để thắp sáng, đun nấu ít khói và rất đượm lửa...

Không nhớ rõ chúng tôi đã đi biết bao ngày đường giữa bạt ngàn rừng khộp. Các đồng chí giao liên kể lại: Vùng này, sau trận càn Chen La II (tìm diệt) năm 1970, của Mỹ - nguỵ, bộ đội ta phải chạy dạt lên đây, trú ẩn. Xe tăng của quân nguỵ Sài Gòn hồi đó càn lên. Họ không cầm nổi B40, B41 để bắn nữa, vì đói quá. Rất nhiều đồng chí bị chiến xa địch cán nát dưới xích. Cú đánh bồi ấy đã làm chúng ta tổn thất rất lớn...Trên đầu chúng tôi vẫn vè vè tiếng OV10 và L19. Đâu đó, ở phía Đông, tiếng đại bác vẫn ùng... oàng... dội lại rồi có tiếng gào rít của chiến đấu cơ và tiếng bom. Phía ấy, chắc bộ đội ta đang chống càn...

    Vượt sông Xê San, chúng tôi tới binh trạm ở ngã ba biên giới. Đây là nơi tiếp giáp của ba nước Việt, Lào, Campuchia. Có một câu nói rất hay: "Một tiếng gà gáy, cả ba nước đều nghe". Nước con sông Tà Ngâu trong vắt. Hai năm sau, năm 1973, khi Hiệp định Paris được ký kết không lâu, nhà thơ Tố Hữu trong một chuyến công tác, đã qua đây. Sau đó ông trở ra Bắc rồi viết bài thơ "Nước non ngàn dặm" nổi tiếng. Thi phẩm có đoạn nói về nơi này:

Tà Ngâu trong vắt mắt gương
Xốn xang trong lửa chiến trường mà cay
Xê San tan nát đạn cày
Trống trơ rừng khộp, khô gầy rừng le
Bằng lăng bạc nắng trưa hè
Nghe như cưa xé, tiếng ve rít dài
Cỏ vàng lạc bước hươu nai
Sóc, buôn thấp thoáng bóng xoài đung đưa
Vườn ai cháy trụi ngọn dừa
Mái chùa cong, gẫy nét xưa diệu huyền...


    Kế hoạch của đoàn chúng tôi là tập kết tại một khu rừng phía Tây của tỉnh Tây Ninh. Nơi đây thường gọi là cứ "Chính phủ". Để đến được nơi này, phải hành quân qua đất Campuchia, thuộc địa phận của tỉnh Côngpôngchàm. Tiếp xúc với dân Campuchia, ngôn ngữ bất đồng nên có nhiều kỷ niệm buồn cười lắm. Chúng tôi đi qua một số phum, sóc (làng, xóm, ấp) khi khát nước, chẳng biết nói thế nào để xin cả. Gặp mấy người lính hậu cần của R. (Bộ Tư lệnh Miền) thuộc phân khu 23, sống ở đất bạn đã lâu, lẽ ra khi xin nước thì nói: "Oi khơ nhum xum tức phấc" (Cho tôi xin nước uống) hoặc "Ôn ơi, miên tức tê, oi boòng xum..." (Em ơi, có nước uống cho anh xin) thì họ lại bày cho "Ôn ơi! Miên xờ lanh boòng tê?". Chẳng hiểu sao khi mình xin nước uống thì các cô gái đỏ mặt lên, cười rồi bỏ chạy vào nhà trốn biệt (!?) Thì ra, chúng tôi đã mắc lỡm cánh lính cũ. "Ôn, miên xơ lanh boòng tê" nghĩa là: "Em có yêu anh không? ". Xin nước mà hỏi "Em có yêu anh không" chắc chắn cô gái nào cũng phải đỏ mặt, bỏ chạy (!?) Một chuyện khác: Cũng xin nước, nhưng nói mãi mà họ không hiểu, bộ đội ta quay lại nói với nhau "thật tức chết đi được". Không ngờ, thấy ông già gật đầu "ờ. ờ..." rồi lặng lẽ vào trong nhà khệ nệ bưng ra một ấm nước cùng một nải chuối to cho chúng tôi. Thì ra ông đoán chúng tôi xin nước và chuối nên bèn bưng ra mời. Sau này chúng tôi hiểu và nói sõi tiếng Miên, nhớ lại, cười chảy nước mắt. Trong câu nói ấy có hai từ: "tức" và "chết". Tiếng Campuchia "tức" là nước và "chêếch" là chuối. Do vậy, hôm đó, chúng tôi mới được ăn chuối và uống nước. Một câu cáu gắt do bực mình, xem ra lại có hiệu quả và được việc!

    Tình cảm của nhân dân nước bạn đối với chúng tôi thật đáng quý. Mặc dù ngôn ngữ bất đồng nhưng thực sự họ rất quý mến và kính phục chúng tôi. Bởi chúng tôi là những người lính cách mạng, có văn hoá; là "Bộ đội Cụ Hồ" được học tập, rèn luyện, thử thách nên có ý thức tự giác chấp hành nghiêm chỉnh chính sách quốc tế của Đảng và kỷ luật quân đội khi sang nước bạn. Chúng tôi đi qua nhiều thị trấn, thị tứ như Tà Xăng, Tà Nốt, Ô Răng Âu... Lần đầu tiên, chúng tôi nhìn thấy cây thốt nốt. Đó là một loại cây đặc sản của nước bạn. Thoạt nhìn, nó giống cây cọ Phú Thọ nhưng lá nhỏ, dày, các cạnh sắc nhọn hơn. Vào mùa này, người dân bắt đầu khai thác mật. Đơn giản, họ bắc những cây tre dài, để nguyên các cành hai bên thân tre để làm bậc leo. Trên ngọn thốt nốt là những cuống trái như cuống dừa. Cách khai thác: cắt ngang cái cuống ấy rồi hứng vào đó một ống bương đã xông khói. Sáng mai, trèo lên dỡ xuống là có đầy một ống nước ngọt. Mỗi cây như vậy treo từ 7 đến trên 10 ống (tương đương 10-12 lít mỗi cây một đêm) Sau đó, họ chỉ cần cho vào chảo gang, nấu cạn đi là sẽ thành đường. Đường thốt nốt ngọt, thơm, hàm lượng xaccaro cao. Có những vùng, cây thốt nốt nhiều như cọ ở Phú Thọ.

   
Logged

Trang: 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM