Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:47:42 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ký ức chiến tranh - Hồi ký Vương Khả Sơn, CCB trung đoàn 271.  (Đọc 62154 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #20 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2013, 03:29:06 pm »

 ... ở An Thuận một thời gian, ba chúng tôi, trong đó có Kỷ và anh Cường, chính trị viên phó đại đội (quê Diễn Châu, sau này trong chiến dịch bảo vệ Hiệp định Pari năm 1973, anh Cường đã hy sinh. Hôm đó, Kỷ, Tý và Cường chung một công sự. Trái pháo nổ gần. Một mảnh pháo găm vào ngực anh) cùng với ba đồng chí du kích địa phương do ông Năm Châu, một cán bộ và là một đảng viên kiên trung, nhận lệnh vào một ấp chiến lược ở cuối Lộc Giang, nằm sâu trong lòng địch có nhiệm vụ tiêu diệt tên xã trưởng ác ôn khét tiếng vốn có nhiều nợ máu với nhân dân và cách mạng. Đêm ấy, trời tối như bưng, nhưng nhờ ánh sáng điện của tiểu khu Hậu Nghĩa và của cả Sài Gòn, chúng tôi men theo các bìa ấp và những khoảnh ruộng nằm giữa các bốt bảo an, dân vệ, luồn sâu vào hậu địch. Từ chỗ chúng tôi xuất phát đến khi vào được tới ấp mất gần 8 tiếng đồng hồ. Chúng tôi len lỏi giữa đồn bốt giăng giăng, luồn sâu vào ấp. Gần hai giờ sáng, mới tới nơi quy định vì phải vừa đi vừa thăm dò, bám địch (ở đây, chúng hay phục kích và gài mìn ban đêm). Đồng chí du kích có tên là Sáu Luật, nhanh nhẹn, người ấp này, thông thuộc địa hình nên dẫn chúng tôi đến nơi tập kết an toàn, tránh được sự phục kích và mìn của địch. Sáu và ông Năm bắt liên lạc với cơ sở cách mạng của ta ở đó, nói rõ nhiệm vụ và ý đồ tiêu diệt tên ác ôn đồng thời đề nghị bố trí chỗ trú ẩn an toàn cho chúng tôi. Cơ sở đưa chúng tôi đến một một nơi bí mật ở cuối ấp. Nơi đó, trước đây đã đào hầm bí mật nuôi giấu cán bộ. Sau năm 1968, cơ sở bị lộ, các cán bộ nằm vùng, một số bị địch bắt, một số hy sinh. Hiện vẫn còn một căn hầm bí mật (BEM) nhưng lâu ngày không sử dụng nên rất có thể có rắn rết, côn trùng. Nhưng vì trời gần sáng, chúng tôi đánh liều chui xuống. Không có rắn, rết nhưng ve thì nhiều. Loại này sau khi châm vào người thì để lại nọc ở đó. Chạm vào y như bị kim châm. Ngày hôm ấy, chúng tôi nằm dưới hầm ngủ, chỉ thay nhau để lại một đồng chí cảnh giới. Hầm chúng tôi nằm ngay dưới một đám cây mắc cỡ lâu năm, cao gần một mét (miền Bắc gọi là cây trinh nữ hay xấu hổ). Khi đi qua, cây rũ xuống nhưng chỉ cần vài chục phút sau nó trở lại nguyên dạng. Do vậy rất bất ngờ. Sát đó có một cái giếng hoang từ lâu không ai dùng. Trưa nắng, khát nước, tôi trườn dưới cây mắc cỡ để ra múc nước uống. Tôi buộc hăng-gô vào sợi dây dù rồi thả xuống, kéo nước lên. Hăng-gô chạm vào đá nghe loảng xoảng. Mỗi lần múc, chỉ đủ cho một người uống. Nước trong vắt và ngọt lịm. Sau này chúng tôi mới bàng hoàng vì biết sự thật về cái giếng ấy. Năm 1965, du kích bắt được mấy tên ác ôn, giết xong, vứt xác xuống, ném đá đè lên. Tôi chợt hiểu vì sao ở đồng bằng mà lòng giếng lại có nhiều đá như vậy ?! Móc họng thế nào cũng không ra được nữa vì đã mấy ngày sau khi tên ác ôn bị tiêu diệt, mới biết (cơ sở cách mạng ở đó biết rất rõ cái giếng ấy nhưng họ không ngờ chúng tôi lại dùng nước ở đấy. Hơn nữa, nhiệm vụ quan trọng nhất lúc này là làm sao sớm diệt được tên ác ôn nên không ai để ý). Đến bây giờ mỗi lần nghĩ đến, tôi vẫn cứ kinh kinh, lờm lợm.

    Thằng ác ôn có tên là Đởm (Sáu Đởm). Được biết, hắn có hai vợ. Một cô vợ bé, ở đâu trên Hậu Nghĩa. Thỉnh thoảng hắn lên trên đó. Còn chủ yếu là ở lại địa bàn này. Nhưng thằng này tinh quái lắm. Ban đêm, hắn chuyển chỗ ngủ tới hai, ba lần. Vì hắn biết rõ tội ác của mình và bản án tử hình mà cách mạng sẽ dành cho hắn nhưng chưa có dịp thực hiện nên càng điên cuồng như con thú dữ bị thương.

   Cơ sở cho biết, Đởm đến nơi làm việc không có một quy luật nào cả. Nơi làm việc của hắn là một nhà dân ở đầu ấp chiến lược. Nhà thường đi làm vắng. Có thể sáng đến rất sớm hoặc đang trưa, hắn đến. Có khi ba hoặc bốn giờ chiều cũng nên. Thậm chí làm việc xong, hắn ăn tại chỗ rồi nghỉ lại. Đêm, di chuyển đến nơi khác để ngủ. Gần chỗ hắn làm việc, có bốt bảo an với một trung đội lính canh gác, bảo vệ. Đó là chỗ dựa cho thằng này.

   Không hiểu sao, đã ba ngày nay, hắn không đến. Chúng tôi nằm phục kích giữa ruộng lúa đang chín, cạnh con đường hắn thường đi. Trời nắng như thiêu, cháy sém cả da mặt mà không dám động cựa vì sợ dân phát hiện ra sẽ bị lộ. Chờ đến lúc nhìn không rõ mặt người mới dám từ từ ngồi lên rồi đợi cho tối hẳn mới trở về nơi trú ẩn. Không lẽ cơ sở đã để lộ rồi chăng? Chúng tôi hoang mang. Kiểm tra lại, thấy không có gì bất cẩn cả. Vẫn giữ được bí mật tuyệt đối.

   Ngày thứ tư, chúng tôi thay đổi vị trí mai phục. Chuyển đến gần chỗ hắn làm việc, nhằm tạo yếu tố bất ngờ. Chúng tôi mật phục từ bốn giờ sáng. Tất nhiên, vẫn giữa ruộng lúa đang chín. Tám giờ, bỗng có tiếng xe gắn máy đi tới, mọi người bí mật quan sát. "Đúng hắn rồi!" - Sáu Luật nói. Mọi người nhìn nhau, gật đầu, thực hiện phương án một.

   Đởm ngồi trên xe, bên hông là khẩu Côn 12. Ngoài ra, một khẩu AR15 treo hờ trước ngực trong tư thế thuận tiện nhất để sẵn sàng nổ súng bất cứ lúc nào.

   Xe chạy qua, lợi dụng ở phía sau lưng nó, tôi và Sáu trườn nhanh vào, tiếp cận vào góc khuất của ngôi nhà, trong khi tên ác ôn đang dựng xe và tháo khẩu súng trước ngực, chuẩn bị bước vào. Kỷ và anh Cường bí mật vòng nhanh ra cửa sau, chốt chặn. Vào nhà, hắn dựng súng vào mép bàn, đang lúi húi tháo xà cột ra khỏi vai. Chỉ chờ có thế, Sáu Luật nhảy đến gí AK vào mặt hắn quát: "Sáu Đởm! Mày là tên ác ôn có nhiều nợ máu đối với nhân dân và cách mạng. Hôm nay, thừa lệnh Chính phủ Cách mạng lâm thời, chúng tao thực thi bản án tử hình dành cho mày". Thằng ác ôn trợn tròn mắt, há hốc mồm, chưa kịp phản ứng gì thì Sáu đã siết cò. Hai loạt đạn bắn găm vào đầu và ngực hắn, máu vọt vào mặt và áo quần chúng tôi. Tôi bồi ngay một loạt nữa, thằng giặc bật ngửa ra phía sau, đổ vắt trên thành ghế, ngực lỗ chỗ. Tôi rút vội trong túi áo mình tờ giấy ghi bản án tử hình đã được ký sẵn, dành cho tên ác ôn, đặt lên ngực hắn rồi nhặt vội khẩu AR15 trong khi Sáu Luật tháo khẩu Côn 12 và xách theo túi tài liệu. Cùng lúc, hai đồng đội phía cửa sau, đồng loạt nổ nhiều loạt AK hướng về phía bốt bảo an. Tất cả chỉ diễn ra trong khoảnh khắc. Chúng tôi chạy thành hai hướng, như ma đuổi, vòng vèo, luồn lách để nghi binh địch và tránh con mắt tò mò của dân. Cuối cùng, tất cả cũng về đến hầm bí mật, chui xuống. Ai nấy, thở muốn đứt hơi.

   Không chỉ nợ máu với cách mạng và nhân dân, Đởm còn rất hách dịch với đám lính bảo an ở đây nên tụi này không ưa gì hắn. Đó là một lợi thế cho chúng tôi. Đến khoảng 11 giờ trưa, nghe có tiếng súng nổ gần. Tất cả chuẩn bị chiến đấu. Nhưng, bọn lính chỉ bắn chỉ thiên vu vơ cho có tiếng súng vì sợ cấp trên khiển trách, rồi rút về bốt. Chúng không dám liều lĩnh sục sạo, vì đứa nào cũng sợ chết.

   Chúng tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Tiêu diệt được tên ác ôn khét tiếng mà lâu nay nó thực sự là một cái gai nhức nhối cho nhân dân và phong trào vùng này. Đặc biệt là cho những gia đình cách mạng. Ngoài ra, còn lấy được tài liệu quan trọng và thu vũ khí mà không hề tốn một giọt máu. Cái chết của Sáu Đởm thực sự có hiệu quả. Đó là sự răn đe, cảnh cáo mạnh đối với những thằng ác ôn khác.

    Tối hôm đó, trước khi rút về cứ, chúng tôi được bà con khao thưởng thịt heo và tặng cho nhiều quà (nghe tin thằng Đởm chết, họ mổ heo ăn mừng nhưng bên ngoài không dám nói ra). Chúng tôi từ chối, bởi sau chiến thắng nếu chủ quan sẽ rất dễ phải trả giá. Ông Năm Châu thay mặt cách mạng và tổ công tác, cảm ơn bà con cô bác đã cưu mang, chở che để chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ.

    Chúng tôi giã từ mọi người để lên đường ra cứ lúc 20 giờ 30 phút tối hôm đó.

    Vẫn là Sáu Luật dẫn đường, nhưng lần này, cậu ta không trở lại đường cũ mà cắt một lối khác khá bất ngờ, sát nách bốt địch. Đúng như dự định của chúng tôi, bọn địch đã gài mìn và phục kích ở đoạn đường mà theo dự đoán của chúng là chúng tôi sẽ đi qua. Chúng cho rằng, chúng tôi sẽ về muộn vì đang mải say sưa với chiến thắng. Chúng hoàn toàn không ngờ!

    Tổ công tác chúng tôi về tới cứ ở bưng An Thuỷ khi đằng đông đã có ánh bình minh.

    Sau trận ấy, chúng tôi chia tay với ông Năm Châu, Sáu Luật và anh chị em du kích cùng với mảnh đất An Thuận đầy ắp kỷ niệm. Họ ở lại bám dân, tiếp tục làm nhiệm vụ. Còn chúng tôi rút lên Campuchia, củng cố lực lượng, chuẩn bị đánh trận Công Pông Tra Béc lịch sử. Không ngờ, đó cũng là lần cuối cùng chúng tôi gặp họ. Từ bấy đến nay, không rõ ông Năm cùng các đồng chí du kích và giao liên An Thuận một thời gian khổ, hy sinh, sát cánh cùng chúng tôi chiến đấu và công tác hiện ra sao? 33 năm đã trôi qua, bão táp thời gian có thể làm đổi thay mọi điều!?...

    Riêng Sáu Luật, đã anh dũng hy sinh trong một trận phục kích của địch sau đó không lâu, khi anh vào lại ấp chiến lược trong một chuyến công tác. Tôi cúi đầu, ngậm ngùi, đau xót trước cái tin đột ngột ấy. Đó là một chiến sỹ trinh sát du kích mưu trí, dũng cảm, kiên cường. Một người đồng chí thuỷ chung, tận tuỵ…

    Năm đó Luật mới 17 tuổi...

   
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #21 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2013, 03:31:09 pm »

    Cuối tháng chín, năm 1972, chúng tôi nhận nhiệm vụ giải phóng căn cứ Công Pông Tra Béc giúp bạn. Căn cứ này vốn trước đây, nhiều lần cả ta và bạn hiệp đồng tác chiến để giải phóng, nhưng chưa lần nào dứt điểm vì nó là một căn cứ có vị trí gần như một ốc đảo. Xung quanh là đồng bưng và đầm lầy, chỉ có con đường độc đạo chạy qua, được bọn Lon Nol cố thủ vững chắc. Quyết tâm của trung đoàn 271 là bằng mọi cách phải nhổ bằng được căn cứ này. Trước đó cả mấy tháng, trinh sát của đại đội 25 (đặc công) và các tiểu đoàn đã vượt bưng vào bí mật điều nghiên khá kỹ lưỡng, rồi vẽ sơ đồ và lên phương án tác chiến tỉ mỉ. Ban tham mưu và tác chiến trung đoàn thống nhất duyệt phương án đánh địch lần cuối, đồng thời hạ quyết tâm giải phóng Công Pông Tra béc.

    Đêm 31 tháng 9 năm 1972.

   Các đơn vị bí mật tiếp cận mục tiêu theo phương án đã định. Đại đội 25 (đặc công) và tiểu đoàn 9 sẽ đánh vào hướng chủ yếu. Tiểu đoàn 7 và tiểu đoàn 8 dự bị, sẵn sàng chi viện cho đơn vị bạn lúc cần thiết. Đến giờ G (13 giờ 30 ), các đơn vị đã ém gọn theo các vị trí định sẵn chỉ chờ hiệu lệnh là đồng loạt công kích giải phóng căn cứ này. Đại đội 25 chịu trách nhiệm phát hoả trận đánh.

   13 giờ 30 phút ngày 01 tháng 10 năm 1972, những tiếng nổ dậy đất của mìn ĐH10 (loại mìn định hướng, 10 kg) do đặc công bò vào đặt dưới các chân rào bùng nhùng, cũi lợn, mái nhà... thổi bay tất cả các loại hàng rào ấy, khai thông một lối lớn vào căn cứ để cùng bộ binh lọt vào tung thâm, tiêu diệt các lô cốt đầu cầu, cùng những ổ đề kháng và hoả lực mạnh của địch.

    Anh Nguyễn Đình Diệu, quê Sơn Tiến, Hương Sơn, cũng là lính đặc công đại đội 25 ngày ấy, nay là Đại tá, Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hà Tĩnh cũng tham gia một mũi thọc sâu đánh vào tung thâm. Bây giờ, thỉnh thoảng anh em chúng tôi ngồi ôn lại kỷ niệm về trận đánh lịch sử năm ấy...

    Bộ binh của tiểu đoàn 9 tràn lên, đánh chiếm căn cứ. Trong vòng chưa đầy 40 phút, chúng tôi đã giải quyết xong trận đánh. Dưới ánh hoả châu, bộ đội ta bắt tù binh, thu vũ khí rồi chất thành mấy đống lớn, dùng bạt che lại để chuẩn bị sáng mai chuyển đi. Thắng lợi đến nhanh hơn cả dự định. Thương vong không đáng kể. Mọi người đang hân hoan với chiến thắng...

    Bỗng đại liên, 12,7 li, M79, M72, súng bộ binh, rồi cối 81 li dồn dập trút đạn về phía chúng tôi. Bất ngờ nên nhiều anh em hy sinh tại chỗ. Được thể, bọn địch xung phong, tấn công dồn dập. Chúng tôi trở tay không kịp vì không có phương án dự phòng. Trời đã tảng sáng. Đại liên địch bắn như mưa vào chúng tôi. Cối 81 li nổ chát chúa. Nhiều người gục xuống. Trời sáng dần. Đây là lợi thế của địch vì chúng nắm hoàn toàn thế chủ động và quan sát rất rõ. Cũng còn may là ở chiến trường Campuchia nên địch không có trực thăng như chiến trường miền Nam của quân nguỵ Sài Gòn. Nếu không, chúng tôi sẽ chẳng còn một ai sống sót. Hoặc, nếu ai may mắn thoát chết, sẽ bị trực thăng đổ chụp bắt làm tù binh hết. Tiểu đoàn 9 thương vong nặng nề nhất, gần như mất hẳn sức chiến đấu. Số chết, số bị thương nằm la liệt trên cánh đồng Công Pông Tra Béc. Số còn lại cố thoát ra khỏi làn mưa đạn của các loại hoả lực, hy vọng vượt qua quốc lộ I phía trước mặt (đường nối từ Gò Dầu lên Phnôm Pênh). Nếu qua được bên kia đường sẽ có cơ thoát chết. Đoạn đường này cao hơn mặt ruộng khoảng 1,5 mét. Nó chắn hết các loại đạn bắn thẳng. Biết ta cố sức vượt qua đường, bọn địch tập trung đại liên và 12,7 li rà sát mặt đường. Đạn cày trên mặt đường toé lửa như trong lò gang. Nhiều đồng chí hy sinh ngay tại chỗ. Chúng tôi ở trong thế bị dồn đến chân tường. Trước mặt, trên đường thì đạn thẳng. Sau lưng là các loại hoả lực khác như M79, M72, cối 81... Tôi không giải thích nổi là làm sao mình cùng một số rất ít anh em, cơ may nào mà vượt qua được bên kia đường trong làn hoả lực khủng khiếp ấy. Tôi cũng không hiểu sao anh Diệu và một số anh em đặc công hôm ấy, cũng may mắn thoát được sang bên kia đường?!...

    Thất bại nào cũng có nguyên cớ của nó!

    Đó là... quá trình điều nghiên, cánh trinh sát đặc công không phát hiện ra được tuyến hầm ngầm phòng thủ của địch. Tình báo của ta và bạn đều không nắm được sự bố phòng bí mật ấy. Do vậy, không dự kiến hết tình huống, nên đã dẫn đến kết cục thất bại thảm hại và cay đắng đó. Nếu trước đây, tiểu đoàn 7 gần như bị xoá sổ bởi B52 ở rừng Tây Ninh thì giờ đây, tiểu đoàn 9 đã bị lính Lon Nol cho "phơi áo" gần hết trên đất Campuchia. Các tiểu đoàn 7, 8 và các đơn vị trực thuộc cũng bị thương vong, tổn thất rất nặng nề. Chúng tôi thua bọn lính Lon Nol, một đội quân có trình độ tác chiến vào loại tồi. Quả là cay đắng và nhục nhã!

      Tôi nói "trận đánh lịch sử" bởi nó mang ý nghĩa như vậy!

      Giờ đây, sau 33 năm, chiến tranh đã lùi xa, thời gian đang xoa dịu dần nỗi đau mất mát, chúng tôi mới có dịp nói về sự thật lịch sử của trận Công Pông Tra Béc năm nào. Máu xương của đồng đội tôi đã đổ xuống không biết bao nhiêu trên đất nước Chùa Tháp xa xôi này? Máu vẫn cứ tiếp tục đổ cho đến khi chúng tôi có lệnh rời đất Campuchia để trở về miền Nam, chiến đấu bảo vệ Hiệp định Pari năm 1973.

     Gần đây, qua con số thống kê đang lưu giữ ở quân lực trung đoàn, tôi mới được biết trong chống Mỹ, các trận chiến đấu cũng như hành quân trên Trường Sơn, trung đoàn chúng tôi đã có trên 1300 người hy sinh. Trong đó, chỉ mới quy tập được 543 bộ hài cốt vào 13 nghĩa trang. Số còn lại còn nằm rải rác đây đó trên các chiến trường từ Lào đến Campuchia cùng các vùng bưng biền Nam Bộ như Long An, Tây Ninh, Kiến Tường, Mỹ Tho và Đồng Tháp cho đến Bù Đăng, Quảng Đức, Bình Phước, Lâm Đồng...(số liệu do đồng chí Nguyễn Đình Xưng, nguyên đại đội trưởng đại đội 22 của trung đoàn cung cấp. Nay anh phụ trách công tác chính sách thương binh xã hội phường Đại Nài, thị xã Hà Tĩnh).

     Trận Công Pông Tra Béc, ghi thêm một trong những bài học đắt giá cho trung đoàn 271 chúng tôi. Tôi lại nhớ đến câu nói muôn thuở: "Hiện thực của chiến tranh luôn nằm ngoài quy luật thông thường!"

     Công Pông Tra Béc thất bại, nhưng có một câu chuyện về tình đồng đội cưu mang nhau trong chiến đấu và hoạn nạn ở trận đánh này thì đã trở thành một huyền thoại, một bài ca bất tử về tình người và lòng dũng cảm; viết thêm truyền thống tốt đẹp vào trang sử quân đội ta. Khi chúng tôi rút khỏi Công Pông Tra Béc, rất nhiều đồng chí của ta bị thương, nằm lại trận địa, không có cách gì cứu được. Họ bị địch bắt rồi giết. Riêng có hai đồng chí ở tiểu đoàn 9 bị thương, kẹt lại trong lòng địch. Họ cố gắng dìu nhau lết bò ngược chiều, rồi lánh được trong sự lùng sục ráo riết của địch. Sau khi tìm được vị trí kín đáo, và tương đối an toàn, họ tìm kiếm cái ăn và tần tảo nuôi nhau. Người bị thương vào mắt thì cố bò đi tìm cái gì đó ăn được để nuôi người bị thương vào chân, nằm tại chỗ. Người bị thương vào chân thì ban ngày không ngủ, cảnh giới cho người bị thương vào mắt, nghỉ lấy sức...

     Họ trốn chui như vậy mấy tháng trời trong lòng địch. Ban ngày, ẩn nấp thật kín. Ban đêm, chờ đến khuya mới dò ra rồi lẻn vào nhà dân Miên, tìm cái gì có thể ăn được như cơm nguội hoặc lấy bớt trứng gà trên ổ… Thậm chí phải ăn cả cám nấu cho heo. Vì nằm ngay trong lòng địch nên bọn chúng hoàn toàn không nghi ngờ. Vết thương thì tìm lá rịt lại; lấy muối cho vào nước lã rồi rửa sát trùng. Điều kì lạ nhất là vết thương của họ tiến triển rất khả quan qua thời gian. Cuối cùng cũng kín miệng rồi liền sẹo. Có thể nói, đây một điều khó tin nhưng lại là sự thật như nó vốn tồn tại. Trong điều kiện bình thường, cũng khó giữ được vô trùng, huống gì trong môi trường hết sức đặc biệt ấy. Phải chăng, sức mạnh của tình người, tình đồng đội đã làm nên điều kỳ diệu?! (Chỉ tiếc rằng tôi không còn nhớ được tên của hai đồng chí đó nữa vì họ ở tiểu đoàn khác, hơn nữa đã quá lâu rồi). Sau đó mấy tháng, trong một chiến dịch khác, Công Pông Tra Béc được giải phóng, hai đồng chí thương binh ấy được cứu ra. Bấy giờ, họ như những người rừng, tóc dài như tóc phụ nữ và cơ thể gầy như vượn. Họ được đưa đi điều dưỡng và sau đó được trở về hậu phương miền Bắc.

    Trận đánh đã để lại một dấu ấn về sự thất bại không phai mờ trong tâm khảm chúng tôi. Có thể nói đó là một "Oateclô" của trung đoàn 271 trong kháng chiến chống Mỹ ở thế kỷ XX. Sau này, mỗi khi nhắc đến trận Công Pông Tra Béc, ai nấy vẫn ngậm ngùi, đau đớn nhớ đến câu ca mô phỏng:

   
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #22 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2013, 03:33:27 pm »

Lực lượng của trung đoàn sau trận ấy còn rất mỏng. Đơn vị được nhận tân binh của các tỉnh từ Thanh Hoá, Hà Nam Ninh, Hải Hưng, Hải Phòng, Bắc Thái, Quảng Ninh, Thái Bình... bổ sung. Sau đó, nhận nhiệm vụ mới trở lại Long An để chuẩn bị chiến dịch đánh địch lấn chiếm, bảo vệ Hiệp định Pari (27/01/1973).

    Ở đất bạn, đêm đêm nhìn về ngọn núi Bà Đen ở Tây Ninh mà lòng bùi ngùi tưởng nhớ những đồng đội đã ngã xuống. Chỉ mai kia thôi, chúng tôi lại rời mảnh đất này để trở lại miền Nam nhận nhiệm vụ mới. Sẽ vĩnh viễn xa những người đã nằm xuống nơi đây. Chúng tôi, ai nấy đều nhớ tiếc những đồng đội thân yêu đã hy sinh trên mảnh đất Cam Bốt xa lạ này.

     Hai tuần sau, trung đoàn nhận nhiệm vụ quay về Long An.

     Ba Thu lại là nơi tập kết, để từ đó, chúng tôi vượt bưng Đức Huệ trở lại Gò Nổi.

     Đứng chân ở Gò Nổi, nhiệm vụ của chúng tôi là tiếp tục vào ấp, tập kích bằng cối 82, đánh nhỏ, lẻ tiêu hao và quấy rối địch. Chống càn và phục kích đánh tàu trên sông. Sau đó không lâu, chúng tôi được lệnh hành quân xuống bưng Hoà Khánh để làm nhiệm vụ mới.

     Đêm 20/12/1972, chúng tôi vào một ấp thuộc xã Hoà Khánh để móc nối với cơ sở cách mạng, lấy gạo, thực phẩm và nắm tình hình địch. Cùng đi, có mấy đồng chí du kích và giao liên dẫn đường để liên lạc với cơ sở. Chúng tôi vào ấp trót lọt. Nhiệm vụ của chúng tôi là tiếp xúc với nhân dân để giải thích tuyên truyền chính sách của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam rồi sau đó nhận gạo, thực phẩm, thuốc men từ các gia đình cơ sở của ta. Nhớ lại hôm ấy, tôi đã vác B40 vào nhà một trong những gia đình có con là sỹ quan nguỵ. Bởi gia đình này nhiều lần có ý hù doạ rằng sẽ báo với "Quốc gia" (chính quyền nguỵ) về việc các gia đình cách mạng mua giấu gạo, thực phẩm, thuốc men để tiếp tế cho "Việt Cộng". Tôi nghiêm sắc mặt một cách hệ trọng: "Nói để mấy người hay, tôi không hề có ý hù (doạ) ai. Nhưng nếu một trong những gia đình nơi đây đã giúp đỡ cho bộ đội Giải phóng mà có mệnh hệ gì thì đừng oán trách tôi không báo trước. Tất cả 5 trái B40 này sẽ là "quà tặng" dành riêng cho gia đình đó! Tôi nói là làm! Liệu mà giữ mồm, giữ miệng. Cách mạng chưa hỏi tội đứa con của mấy người đi lính cho Mỹ - nguỵ thì thôi. Lại còn... Việc đâu để đó. Không được bép xép. Nếu không...". Tôi nói dở chừng rồi đặt khẩu B40 cùng năm quả đạn ở giữa nhà. Mặt ai nấy cắt không còn giọt máu. Ai cũng vâng dạ rối rít. Hứa chẳng dám làm điều gì có hại cho Cách mạng. Tôi xách súng, đạn quay ra, bụng cười thầm...

    Một giờ 30 sáng, chúng tôi rời ấp để ra bưng. Đang đi, bỗng đồng chí du kích giao liên dẫn đường quay lại, ra hiệu cho mọi người ngồi xuống, giãn thưa đội hình và im lặng. Tôi cùng hai người khác bám lên theo anh. Màn đêm nhờ nhờ, không nhìn rõ nhau. Một mùi khét của thuốc đạn lẫn mùi tanh của xác chết xộc vào mũi. Tôi cảnh giác, lom khom bò trên mặt ruộng. Đang bò, tay bỗng chạm phải một vật cứng khum khum hình viên gạch, lạnh ngắt. Mìn clâymo! Tôi rùng mình, dựng tóc gáy, mồ hôi vã ra. Quay nhanh lại phía sau, tôi rít trong cổ họng:

     - Tất cả nằm im! Mìn clâymo!

     Phản xạ chiến trường đã trở thành một kỹ xảo của người lính. Mọi người ai ở đâu đều nằm im, bất động. Vì nếu không, ai đó chỉ cần lỡ thêm một bước nữa thôi, hai sợi dây đồng trần mỏng mảnh sẽ chập vào nhau. Thế là hết. Cả bãi mìn sẽ đồng loạt "lên tiếng" thanh toán chúng tôi...

    Tôi sờ tay vào phía trên trái mìn, nơi có hai kíp nổ ở hai bên. Cẩn thận, xoay tay vặn kíp ra, nhưng chặt quá. Có lẽ chúng dùng kìm vặn nên tôi không thể mở được. Đã nhiều lần gặp phải tình huống này, nên tôi bình tĩnh trở lại, dùng mũi dao găm, tách đôi sợi dây mìn. Sau đó, cẩn thận cắt từng sợi một. Mồ hôi trên mặt chảy thành dòng. Vì chỉ bất cẩn một chút, để mũi dao chạm vào cả hai dây cùng một lúc thì lập tức mìn sẽ nổ. Xong! Tôi thở phào. Thế là ổn. Kinh nghiệm cho hay, tụi nguỵ khi gài loại mìn này thường mắc nối tiếp. Một quả nổ là cả bãi mìn đồng loạt nổ. Chúng tôi đã vô hiệu hoá bãi mìn. Các đồng chí còn lại gỡ thêm được 7 quả. Tôi chợt hình dung: nếu toàn bộ số mìn ấy nổ, tất cả chúng tôi sẽ chẳng còn một ai. Gần 3000 viên bi (mỗi quả clâymo có khoảng 370 viên bi) đồng loạt bắn vào đội hình đang đi, sẽ không một ai thoát chết. Gỡ xong mìn, chúng tôi đến bên 3 cái xác của anh em du kích Hoà Khánh. Có một phụ nữ. Mọi người cẩn thận buộc dây dù vào người họ rồi kéo dịch ra khỏi chỗ nằm, đề phòng địch gài lựu đạn dưới xác. Nhưng lần này thì không. Chắc chúng nghĩ: chúng tôi sẽ không thể thoát khỏi bãi mìn ấy. Một trong ba đồng chí bị chúng đánh lựu đạn đến nát cơ thể, gần như đứt làm đôi, chỉ còn khúc xương sống dính da. Bốn người mang đồng chí ấy; một số đồng chí khác khiêng hai đồng chí còn lại ra cứ để bàn giao cho du kích Hoà Khánh mai táng. Tôi nhớ, sau khi bàn giao thi thể các đồng chí hy sinh cho du kích địa phương, chúng tôi ai nấy đều cảm thấy đói cồn cào. Mùa khô nên không có nước rửa tay, chúng tôi huơ tay trên ngọn cỏ dính sương đêm cho đi bớt máu rồi lau tạm vào thân áo, sau đó bẻ cơm nắm, ăn. Mùi máu đồng đội vẫn còn phảng phất nơi bàn tay.

    Nguyên do trận ấy, trước đó lúc chập tối, có mấy đồng chí du kích địa phương đã bí mật bám địch để tiếp cận vào ấp, đến đây thì đụng bọn địch phục kích. Do lực lượng nhỏ quá nên không thể phản kích lấy tử sỹ, đành phải rút. Bọn chúng đoán thế nào cũng sẽ có người quay lại lấy tử sỹ nên đã gài chăng mìn đón lõng. Lần này, nếu chúng nằm lại phục kích thì chắc chắn chúng tôi sẽ hy sinh nhiều. Chúng tôi hoàn toàn bị bất ngờ trước tình huống này...

    Ở lại Hoà Khánh thêm mấy ngày nữa, lần này chúng tôi có dịp thưởng thức món đặc sản tại vùng đất Trung Nam Bộ. Trên những bờ kinh (kênh), chim nhiều vô số. Chúng tôi ăn trứng và thịt chim non thoả thích. Nơi đây, sau giải phóng có thể đã thành vườn chim quốc gia rồi. Thời ấy, ban đêm, mỗi khi soi đèn "cổ ngoéo" của Mỹ, trèo lên cây là có thể tóm lấy chim trong tổ hoặc đậu trên cành. Chim dạn lắm...!

     Mấy ngày sau đó, chúng tôi quay lại Tân Phú.

     Lúc này đã gần đến Tết Nguyên đán Quý Sửu (1973). Tất cả đơn vị được quán triệt về tình hình Hội nghị Pari để thấy được thế và lực của ta và địch trên chiến trường. Đặc biệt là thảm bại của Mỹ sau 12 ngày đêm dùng "pháo đài bay B52" rải thảm Hà Nội và Hải Phòng; khả năng Mỹ sẽ phải kí kết Hiệp định ngừng bắn. Tất cả chúng tôi ai cũng phấn chấn và tin tưởng. Hôm sau, nằm ở cứ khoảng hơn 10 giờ đêm, tôi vặn nhỏ cái radio bán dẫn, lần theo sóng của đài Tiếng nói Việt Nam, giọng thơ trầm ấm của một nam nghệ sỹ vang lên với bài thơ  “Gửi Hà Nội” của Nam Hà. Tôi lắng nghe mà rưng rưng, mà tự hào xúc động xen lẫn hờn căm trước tội ác dã man của bọn Mỹ xâm lược, đã dùng máy bay chiến lược B52 huỷ diệt thủ đô Hà Nội- trái tim của cả nước. Chỉ một lần nghe qua sóng của Đài tiếng nói Việt Nam mà bài thơ tôi nhớ đến bây giờ:

Đêm hành quân mải miết
Chiến sỹ bỗng thấy tim mình ngừng đập
Những trái bom của quân thù xâm lược
Ném xuống rồi! Hà nội đó, trái tim ơi!
Tiếng thét vang vang lay chuyển đất trời
Hãy nghe đây hỡi chúng may, quân cướp nước
Trái tim ta đau và căm thù đã bầm gan tím ruột!
Chiến sỹ lại đi hăm hở dưới trời mây
Câu thơ xưa đã vọng lại rồi đây
Nghe tha thiết mỗi đường đi, nước bước
“Từ thuở mang gươm đi mở nước
Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long…”
Hà Nội ơi! Có biêt suốt đêm ngày?
Chiến sỹ lắng nghe từng lời dục giã
Tiếng Tổ Quốc! Tiếng ngày xưa, tiếng mai sau và tất cả
Tiếng mẹ hiền dìu dặt giữa trời quê
Tiếng nước non năm tháng đi về!
Tôi chưa một lần ra thăm Hà Nội
Nhưng tôi sinh một ngày. Và Hà Nội…
Ngập Ba Đình nắng đỏ rực cờ bay
Tóc Bác Hồ đẹp tựa áng mây.
Nghe mẹ nói, mẹ cười
Mẹ hướng tôi nhìn ra phía Bắc
Mẹ nuôi tôi và bây giờ tôi đi giết giặc…
Tôi chưa một lần ra thăm quê Cha
Nhưng câu thơ xưa đã thành máu chan hoà
Yêu Hà Nội như yêu mẹ hiền nắng mưa tần tảo
Tôi biết sông Hồng thêu sóng đỏ dài trên áo
Biết Hồ Gươm như một lẵng hoa
Đêm mơ dài rồng lượn nguy nga
Trời Hà Nội trên đầu tôi tôi gặp
Đất Hà Nội dưới chân tôi tôi biết
Và người tôi đây cũng của Hà Nội đó trái tim ơi…
….

Tôi chưa một lần ra thăm quê Cha
Nhưng lòng vẫn mơ ngày về Hà Nội
Đem nắm đất đã ngập đầy lửa khói
Đặt bên Tháp Rùa trầm mặc uy nghiêm
Đất này đây là của Tổ quốc phía trời Nam…


Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #23 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2013, 03:35:04 pm »

Và việc gì đến đã đến. Ngày 27 tháng Giêng năm 1973, Hiệp định Paris được chính thức ký kết. Hai bên ngừng bắn tại chỗ.

Phải thừa nhận một thực tế là bộ đội ta không những chiến đấu ngoan cường mà còn rất nhạy bén về chính trị. Tuy vậy, đây đó, vẫn có những đơn vị và cá nhân do chủ quan và ảo tưởng nên đã phải trả giá.

Trung đoàn được lệnh của cấp trên là phải đứng chân bằng được ở các vị trí đã quy định. Bởi vì từ sáng 27 tháng Giêng trở đi, máy bay của Phái đoàn Liên hiệp quân sự bốn bên sẽ bay thị sát, vẽ bản đồ để công nhận các vùng kiểm soát của hai phía. Theo tinh thần của Hiệp định Paris thì sau 27 tháng 1 năm 1973, ở miền Nam Việt Nam sẽ song song tồn tại hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và ba lực lượng chính trị.

Đêm 26/1/1973, đơn vị chúng tôi nhận lệnh đứng chân giành dân, giữ đất ở Tân Phú, Đức Hoà (địa bàn vốn trước đây đã tác chiến quen thuộc). Do ảo tưởng và chủ quan, tin vào việc nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định của quân đội và chính quyền Sài Gòn nên chúng tôi không chuẩn bị phương án tác chiến. Thậm chí, công sự cũng không đào. Cả đêm hôm ấy, ai cũng háo hức chờ cho đến sáng để xem không khí hoà bình như thế nào? Chúng tôi ai nấy, có bộ quần áo nào còn mới là mặc vào để ngày mai có thể gặp gỡ với nhân dân, thậm chí là cả lính nguỵ nữa.

 7 giờ sáng ngày 27/1/1973, tất cả chúng tôi đều chỉnh tề quần áo, đi lại thoải mái trong ấp. Trên đầu, cờ Giải phóng (nửa đỏ nửa xanh) tung bay. ấp bên kia là cờ ba sọc của nguỵ quyền Sài Gòn. Thấp thoáng đã thấy một số tên lính thập thò mé bìa ấp. ở bên này, chúng tôi chỉ trỏ... Bỗng hàng loạt đạn cực nhanh AR15 và M79 tới tấp quạt sang phía chúng tôi. Đã có mấy đồng chí trúng đạn bị thương. Tất cả chạy nháo nhác. Lúc này, không có công sự để chiến đấu và ẩn nấp. Pháo từ các căn cứ tiểu khu Hậu Nghĩa, Đức Hoà... dập đến. Ban đầu còn ra xa. Sau vài loạt, đạn đã rơi vào chỗ chúng tôi trú quân. Trực thăng bắt đầu phành phạch bay tới chỉnh pháo và bắn vào những nơi có bóng cờ của Chính phủ Cách mạng lâm thời. Chúng tôi được lệnh nhanh chóng hạ cờ để khỏi lộ mục tiêu. Địch bắt đầu tấn công bằng bộ binh. Tuy nhiên, chúng cũng dè chừng, không dám tiến sang mà chỉ bắn như vãi đạn về phía chúng tôi. Cũng may, trong vườn có hai cái hầm (trảng xê) lớn của dân đào xuyên dưới gốc bụi tre đã lâu để tránh pháo nên mọi người chui cả xuống đấy. Một điều may mắn hơn là lúc này, chiến sự nổ ra gần như khắp cả miền Nam, do vậy, máy bay địch tập trung chi viện cho những chiến trường trọng yếu hơn. Nếu không, chúng tôi sẽ chết chùm vì bom rồi. Càng về trưa, chiến sự càng ác liệt. Bộ binh địch tuy không vào nhưng cường độ pháo và rốckét thì mỗi lúc một gia tăng. Lại có thêm mấy đồng chí hy sinh và bị thương vì pháo và đạn 20 ly từ trực thăng.

Tiểu đoàn ra lệnh: "Bằng giá nào cũng phải giữ cho bằng được địa bàn đã đứng chân. Nếu để mất, chúng ta sẽ phí phạm xương máu đồng đội và đồng nghĩa với việc thu hẹp vùng giải phóng". Bởi vì, thế của ta và địch lúc này là thế "da báo", đan cài nhau. Vùng giải phóng bị thu hẹp có nghĩa là vành đai của chúng được mở rộng. Sẽ bất lợi cho ta!

Chúng tôi lại phạm một sai lầm trong nhận thức và chủ quan trong tư tưởng chỉ đạo. Đã đánh giá sai bản chất xảo quyệt của kẻ địch nên phải trả giá.

Ngay đêm ấy, cấp trên ra lệnh chỉnh đốn tư tưởng, rút kinh nghiệm. Đây là bài học xương máu về sự chủ quan, ảo tưởng. Đối với kẻ địch, ta chỉ có thể nói với chúng bằng súng đạn mà thôi! Đêm đó, chúng tôi chuyển vị trí chống càn sang ấp bên cạnh, sau khi đã chôn cất tử sỹ và khiêng cáng thương binh ra bưng để du kích địa phương chuyển lên cứ của trung đoàn.

Liên tiếp trong những ngày sau đó, chúng tôi phải chống càn, đánh bật các đợt phản kích lấn chiếm của địch. Thế trận giằng co và ngày một ác liệt. Chúng tôi thương vong khá nhiều. Cấp trên phải điều động một số đồng chí ở các đại đội trực thuộc như vận tải, trinh sát, quân y...bổ sung cho các đại đội bộ binh để có thêm lực lượng đánh địch. Lúc này không có quân từ miền Bắc bổ sung. Tôi chính thức thôi, không làm y tá nữa mà chuyển về chiến đấu trong chiến dịch này. Một số đồng chí trinh sát ở D bộ (Tiểu đoàn bộ) cũng được điều xuống trực tiếp chiến đấu ở các đại đội bộ binh.

Hôm ấy, tôi và Nguyễn Văn Hồng (liên lạc đại đội), quê ở thị trấn Triệu Sơn, Thanh Hoá được bố trí chốt một công sự . Khoảng hơn 8 giờ sáng, sau những đợt pháo kích dữ dội, địch cho máy bay dội bom. Lần này, chúng thay đổi chiến thuật là dội bom trước khi cho bộ binh tràn vào. Sau trái khói điểm từ một chiếc OV10 bắn xuống mấy chiếc A37 bổ nhào. Tôi đứng trong công sự ngước nhìn lên, thấy những trái bom tròn như quả bóng, đen trùi trũi, lao xuống. Tôi ngồi thụp ngay xuống hét to: "Bom rơi ngay chỗ chúng ta!" Liền đó, chỉ nghe huỵch huỵch mấy tiếng (bom nổ quá gần không nghe được tiếng), hơi bom quạt thốc vào hầm như cơn lốc. Công sự chúng tôi rung lắc dữ dội. Đất rơi xuống rào rào, thình thịch. Tôi vừa thụt đầu vào dưới nắp hầm, chợt hú…t... phịch! Một mảng lớn quăn queo của cái đuôi bom, cắm ngay vào chỗ tôi vừa mới rút đầu vào. Hú vía! Nếu chậm một giây thôi, cái đầu tôi đã nát bét (kinh nghiệm cho hay là lúc nào thấy bom lao xuống tròn như quả bóng thì đó chính là bom rơi đúng ngay vị trí của mình. Nếu thấy hình bom dài thì bom sẽ rơi xa). Một trong những trái bom ấy rơi trúng ngay ngôi nhà mà trong đó có mấy đồng chí anh nuôi của đại đội đang trú ẩn cùng với toàn bộ soong, nồi, thực phẩm, ba lô, đồ đạc của mọi người. Khói tan, nơi ấy chỉ còn một hố bom lớn, sâu hoắm. Tối hôm ấy, sau trận đánh, chúng tôi đã cố gắng tìm kiếm nhưng không thể nào tìm thấy di hài của các đồng đã chí hy sinh vì trái bom ấy. Họ đã biến thành tro bụi!

Sau các đợt không kích và và pháo kích dữ dội, bộ binh địch bắt đầu tràn vào. Chúng tôi, những tay súng còn lại, tập trung hoả lực bắn vào những chỗ co cụm và tiêu diệt những tên gần nhất. Những tên sống sót rú lên, chạy bật trở ra. Lại bom, pháo. Kẻ địch không ngờ mật độ bom pháo dày dặc như vậy mà chúng tôi vẫn sống sót được... Ngày hôm đó, chúng chỉ dùng bộ binh phản kích duy nhất một lần. Chủ yếu chỉ dùng hoả lực để khống chế, hòng tiêu diệt chúng tôi.

Giao tranh ngày càng ác liệt. Địch quyết tâm đánh bật chúng tôi ra khỏi địa bàn đứng chân. Chúng tôi quyết tâm bám trụ đến cùng. Nhiều đồng chí ở trung đội trinh sát D8 là những người đang học đại học năm thứ nhất, thứ hai, khoẻ mạnh, đẹp trai, thông minh. Vậy mà sau chiến dịch này, các anh lần lượt hy sinh hầu hết. Trong những ngày cuối của chiến dịch bảo vệ Hiệp định Paris chỉ còn lại anh Nguyễn Thuấn (quê Đồng Lộc, nhà anh gần Ngã Ba Đồng Lộc) nguyên là lính đặc công (đại đội 25) sau đó bổ sung về trinh sát D8. Hết chiến tranh, Thuấn xuất ngũ về địa phương; nay là thương binh 3/4 và đang sinh sống ở quê.

Ngày 01 tháng 2 năm 1973, đại đội 2 - D8 chúng tôi di chuyển chiến thuật đến Tân Phú. Trận đánh hôm ấy, tôi và Nguyễn Xuân Â. (tên viết tắt) quê Xuân Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh ngồi chung một công sự. Ngoài khẩu B40 ra, trận này, tôi giữ thêm khẩu AK của một đồng chí bị thương đi viện. Tối hôm trước, trung đội bố trí chỗ đào công sự sát bờ tre gần góc của một khu vườn. Theo kinh nghiệm chiến đấu, tôi bảo Â: "Cậu nghe tớ, ta đào công sự dịch lên phía trước cách bờ tre chừng 15 mét dưới mấy luống khổ qua (mướp đắng) kia. Nơi này, có phần nguy hiểm nhưng sẽ rất bất ngờ đối với bọn địch. Còn mình lại được an toàn hơn trước bom, pháo và trực thăng vì các loại này thường bắn từ bờ tre trở vào. Khi bộ binh địch vào, chờ cho chúng đến sát công sự mới nổ súng và giữ xác lại thì sẽ không việc gì." Â. nghe tôi. Chúng tôi đào công sự chiến đấu vào dưới rãnh của luống khổ qua rồi nguỵ trang cẩn thận.

Bảy giờ sáng, địch gọi đại bác từ các căn cứ Đức Hoà, Hậu Nghĩa, Hiệp Hoà nã cấp tập vào trận địa chúng tôi. Lửa khói mù mịt. Các bờ tre bị pháo cày nát, đã có một số công sự trúng đạn, anh em đã hy sinh. Trực thăng quần đảo sát ngọn tre, quạt tung những gì có trên mặt đất, nhằm phát hiện công sự của chúng tôi. Phía tiền duyên, địch đã bắt đầu dàn thế trận. Dứt pháo, chúng nổ súng tấn công ngay vào đại đội 1. Các đồng chí bên đó dũng cảm bắn trả quyết liệt. Bọn địch, lớp chết, lớp bị thương, số còn lại vội tháo chạy trở ra, tiếp tục gọi pháo chi viện. L19 vè vè rồi bất chợt phóng trái khói chỉ điểm. A37 liền lao xuống ném bom. Phía đại đội 1, khói lửa từ những ngôi nhà bốc lên mù mịt. Trước mặt tôi và Â. lúc này có khoảng 8-9 tên, mũ sắt sùm sụp đang bí mật tiếp cận vào sát mấy luống mướp đắng. Tôi ra hiệu cho Â. chờ thời cơ thuận lợi nhất mới nổ súng. Nếu đơn độc chỉ một công sự bắn thì sẽ bị lộ và nhất định sẽ bị khống chế, tiêu diệt. Bọn địch sẽ dùng M72 (một loại hoả tiễn vác vai) sẽ đánh bật công sự chúng tôi ngay. Phía đại đội 1, sau phi vụ bom ấy, bọn lính tràn lên bắn dữ dội và ném lựu đạn vào các công sự phía trước. Tôi đánh mắt sang đó thấy mấy tên lính lôi dưới hai công sự của anh em mình lên bốn đồng chí. Có hai người đã hy sinh. Hai đồng chí bị thương nặng. Chúng bắn luôn. Tốp lính trước mặt tôi chẳng để ý gì chỗ luống mướp đắng, chỗ chúng tôi ngồi. Chúng đang dán mắt về phía đại đội 1 mà không ngờ được chúng tôi ở ngay cạnh chúng. Chờ tiếng súng nổ rộ, tôi ra hiệu cho Â. Cả hai đồng loạt xả đạn. Tôi thấy có những thằng ôm súng nhảy dựng lên rồi mới đổ sấp xuống giống như cảnh đóng phim.

Không thấy tên nào chạy trở ra, chúng đã chết hết. ở cự ly 4-5 mét với hai khẩu AK đồng loạt nổ, chúng không thể nào thoát được!

Tuy nhiên, hình như bọn lính ở bên ngoài phát hiện thấy chúng tôi nên tập trung hoả lực dồn dập bắn vào mấy luống mướp đắng nơi tôi và Â. Cả hai ngồi thụp xuống. Giàn mướp đắng đổ sụp, che hẳn công sự, tạo thành một kiểu nguỵ trang tự nhiên. Nhờ đó, chúng tôi không bị phát hiện. Tôi nói với Â: "Nếu bây giờ, M79 hoặc cối rơi trúng miệng hầm thì cả hai cùng chết . Không thì yên tâm". Â. hoang mang, cậu ta bảo tôi: "Rút thôi Sơn ơi!". Tôi trừng mắt: "Mày có điên không?" Â. rên rỉ: "Nằm đây thì chết". Tôi bảo: "Chẳng thà chết ở đây. Nếu chúng vào thì cả hai cùng ném lựu đạn rồi xông lên bắn rồi cùng nhau hy sinh. Nếu địch không phát hiện ra thì sẽ sống!". Cậu ta không nghe, cứ nằng nặc đòi "tróc" (rời bỏ) công sự, chạy, trong khi phía trước mặt khoảng 50 mét là bộ binh địch nằm dày đặc; trên đầu trực thăng bay sát ngọn tre, sẵn sàng nhả đạn vào bất cứ chỗ nào; phía sau, pháo bắn cấp tập. Tôi nhìn xoáy vào mặt Â. nói: "Mày chỉ cần rục rịch trườn lên khỏi công sự là tao bắn ngay chứ không đợi để trực thăng hay bộ binh địch xử mày". Â. im lặng. Tôi mãi dõi mắt quan sát địch phía trước. Chúng lại tổ chức tấn công vào phía đại đội 1. Tình thế cực kỳ gay go, ác liệt. Bộ đội ta phía ấy chống trả quyết liệt nhưng vì bộ binh địch quá đông và hoả lực rất mạnh nên chúng đã lần lượt đánh chiếm thêm một số công sự nữa. Cũng may lúc ấy, từ phía sau, cối 82 ly của ta bắn lên trước mặt đại đội 1, chỗ bọn lính đang co cụm. Chúng vội vã giạt ra rồi tháo lui cùng những tên chết và bị thương. Khoảng 14 giờ 30, bất ngờ, địch gọi pháo giã cấp tập vào trận địa. Đồng thời, các loại súng bộ binh của chúng cũng đồng loạt xả đạn vào chúng tôi trong màn khói đỏ phân tuyến (lúc đánh nhau, bọn địch ném trái khói đỏ phân chia ranh giới giữa ta và chúng để trinh sát L19 và trực thăng chỉnh bom pháo, tránh bắn lên đầu chúng). Qua màn khói đỏ ấy, tôi thấy bọn địch tháo chạy rất nhanh ra khỏi vị trí của chúng và rút dần về phía tiểu khu Hậu Nghĩa. Trên đầu chỉ còn trực thăng quần đảo nhưng chúng đã bốc lên cao. Tôi chui xuống. Â. vẫn ngồi đấy với gương mặt đầy căng thẳng, và sự im lặng đáng sợ. Một ý nghĩ loé lên trong đầu tôi: "Trời! Lúc nãy, mình doạ bắn hắn, lợi dụng lúc mình bận quan sát địch không để ý, mà hắn liều lĩnh, xử mình trước rồi "tróc" công sự, thì cả hai cùng chết oan uổng!" Tôi chợt rùng mình! Nhưng không dám nói với cậu ta ý nghĩ ấy. Cũng may, bọn địch rút sớm, nếu không, tình huống ấy rất có thể xẩy ra. Tôi bảo Â: "Tụi lính rút rồi! Vậy là thoát. Nếu mày không nghe tao thì bây giờ làm sao còn cả hai thằng". Hai tay Â. nắm chặt lấy tay tôi: "Cảm ơn mày! Nếu không có mày, chắc tao đã chết rồi". Sau trận ấy, tôi kể lại cho mọi người nghe, ai cũng bảo: "Cậu nói đúng, lúc hoảng loạn, rất có thể nó làm liều để thoát một mình!?".

