Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:36:18 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô  (Đọc 82942 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #20 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2008, 02:33:33 pm »


Thiếu tướng Cận vệ I.V. Panfilov (01/01/1893-18/11/1941)

Thiếu tướng I.V. Panfilov sinh ngày 1 tháng 1 năm 1893 tại thành phố Petrovske, vùng Saratov của Nga. Ngay từ khi mới lên 12 tuổi, ông đã phải đi làm thuê, năm 1915 ông bị gọi vào trong quân đội Nga sa hoàng tham gia vào chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Trong cùng năm này, ông bị điều thẳng đến mặt trận Nga-Đức.

Năm 1917, cách mạng tháng 10 Xã hội Chủ nghĩa nổ ra thành công, chế độ phong kiến Nga sa hoàng bị lật đổ, nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới ra đời. Ông rời bỏ quân đội Nga hoàng tự nguyện ra nhập hàng ngũ của Hồng quân Công Nông và được phân về Trung đoàn bộ binh Saratov số 1 trực thuộc Sư đoàn Chapaevskaya số 25. Cùng đơn vị mình, ông tham gia chiến đấu bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ chống lại các lực lượng của Dutova, Kolchak, Denikina và những người Ba Lan bảo hoàng (1918-1923). Năm 1920, ông được kết nạp vào Đảng Công nhân Dân chủ Xã hội Nga (Đảng Bolsevich). Sau năm 1923, ông tốt nghiệp khóa học 2 năm tại Trường Bộ binh kết hợp ở Kiev và được phân về công tác tại Khu quân sự Trung Á tham gia tiễu trừ phỉ tại khu vự này.

Khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 nổ ra, ông là Ủy viên quân sự của Xôviết Kirghiz. Sau khi Sư đoàn súng trường bộ binh số 316 được thành lập, ông được bổ nhiệm là Sư đoàn trưởng chỉ huy Sư đoàn đến tham chiến tại ngoại vi thủ đô Matxcova.

Trong nửa đầu tháng 10 năm 1941, Sư đoàn súng trường bộ binh số 316 có mặt trong đội hình của Tập đoàn quân số 16 và đảm nhiệm nhiệm vụ phòng thủ trên một hướng rộng, cửa ngõ vào thành phố Volokolamsk. Thiếu tướng I.V. Panfilov là người đầu tiến sử dụng rộng rãi chiến thuật phòng ngự với pháo chống tăng theo chiều sâu, ông đã tạo ra và sử dụng một cách tài tình trong chiến đấu các hàng rào chống tăng di động. Chính vì vậy, đã tăng cường đáng kể sức mạnh phòng thủ của sư đoàn và tất cả các nỗ lực tấn công của quân đoàn số 5 phat-xít nhằm bẻ gãy tuyến phòng thủ đã không thành công. Trong suốt 7ngày, Sư đoàn cùng với Trung đoàn Học viên quân sự S.I. Mladentseva cùng với các đơn vị pháo chống tăng phối hợp đã đáp trả đính đáng những đợt tấn công của kẻ thù.

Với mục đích chiếm lấy Volokolamsk, Hitler ra lệnh ném vào vùng này các đơn vị cơ giới hóa. Chỉ dưới sức tấn công của lực lượng kẻ thủ đông hơn gấp bội, các chiến sĩ của Sư đoàn mới phải rời khỏi Volokolamsk vào cuối tháng 10 năm 1941 và tham gia phòng thủ thành phố phía Đông.

Ngày 16 tháng 11 năm 1941, quân phát xít định tiến hành cuộc tấn công tổng lực lần thứ 2 vào thủ đô Matxcova. Những trận chiến đấu ác liệt chống lại kẻ thù gần Volokolamsk. Trong suốt ngày hôm đó, 28 chiến sĩ thuộc Sư đoàn Panfilov dưới sự chỉ huy của chính trị viên V.G. Klochkova đã đẩy lùi các đợt tấn công của xe tăng quân thù và giữ vững trận địa không để một chiếc xe tăng nào vượt qua về phía làng Mykanin tiến về thủ đô. Những chiến sĩ quả cảm này đã chiến đấu tới hơi thở cuối cùng quyết giữ vững trận địa.

Trong những điều kiện khó khăn nhất trong chiến đấu, Sư đoàn dưới sự chỉ huy I.V. Panfilov luôn luôn duy trì sự kiểm soát và quản lí khu vực phòng thủ của mình. Trong những trận chiến đấu tiếp theo đó tại cửa ngõ Matxcova, Sư đoàn không chỉ giữ vững trận địa mà còn mở những đợt phản công nhanh nhằm vào các đơn vị kẻ thù: sư đoàn tăng số 2, sư đoàn cơ giới hóa số 29, sư đoàn bộ binh số 11 và 110 tiêu diệt tổng cộng 9000 binh lính và sĩ quan phát xít, hơn 80 xe tăng cùng nhiều phương tiện chiến tranh, súng cối và vũ khí. Vì những thành tích chiến đấu trong quá trình bảo vệ cửa ngõ Matxcova cùng với chủ nghĩa anh hùng tập thể của các chiến sĩ ngày 17 tháng 11 năm 1941, ngày 18 tháng 11 Sư đoàn được vinh dự mang tên Sư đoàn Súng trường Cận vệ Cờ đỏ số 8. Cùng ngày này, Thiếu tướng Cận vệ I.V. Panfilov hy sinh gần Volokolamsk. Ông được chôn cất trong nghĩa trang Novodevichem tại Matxcova.