    Cuối năm 1976, Â. phục viên. Một thời gian sau khi về địa phương, làm công an xã. Nghe nói cậu ta "oách" và được việc lắm nhưng hay làm khó dễ dân. Có một lần gặp Â. (những năm 80), tôi nửa đùa, nửa thật: "Nghe nói mày hay làm khó dễ dân lắm phải không? Đừng làm bộ. Ngày xưa chiến đấu ở chiến trường mà "to mồm" được như hôm nay thì chúng tao được nhờ". Hắn chỉ gãi đầu cười. Đã lâu, tôi không gặp Â. nghe nói cậu ta đưa gia đình vào Tây Nguyên, định cư trong đó rồi...

   Tôi còn nhớ, phía sau ấp, chỗ chúng tôi đứng chân chống càn, có một cái ruộng lớn và sâu, vừa trồng lúa vừa nuôi cá tự nhiên. Ngày hôm đó, nhiều trái pháo rớt vào ruộng nên cá chết hết. Cá nhiều đến nỗi, chỉ cần thò tay xuống là chạm phải một lớp cá chết đè lên nhau chừng 20 cm trên mặt bùn. Tôi nhặt đầy 2 bao tải, toàn cá lóc, cá sặt, cá trê...Nhưng, vì đại đội hy sinh mất 4 đồng chí và 5 đồng chí khác bị thương nên chúng tôi phải đổ bớt đi cho nhẹ. Tuy nhiên vẫn phải cố gắng mang theo để đáp ứng cho nhu cầu sinh hoạt vì thực phẩm đã cạn.   
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #24 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2013, 03:35:39 pm »

Tôi được giao giữ hoả lực B40 ngay sau một thời gian bổ sung về D8 (Tiểu đoàn Cool. Khẩu B40 mà tôi đang giữ đã qua tay nhiều đồng chí, họ đã lập được nhiều chiến công xuất sắc; đã từng bắn cháy nhiều xe tăng, tàu chiến, phá huỷ nhiều lô cốt và tiêu diệt nhiều bộ binh địch. Nhưng hầu hết các chủ nhân của nó trước đó đã hy sinh hoặc bị thương. Tôi biết, giữ loại hoả lực này là hết sức nguy hiểm. Chỉ cần bắn một trái là lộ mục tiêu ngay. Bởi khi bắn, khói trắng trùm lên cả một vùng. Bọn địch khiếp sợ B40 nên khi tác chiến, chúng tìm mọi cách tiêu diệt bằng được loại hoả lực lợi hại này. Lúc này, tôi đang được chi bộ tiếp tục thử thách để chuẩn bị kết nạp Đảng. Tôi được công nhận đối tượng Đảng từ tháng 5 năm 1972 và đã làm hồ sơ, nhưng vì bị thương, đi viện… Sau đó lại chuyển sang đơn vị khác nên gián đoạn, do vậy vẫn chưa có cơ hội kết nạp. Tôi vui vẻ nhận vũ khí, mặc dù bấy giờ tôi rất nhỏ con, sức vóc yếu hơn rất nhiều so với các đồng chí khác.

    Những ngày tiếp theo, chúng tôi liên tục chịu đựng các đợt càn quét lấn chiếm của Sư đoàn 25 nguỵ với nhiều tổn thất và thương vong khá nặng nề.

    Tôi có một kỷ niệm đau buồn trong chiến dịch này. Đó là sự hy sinh của đồng chí Lê Văn Tuỳ, quê ở Cổ Đạm, Nghi Xuân, Hà Tĩnh (hồi đó cậu ta nói với tôi là ở Xuân Hoa). Hôm đó là ngày mùng 3 tháng 2 năm 1973, địch lại tổ chức phản kích. Ta đánh bật trở ra, chúng lại điệp khúc cái công thức cũ rích là gọi máy bay dội bom và nã pháo dữ dội vào trận địa chúng tôi. Gần trưa, chiến sự bỗng im ắng. Trận ấy,tôi và Tuỳ chung một công sự. Tôi giữ B40 nên đứng cửa sau, Tuỳ AK, đứng cửa trước. Nghe im lặng, Tuỳ nhô đầu lên quan sát địch trước mặt mà không hề để ý phía trước bên phải. Bỗng "đòm...!", một tiếng súng mồ côi khô khốc vang lên từ phía ngôi nhà  ấy, cách chúng tôi chừng 50 mét. Tôi chợt nghe Tuỳ "hự" một tiếng nhỏ, rồi ngồi thụp xuống trong hầm. Tôi hỏi: "Gì vậy Tuỳ?". Không có tiếng đáp. Tôi khom lưng nhìn xuống. Trời! Một dòng máu chảy tràn trên mặt Tuỳ. Tôi lao đến. Tuỳ đã tắt thở! Thì ra, mải quan sát địch phía trước, không để ý, một tên lính đã bí mật bò vào nhà, kê súng lên cửa sổ ngắm vào mặt Tuỳ, bóp cò. Viên đạn AR15 xuyên từ hõm mũi ra sau gáy. Cậu ta chết tức khắc, không nói với tôi được câu nào. Tôi kéo người đặt Tuỳ nằm cho thẳng dưới hầm, vuốt mắt rồi bắt hai tay lên bụng. Lần này, chỉ có tôi và Tuỳ nên tôi để anh nằm thẳng được chứ không như hồi tháng 5/1972, lúc anh Chương hy sinh phải để ngồi dựa vào thành hầm. Tôi biết, ngày nhập ngũ, Tuỳ đã có một đứa con trai vì có lần cậu ta kể với tôi. Cậu con trai của Tuỳ năm nay chắc đã 35 hay 36 tuổi rồi!? Đêm đó, mọi người phải dỡ nóc hầm mới đưa được Tuỳ lên vì Tuỳ đã cứng như khúc gỗ. Trước khi mai táng, chúng tôi dốc ba lô ra. Tuỳ còn 2 lạng mỳ chính mang vào từ hồi ở Bố Trạch, Quảng Bình. Chúng tôi ghi địa chỉ, ngày giờ hy sinh vào giấy rồi bỏ vào lọ thuỷ tinh, nút chặt lại buộc nilon bên ngoài, giắt vào túi áo, cùng với mỳ chính, dao găm, bi đông, túi thuốc cá nhân... Tất cả được chôn theo. Không rõ giờ đây, hài cốt Tuỳ đã được đưa vào nghĩa trang hay chưa? Đã 33 năm có lẻ!...

 Cán bộ tiểu đoàn lần lượt hy sinh gần hết. Cán bộ đại đội thay thế. Tương quan lực lượng giữa ta và địch ngày càng chênh lệch. Danh sách thương vong ngày một dày thêm. Theo lệnh cấp trên, chúng tôi vẫn buộc phải bám trụ, giữ đất, giành dân. Tuy nhiên, đất thì bom cày đạn xới hoang tàn. Còn dân thì chạy hết vào các vùng địch chiếm đóng. Đối với chúng tôi, Tân Phú trở thành một bãi chiến trường xơ xác đạn bom với những tổn thất nặng nề không thể bù đắp. Hình ảnh ấy mãi in sâu trong ký ức của mỗi người lính C2, D8, E 271 chúng tôi.

    Trận đánh cuối cùng của chiến dịch bảo vệ Hiệp định Pari trong đợt 1 vào ngày 20 tháng 2 năm 1973. Như vậy là gần một tháng trời bám trụ, chúng tôi dốc toàn lực để đánh trận cuối cùng. Ngày hôm đó cũng như mọi hôm, địch lại nống ra thăm dò rồi dùng bom pháo, trực thăng khống chế, hòng tiêu diệt chúng tôi. Liên tiếp những trận phản kích của địch mỗi khi chúng bị đánh bật ra là liên tiếp các phi vụ oanh tạc của chiến đấu cơ AD6 và A37, F5… cùng những trận mưa pháo và cối 81 ly của địch. Tôi đã có nhiều kinh nghiệm bắn hoả lực B40. Trước khi bắn, lợi dụng địa hình rồi vận động ra khỏi công sự, chọn vị trí bắn thích hợp, nhắm vào chỗ co cụm của địch, nổ súng rồi nhanh chóng ôm B40 lăn mấy vòng, trườn nhanh trở về công sự để tránh hoả lực địch phản kích. Nhờ vậy, tôi tránh được thương vong. Đại đội tôi hy sinh thêm 6 người trong đó có anh Trọng (quản lý đại đội), quê Nam Đàn. Trung đội trinh sát D8 phối thuộc với chúng tôi hy sinh chỉ còn lại 3 người. Tối hôm đó, chúng tôi cáng thương binh ra bưng. Trinh sát dẫn đường, lại đụng phải ổ phục kích của địch. Ba đồng chí trinh sát còn lại hy sinh luôn. Mấy đồng chí bị thương nằm trên cáng cũng chung số phận. Số còn lại phải mở đường máu để ra cứ.

    Trở ra bưng Tân Phú, sau đó đơn vị rút về Hội Đồng Sầm thuộc Mỹ Thạnh Đông bên kia sông Vàm Cỏ. Nơi đây là căn cứ mà chúng tôi ở lại để củng cố và chiến đấu trong một thời gian khá dài...

    Có thể nói, chiến dịch bảo vệ Hiệp định Pari hết sức ác liệt và gian khổ không kém gì chiến dịch "Nguyễn Huệ", “Mùa hè đỏ lửa” năm 1972. Quy mô, tần suất và cường độ bom đạn cùng các trận càn còn lớn hơn năm Bảy hai. Quân số thương vong cũng không hề nhỏ. Tôi và một số ít các đồng chí khác thoát chết trong các chiến dịch trên là điều nằm ngoài sự hình dung.

    Cục diện chiến trường sau Hiệp định Paris có nhiều thay đổi. Tuy ở địa bàn chúng tôi ác liệt như vậy nhưng một số chiến trường khác, ta mạnh hơn nên buộc địch chấp hành các điều khoản của Hiệp định khá nghiêm chỉnh. Đặc biệt ở quân khu 8, 9, lúc bấy giờ, theo chủ trương và sáng kiến của tướng tư lệnh Lê Đức Anh (sau này là Chủ tịch nước), ta chủ động tấn công, tranh thủ giành dân, chiếm đất, mở rộng vùng giải phóng làm cho kẻ địch rơi vào thế bị động. Chúng tố cáo ta phá hoại Hiệp định. Tuy nhiên, khi phái đoàn Liên hợp quân sự Bốn bên đến thị sát thì ta đã cắm cờ ở những vùng đó; đặt chính quyền Sài Gòn trước việc đã rồi...

    Chúng tôi trở lại Ba Thu rồi hành quân về gần sóc “Chêếch” và ở lại đây trong một thời gian khá dài để nhận thêm quân bổ sung, củng cố và huấn luyện, chuẩn bị chiến dịch mới. Thời gian này, tôi có nhiều kỷ niệm khó quên. Chúng tôi đóng quân trong phum (làng) có ngôi chùa Miên rất lớn. Ngôi chùa toạ lạc trên khuôn viên rộng rãi, thoáng đãng. Có một cái giếng trong vắt và mát lắm. Hàng ngày, chúng tôi thường ra giếng tắm. Cứ mỗi lần, sãi ở ngôi chùa ra tắm, tôi cũng ra tắm với họ (ở Campuchia, độ tuổi từ 10,12 trở lên là đã "xuống tóc" (cạo trọc đầu) để đi ở chùa rồi. Bên đó đi chùa như ta đi nghĩa vụ quân sự vậy. Tôi nhờ mấy chú sãi kỳ lưng, múc nước, rồi dội cho mình gội đầu. Tôi hoàn toàn không ngờ hành động của mình đã vô tình vi phạm chính sách quốc tế. Bên đó, sãi được mọi giới trong xã hội tôn trọng lắm. Ông bà già sáu, bảy mươi tuổi cũng phải quỳ phủ phục xuống chắp tay vái chú sãi 10,12 tuổi mỗi khi họ đi cầu thực. Trong chùa, cây cổ thụ rất nhiều, toả bóng mát quanh năm. Các loại chim cu, sáo, chèo bẻo... làm tổ ở đấy nhiều lắm. Tôi vốn bắn AK rất "tin" (chính xác). Cu hoặc sáo đậu chót vót trên các đỉnh tháp của ngôi chùa, chỉ cần nâng súng lên vai, không cần điểm tựa, đưa vào khe ngắm, siết cò là chim lăn lông lốc xuống. Không mấy con thoát chết khi đã lọt vào khe ngắm AK của tôi. Tôi đã bắn hết khá nhiều chim của ngôi chùa này. Cho đến một hôm, ban chỉ huy đại đội cho biết: "Lục thum" (ông lớn, sãi trưởng) trong chùa phản ánh: "Công tóp Việt Nam" (Bộ đội Việt Nam) bắn chim của chùa và hạ nhục sãi trong chùa(!?)” (bắt kỳ lưng, dội nước gội đầu...) Anh Cầu, chính trị viên đại đội cho gọi tôi lên phê bình, rồi bắt viết bản tự kiểm điểm. Trong cuộc họp, đại đội đưa tôi ra kiểm điểm, nhắc nhở. Sau đó cùng anh đến chùa, công khai xin lỗi sư sãi. Lần ấy, lẽ ra, sau các chiến dịch chiến đấu từ mùa hè 1972 đến đó, chi bộ sẽ tổ chức kết nạp tôi vào Đảng. Nhưng vì vướng phải khuyết điểm ấy nên lại tạm đình hoãn, để… thử thách thêm. Kỷ niệm ấy là bài học đủ để tôi ghi nhớ suốt đời. Sau này, khi tìm hiểu về phong tục và tôn giáo Campuchia, tôi mới biết mình đã phạm một sai lầm lớn. Rất may, là các vị sãi ở chùa này cũng rất độ lượng. Họ thông cảm cho chúng tôi. Vì thực tế, họ đã hiểu rõ bản chất của bộ đội Việt Nam. Nếu không, tôi và đơn vị chắc chắn phải chịu kỷ luật nặng. Tôi đã vô tình xúc phạm điều thiêng liêng và tối kỵ của họ. Vi phạm chính sách quốc tế và tôn giáo nước bạn. Tôi chợt nghĩ, nếu họ kiện, không biết hậu quả dành cho tôi sẽ đến mức nào?!

 Một bài học lớn cho tôi và tất cả mọi người. Câu tục ngữ: "Ai nên khôn mà chẳng dại một đôi lần" với tôi, lúc này mới sâu sắc và thấm thía làm sao!

    ... Chúng tôi được nhận thêm quân bổ sung và học tập chính trị, củng cố tư tưởng và quyết tâm để chuẩn bị tiếp tục xuống chiến trường vào trận mới. Chính nơi đây, chúng tôi lại ghi thêm một kỷ niệm đau buồn, một tổn thất to lớn của Trung đoàn.