Thiếu tướng I.V. Panfilov được truy tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô vào ngày 12 tháng 4 năm 1942 vì những thành tích nổi bật khi chỉ huy Sư đoàn của mình trong những trận đánh bảo vệ Matxcova cũng như quá trình chiến đấu dũng cảm và chủ nghĩa anh hùng cá nhân.

Tên của ông đã được đặt cho thành phố Dzharkent và một khu định mới tại Kazakhstan, làng cổ Nikolaika tại Kirghizia, tên đường phố tại nhiều thành phố, làng, các con tàu, nhà máy xí nghiệp, các nông trường tập thể và cũng đặt cho sư đoàn súng trường cơ giới hóa cận vệ mà ông chỉ huy-Sư đoàn Panfilov.



Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #21 vào lúc: 20 Tháng Chín, 2008, 08:20:28 pm »


Nguyên soái S.F. Akhromeev (05/05/1923-08/1991)

Nguyên soái Akhromeev Sergey Fedorovich sinh ngày 5 tháng 5 năm 1923 tại Vindrey thuộc vùng Torbeevskogo (nay là nước Cộng hòa Mordovia), Nga. Đảng viên Đảng Cộng sản từ năm 1943.

Ông gia nhập Hồng quân từ năm 1940, tốt nghiệp: Cao đẳng Hải quân mang tên M.V. Frunze; năm 1942, tốt nghiệp Trường bộ binh Astrakhan; năm 1945, tôt nghiệp trường sĩ quan cao cấp Pháo tự hành của Quân chủng tăng thiết giáp và cơ giới hóa của Hồng quân; năm 1952, tốt nghiệp Học viện quân sự Tăng thiết giáp và cơ giới hóa của Quân đội Xôviết; năm 1967 tốt nghiệp Học viện Bộ tổng tham mưu.

Trong chiến tranh thế giới lần thứ 2, từ tháng 6 đến tháng 12 năm 1941, ông chiến đấu trong đội hình của Tiểu đoàn sung trường học viên Obedinennogo tham gia các trận đánh ở Leningrad.

Từ tháng 10 năm 1942 tới tháng 2 năm 1943, ông chỉ huy trung đội sung trường, sau đó là sĩ quan trợ lí tiểu đoàn trưởng, phó tham mưu trưởng trung đoàn sung trường, sĩ quan trợ lí tiểu đoàn sung trường cơ giới hóa của một lữ đoàn tăng; từ tháng 7 năm 1944 chỉ huy tiểu đoàn tiểu lien trực thuộc lữ đoàn pháo binh cơ giới hóa tham gia các trận đánh với quân phát xít xâm lược tại Leningrad, Stalingrad, Phương diện quân Nam và Ukrainian số 4.

Vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh vệ quốc, tháng 6 năm 1945 ông là Tiểu đoàn phó rồi Tiểu đoàn trưởng xe tăng. Từ tháng 7 năm 1952 đến tháng 8 năm 1955 ông là Tham mưu trưởng của trung đoàn cơ giới hóa; từ tháng 9 năm 1955 Trung đoàn trưởng xe tăng. Từ tháng 12 năm 1957, là Sư đoàn phó Sư đoàn sung trường cơ giới sau đó là tham mưu trưởng sư đoàn xe tăng. Từ tháng 12 năm 1960 là sư đoàn trưởng sư đoàn xe tăng của quân khu Belorussian, từ tháng 4 năm 1964 là sư trưởng sư đoàn xe tăng huấn luyện.

Sauk hi tốt nghiệp ở Học viện Bộ tổng tham mưu, tháng 5 năm 1972 ông là phó tư lệnh thứ nhất kiêm tham mưu trưởng của quân khu Viễn Tây. Từ năm 1974 đến 1979, ông là Phó tổng tham mưu, từ tháng 2 năm 1979 ông là Phó tư lệnh thứ nhất của các lực lượng vũ trang Liên Xô.

Vì những thành tích chỉ huy quân đội Liên Xô tại Afghanistan cùng với công lao xây dựng phát triển các lực lượng vũ trang Liên Xô sau chiến tranh, theo quyết định của Xôviết tối cao, ngày 7 tháng 5 năm 1982, ông được phong tặng danh hiệu Anh hung Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng. Ông được phong quân hàm Nguyên soái vào năm 1983.

Từ tháng 9 năm 1984 đến tháng 12 năm 1988, ông là Tổng tham mưu trưởng kiêm Thứ trưởng Quốc phòng Liên Xô. Sau đó, ông làm công tác thanh tra trong quân đội, cố vấn của chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô, cố vấn của tổng thống Liên Xô. Ông là Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1983 (Ủy viên dự khuyết từ năm 1981). Phó Chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô nhiệm kỳ thứ 11. Ủy viên nhân dân (Đại biểu quốc hội) của Liên Xô từ năm 1989. Năm 1981, ông được vinh dự tặng giải thưởng Lenine.

Vào năm 1991, cùng với sự kiện Hệ thống Xã hội Chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu bị sụp đổ, nguyên soái S.F. Akhromeev tự tử sau khi đã cố gắng không thành trong việc loại bỏ quyền lực của Tổng thống Liên Xô trong thời kì hoạt động (từ 19 đến 21 tháng 9 năm 1991 của Ủy ban nhà nước về tình trạng khẩn cấp của Liên Xô. Lí do để ông tìm đến cái chết được ghi trong lá thư, có đoạn: ‘’Tôi không thể sống khi mà tổ quốc bị diệt vong và bị tàn phá tất cả, nó được coi như là ý nghĩa của đời tôi. Tuổi tác và quá khứ của tôi khiến cho tôi phải dời bỏ cuộc sống. Tôi đã chiến đấu cho đến lúc chết’’.