    Hôm ấy là ngày 16 tháng 4 năm 1973, mười bốn đồng chí ở các tiểu đoàn và đơn vị trực thuộc, có nhiều thành tích xuất sắc trong chiến đấu, được cử đi dự Đại hội chiến sỹ thi đua của Trung đoàn ở đất bạn (Campuchia). Trên đường về đơn vị, họ đi ngang qua đại đội chúng tôi. Lúc ấy đã gần 12 giờ trưa. Chúng tôi vừa ăn xong. Trời nắng gắt, họ ghé vào xin nước uống. Tôi nhận ra ngay Hà Duy Hưng (Tiến Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh), vốn học cùng lớp 9, ngồi chung bàn và nhập ngũ cùng ngày với tôi. Vào chiến trường, cậu ta chiến đấu rất dũng cảm. Đã được kết nạp Đảng và đề bạt làm trung đội trưởng. Tôi ôm chầm lấy Hưng rồi mời tất cả mọi người vào nghỉ, uống nước. Tôi hỏi: "Các anh đã cơm, nước gì chưa?" Họ bảo: "Chưa!". Chúng tôi mời họ nghỉ lại, ăn cơm, chiều đi tiếp. Vả lại đi sớm quá, dễ gặp địch phục kích hoặc bị trực thăng đổ chụp. Anh nuôi nhanh chóng đổ gạo vào nồi, nhóm bếp, thổi cơm. Thức ăn đã có sẵn. Một lúc sau, cơm chín, mọi người ăn uống và nói chuyện vui vẻ. Tôi rất mến Hưng vì cậu ta đẹp trai, học giỏi, tính cách có phần ga lăng, chữ viết đứng và đẹp như chữ viết giấy khen, nét chữ rất láu. (Hưng là con của thầy giáo Hà Duy Mân, cán bộ phòng Giáo dục Can Lộc hồi đó. Tôi bắt chước tuồng chữ của Hưng nên bây giờ chữ viết của tôi cũng na ná như chữ của Hưng). Khoảng 13 giờ 30 phút, các đồng chí ấy rục rịch đòi đi. Họ bảo phải gấp rút xuống chiến trường vì chiến dịch sắp mở. Trong số 14 người ấy ngoài Hưng ra còn có Lê Văn Chung (Thanh Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh) cũng nhập ngũ với tôi, làm y tá, được trung đoàn gửi kèm xuống, mang nhiều cơ số thuốc, bổ sung cho đơn vị chiến đấu; Một đồng chí thông tin mang máy vô tuyến 2W cũng được gửi theo. Còn lại là các đồng chí Chiến sỹ thi đua của các tiểu đoàn chiến đấu 7,9 và các đại đội trực thuộc, sau khi bế mạc hội nghị, trở về đơn vị của mình. Chúng tôi can ngăn nhưng họ không nghe và cương quyết ra đi...

    16 giờ 30. Bỗng có mấy tiếng nổ lớn của mìn clây mo rồi tiếng súng AR15, tiếng lựu đạn, phóng lựu M79 dồn dập khoảng hơn 20 phút, từ hướng bưng Đức Huệ dội lại. Linh cảm mách bảo chúng tôi: Các đồng chí ấy bị địch phục kích rồi! Không một tiếng súng AK đáp trả. Chúng tôi nhìn nhau và đều hiểu: "Thế là hết!".

    Tối hôm đó, điện của Trung đoàn báo tin, cơ sở cách mạng của ta cho hay: Đại đội thám sát 773 của tiểu khu Hậu Nghĩa đã phục kích bằng mìn rồi dùng súng bắn chết 13 trên tổng số 14 đồng chí. Duy nhất, chỉ một đồng chí thông tin may mắn thoát được. Bỏ máy lại (mọi người cũng không hiểu vì sao cậu ta lại thoát chết!). Cũng tối hôm đó, đài Phát thanh Sài Gòn (nguỵ) loan tin "Quân lực Việt Nam cộng hoà đã hạ sát một trung đội ác ôn Việt cộng, thu nhiều chiến cụ cùng chiến lợi phẩm" (qua giấy tờ, huân, huy chương và quà tặng nên chúng biết rất rõ) đồng thời quyết định khao thưởng cho đại đội thám sát ác ôn 773 này.

 Nỗi đau tắc nghẹn. Trung đoàn mất 13 đồng chí có nhiều chiến tích trong các chiến dịch. Đó là nguồn cán bộ cốt cán có năng lực trong tương lai. Một tổn thất to lớn đối với trung đoàn. Còn tôi, có nỗi đau riêng. Tôi mất đi hai ngươi đồng hương thân thiết. Nhất là Hà Duy Hưng người bạn học, ngồi cùng bàn, cùng lớp…

Cho đến bây giờ, di cốt các liệt sỹ đó, đã có ai tìm được và đưa vào nghĩa trang nào chưa? Tôi cũng không được rõ. Tôi đã mấy lần đến nhà ông Hà Duy Mân, ông cụ thân sinh Hà Duy Hưng, đã gần tám mươi, tóc bạc như cước. Ông đón tôi và cho biết vẫn chưa tìm thấy mộ Hưng. Tấm lưng trần của người cha mỏi mòn, khắc khoải trông đợi tin con, giờ đã còng rạp hẳn xuống. Đã hai lần, tôi viết thư cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Long An và Huyện đội Đức Hoà, Đức Huệ nhờ họ tìm tung tích của các liệt sỹ hy sinh trong trận ấy, nhưng đến nay vẫn biệt vô âm tín...

 ... Chúng tôi trở lại Hội Đồng Sầm, sau đó về Gò Nổi. Nhiệm vụ lúc này là không tổ chức đánh lớn như hồi 1972 hay đợt bảo vệ Hiệp định Paris vừa qua....
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #25 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2013, 03:39:41 pm »

    Đánh tàu, tập kích hoặc vào ấp chiến lược để làm binh vận, tuyên truyền, giác ngộ cách mạng cho nhân dân. Cũng có khi phải tổ chức chống càn, vì bọn địch thường càn ra bưng để thăm dò nhằm tiêu diệt lực lượng ta.

    Sau chiến dịch bảo vệ Hiệp định Pari, khi chúng tôi rút đi rồi, bọn địch ở đây ngoan cố lấn chiếm, đóng thêm mấy cái bốt nữa. Gò nổi, An Ninh có bốt An Sơn, bốt Rạch Gần. Tân phú có bốt Rạch Nhum bên bờ sông Vàm Cỏ. v.v... Mục đích đóng các bốt đó là để ngăn chặn ta từ xa. Chúng tôi được giao nhiệm vụ phải nhổ cho bằng được chúng. Nhưng chưa có thời cơ. Bởi vậy, thường phải vác cối 81li đi tập kích vào bốt hoặc phục kích đánh nhỏ lẻ khi bọn địch nống ra thăm dò. Cách đánh của chúng tôi là ba đến bốn người, sáng sớm, vào sát đồn, bí mật theo dõi địch, chờ cho chúng kéo ra rồi vừa bám vừa rút dần. Đến một địa hình nào thích hợp, nhắm vào tốp đi đầu bắn một vài trái B40 cùng mấy loạt AK vào đội hình địch, tiêu diệt một số tên rồi tháo chạy về cứ. Làm như vậy, kẻ địch hoang mang, không dám càn ra.

    Sau một quá trình điều nghiên, tiểu đoàn quyết định giao cho chúng tôi tập kích bằng hoả lực vào bốt Rạch Nhum.

    Hôm ấy, tôi và Nguyễn Hữu Dĩnh (Sơn Thịnh, Hương Sơn) bắn B41.Vũ Duy Tòng (Diễn Châu) B40, Chu Văn Lương (Quỳnh Lưu) và Đào Xuân Nhuận (Đức Thọ) bắn trung liên. Phạm Khắc Đính, Nguyễn Viết Kỷ (Can Lộc) và  Nguyễn Văn Tý (Yên Thành) cối 60 ly.

    Đường tiềm nhập vào bốt phải vượt qua một quãng bưng chừng 300 mét trống trải. Nước sâu đến bụng. Liều phóng B41, B40 phải dùng ni lon gói chặt, buộc kín khỏi ngấm nước. Mọi người đội cỏ lên đầu để nguỵ trang. Súng và đạn phải dìm xuống nước rồi kéo theo người. Chúng tôi tổ chức tập kích ban ngày để tạo yếu tố bất ngờ. 13 giờ, tất cả lấy lại đồng hồ và xuất phát, hẹn đúng16 giờ nổ súng. Chúng tôi chia thành ba mũi để tránh bị lộ mục tiêu. Đồng bưng trống trải. Tên lính gác trên chòi mải nhìn ra hướng bờ sông mà không để ý gì phía chúng tôi. Chúng hoàn toàn không ngờ bị tập kích từ phía sau. Chúng tôi nhích từng tấc một. Chỉ khoảng trên 300 mét mà phải vận động mất gần ba tiếng đồng hồ mới vào được đến chân hàng rào thứ nhất. Da bị ngâm nước lâu nên dợt ra. Tôi lợi dụng một gốc cây tràm nép vào. Phía tay phải tôi, Dĩnh và Tòng cũng đã vào đến chân hàng rào. Chúng tôi liếc nhìn đồng hồ. Còn 10 phút nữa sẽ đến giờ nổ súng. Cẩn thận, mọi người gỡ liều phóng ra khỏi bao nilon rồi lắp hết vào đuôi đạn, đặt sẵn bên cạnh để khi nổ súng là bắn hết. Khoảng cách từ chỗ chúng tôi bắn đến chỗ bọn lính chừng 80 mét.

Lúc này, nhìn vào trong sân đồn, gần đống bao cát, bọn lính, một số đang ăn uống gì đó, một số khác đang đánh bài, sát phạt nhau. Có mấy thằng đang ngồi trên bao cát, nghêu ngao ca vọng cổ...

   Chúng tôi liếc nhìn đồng hồ rồi nhìn nhau, khẽ gật đầu. Chiếc kim nhích từng nấc một. Còn mấy giây... Tôi nhấc B41 lên vai, đứng thẳng dậy dựa vào cây tràm, hướng vào sân đồn, nơi bọn lính nhốn nháo, há miệng, bóp cò (há miệng để tránh sức ép của đạn). Một tiếng nổ chói tai. Quả đạn xé không khí lao đi, cắm phập vào giữa sân. ánh chớp màu da cam và khói trùm lên. Nhiều tiếng nổ tương tự phát ra từ chỗ Dĩnh và Tòng. Tên lính gác lộn nhào từ trên mi-đo (chòi gác) xuống, trông rất rõ. Chúng tôi bắn liên tiếp vào mấy cái lô cốt đến lúc hết cơ số đạn. Tôi và Dĩnh bắn B41, mỗi người 4 quả, Tòng B40, 6 quả. Phía sau, Nhuận, Lương bắn hết 2 "nồi" (băng) trung liên, khoảng 600 viên. Đính, Kỷ và Tý cấp tập gần ba chục trái cối 60 ly vào đồn, dìm đầu bọn sống sót để chi viện cho chúng tôi quay trở về công sự. Vì vướng cỏ và bưng nước sâu quá, nên vừa bơi vừa lội. Còn khoảng gần 100 mét nữa là về đến nơi thì pháo chụp từ Hiệp Hoà bắn đến. Từng quầng lửa loé sáng trên không và tiếng nổ chát chúa. Mảnh găm xuống như mưa. Rất may là không một ai hy sinh hay bị thương gì cả. Nhưng đáng mừng hơn là vừa về đến công sự, kịp kéo lá nguỵ trang lại thì trực thăng phành phạch lao tới. Nếu chậm chút nữa thì chúng tôi chẳng còn một ai. Trực thăng sẽ bắn chết hết. Ai nấy tưởng chừng như đứt hơi vì mệt. chiếc "cán gáo" quần thảo một lúc, xả đạn 20 ly vào những chỗ nghi ngờ rồi chuồn thẳng về phía Hậu Nghĩa.

    Khi trận đánh xảy ra, có một tình huống hết sức buồn cười, mà sau đó chúng tôi mới biết. Số là, trước khi nổ súng, ở bên kia sông, anh Đinh Văn Luận, đại đội phó (quê Thanh Xuân, Thanh Chương, nay là trung tá, về hưu tại khối 12 phường Hà Huy Tập, thành phố Vinh, Nghệ An) đã trèo lên một cây cao để quan sát. Khi thấy chúng tôi bắn trúng vào chỗ bọn lính đang ngồi và mấy cái lô cốt, Luận khoái quá, quên mất mình đang ở trên cây, nên thả tay ra để hoan hô. Anh rơi từ độ cao chừng 10 mét xuống. Nhưng rất may, ở bên dưới là sình lầy, nên không việc gì. Luận bị giắt sâu xuống bùn, ngoi mãi mới lên được. Địch bị tiêu diệt gần hết. Số bị thương và sống sót hoảng loạn. Ta phá huỷ hai lô cốt và bắn sập chòi gác. Tối hôm ấy, bọn tàn quân vội vã tháo chạy bằng đường sông khỏi cái bót mới lấn chiếm.

    Hồi đó, tôi bị chứng "mề đay" hành đến khổ sở. Lúc còn ở nhà, tôi được bà ngoại chữa cho bằng nhiều loại thuốc Nam nhưng chưa khỏi. Khi vào chiến trường, do lội bưng, ngấm nước nhiều nên bị lặm, đau bụng liên tục. Lần ấy sau khi nhổ xong bốt, cơ sở cách mạng của ta ở Tân Phú ra thăm và tặng quà chúng tôi. Chú Ba và má Sáu là những người thương tôi nhất vì trong mắt họ, tôi là người nhỏ dẻ và dễ thương, lại luôn bị chứng "mề đay" làm khổ. Chú Ba chỉ vào tôi bảo: "Thằng Hai Sơn nhỏ con, ốm nhách và bịnh như vầy, tụi bây giao B41 cho nó, làm sao nó bắn?". Tôi chỉ cười. Quả thật, bắn B41 rất hại sức khoẻ. Tiếng nổ tuy không chói tai như B40 nhưng rất lớn. Chỉ cần bắn một trái là máu tai đã chảy ra rồi. Trong khi B40 phải ba trái mới chảy máu tai. Biết tôi bị chứng "mề đay", chú hứa: "Thôi được, để hôm nào tao chữa cho". Nói vậy nhưng hôm sau, thấy chú mang ra một "xị" (250 ml) rượu đế cùng một vật gì đen đen như hạt đỗ. Chú bảo: "Mày nuốt đi cùng với xị rượu này, sẽ khỏi ngay!". "Gì vậy, chú?"- Tôi hỏi. "Thì mày cứ làm như tao biểu!" - chú nói. Tôi nhắm mắt, đưa vật lạ ấy vào miệng, hớp một ngụm rượu rồi nuốt nhanh vào bụng. "Uống thêm ngụm nữa"- chú giục. Tôi làm theo lệnh chú. "Vậy là ổn rồi đó nghen!". Chú cho biết: "Đó là cái mật rắn hổ mang". Má Sáu kể: "Ngay sau khi ở bưng trở về, cả buổi chiều hôm đó, ổng tất bật đi tìm hang rắn, cuối cùng đào được con rắn đó. Thịt thì buổi tối ổng nhậu, còn mật thì sáng nay, mang ra cho mày". Điều chú nói không sai, từ đó đến nay đã 32 năm, tôi không hề bị chứng "mề đay" làm khổ nữa. Quả là thần dược!

    Trong tiểu đội, tôi và Nguyễn Viết Kỷ được má Sáu yêu quý nhất. Nhà má nghèo nhưng má thương tụi tôi lắm. Má có người con gái út (út Lan) năm đó mới chừng 17 tuổi (chúng tôi thường gọi cô út). Má biểu: "Nó ưng thằng nào thì ngày thống nhứt, tao cho không hà!". Tôi chỉ cười, nhưng Kỷ thì có vẻ quyến luyến cô nàng lắm. Thật ra thì cô gái  dễ thương. Khi ra bưng với má, thấy chúng tôi làm thịt cá rô không đánh vẩy, cô bé cười ngất, giành lấy dao và cá rồi thoăn thoắt làm, trông rất điệu nghệ, không lóng ngóng như chúng tôi. Cô bé rất mến tôi và Kỷ. Thỉnh thoảng liếc mắt, tôi thấy em lén nhìn tôi. Tôi ý tứ, rồi gán ghép cho Kỷ luôn. Kỷ khoái lắm. (Bởi hai chúng tôi làm sao có thể cùng yêu một người. Nghe ra có vẻ như là tôi... cao thượng lắm? Thực lòng tôi cũng xao động trước nhan sắc và tình cảm của em dành cho mình, nhưng biết làm sao được trong khi tôi và Kỷ lại hết sức thân nhau, không thể cùng yêu một người)...

    Hồi đó ở bưng, nước phèn nên quần áo mau hỏng. Quân trang chưa được cấp phát, chúng tôi chỉ dựa vào dân. Má Sáu nghèo nên không thể cho hết anh em trong đơn vị. Lâu lâu ra, má và em thường mua cất riêng, rồi lén đưa cho tôi và Kỷ, khi thì cái quần cộc khi thì cái áo vải "pô lin phăng" (pô pơ lin pha nilon) màu lá. Lúc này, đối với chúng tôi, đó là thứ "xa xỉ phẩm ". Những hình ảnh ấy, những ân tình sâu nặng ấy đã hơn 30 năm qua rồi, tôi vẫn khắc sâu trong dạ, luôn tự hứa và thầm nhắc với mình: Phải sống sao cho xứng đáng với tình cảm và tấm lòng trung trinh của người dân cách mạng Long An "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc".

    Ở bưng Tân Phú, chúng tôi phải ém quân trên những bờ kinh, hai bên nước mấp mé bờ. Không thể đào công sự trú ẩn. Đêm đêm, pháo địch bắn ra bưng tràm, chúng tôi không thể mắc võng nằm được. Mà phải lội xuống bưng, be bờ, tát nước, vét bùn, sau đó rải cỏ vào rồi dùng tăng nilon lót lên để có thể ngủ. Nhiều người, đêm không may vỡ bờ be, nước tràn ngập chỗ ngủ gây sặc nước, thân thể ướt sũng như chuột lột. Nếu giăng võng nằm, pháo bắn, ngủ quên sẽ chết vì đạn pháo. Đã có nhiều đồng chí hy sinh khi đang ngủ. Đêm đạn pháo nổ, sáng mai đã chết cứng trên võng vì mảnh găm vào.Thời điểm ấy chúng tôi khát ngủ vì mất ngủ triền miên hàng tháng trời cho những chiến dịch. Một khát khao hết sức bình dị lúc ấy là ước gì có được một chỗ đất tương đối khô ráo, không có sự đe doạ của bom, pháo để trải tấm tăng nilon ra rồi vùi vào ngủ một giấc đến mấy ngày đêm liền. Vậy mà không thể có cách gì thực hiện được cái ước mơ nhỏ nhoi mà cháy bỏng ấy. Bởi mật độ bom pháo dày đặc, trực thăng quần đảo, săm soi liên miên. Rồi các trận đánh cứ nối tiếp nhau liên tục. Tôi còn nhớ cái đêm định mệnh ấy, ở bưng Tân Phú đồng chí Nguyễn Văn Ước (Diễn Châu, Nghệ An), đại đội trưởng đại đội 16 trực thuộc (cối 82 ly) đang ngủ, một trái pháo 105 ly của địch “đánh đáo” ngay chỗ nằm. Sáng ra, chúng tôi chỉ nhặt được không đầy một túi nhỏ thịt xương. Những tổn thất như thế làm cho lực lượng chúng tôi ngày một mỏng hơn...

    Sau trận đánh nhổ bốt Rạch Nhum nói trên, chi bộ thấy thời gian thử thách cùng những thành tích chiến đấu và lập trường tư tưởng của tôi không có vấn đề gì phải băn khoăn nữa, nên đã họp bất thường ra quyết nghị kết nạp tôi vào Đảng.

    Ngày mùng 1 tháng 7 năm 1973, tôi chính thức được kết nạp Đảng Cộng sản Việt Nam. Lúc bấy giờ ở chiến trường nên lấy tên là Đảng nhân dân cách mạng Việt Nam. Như vậy là sau gần hai năm phấn đấu bền bỉ, không mệt mỏi với những tháng ngày gian khổ vượt Trường Sơn và trực tiếp chiến đấu ở những chiến dịch ác liệt nhất: Mùa hè 1972 và bảo vệ Hiệp định Paris cộng với lòng kiên định và tin tưởng vào thắng lợi của Cách mạng, cuối cùng Chi bộ C2, D8, E271 (Đại đội 2, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 271) đã chuẩn y kết nạp tôi vào Đảng. Tôi nhớ mãi giây phút đồng chí Chính trị viên Nguyễn Văn Cầu, Bí thư chi bộ, đọc quyết định kết nạp và tôi giơ cao nắm tay thề dưới Đảng kỳ năm ấy. Giờ phút thiêng liêng đó như một sự ghi nhận của Đảng đối với cá nhân tôi về tinh thần yêu nước; sự trung thành với cách mạng; lòng thuỷ chung, tận tuỵ với đồng đội và sự cống hiến xương máu cho chiến thắng. Với Đảng, tôi gắng vẹn toàn chữ  Trung. Với dân tôi lo tròn chữ Hiếu. Với đồng đội, tôi tự hào đã thực hiện trọn vẹn lời thề thứ bảy của Quân đội nhân dân Việt Nam: "Trong tình thương yêu giai cấp, hết lòng thương yêu đồng chí, đồng đội... lúc thường cũng như trong chiến đấu…". Tôi luôn tự hứa và thầm nhắc với mình, cần phải cố gắng hơn nữa. Không làm điều gì để phương hại đến uy tín và danh dự của người Đảng viên Cộng sản và tủi hổ vong linh những bạn bè, đồng đội đã hy sinh...
 
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #26 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2013, 03:39:54 pm »


    Đến thời điểm này (3/2005) chỉ còn hơn ba tháng nữa là tôi tròn 32 tuổi Đảng. Trong suốt 32 năm ấy, tôi tự hào thấy mình chưa bao giờ làm điều gì trái với những lời thề trong buổi lễ kết nạp ở chiến trường tuy đơn sơ mà hết sức trang trọng và thiêng liêng lúc14 giờ ngày 01/7/1973.

    Có thể nói, đó là một dấu ấn sâu đậm và bước ngoặt trong đời sống chính trị của cá nhân tôi...

    ... Chúng tôi nhận nhiệm vụ trở lại Gò Nổi để đứng chân tiếp tục đánh địch lấn chiếm. Nơi đây, chúng vừa mới đóng thêm bốt An Sơn trên lộ 8 cách đồn Lớn (Lộc Giang) chừng hơn một kilômét. Lại thêm một nhiệm vụ nặng nề và khó khăn đối với chúng tôi. Cấp trên yêu cầu buộc phải nhổ cái gai này.

    Chúng tôi cùng trinh sát đặc công, mất nhiều thời gian, ban đêm bò vào điều nghiên, thăm dò, nhằm tìm ra phương án tác chiến khả thi nhất để nhổ bốt An Sơn.

    Công việc điều nghiên phải được tiến hành vào những đêm tối trời. Vì trăng sáng, địch dễ phát hiện được. Mỗi tháng chỉ có hai dịp, thượng và hạ tuần. Sau gần hai tháng điều nghiên vất vả, chúng tôi đã nắm được cơ bản toàn bộ sự bố phòng của chúng. Xong xuôi, tổ chức lên sa bàn cụ thể và hoạch định phương án tác chiến tỷ mỉ.

    Chúng tôi nhổ bốt An Sơn vào một đêm cuối tháng 10 năm 1973. Hai mũi đột kích vào hai hướng. Tôi vào hướng đông với mũi trưởng là anh Báo (Cẩm Xuyên). Hướng đông nam mũi trưởng là anh Lưu Xuân Tiết (Hoàng Quế, Đông Triều, Quảng Ninh). Mìn ĐH10 được đặt ở những vị trí quy định như trên sa bàn. Chúng tôi người trước, người sau thành một dây. Vừa bò vừa phải dò mìn đồng thời cõng trên lưng trái mìn định hướng 10 kg, mồ hôi vã ra như tắm. Định vị xong mìn, chúng tôi bò giật lùi và cẩn thận dòng dây điện ra theo...

    ... Giờ G đã điểm. Từ hai hướng, mìn ĐH10 đồng loạt nổ dậy đất, mấy dãy hàng rào "bùng nhùng", "cũi lợn" bị thổi tung, khai thông một lối lớn. Chúng tôi xông lên. Hoả lực B40, B41, trung liên kiềm chế các các lô cốt đầu cầu. Mọi người dùng thủ pháo tung xuống những chỗ nào có tiếng la hét. Trận đánh kết thúc nhanh chóng. Bốt An Sơn bị diệt gọn. Một đại đội địch bị xoá sổ. Ta hy sinh hai đồng chí. Tôi nhớ một tình huống. Anh Trần Đức Khâm (Sơn Tân, Hương Sơn, hiện là cán bộ Viện kiểm sát Hương Sơn, Hà Tĩnh), khi trận đánh giải quyết gần xong, bỗng nghe có tiếng nói dưới hầm, Khâm nghi ngờ có bọn lính ẩn nấp ở đấy. Thay vì đánh thủ pháo xuống, sẵn AK (báng gập), anh quạt luôn một loạt xuống đó. Không ngờ, phía bên kia một tên lính còn sống sót trông thấy, liền ném một quả lựu đạn gần chỗ phát ra ánh sáng đầu nòng. Khâm không chết, nhưng bị thương. Một mảnh gang găm vào cánh tay. Phải đi viện. Đó cũng là một bài học kinh nghiệm trong tác chiến công đồn ban đêm cho chúng tôi sau này...

    ...Cuối năm 1973, bất ngờ, trung đoàn 271 nhận lệnh: Để lại một tiểu đoàn bổ sung cho bộ đội chủ lực địa phương Long An (thuộc tỉnh đội Long An). Các đại đội trực thuộc và hai tiểu đoàn còn lại, nhanh chóng hành quân ra chiến trường Quảng Đức, Bù Đăng (Bình Phước) nhận nhiệm vụ mới.

    Một cuộc chuyển quân và xáo trộn về quân số, dẫn đến sự xáo trộn về tư tưởng và tâm lý. Lúc bấy giờ, có nhiều tin đồn là Trung đoàn được điều ra Bắc để rút kinh nghiệm đánh địch đồng bằng. Chúng tôi, ai nấy đều muốn đi theo đội hình Trung đoàn. Không ai muốn ở lại chiến trường Long An. Nhưng, như một định mệnh, trung đoàn quyết định để tiểu đoàn 7 ở lại, đồng thời cử các đồng chí Lê Văn Hàn (Yên Định, Thanh Hoá), tiểu đoàn trưởng; Nguyễn Sỹ Nghi (Đức Thọ, Hà Tĩnh), Chính trị viên tiểu đoàn; Nguyễn Văn Hảo (Tiền Hải, Thái Bình), tiểu đoàn phó; Nguyễn Huy Cơ (Nam Hà), chính trị viên phó tiểu đoàn. Rất nhiều người đã bỏ đơn vị, chạy theo Trung đoàn vì cứ tưởng sẽ được ra Bắc. Các đồng chí Hàn, Nghi,  Cơ, Hảo sau giải phóng đều không ai hy sinh cả. (Đồng chí Nguyễn Sỹ Nghi, Chính trị viên tiểu đoàn 7. Hiện nay nghỉ hưu tại phường Hưng Bình, thành phố Vinh, Nghệ An).

    Tôi cũng nằm trong số anh em được điều động từ các tiểu đoàn 8, 9 và các đại đội trực thuộc bổ sung cho tiểu đoàn 7. Có thể nói, đây là một tình huống đầy khó khăn, thử thách về lập trường tư tưởng đối với những người ở lại như chúng tôi. Như vậy là tính đến thời điểm này, tôi đã có mặt và chiến đấu trong đội hình của hai tiểu đoàn 9 và 8 từ tháng 3/1972; giờ đây tôi được điều về từ tiểu đoàn 8 để bổ sung cho tiểu đoàn 7, làm bộ đội chủ lực địa phương Long An. Thực tình, lúc ấy, tôi cũng dao động, muốn đi theo Trung đoàn chứ nào muốn ở lại Long An! Tuy vậy, vì yêu cầu nhiệm vụ, chúng tôi phải chấp hành.

 Trung đoàn hành quân ra Quảng Đức. Còn chúng tôi sau đó lại vượt bưng Đức Huệ, trở lại Đức Hoà, Long An.

    Lần ấy, tôi và Vũ Duy Tòng không may bị ốm. Đơn vị hành quân xuống Gò Nổi, hai chúng tôi ở lại cứ thuộc bưng Đức Huệ. Bấy giờ đã gần Tết Nguyên đán Giáp Dần (1974). ở đấy có hai vợ chồng của một người trốn lính (không đi quân dịch cho chế độ nguỵ Sài Gòn). Bà vợ hết sức khó tính. Tuy nhiên có hai đứa cháu gái, từ chỗ sợ sệt rồi tò mò muốn xem "Việt Cộng" ra sao, đến lúc họ gần gũi và mến chúng tôi lúc nào không hay. Một cô chừng 18 tuổi ở Đức Huệ, một cô chừng 20 tuổi nghe đâu ở trên Sài Gòn, thỉnh thoảng lại ra thăm và tiếp tế cho ông chú hay cậu gì đó trốn lính. Từ khi có hai chúng tôi, các cô ra thăm ông ta thường xuyên hơn. Nhưng có lẽ đó là cái cớ để được gặp và nói chuyện với chúng tôi. Tôi và Tòng vốn thân nhau ngay từ khi mới về tiểu đoàn 7. Bởi Tòng cũng khá giống tôi về hoàn cảnh. Cả hai đang học dở cấp III thì nhập ngũ, rồi đi B (đi chiến đấu ở chiến trường miền Nam - chiến trường B). Chúng tôi yêu thích thơ văn và hay lãng mạn hoá cuộc sống gian khổ, ác liệt ở chiến trường. Lần này, tôi và cậu ta ở lại. Hầu như khoảng vài ngày thì hai cô lại ra một lần. Mỗi lần ra thì ở lại mấy hôm mới về. Hai cô gái ấy là cầu nối giữa chúng tôi với bà vợ khó tính của người trốn lính ấy. Từ chỗ là một người gần như “không thể đội trời chung” như vậy, bà ta dần dần bắt chuyện với chúng tôi. Một thời gian ngắn sau thì "bình thường hoá" quan hệ và rất gần gũi chúng tôi. Đặc biệt hai cô gái thì gần như đã "say" chúng tôi thật rồi. Họ thổ lộ: "Tiếp xúc với mấy anh "Giải phóng", tụi em thấy thật dễ thương, thật dễ gần chứ hổng phải như tụi lính "Quốc gia" (nguỵ). Mấy anh coi hiền khô hà!". Tôi và Tòng thường nhận được những món quà nho nhỏ, mỗi lần các cô ra bưng “thăm chú”.

   Một buổi tối, vào khoảng 20 giờ, chúng tôi đang ngồi uống trà và kháo chuyện với nhau trong lán dưới ánh đèn cầy (nến), bỗng đạn pháo từ Đức Huệ rít xẹt qua đầu rồi nổ cách chỗ chúng tôi chừng vài ba trăm mét. Hoảng quá, hai cô ôm chặt lấy tôi và Tòng. Tôi bảo họ: "Hãy bình tĩnh, tụi tôi dẫn xuống hầm". Tôi và Tòng dẫn hai cô gái chạy ra công sự tránh pháo cách đó chừng 5 mét, chui xuống. Xuống hầm rồi, lòng hầm tối om. Và không những họ không buông chúng tôi ra mà còn ôm chặt hơn hơn. Tôi mắc cỡ (xấu hổ), gỡ tay cô gái ra nhưng cô ta càng riết chặt hơn. Tôi đang lúng túng, chưa biết xử trí thế nào thì bất ngờ, cô gái kéo đầu tôi ghì sát vào ngực mình rồi cúi xuống đặt vào môi tôi nụ hôn… Một mùi hương từ thân thể con gái quyện với dầu gội đầu ngan ngát toả ra... Một tình huống hết sức bất ngờ! Tôi hoảng quá, đẩy cô gái ra. Nhưng càng đẩy, cô ta càng ôm chặt hơn. Hình như Tòng cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự. Bởi tôi lờ mờ nhận ra điều ấy... Lần đầu tiên trong đời, tôi "bị" một cô gái "tặng" hôn như thế! Tôi vội nói lảng: "Thôi Tòng ơi, lên thôi! Hết pháo rồi!". Tôi gỡ tay cô gái ra rồi trườn nhanh lên khỏi công sự. Mọi người lục tục lên theo. Chúng tôi chia tay. Hai cô gái về lán của ông chú còn chúng tôi trở lại lán của mình. Đêm ấy, tôi và Tòng thao thức, kể cho nhau nghe những gì đã xẩy ra. Thì ra Tòng cũng "bị" y như tôi. Một sự trùng hợp thật "ngẫu nhiên". Sáng hôm sau, hai em đến chào chúng tôi để về sớm. Gương mặt rạng rỡ của hai cô gái không hề tỏ ra một chút bối rối nào, và còn hẹn: "Vài bữa nữa, tụi em lại lên thăm mấy anh". Không ngờ, đó cũng là lần cuối cùng chúng tôi gặp hai cô gái "vô tư" và "liều lĩnh" ấy.

   Mấy ngày sau, bất ngờ chúng tôi nhận đựơc lệnh phải khẩn trương trở lại đơn vị để chuẩn bị vào chiến dịch. Thực lòng, từ lúc nhận lệnh, tôi và Tòng nôn nao mong gặp lại hai cô gái ấy để nói lời tạm biệt sau chót. Nhưng chờ mãi đến 4 giờ chiều, cũng chẳng thấy các cô đâu? Đã đến giờ hành quân, chúng tôi chỉ biết gửi lại lời nhắn cho ông chú "trốn lính" rằng: "Chúng tôi cảm ơn hai cô đã "giúp đỡ" chúng tôi rất nhiều. Hẹn ngày tái ngộ..."

   Đã trên 30 năm có dư, kể từ ngày tôi và Vũ Duy Tòng chia tay hai cô gái kia vào một buổi sáng cuối năm 1973. Bấy giờ, sắp đến Tết Nguyên đán Giáp Dần...

...Giờ đây, thời gian chắc đã đưa hai cô gái ngày ấy lên thiên chức mới. Không biết có lúc nào đó trong cuộc đời mình, họ lại được gặp lại nhau để nhớ về kỷ niệm "ngọt ngào" trong một đêm bị pháo kích ở cứ Hội Đồng Sầm, Đức Huệ năm nào với hai anh giải phóng miền Bắc, mà trước đó trong con mắt họ là hai "Việt Cộng" đáng sợ! 
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #27 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2013, 03:41:25 pm »

    Tôi và Vũ Duy Tòng trở lại đơn vị vào dịp gần Tết. Đơn vị tổ chức đón Tết tại cứ. Đài Phát thanh Giải phóng đưa tin cả ta và nguỵ đều ngừng bắn tại chỗ trong mấy ngày này. Nếu như năm 1973, chúng tôi không có Tết, mà chỉ ăn Tết bằng những trận giao tranh dữ dội bảo vệ Hiệp định Paris, đánh địch lấn chiếm thì Tết này, đơn vị tổ chức cho chúng tôi ăn Tết trước khi vào chiến dịch. Các ba, các má, các chị và cơ sở cách mạng uý lạo cho nhiều quà. Có đủ cả bánh tét, bánh ú, thịt mỡ, dưa hành, thuốc lá, hạt dưa, kẹo... Nói chung là khang trang cho một cái Tết ở chiến trường.

   Sau Tết, có tin tình báo, địch sẽ tổ chức một trận càn lớn ra bưng để thăm dò vì chúng đánh hơi được lực lượng ta đang chuyển quân xuống chiến trường. Chúng tôi nhận lệnh phục kích chặn đánh một đoàn tàu chở ba đại đội địch đi càn.