Ông đã được tặng thưởng 4 Huân chương Lenine, các Huân chương Cách mạng tháng 10, Huân chương vệ quốc hạng Nhất, 2 Huân chương cờ đỏ, Huân chương vì sự nghiệp phục vụ Tổ quốc trong các lực lượng vũ trang Liên Xô hạng Ba, nhiều Huy chương cùng với các Huân huy chương của các quốc gia khác trên thế giới.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #22 vào lúc: 20 Tháng Chín, 2008, 08:28:47 pm »


Trung tướng xe tăngA.O. Akhmanov (09/03/1897-17/11/1949)

Trung tướng Akhmanov Aleksey Osipovich sinh ngày 9 tháng 3 (tức ngày 25 tháng 2 theo lịch Nga cũ) năm 1897 tại Alat (bây giờ là Vysokogorskogo), vùng Tatarsan của Nga.  Sau khi học xong, ông làm việc cho các lò bánh mỳ ở Kazan.

Năm 1915, ông bị gọi vào quân đội Nga sa hoàng tham gia vào chiến tranh thế giới lần thứ nhất và là hạ sĩ quan. Ông ra nhập Hồng quân Công Nông từ tháng 7 năm 1919 và hoàn thành khóa 1 bộ binh của Kazan vào năm 1920.

Trong cuộc chiến tranh bảo vệ nhà nước Xôviết non trẻ (1918-1923): từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1920, ông là đại đội trưởng của Trung đoàn súng trường số 17; từ tháng 6 đến tháng 10 năm1920, ông là tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn của Trung đoàn súng trường số 113; từ tháng 10 năm 1920, ông lần lượt giữ các chức vụ đại đội trưởng rồi phó chủ nhiệm trinh sát của Trung đoàn súng trường số 131. Ông tham gia vào các trận đánh ở mặt trận phía Bắc và phía Nam.

Năm 1922, ông tốt nghiệp Trường bộ binh của Quân khu Odessa và chỉ huy một đại đội trong Khu quân sự Kiev. Năm 1926, ông hoàn thành một khóa học quân sự ngắn ngày và được cử làm tiểu đoàn trưởng, phó tham mưu trưởng trung đoàn trực thuộc Khu quân sự Ukrainian. Tiếp đó, năm 1935, ông hoàn thành khóa học ở Học viện quân sự về Ôtô và Cơ giới hóa và được bổ nhiệm làm tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn xe tăng. Năm 1938, ông tốt nghiệm Học viện quân sự phòng hóa. Từ đó, ông chỉ huy trung đoàn cơ giới hóa, sư đoàn hóa học cơ giới, lữ đoàn tăng rồi phó tư lệnh sư đoàn xe tăng tại Khu quân sự Matxcova. Từ tháng 4 năm 1941, ông chỉ huy sư đoàn xe tăng trong Khu quân sự phía Tây.

Trong chiến tranh thế giới lần thứ 2: từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1941, ông là Sư đoàn trưởng Sư đoàn xe tăng số 27 trực thuộc Phương diện quân phía Tây. Sư đoàn dưới sự chỉ huy của ông đã tham gia vào các trận đánh phòng thủ tại các thành phố Baranovichi, Mogilev cho đến khi không còn khả năng chiến đấu và bị giải thể. Từ tháng 11 năm 1941, ông là tư lệnh của lực lượng tăng thiết giáp của Phương diện quân Kalinin, từ tháng 2 năm 1942 là phó tư lệnh của các lực lượng vũ trang Phương diện quân trực tiếp chỉ huy lực lượng tăng thiết giáp trong những trận đánh của lực lượng này. Ông đã tham gia vào những trận đánh bảo vệ thủ đo Matxcova. Từ tháng 6 đến tháng 10 năm 1942, ông là tư lệnh của lữ đoàn xe tăng số 81 (Phương diện quân Kalinin). Tháng 10 năm 1942, ông là Phó tư lệnh Tập đoàn quân cận vệ số 1 phụ trách xe tăng (Phương diện quân Donskoy), tham giam và chiến dịch Stalingrad. Từ tháng 11 năm 1942, ông là phó tư lệnh phụ trách lực lượng tăng thiết giáp của Phương diện quân Tây Nam (từ tháng 10 năm 1943 đổi tên thành Phương diện quân Ukrainian số 3), tham gia giải phóng các tỉnh Rostov, Voronyezh, Donbass, mạn trái Ukraine.

Từ tháng 4 năm 1944, ông chỉ huy Quân đoàn thiết giáp số 23 (lần lượt thuộc các phương diện quân Ukrainian số 2 và 3), tham gia chiến dịch Yassy-kishinev giải phóng Rumania, Hungary và Austria. Từ tháng 1 đến tháng 2 năm 1945, bộ phận Hồng quân dưới sự chỉ huy của ông đã không để cho phát xít vượt qua phần phía Tây của Budapest. Trong quá trình diễn ra chiến dịch Ozhestochennykh, các đơn vị của ông đã đẩy lùi các bộ phận của các sư đoàn tăng SS ‘’đầu lâu’’ và ‘’Viking’’ sau khi gây cho chúng những thiệt hại nặng nề.

Vì nghệ thuật chỉ huy hiệp đồng binh chủng cũng như sự gan dạ và chủ nghĩa anh hùng cá nhân, theo quyết định của Xôviết tối cao, ngày 28 tháng 4 năm 1945 ông được phong danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng.

Sau chiến tranh cho đến tháng 10 năm 1947, ông tiếp tục chỉ huy Quân đoàn tăng thiết giáp số 23, sau đó quân đoàn này đựoc tái tổ chức lại thành Sư đoàn tăng số 23. Năm 1948, ông tốt nghiệp khóa học cao cấp tại Học viện Bộ tổng tham mưu. Từ tháng 4 năm 1948, ông là tư lệnh của lực lượng Tăng thiết giáp và Cơ giới hóa trực thuộc Quân khu Belorussian.

Ông sống tại thành phố Minsk và tự vẫn vào ngày 17 tháng 11 năm 1949 và sau đó được chôn cất tại nghĩa trang quân sự tại thành phố Minsk. Ông đã được tặng thưởng 2 Huân chương Lenine, 2 Huân chương Kutuzov hạng Nhất, Huân chương Suvorov hạng Nhì và nhiều Huy chương khác.



Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #23 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2008, 05:03:25 pm »


Nguyên soái P.F. Batitskiy (27/06/1910-17/02/1984)

Nguyên soái Batitskiy Pavel Fedorovich sinh ngày 27 tháng 6 năm 1910 tại thành phố Karkov (Ukraine), Nga. Đảng viên Đảng Cộng sản (Bolsevich) Nga từ năm 1938. Ông nhập ngũ năm 1924, tốt nghiệp Trường kỵ binh năm 1929 và Học viện quân sự M.V. Frunze năm 1938. Lần lượt chỉ huy trung đội, đội kỵ binh, sĩ quan đặc phái của Bộ tổng tham mưu, tham mưu trưởng của lữ đoàn cơ giới hóa, rồi sư đoàn.

Trong suốt thời gian của chiến tranh thế giới lần thứ 2, từ tháng 11 năm 1941 ông chỉ huy Sư đoàn súng trường số 254 tại phương diện quân Tây Bắc, chiến đấu ở thành phố Demyansk. Sư đoàn của ông đã đẩy lùi các đợt tấn công của quân phát xít, không cho chúng phát triển theo tuyến đường cao tốc nối liền thành phố cổ Russo với Demyansk. 

Từ tháng 7 năm 1943, ông chỉ huy lần lượt chỉ huy các quân đoàn súng trường số 73, 50, 128 tại thảo nguyên Voronezh, phương diện quân Ukraine số 1 và 2, phương diện quân Belorussian số 1 và 3. Tham gia giải phóng Ukraine, Moldavia, Belorussia, cùng các chiến dịch quân sự trong suốt quá trình vượt sông Dnepr tới phía Nam của Kaneva và chiếm lĩnh bờ phía phải của sông.

Tháng 11 đến tháng 12 năm 1943, quân đoàn súng trường số 43 dưới sự chỉ huy của Thiếu tướng P.F. Matitsky đã vượt sông Dnepr thành công tại địa phận quận Cherkassy và hội quân với Tập đoàn quân số 52 của Phương diện quân Ukrainian vào ngày 14 tháng 12 năm 1943 tham gia giải phóng thành phố này khỏi quân chiếm đóng phát xít.

Vai trò quan trọng của quân đoàn súng trường số 73 dưới sự chỉ huy của ông trong quá trình bao vây và tiêu diệt quân phát xít ở Korsun-Shevchenkovskiy từ tháng 1 đến tháng 2 năm 1944, và giải phóng các thành phố Uman, Beltsy. Ngày 26 tháng 3 năm 1944, trong đội hình của Phương diện quân Ukraine số 2, Quân đoàn là một trong những đơn vị đầu tiên tiến vào biên giới Liên Xô và Rumania và vượt sông Prut chảy qua địa phận thành phố Skulyany.

Trong chiến dịch tiến công Belorussian từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1944, Quân đoàn súng trường số 128 dưới sự chỉ huy của Thiếu tướng Batitskiy tấn công chớp nhoáng chọc thủng tuyến phòng thủ phía nam Bobruysk, cùng với các đơn vị khác của Phương diện quân Belorrusian tham gia giải phóng các thành phố Baranovichi, Brest…rồi vượt sông. Trong giai đoạn cuối của chiến tranh vệ quốc, các đơn vị của quân đoàn tách ra phối hợp với các đơn vị khác tham gia giải phóng Ba Lan, đập tan cụm quân phát xít Đức lớn ở phía Đông Prusii, tha gia tấn công Berlin, giải phóng Prague.

Sau chiến tranh, ông theo học và tốt nghiệp Học viện Bộ tổng tham mưu vào năm 1948 và giữ chức vụ Tham mưu trưởng Khu vực phòng không Matxcova cho tới năm 1950. Từ năm 1950 đến 1953, ông là tham mưu trưởng, từ năm 1953 đến 1954 là phó tư lệnh thứ nhất của các lực lượng vũ trang Quân khu Matxcova.

Ở vị trí này, ngày 26 tháng 6 năm 1953, Trung tướng P.F. Batitskiy cùng với tư lệnh phòng không Matxcova thượng tướng C.C. Moskalenko, Nguyên soái Liên Xô G.K. Zhukov tham gia bắt giữ, trong cuộc họp của Đoàn chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Liên Xô, Phó chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Liên Xô, Bộ trưởng nội vụ Liên Xô, Nguyên soái L.P. Beria, người sau đó bị kết tội chống Đảng, phản động, gây thiệt hai cho nhà nước Xôviết, và bị tước bỏ mọi chức vụ, quân hàm cũng như danh hiệu anh hùng Liên Xô và bị xử bắn vào ngày 23 tháng 12 năm 1953.

Từ năm 1954 đến 1965, ông là Tư lệnh bộ đội cơ giới hóa của Matxcova, từ 1965 đến 1966, ông giữ chức vụ Phó tổng tham mưu trưởng thứ nhất của Liên Xô.

Ngày 7 tháng 5 năm 1965, ông được phong danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng do những thành tích trong quá trình chỉ huy bộ đội cùng với phẩm chất anh hùng cá nhân trong quá trình chống phát xít Đức xâm lược.

Từ năm 1966, ông chỉ huy các Binh chủng Phòng không kiêm Thứ trưởng Bộ quốc phòng Liên Xô, đồng thời chỉ huy lực lượng phòng không kiêm phó tư lệnh khối quân sự Warsaw. Năm 1968, ông được phong quân hàm nguyên soái Liên Xô. Từ năm 1978, ông tham gia công tác thanh tra của Bộ quốc phòng. Ông là Ủy viên ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Liên Xô từ năm 1966 (ủy viên dự khuyết từ 1961), Phó chủ tịch Xôviết tối cao từ khóa 6 đến khóa 10.

Ông mất ngày 17 tháng 2 năm 1984 tại Matxcova và được chôn cất tại nghĩa trang Novodevichem. Ông được tặng thưởng 5 Huân chương Lenine, Huân chương cách mạng tháng 10, 5 Huân chương Kutuzov hạng nhất, Suvorov hạng Nhì, Kutuzov hạng Nhì, Huân chương phục vụ tổ quốc của Hồng quân hạng ba và nhiều Huy chương cùng các huân huy chương của các nước khác.



Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #24 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2008, 05:06:07 pm »


Thượng tướng cận vệ G.V. Baklanov (14/08/1910-16/01/1976)

Thượng tướng Baklanov Gleb Vladimirovich sinh ngày 14 tháng 8 năm 1910 tại Matxcova, Nga. Ông gia nhập Quân đội Xôviết từ năm 1932, được kết nạp vào Đảng Cộng sản (Bolsevich) từ năm 1940. Tốt nghiệp Học viện quân sự mang tên M.V. Frunze rồi toết nghiệp Học viện quân sự Bộ tổng tham mưu vào năm 1948.

Từ năm 1933, ông lần lượt giữ các chức vụ trung đội trưởng trồi đại đội phó; từ năm 1937, ông là tham mưu trưởng tiểu đoàn rồi trung đoàn súng trường. Là người có năng khiếu thể thao, ông tích cực tham gia các hoạt động thi đấu và là vô định Matxcova về thể dục. Từ năm 1939 đến 1940, ông tham gia vào cuộc chiến tranh Liên Xô-Phần Lan.

Ông có mặt trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân các dân tộc Liên Xô ngay từ những ngày đầu tiên, là: tham mưu trưởng của trung đoàn súng trường cơ giới hóa; từ tháng 8 năm 1941 là trung đoàn trưởng trực thuộc Phương diện quân Tây. Từ tháng 1 năm 1942, ông chỉ huy lữ đoàn súng trường, đơn vị này rất nổi tiếng trong những trận chiến ở gần Russo cũ của phương diện quân Tây Bắc. Từ tháng 8 năm 1942, là sư đoàn trưởng của Sư đoàn súng trường số 299, chiến đấu lần lượt tại các mặt trận Stalingrad rồi Donskoy. Sư đoàn do ông chỉ huy đã chiến đấu thắng lợi tại các trận đánh trong chiến dịch Stalingrad.

Từ tháng 5 năm 1943, ông là sư đoàn trưởng của Sư đoàn súng trường cận vệ số 13 trực thuộc Quân đoàn cận vệ số 5, tham gia giải phóng thành phố Poltava vào ngày 23 tháng 9 năm 1943, Kremenchug vào ngày 29 tháng 9 năm 1943 và vượt sông Dnepr. Do những thành tích trong quá trình giải phóng Poltava mà sư đoàn do ông chỉ huy được vinh dự mang tên Sư đoàn Poltava, theo quyết định của Tổng tư lệnh tối cao Đại nguyên soái I.V. Stalin.

Tháng 3 năm 1944, sư đoàn dưới sự chỉ huy của Thiếu tướng G.V. Baklanov, trong đội hình của Phương diện quân Ukrainian số 2, trong chiến dịch Uman-Botoshanskoy tham gia chọc thủng tuyến phòng thủ của quân phát xít tại phía nam thành phố Kirovagrad, tấn công mạnh vào thành phố và làm chủ thành phố vào ngày 22 tháng 2 năm 1944.
Từ tháng 10 năm 1944, ông là quân đoàn trưởng Quân đoàn súng trường cận vệ số 34, trong đội hình của Phương diện quân Ukrainian số 1. Quân đoàn của ông chiến đấu ở thê đội 1 của Quân đoàn cận vệ số 5, tham gia bao vây quân phát xít tại thành phố Breslau; tháng 4 năm 1945, quân đoàn tham gia chiến dịch tiến công Berlin sào huyệt cuối cùng của quân phát xít. Nhiệm vụ của quân đoàn là chọc thủng tuyến phòng thủ của phát xít trên sông Neisse. Trong quá trình tiến công vào Berlin, quân đoàn đã làm chủ nhiều thành phố Đức trong đó có thành phố Dresden (ngày 8 tháng 5 năm 1945). Theo quyết định của Tổng tư lệnh tối cao Đại nguyên soái  I.V. Stalin, Quân đoàn của ông vinh dự mang phiên hiệu Dresden. Tháng 5 năm 1945, Quân đoàn tiếp tục tham gia vào chiến dịch giải phóng Prague.

Do những thành tích chỉ huy quân đoàn chiến đấu thắng lợi trong trận đánh Dresden cùng với những phẩm chất anh hùng cá nhân trong quá trình chỉ huy chiến đấu, theo quyết định của Xôviết tối cao Liên Xô ngày 29 tháng 5 năm 1945, Thiếu tướng G.V. Baklanov được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng.

Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, ông là Tư lệnh của Khu quân sự Carpathian. Từ tháng 6 năm 1948, ông Phụ trách công tác huấn luyện và thể thao của các lực lượng lục quân Liên Xô. Trong cùng năm này, năm của Thế vận hội thể thao Olympich lần thứ 14, ông giữ vài trò một trong những lãnh đạo của đòan thể thao Liên Xô lên đường tới Thủ đô Luân Đôn của Anh. Từ năm 1954 đến 1959, ông là Chủ tịch Ủy ban thể thao Liên Xô. Năm 1960, ông được phong quân hàm Thượng tướng. Từ tháng 5 năm 1960 đến tháng 9 năm 1964, ông là tư lệnh Khu quân sự Siberi, và từ năm 1964 đến 1967, chỉ huy bộ phận phía Bắc của Quân đội Xôviết. Ông là Đại biểu của Xôviết tối cao Liên Xô các khóa 6 và 7.

Ông mất ngày 16 tháng 1 năm 1976 tại Matxcova và được chôn cất tại nghĩa trang Novodevichem. Ông đã đựoc tặng thưởng 3 Huân chương Lenine, Huân chương Kutuzov hạng Nhất hạng Nhì, Suvorov hạng Nhì, Alexander, Sao đỏ, và nhiều Huy chương cũng như Huân huy chương của các quốc gia khác.



Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #25 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2008, 08:06:39 pm »

Trung tướng cận vệ P.I. Zubov (04/06/1901-1957)

Trung tướng Zubov Peter Ivanovich sinh ngày 4 tháng 6 năm 1901 tại Ramava bây giờ là vùng Riga của Latvia trong một gia đình nông dân người Latvia.

Ông ra nhập Hồng quân Công Nông vào năm 1918, vào đầu thời kỳ của cuộc chiến tranh bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ (1918-1923), được kết nạp vào Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1923. Năm 1925, ông tốt nghiệp trường kỵ binh, và năm 1931, ông hoàn thành các khóa học về pháo binh cho sĩ quan tham mưu. Trước khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 nổ ra, ông là thiếu tá chỉ huy Trung đoàn kỵ binh cờ Đỏ Saratov số 11, trực thuộc Sư đoàn kỵ binh số 5, Quân đoàn kỵ binh số 2 của Đặc khu quân sự Kiev.

Trong suốt thời gian diễn ra cuộc chiến tranh vệ quốc: tháng 6 năm 1941, ông là trung đoàn trưởng kỵ binh tại các Phương diện quân Nam, Tây Nam và Tây. Trung đoàn của ông đã được điều đến chiến đấu tại các trận đánh ở gần biên giới, Chiến dịch phòng thủ Kiev, các trận phản công tại Romnami và Shtepovkoy, và vinh dự được tham gia chiến dịch bảo vệ Matxcova.

Vì những chiến công vào ngày 26 tháng 11 năm 1941, Trung đoàn kỵ binh cờ Đỏ Saratov số 11 đã được vinh dự manh tên Trung đoàn kị binh cờ Đỏ Saratov cận vệ số 1. Trong suốt cuộc đột kích Vyazemskogo nổi tiếng, Trung đoàn đã được điều tới thành phố Dorogobuzh vùng Smolenskaya Oblast để hỗ trợ những người du kích.

Mùa đông năm 1942, Thiếu ta P.I. Zubov được chỉ định giữ quyền chỉ huy Sư đoàn kỵ binh cận vệ số 2 thay cho Thiếu tướng N.S. Oslikovskogo bị bệnh và ông đã chỉ huy Sư đoàn tới tận tháng 5 năm 1942. Trong thời gian này, ông đã chỉ huy tốt sư đoàn trong những điều kiện rất thiếu thốn về nhân sự cũng như vũ khí. Sư đoàn do ông chỉ huy đã chiến đấu 5 tháng sau lưng quân phát xít lập nhiều chiến công. Trong thời gian này ông được phong vượt cấp lên thượng tá, sư đoàn trưởng.

Từ ngày 2 tháng 8 năm 1943 tới 5 tháng 4 năm 1944, Thượng tá P.I. Zubov là Sư đoàn trưởng Sư đoàn kỵ binh cận vệ số 13 thuộc Quân đoàn kỵ binh cận vệ số 6 của Phương diện quân Tây, rồi Ukraine số 1. Trong đội hình Quân đoàn kỵ binh cận vệ số 6, Sư đoàn tham gia các chiến dịch tấn công Smolensk, Rovno-Lutskoy. Sư đoàn cũng tham gia các trận đánh phối hợp kỵ binh diễn ra sâu phía sau  kẻ thủ, trong những điều kiện đầm lầy không thể vượt qua và những địa hình nhiều rừng làm chủ các thành phố Rovno, Lutsk và Zdolbunov.

Ngày 5 tháng 2 năm 1944, vì những thành tích nổi bật trong quá trình giải phóng Rovno, Sư đòan do ông chỉ huy đã được vinh dự mang phiên hiệu Rovenskaya. Tháng 3 năm 1944, trong thời gian diễn ra chiến dịch tấn công Proskurovo-Chernovitskoy, Sư đoàn tiếp tục tham gia giải phóng thành phố Dubna.

Ngày 17 tháng 1 năm 1944, theo quyết định số 64 của Hội đồng dân ủy nhân dân Liên Xô, Đại tá P.I. Zubov được phong quân hàm Thiếu tướng.

Từ ngày 18 tháng 7 năm 1944 tới khi kết thúc cuộc chiến tranh vệ quốc, Thiếu tướng Zubov là sư đoàn trưởng Sư đoàn súng trường Zhitomir 322 trực thuộc Tập đoàn quân số 60, Phương diện quân Ukraine số 1. Trong thời gian chỉ huy chiến dịch tấn công Lvov-Dandomir từ ngày 18 tới 27 tháng 7 năm 1944, Sư đoàn dưới sự chỉ huy của Thiếu tướng P.I. Zubov đã chiến đấu giành nhiều thắng lợi bao vây và tiêu diệt cụm quân địch ở Brodskoy và L’vov. Sau đó, sư đoàn tham gia và các chiến dịch tấn công Vistula-Oder, hạ lưu Silesian, Moravian-Ostravskoy và Prague.

Ngày 29 tháng 6 năm 1945, theo quyết định của Xôviết tối cao Liên Xô, Thiếu tướng cận vệ P.I. Zubov được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng.

Sau khi chiến tranh kết thúc, ông tiếp tục phục vụ trong Hồng quân. Năm 1949, ông hoàn thành khóa học tại Học viện Bộ tổng tham mưu. Sau đó, ông là Phó tư lệnh của Quân khu Belorussian phụ trách huấn luyện và đào tạo.

Theo quyết định của Hội đồng bộ trưởng Liên Xô ký ngày 8 tháng 8 năm 1955, số 1449, Thiếu tướng P.I. Zubov được phong quân hàm Trung tướng.

Ông mất vào năm 1958 và được chôn cất tại thủ đô của Latvia, thành phố Riga. Ông đã được tặng thưởng 3 Huân chương Lenine, 4 Huân chương Kutuzov hạng Nhì, Huân chương Bogdan Khmelniskogo hạng Nhì, Huân chương cờ Đỏ cùng nhiều Huy chương khác.



Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #26 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2008, 01:05:44 am »

Thiếu tướng cận vệ N. I. Rvaposov (22/05/1909-01/1992)

Thiếu tướng Ryaposov Nikolai Ivanovich sinh ngày 22 tháng 5 (tức ngày 9 tháng 5 lịch Nga cũ) năm 1909 tại thành phố Nadezhdinske (từ năm 1939, là thành phố Serov), thuộc vùng Sverdlovsk bây giờ, trong một gia đình thợ lò của một nhà máy luyện kim người Nga. Do hoàn cảnh gia đình, ngay từ năm 14 tuổi ông đã phải lao động kiếm sống. Sau khi tốt nghiệp trường đào tạo nghề FZU của nhà máy luyện kim Omutninsk, ông làm thợ tiện. Sau đó, ông hoàn thành các khóa học của một viện công nghiệp. Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản từ năm 1930.

Ông gia nhập Hồng quân Liên Xô vào năm 1931, tốt nghiệp trường pháo binh vào năm 1932 rồi Học viện Chính trị Quân sự mang tên V. I. Lenine vào năm 1941.

Tham gia cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại ngay từ những ngày đầu tiên (tháng 6 năm 1941), ông lần lượt chiến đấu tại các Phương diện quân Tây, Kalinin, Trung tâm, Belorussian số 3. Đặc biệt, ông có những đóng góp quan trọng trong các chiến dịch bảo vệ Matxcova, chiến dịch phản công của Hồng quân tại vòng cung Kursk, chiến dịch giải phóng Belorussia và đột kích vào Koenigsherg. Ông từng giữ các chức vụ : Ủy viên hội đồng trường pháo binh, Ủy viên hội đồng quân nhân Sư đoàn súng trường Ural số 375, Chính ủy Sư đoàn của Tập đoàn quân số 31 (từ 10 tháng 2 năm 1943 tới ngày 3 tháng 2 năm 1945), Ủy viên Hội đồng quân sự của Tập đoàn quân cận vệ số 2 và số 16 (từ năm 1941 tới 29 tháng 1 năm 1942 và từ 17 tháng 8 tới 26 tháng 8 năm 1945). Suốt cuộc chiến tranh vệ quốc, ông đã 2 lần bị thương.

Ngày 19 tháng 9 năm 1944, ông được phong quân hàm từ Đại tá lên Thiếu tướng theo quyết định Của Dân ủy Nhân dân Liên Xô.

Là thành viên của hội đồng quân sự của Tập đoàn quân cận vệ số 2 (Phương diện quân Belorussian), Thiếu tướng cận vệ N. I. Ryaposov tham gia soạn thảo các kế hoạch tấn công của Tập đoàn quân trong 2 năm 1944 và 1945, trong quá trình diễn ra các chiến dịch quân sự ở Belorussia, tiến về Lithuania, Đông Prussia. Trong chiến dịch tiến công Belorussian dưới mật danh Bagration, suốt quá trình tham gia giải phóng các thành phố của Belorussian như Orshi, Borisov, Minsk, Lidy, Grodno ông luôn có mặt tại các đơn vị đi đầu, trực tiếp chỉ huy.

Theo quyết định của Xôviết tối cao Liên Xô kí ngày 19 tháng 4 năm 1945, ông được trao tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng.

Sau chiến thắng của Hồng quân trước sự xâm lược của quân phát xít, ông tiếp tục tham gia vào cuộc chiến với phát xít Nhật ở phía Đông, đập tan các đạo quân Nhật ở Nam Sakhalin và đảo Kurile, trên cương vị Ủy viên Hội đồng quân sự của Tập đoàn quân số 16 trực thuộc Phương diện quân Viễn Đông số 2.

Sau khi chiến tranh kết thúc, ông tiếp tục phục vụ trong Hồng quân. Năm 1949, ông tốt nghiệp Học viện Bộ tổng tham mưu rồi ở lại Học viện công tác giữ chức vụ Phó chủ nhiệm khoa. Từ năm 1969, ông chuyển sang lực lượng dự bị. Ông sống tại thủ đô Matxcơva và mất vào tháng 1 năm 1992. Trong suốt cuộc đời binh nghiệp của mình, ông đã được tặng thưởng 2 Huân chương Lenine, 4 Huân chương Chiến tranh vệ quốc hạng Nhất, Huân chương Ngôi sao đỏ…và nhiều Huy chương. Ông được nhà nước Rumanian, khi đó, tặng thưởng Huân chương 23 tháng 8.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #27 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2008, 07:48:59 pm »


Chuẩn Đô đốc S. N. Kotov (01/10/1912-16/10/1999)

Chuẩn Đô đốc Kotov Sergey Nikolayevich sinh ngày 18 tháng 9 lịch Nga (tức ngày 1 tháng 10) năm 1912 tại thành phố Kozlov bây giờ là thành phố Michurinsk vùng Tambovo của Nga. Sau khi tốt nghiệp lớp 9, ông theo học trường công nhân và làm người gác phanh xe lửa tại gha xe lửa Kochetovaka (giờ thuộc biên giới Michurinska). Nawm 1933, ông tốt nghiệp Học viện tiếp thị - thương mại Lenigrad.

Năm 1933, ông nhập ngũ và được phân về Quân chủng Hải quân. Năm 1937, ông tốt nghiệp Trường Hải quân mang tên Frunze và được cử giữ chức tổ trưởng tổ lái của tầu ngầm rồi tiểu đoàn trưởng. Tháng 6 năm 1941, ông hoàn thành khóa học đặc biệt cho các sĩ quan tham mưu hải quân và được điều thẳng đến Hạm đội biển Đen.

Trong chiến tranh thế giới lần thứ 2: từ 7.1941 đến 8.1942, chỉ huy bay; 8-9.1942, thuyền trưởng; 9.1942-5.1945, tiểu đoàn trưởng của Lữ đoàn số 1 thuộc Hạm đội biển Đen. Ông tham gia vào các chiến dịch phòng thủ Odessa và Sevastopol, tham gia giải phóng Novorossisk, Crimea và Rumania. Bản thân ông đã hoàn thành 160 cuộc hành quân chiến đâu. Đơn vị do ông chỉ huy đã tấn công nhiều căn cứ, đường vận chuyển của kẻ thù, 198 tàu vận tải, tuần tiễu, quân chuyển khoảng 2000 bộ đội đổ bộ đường thủy thành công, cứu nạn trên biển 350 người, tiêu diệt 2 tàu vận tải, 4 tàu đổ bộ tốc độ ca, tàu tuần tiễu và bắn hạ 3 máy bay của quân phát xít.


Vì sự dũng cảm cũng như chủ nghĩa anh hùng trong chến đấu, theo quyết định của Xôviết tối cao Liên Xô kí ngày 16 tháng 5 năm 1944, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng.

Sau chiến tranh ông tiếp tục giữ chứ vụ tiểu đoàn trưởng. Từ 1946 đến 1945, ông là tham mưu trưởng của Lữ đoàn Sevastopol số 1. Từ 8.1950 đến 2.1952, ông tham gia đào tạo và huấn luyện chiến thuật cho Hải quân Trung quốc. Năm 1959, ông được phong hàm Chuẩn Đô đốc. Từ 1952 đến 1970, ông là Chỉ huy đơn vị số 232 căn cứ Hải quân Kerch-Theodosius. Tháng 9.1970 Chuẩn Đô đốc Kotov nghỉ hưu.

Ông sống tại thành phố Theodosius thuộc Crimea và làm việc trong một nhà máy sửa chữa. Ông mất ngày 16.10.1999 và được chôn cất tại nghĩa trang Theodosius. ÔNg được tặng thưởng Huân chương Lenine, Huân chương Cách mạng tháng