   Trung đội 2 chúng tôi do anh Nguyễn Văn Báo, trung đội trưởng, chỉ huy, phục kích chặn đánh đoàn tàu này. Chúng tôi mai phục đã mấy ngày mà tàu vẫn chưa đến. Tranh thủ thời gian, anh em thả lưới và lợp (giống như lờ ngoài Bắc nhưng lớn hơn rất nhiều) ven bờ để cải thiện. Cá, tôm ở sông Vàm Cỏ Đông nhiều vô kể, vì nước sông khi lớn, khi ròng, lắm phù du, sẵn thức ăn. Chỉ cần thả mấy khúc mỳ (sắn) vào lợp rồi buộc dây cho xuống mép bờ sông, qua chừng hai đêm vớt lên, trong lợp ít nhất cũng có cả chục con tôm càng xanh to như vỏ đạn 20 ly. Còn lưới thì sau một đêm thả, gần như mắt nào cũng có cá dính. Nhiều nhất là cá Lòng tong (thịt ngon nhưng rất nhiều xương). ở đây, không bao giờ thiếu thực phẩm tươi. Ai đã từng đến và chiến đấu ở mảnh đất này cũng chí ít một lần được thưởng thức cơm gạo Nàng Thơm ăn với cá bống kèo kho, một đặc sản duy nhất mà chỉ ở miền hạ Long An mới có được. Chỉ cần một lần thôi là đủ để nhớ cả đời. Có thể nói nó vừa là đặc sản nhưng đồng thời đã trở thành nét văn hoá ẩm thực của người dân vùng quê này từ bao đời. Nét văn hoá ấy đã đi vào lời ca điệu nhạc của cải lương tài tử:

   "...ơi miền Hạ trải màu xanh bát ngát,
  Anh quý gạo Nàng Thơm con cá bống kèo.
  Nhưng... xích xe tăng đã cày nát lên những xóm nghèo"...


     Đúng như lời ca vọng cổ. Cái vẻ đẹp mang nét văn hoá đậm chất dân gian Nam Bộ ấy đã và đang ngày đem rên xiết dưới sức tàn phá, huỷ diệt của bom đạn và chất độc dioxin của Mỹ. Chiến sự nơi đây vô cùng ác liệt, địch càn quét, đổ chụp, pháo bầy, trực thăng quần đảo liên miên...

    Sự chờ đợi đã đến.!Hôm đó là ngày12 tháng 3 năm 1974.
    Vào khoảng 8 giờ sáng, ba chiếc tàu "mặt dựng" (há mồm) chở 3 đại đội địch do tên thiếu tá Nghĩa, tiểu đoàn trưởng, khét tiếng ác ôn, chỉ huy. Khi đoàn tàu đi ngang qua quãng sông nơi chúng tôi phục kích, bất ngờ, chúng dồn hết các loại hoả lực bắn như mưa vào trận địa mai phục (chúng chỉ nghi ngờ mà thôi). Đồng chí Báo ra lệnh: "Tất cả chui xuống công sự để tránh đạn và chú ý quan sát động thái bọn địch. Nếu chúng có ý định đổ quân thì thực hiện phương án đã định!".

    Tuy nhiên, sau một lúc bắn như đổ đạn vào bờ sông, nơi có công sự của chúng tôi, không thấy phản ứng gì, chúng nổ máy cho tàu chạy ngược lên phía trên cách chừng 2 km rồi dừng lại. Chúng tôi, ai cũng ngỡ địch sẽ đổ quân càn quét trên đó.

     Không ngờ, khoảng hơn một giờ sau, từ xa, chúng tôi phát hiện đoàn tàu 3 chiếc lúc nãy từ từ trôi xuống (chúng lợi dụng nước ròng, tắt máy, thả trôi). Đến ngang trận địa, bất ngờ, nổ máy quay ngang tàu 90 độ, rồi sập cái lưỡi tàu phía trước, từ từ chạy vào bờ. Trên boong, bọn lính tay lăm lăm súng. Thằng Nghĩa cởi trần đứng chống nạnh, tay đeo đồng hồ "Thuỷ quân lục chiến", da đỏ như gà chọi, hò hét bọn lính chuẩn bị đổ bộ. Chờ cho ba chiếc tàu xáp vào cách bờ chừng 30 mét, chúng tôi đồng loạt phát hoả. B40, B41, trung liên, AK bắn dữ dội vào tàu địch. B40 và B41 cứ nhằm bụng tàu, tống đạn vào. Đạn nổ âm trong khoang làm bọn địch trong đó chết rụi hết. Trung liên và AK rà sát mặt boong. Bọn địch bị bắn, rớt xuống sông như sung rụng. Không một tiếng súng chống trả. Khi tàu đang tiến vào, bất ngờ bị B41 tống vào bụng, nó khựng lại một giây rồi theo quán tính lao vào bờ. Trên boong không còn một tên nào sống sót. Chúng tôi cũng thôi bắn. Lúc này nước đã ùa vào khoang. Tàu đang chìm dần. Khói lửa mù mịt một quãng sông. Có chiếc đã áp sát bờ công sự của chúng tôi. Trong số 11 quả đạn B40 tôi bắn, bị lép mất 2 quả. Còn 9 quả, tôi tống hết vào bụng của hai chiếc tàu gần nhất. Máu tai và máu mũi tôi chảy thành dòng. Lịch sử bắn B40 của tôi trong tác chiến đã đạt đến kỷ lục! Hai tai tôi ù đặc mất khoảng gần hai tuần lễ. Mắt hoa đom đóm. Tôi cũng không giải thích nổi tại sao mình lại có thể bắn một lúc được nhiều đạn như vậy!? Bây giờ thì tôi đã hiểu được vì sao chị Ngô Thị Tuyển (Hàm Rồng,Thanh Hoá), ngày trước, khi trọng lượng cơ thể của mình chưa đầy 50 cân mà một lúc vác hai hòm đạn pháo gần 100 kg chạy lên đồi, tiếp cho bộ đội phòng không!

    Hậu quả của trận bị thương ngày 18/5/1972 cộng với quá trình bắn B40, B41 quá nhiều, nên từ đó đến nay, tai tôi luôn luôn như có con ve nằm kêu suốt ngày đêm trong đó. Giờ đây, khi tuổi đã cao, sức khoẻ giảm sút, vết thương cũ tái phát, hành hạ, cơ thể đau nhức; tai tôi lắm lúc ù đặc, nghễnh ngãng, chẳng nghe thấy gì.

    Cả ba đại đội địch đi càn, bị nhận chìm trên sông Vàm Cỏ Đông. Chỉ còn duy nhất một tên sống sót (theo cơ sở ta cho biết) chạy lên Toà thánh Tây Ninh trốn biệt. Chúng tôi được lệnh rút khỏi trận địa. Tôi chỉ còn khẩu B40 không đạn nhẹ tênh, chạy một mạch về cứ, tắm giặt rồi mắc võng nằm, lúc ấy pháo từ Hiệp Hoà mới giã xuống trận địa. Ba mươi phút sau, hai chiếc A37 bay tới dội mấy loạt bom. Chúng tôi ở cứ, cách đó hơn 1 km, trèo lên cây nhìn rồi vỗ tay reo!

    Đài Phát thanh Giải Phóng, một ngày sau đó, đưa tin: "Ngày 12 tháng 3 năm 1974, Quân Giải phóng trung Nam Bộ đã bắn chìm 3 tàu càn trên sông Vàm Cỏ Đông tiêu diệt 3 đại đội địch, với hơn 180 tên, trong đó, có tên tiểu đoàn trưởng ác ôn" (tức thằng Nghĩa).    
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #28 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2013, 03:42:17 pm »

    Con sông Vàm Cỏ biết bao lần đã ghi dấu chiến tích của chúng tôi và đồng đội trong mỗi trận đánh, nhưng có lẽ lần này là chiến công chói lọi nhất. Dòng sông ấy là đề tàisáng tác bất tận cho các văn nghệ sỹ và nhạc sỹ trong quá khứ, hiện tại cũng như tương lai..

    Nhạc sỹ Trương Quang Lục đã rất thành công khi viết giai điệu chắp cánh cho lời thơ của Hoài Vũ để có bài hát nổi tiếng "Vàm Cỏ Đông". Với âm hưởng và ca từ giàu tính sử thi, đậm chất dân ca Nam Bộ mà mỗi khi cất lên, chúng tôi tự hào như thấy có hình bóng của mình trong đó:

"ơi, Vàm Cỏ Đông, hỡi dòng sông! Nước xanh biêng biếc chẳng đổi thay dòng. Đuổi Pháp đi rồi, nay đuổi Mỹ xâm lăng... Có anh du kích dũng cảm kiên cường. Lẫn ánh trăng mờ băng lửa đạn qua sông. Giặc đi đời giặc, sông càng xanh trong!"...

    ...Trung đội tôi được thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất. Còn tôi và các đồng chí khác cũng vinh dự được nhận Huân chương Chiến công Giải phóng các hạng Nhì và Ba.

Có thể nói, trong lịch sử đánh tàu của đơn vị tôi, thì trận ấy đã ghi một chiến công chói lọi. Thắng lợi nằm ngoài sự mong đợi. Chúng tôi không phí một giọt máu nào.

     Mấy ngày sau, chúng tôi trở lại Gò Nổi đứng chân để nhận nhiệm vụ đánh bốt Rạch Gần (An Ninh, Đức Hoà). Đây là bốt do bọn địch mới lấn chiếm sau Hiệp định Paris nhằm phong toả tuyến hành lang vào ấp chiến lược và ngăn chặn việc chuyển quân của ta từ Campuchia xuống theo đường giao liên trong bưng Đức Huệ. Cấp trên giao nhiệm vụ, bằng mọi giá phải nhổ bằng được bốt này. Sau một thời gian dài điều nghiên, đêm 29/3/1974, chúng tôi hạ quyết tâm đánh bốt. Đó là một đêm tối trời. Hai mũi theo phương án đã định bò vào. Mũi 1 do đồng chí Nguyễn Văn Tám (quê Hải Phòng) quyền đại đội phó, làm mũi trưởng. Mũi 2 do Trương Thiên Lý (Thạch Sơn, Thạch Hà, Hà Tĩnh) là lính đặc công của đại đội 25, làm mũi trưởng (Lý hiện thường trú tại phường Nam Hà, thị xã Hà Tĩnh). Hợp đồng đến giờ G (1 giờ sáng) nổ súng. Nhưng khi đang cắt hàng rào thì mũi 1 bất ngờ đụng phải mìn sáng. Bị lộ, bọn địch trong lô cốt và các công sự xả đạn về phía đó. Mũi 2 của Trương Thiên Lý chuyển thành mũi chính, tổ chức đánh cường tập ngay lập tức. Nhưng do lộ quá sớm nên kế hoạch không thành. Mũi 1 có 3 đồng chí hy sinh và một số bị thương tại cửa mở. Tiểu đoàn ra lệnh phải tổ chức tấn công để lấy thương binh tử sỹ ra. Sau mấy đợt phản kích, vẫn không giải quyết xong trận đánh. Không những không lấy được anh em ra mà số thương vong tăng thêm 7 người. Trời đã gần sáng, ta buộc phải rút và đành để thương binh tử sỹ nằm lại. Chúng tôi nhanh chóng lui ra bờ sông rồi xuống xuồng do du kích đón sẵn, trở về bên kia. Tôi kịp lên chuyến xuồng sau cùng trước khi trời sáng. Sau chuyến ấy, xuồng không qua được nữa vì mặt trời đã ló lên phía chân trời. Đồng thời đã nghe tiếng trực thăng phành phạch từ hướng Hậu Nghĩa. Rất nhiều đồng chí sang không kịp, bị kẹt lại bờ bên kia. Các đồng chí ấy, số thì "chém vè" (trốn) dưới bưng. Một số dũng cảm vượt sông để trở về bên này. Nhưng thật đáng tiếc, sông Vàm Cỏ Đông ở quãng này rộng chừng 300 mét nên nhiều đồng chí do đuối sức vì đói và đánh nhau suốt đêm qua, lại mang cả súng, nên ra giữa sông thì chìm. Một số khác đội lục bình (bèo Nhật Bản) trên đầu để bơi, bị trực thăng phát hiện, bắn chìm luôn. Chính trị viên đại đội tôi - đồng chí Tống Minh Sướng (Hà Bắc), may mắn thoát chết, bơi được sang bờ bên này, cố lết về đến chỗ trú quân ở cứ. Một hình ảnh hết sức xúc động: Khi anh về đến nơi, chúng tôi vừa ăn trưa xong. Cơm hết sạch. Anh phải dùng một cái gai, lẩy vào từng hột cơm còn sót lại trong rá để cầm hơi trong khi chờ chúng tôi nấu cơm. Cơm sôi một lúc, tôi múc vội một bát nước, bón cho anh, lát sau anh tỉnh dần...

    Bên kia sông, tiếng súng địch vẫn dội lại, vì lúc này chúng đã kiểm soát trận địa. Trực thăng tiếp tục quần thảo, xăm tỉa vào những nơi nghi có "Việt Cộng". Trận đánh không thành nhưng tấm gương hy sinh của đồng chí Nguyễn Văn Định (Sơn Bình, Hương Sơn, Hà Tĩnh) thì đã trở thành bài ca bất tử về lòng dũng cảm vô song và ý chí tiến công địch đến hơi thở cuối cùng của người chiến sỹ Quân giải phóng miền Nam.

     Đêm ấy, trong đội hình tiến công, Định mang thủ pháo đầy mình để làm nhiệm vụ đánh lô cốt đầu cầu. Nhưng khi vào cửa mở, bị lộ. Địch tập trung hoả lực bắn dữ dội vào đó. Anh bị thương gãy đùi. Chúng tôi mấy lần tổ chức phản kích để lấy tử sỹ và thương binh nhưng không thể được. Lại hy sinh thêm nhiều đồng chí nữa. Đành phải để lại. Sáng sớm, bọn địch nống ra giải toả. Chờ chúng đến gần, anh giơ tay vẫy. Chúng tưởng anh xin hàng, liền nhào đến rất đông. Mười mấy thằng xúm lại vây quanh Định. Chỉ chờ có thế. Trong chớp mắt, Định điểm hoả. Một tiếng nổ dậy đất. Toàn bộ khối thủ pháo dưới cơ thể anh bị kích nổ. Mười mấy thằng nguỵ xung quanh anh tan xác. Còn anh, thân thể đã biến thành tro bụi dưới sức nổ của hơn 8kg TNT. Bọn địch sống sót kinh hoàng, khiếp đảm và kính phục anh. Mẩu chuyện tôi viết về Định, người đồng chí kiên cường, quả cảm của chúng tôi là dựa theo lời kể của cơ sở ta do bọn địch có mặt hôm đó kể lại về cái chết quả cảm của một "Việt Cộng" trong trận Rạch Gần.

    Đơn vị tổ chức học tập gương chiến đấu dũng cảm của Định, đồng thời quyết tâm trả thù cho anh và các đồng chí khác hy sinh trong trận đánh hôm đó.

    Trận công đồn năm ấy lùi vào quá khứ đã gần 1/3 thế kỷ. Nhưng kỷ niệm về nó thì vẫn vẹn nguyên và thường trực trong ký ức của mỗi chúng tôi. Nó luôn nhắc chúng tôi phải sống thế nào cho khỏi tủi hổ vong linh của Định cũng như biết bao đồng đội khác đã anh dũng hy sinh không tiếc máu xương mình cho độc lập tự do của đất nước này.

     Chúng tôi đã đề nghị lên cấp trên xét truy tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" cho Định. Nhưng rồi các chiến dịch và những trận đánh ác liệt và thần tốc cứ nối tiếp nhau, cuốn đi như cơn lốc cho đến ngày 30/4/1975. Đến bây giờ, sau 31 năm kể từ ngày đi vào cõi bất tử, Định vẫn chưa có được danh hiệu cao quý đó để xứng đáng với tầm vóc hy sinh to lớn của Anh.

    Sau trận ấy, chúng tôi họp củng cố rút kinh nghiệm, học tập gương chiến đấu, hy sinh quả cảm của Định, phát động lòng căm thù địch, quyết tâm trả thù cho Định và các đồng chí đã hy sinh đồng thời chuẩn bị cho các trận đánh nối tiếp.   
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #29 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2013, 03:42:51 pm »

 Ngày 9 tháng 5 năm1974, vào một buổi chiều đầu mùa mưa. Khoảng 16 giờ chúng tôi nhận lệnh xuống kinh xáng Trà Cú vùng đông nam Đức Huệ điều nghiên địa hình để đưa quân xuống, chuẩn bị mở trận đánh mới ở địa bàn này.

     Đoàn chúng tôi gồm lính của các đại đội 1,2,3,4 và trinh sát tiểu đoàn do đồng chí Nguyễn Văn Hảo, tiểu đoàn phó, chỉ huy. Đại đội tôi có anh Đinh Văn Luận, đại đội phó (Thanh Xuân, Thanh Chương), Lê Văn Nhâm (Phúc Lộc, Can Lộc) Hồ Hữu Danh (Sơn Hàm, Hương Sơn, đã mất năm 2001 do nhồi máu cơ tim) Nguyễn Văn Quý (Tân Kỳ - Nghệ An) và tôi. Tiểu đoàn lúc ấy, có anh Thạch (Hưng Nguyên - Nghệ An) y tá tiểu đoàn, Nguyễn Văn Đông (Trà Vinh), thiếu uý, trợ lý tác chiến tiểu đoàn, và một số đồng chí khác, tôi không nhớ hết. Tất cả khoảng trên 20 người. Chúng tôi lầm lũi đi trong mưa lất phất và không gian ảm đạm khác thường.

    Hơn một tiếng đồng hồ sau thì hết mưa. Chúng tôi tiếp tục nhắm hướng kinh xáng đi tới, sau khi đã nghỉ giải lao. Khoảng 10 giờ đêm, chúng tôi vượt qua cây cầu Sắt. Nơi đây, bọn địch thường xuyên phục kích. Bộ đội và du kích nhiều lần đụng địch chỗ này. Mọi người hết sức cảnh giác, bám lên từng bước rồi cuối cùng cũng vượt qua được cây cầu ấy. Càng về khuya, càng khát vì bi đông mọi người đã cạn. Mùa khô nên cả chặng hành quân không một hố bom nào có nước. Ai nấy đều mong đến chỗ có nước để được uống thoả thích. Mười hai giờ, chúng tôi đến một vị trí mà theo Đông, thì nơi đây có mấy hố bom lớn về mùa khô vẫn không cạn. Địa hình nơi này Đông rất quen thuộc. Chúng tôi được lệnh tạm nghỉ để tìm nước. Đông nhanh chóng dẫn mấy người chạy đi tìm mấy hố bom đó, trong khi chúng tôi đặt ba lô ngồi nghỉ để chờ. Mọi người giãn ra để cảnh giác pháo "đĩ" ban đêm có thể bất ngờ lao tới. Chừng 10 phút. Bỗng một ánh chớp và tiếng nổ chói tai vang lên từ hướng anh Đông và mấy người vừa chạy tới. Chúng tôi biết ngay, họ đã “dính” mìn clâymo. Mấy người lao đến nơi có tiếng nổ, dìu được Đông ra tới gần chỗ chúng tôi. Vừa đến giữa ruộng, bỗng tiếng súng AR15 và M79 bắn vào nơi phát ra tiếng nổ ban nãy. Mọi người đành để Đông nằm lại giữa ruộng và giãn ra xung quanh. Đông rên lớn vì đau quá do bị thương nặng và sợ bị bỏ rơi. Lúc này, địch bắt đầu nhả đạn dữ dội vào hướng chúng tôi. Mọi người, trong đó có tiểu đoàn phó Hảo cùng anh em còn lại lùi ra phía sau. Địch tập trung hoả lực bắn mạnh ra sau, rồi gọi cối, pháo bắn theo hướng rút của họ. Còn lại ở trận địa là anh Luận, Nhâm, Danh, Thạch - y tá tiểu đoàn và tôi. Tôi nói với Luận: "Bây giờ anh là chỉ huy cao nhất ở đây, anh phải lệnh cho anh em vào cứu Đông chứ không thể bỏ anh ấy lại". Luận đang chần chừ. Tôi lên cò súng, bảo: "Thôi, anh giữ B40 giúp để tôi vào đưa Đông ra. Nếu địch phát hiện ra và bắn, thì giá nào anh cũng phải bắn trả B40 để yểm hộ tôi. Nếu anh không bắn, tôi mà thoát chết ra là tôi bắn anh đó!" Luận: "ừ , ừ... Mày vào đi, tao yểm hộ cho". Tôi quay sang Thạch: "Thôi, tớ và cậu vào đưa Đông ra!". Trước sự cương quyết của tôi, Thạch vững dạ hơn rồi cùng tôi chạy lom khom vào chỗ Đông nằm. Thấy chúng tôi đến, Đông thều thào: "Ai đó?". "Sơn và Thạch đây! Anh yên tâm chúng tôi đưa anh ra!", tôi nói. Đông mừng lắm: "Ôi! Cảm ơn Sơn và Thạch nghen! Cảm ơn các đồng chí!". Tôi ghé sát tai Đông nói nhỏ: "Chúng tôi dù chết cũng không bao giờ bỏ đồng đội bị thương cả. Anh cố gắng nhé! Đừng rên. Nếu rên, bọn địch nghe thấy chúng ta sẽ không thoát đâu!". Đông nén đau, im lặng...

    Tôi và Thạch cố gắng kẻ nách, người chân đỡ Đông lên. Nhưng Đông rất nặng (Đông vốn cao to), hơn nữa, do bị thương nặng nên khi chúng tôi nhấc lên, anh cứ oặt người xuống vì đau. Loay hoay một lúc vẫn không đưa Đông đi được. Tôi bảo Thạch: "Thôi, cậu bỏ ra". Tôi luồn một tay dưới cổ và một tay dưới khoeo chân Đông gắng sức lấy đà nhấc nổi lên rồi lom khom chạy ra chỗ Luận và mấy người đang chờ sau một bờ đất. Thạch xách AK bám kịp tôi. Thạch vốn rất cao to, khoảng 65- 68 kg, trong khi tôi nhỏ dẻ và yếu hơn Thạch nhiều. Không hiểu sao lúc ấy, tôi bế nổi Đông chạy ra được như vậy? Thật kỳ lạ!

    Vừa đặt Đông nằm xuống thì địch tung pháo sáng lên. Tiếp theo là các loại súng thi nhau đổ đạn về phía chúng tôi. Nhưng chúng không dám xung phong. Gần đó có một hố bom, mọi người cùng dìu Đông xuống rồi lợi dụng ánh hoả châu băng bó lại cho anh. Đông dính mìn clâymo. Phần trước cơ thể bị bi găm lỗ chỗ. Anh bị thủng bàng quang và nhiều nơi khác. Máu bê bết khắp thân thể. Đạn địch dần dần chuyển làn, nổ phía sau nơi chúng nghi anh em mình chạy ra đó. Chờ dứt tiếng súng bộ binh, tôi nói với Luận: "Bây giờ, anh cho người đi chặt tre để cáng Đông". Luận cử Nhâm. Nhâm chần chừ, không dám đi. Tôi bực quá, mắng Nhâm (mặc dù tôi với Nhâm là đồng hương cùng huyện, nhập ngũ một ngày). Nhâm đành mang dao găm và súng đi. Khoảng 20 phút sau, cậu ta quay về tay không. Nhâm vào chặt tre, sợ đụng phải địch nằm trong đó nên quay lại. Chúng tôi lại mắng vào mặt cậu ta rồi bắt phải quay lại chặt bằng được tre để cáng Đông. Chừng 40 phút sau, mới thấy Nhâm lò dò kéo ra được một ngọn tre khô. Chúng tôi hỏi: "Sao lâu thế?" Nhâm hổn hển: "Không dám chặt ...vì sợ địch nghe thấy nên dùng dao gọt theo thân tre cho… đứt rồi kéo ra". Róc vội gai tre, chúng tôi nhanh chóng buộc võng rồi thay nhau cáng Đông. Một người đi trước dẫn đường, bốn người còn lại thay nhau, hai người cáng, hai người đi sau mang hết đồ đạc cho họ. Tất cả quay lại theo đường cũ. Gần đến cầu Sắt, chúng tôi giật mình vì nghe thoang thoảng trong gió mùi thuốc lá "Ru Bi". Tất cả im lặng, khẽ đặt Đông nằm xuống. Tôi và Nhâm bám lên, chúng tôi trườn rất nhẹ đến gần sát mọi người rồi mà vẫn không ai hay biết gì cả. Tôi nhìn qua ánh sáng của điếu thuốc lá, thấy trên khuôn mặt là vành mũ tai bèo. Tôi bấm Nhâm: "Anh em mình!". Tôi gọi trong khi khoá cò B40 đã mở: "Có phải anh em mình đó không?" Họ nhận ra tiếng tôi rồi đồng thanh trả lời "Phải! Phải!". Tất cả ùa lại chỗ tôi và Nhâm. Mọi người ríu rít hỏi tình hình như thế nào? Tôi nói sơ qua, rồi bảo họ thay cáng cho anh em vì đã quá mệt, đồng thời khẩn trương về cứ vì trời sắp sáng. Thì ra sau khi bọn địch nổ súng, tất cả rút lui, về đến đây thì gặp nhau rồi ngồi ngóng chúng tôi. Họ cho rằng, chúng tôi đã chết trong đó rồi. Gần đến cứ, cách chừng 3 km, lúc này, Đông rên rất dữ và giãy đạp mạnh làm anh em khiêng suýt ngã. Bỗng, anh bật mạnh rồi rơi xuống đất, nằm thẳng đừ, mắt trợn ngược. Anh giật giật mấy cái nữa rồi tắt thở. Đông hy sinh lúc gần 5 giờ sáng ngày hôm đó. Chúng tôi vuốt mắt cho anh rồi tiếp tục bế lên võng, khiêng về cứ.

    Về đến Hội Đồng Sầm lúc 6 giờ sáng. Chúng tôi báo cáo sơ qua tình hình với tiểu đoàn rồi làm thủ tục an táng Đông trên một gò đất cao của cứ. Tất cả cúi đầu mặc niệm anh - người đồng chí thân thiết đã ra đi... Xót thương Đông quá! Anh mới đi học ở một trường quân sự tại Liên Xô về, vừa bổ sung vào tiểu đoàn 7 được mấy tháng nay. Cách đó gần một tháng, gia đình dưới Trà Vinh gửi lên cho anh một gói quà, trong đó có chiếc đồng hồ SEIKO5 màu trắng. Anh luôn đeo nó trên tay và xem như kỷ vật vô giá. Chúng tôi đem những tư trang quý của anh gói lại cẩn thận rồi chuyển lên cấp trên để gửi về gia đình Anh...

   Hôm ấy, sau khi chôn cất Đông xong, quá mệt mỏi và buồn ngủ, tôi đặt mình xuống làm luôn một giấc đến hơn 11 giờ trưa, mọi người mới gọi tôi dậy ăn cơm để chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới...

   Số là, đêm hôm đó, sau khi vướng mìn, bị chúng bắn, mọi người phân tán. Cậu Lam, anh nuôi (quê Nam Hà) chạy thế nào mất phương hướng, lọt vào chỗ địch phục kích, bị chúng bắt sống. Theo tin tình báo, Lam không chịu nổi đòn tra nên đã khai ra chỗ đóng quân và trận địa phục kích đánh tàu của ta. Biết vậy nên một mặt, tiểu đoàn lo chuẩn bị phương án chống càn, mặt khác lệnh cho đại đội 3, cử người đi gọi trung đội đang phục kích đánh tàu ở trận địa gần Gò Nổi. Chỉ huy đại đội lại giao nhiệm vụ đó cho tôi.

    Tôi phải cắt bưng đến trận địa để gọi trung đội phục kích đánh tàu nói trên khẩn trương ngay trong đêm phải rút khỏi vị trí. Nếu không, ngày mai, địch sẽ đổ quân đánh úp họ. Bốn giờ chiều, tôi bắt đầu xuất phát. Từ chỗ tôi đến vị trí trung đội ấy khoảng 10 km đường bưng, sình lầy. Tôi phải cắt bưng, men theo bờ sông và vượt qua 6 con rạch (mỗi rạch rộng chừng 15 đến 20 mét). Tôi rẽ cỏ bàng cao đến ngang đầu, vượt qua tất cả. Không hiểu sao, lúc ấy tôi lại khoẻ đến như vậy? Gần 11 giờ đêm mới đến nơi. Tôi lay các đầu võng, anh em đều ngủ say. Tôi nói với Lưu Xuân Tiết ,Trung đội trưởng, quê xã Hoàng Quế, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh: "Lệnh của tiểu đoàn, cho anh em khẩn trương ngay lập tức rút khỏi vị trí phục kích. Ngày mai địch sẽ càn vào. Lý do, một đồng chí của ta bị địch bắt, tra tấn, đã khai báo hết. Các đồng chí chỉ mang theo súng và cơ số đạn chiến đấu, còn lại chôn giấu hết". Mọi người hối hả, khẩn trương vào việc. Khoảng 30 phút sau, tất cả xong xuôi và đã sẵn sàng hành quân. Tôi lại đi trước dẫn đường. Vì đã thông báo cụ thể đường đi nên mọi người chuẩn bị chu đáo, sẵn sàng vượt bưng và 6 con rạch ấy. Rất may là vùng này không có cá sấu và không gặp rắn độc. Nếu không, tôi đã làm mồi cho chúng rồi.

    Chúng tôi trở lại đúng lối mòn tôi vừa đi lúc nãy và kịp trở về đến nơi lúc gần 5 giờ sáng. Mọi người không kịp nghỉ. Tất cả lao vào chuẩn bị công sự để chống càn…

    Bảy giờ sáng, đã nghe tiếng tàu càn rì rì ở ngoài sông Vàm Cỏ. Bất thần,12,7 ly trên tàu bắn như mưa vào hướng chúng tôi. Tôi nhớ lúc ấy, cậu Sơn quê Nghi Xuân (Hà Tĩnh) đang đứng trên chiếc ghe, một viên 12,7 ly bắn bay mất xương hàm dưới. Sơn bị thương nặng, được băng bó kịp thời rồi nhanh chóng chuyển ra tuyến sau. Không rõ sau đó, cậu ta có mệnh hệ gì không? Tôi cũng không biết nữa…

    Đúng như dự kiến, tàu địch bắn loạn xạ một lúc rồi chạy thẳng một mạch lên phía Gò Nổi, nơi có trung đội đánh tàu đang phục kích, tổ chức càn quét trên đó. Nhưng trung đội đó đã rút từ đêm qua rồi.

    Mặc dù chủ động và có sự chi viện tối đa của các loại hoả lực nhưng bọn địch vẫn rất sợ, không dám liều lĩnh càn vào. Chúng tôi cũng căng thẳng đợi địch suốt cả ngày hôm đó.

    Có thể nói, trong quãng đời quân ngũ của tôi, chưa có lúc nào tần suất công việc lại được huy động đến mức tối đa như vậy và cơ thể cũng mệt mỏi, rã rời đến như vậy! Tuy vậy cái mệt cũng nhanh chóng qua đi. Có lẽ một phần do bom đạn; phần nữa, do tuổi trẻ hăng hái nên sức khoẻ phục hồi khá nhanh.

    Ở Hội Đồng Sầm có rất nhiều tre, sau vài trận mưa đầu mùa, măng mọc lên như nấm. Chúng tôi ăn măng thoả thích. Ngày nào cũng măng. Hết luộc đến xào. Hết măng đến rau càng cua. Hai thứ ấy là thực phẩm chính của chúng tôi. Chúng tôi nằm chờ địch ở đây khá lâu. Nơi này có một cây giống như cây đa rất lớn, đã chết khô. Chúng tôi thường gọi là cứ  "Cây Khô". Hôm ấy, đơn vị chúng tôi vẫn phục kích như thường lệ. Vẫn gài mìn ĐH10 rồi bí mật dòng dây điện vào công sự chờ, lúc nào địch vào là bấm mìn rồi tập trung hoả lực tiêu diệt. Khoảng 11 giờ, tình hình vẫn yên ắng. Tất cả chúng tôi cho rằng đã hết giờ cao điểm (8 đến 11 giờ) nên tập trung vào sau bụi tre, nơi có công sự chiến đấu và trú ẩn, chia bài ra đánh. Đang mải say sưa, cãi nhau vì đánh bài, bỗng một loạt AK nổ. Tiếp theo là đạn AR15, phóng lựu M97 nhằm vào hướng chúng tôi nổ loạn xạ cả lên. Tôi chụp vội B40 và mấy quả đạn nhào ra thì thấy mấy thằng lính từ phía sau bụi tre chỗ chúng tôi ngồi, chạy bật trở ra. Tôi không kịp bắn nữa, cùng Vũ Duy Tòng chạy dạt ra bưng vì lúc ấy cứ nghĩ chúng đã chiếm được mấy công sự gần đó rồi. Phát hiện thấy chúng tôi chạy, các loại đạn thi nhau đuổi theo. Cỏ bưng lút ngang đầu, tôi bảo Tòng chạy khom xuống. Tòng nghe theo. Một lúc, không thấy chúng bắn nữa. Chắc chúng nghĩ chúng tôi đã chết. Thì ra, lúc mọi người chủ quan không cảnh giới, địch mò vào. Chúng đã cắt dây điện để vô hiệu hoá mìn ĐH10 rồi áp sát bờ tre. Thiếu tý chút nữa thì cả bọn chúng tôi “ăn” lựu đạn của bọn này (vì tre kín quá, chúng chưa tìm được cách để ném lựu đạn tiêu diệt chúng tôi). Rất may, hôm đó, chúng tôi như được trời cứu. Số là, lúc ấy Tòng đang ngồi trên bờ, bỗng thấy một đôi cá lóc (cá chuối, cá tràu) lớn như bắp đùi lượn lờ dưới kinh, tìm chỗ đẻ (dân Nam Bộ gọi là cá bông (hoa) vì sống lâu ngày nên trên mình nó mốc meo như có hoa. Tiếc rẻ, Tòng làm luôn một loạt AK. Hai con cá chết nhưng chúng tôi đã được cứu. Súng nổ, địch tưởng ta biết chúng mò vào nên nổ súng. Chúng tháo chạy trở ra rồi quay lại bắn chúng tôi. Chính Tòng cũng không biết địch vào. Hai con cá ấy trở thành “vật hy sinh” để cứu mạng mấy cha "Việt Cộng" chủ quan. Đó là một kỷ niệm không quên giữa tôi và Vũ Duy Tòng tại cứ "Cây Khô", Hội Đồng Sầm, Đức Huệ , Long An năm 1974...   
Logged

Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM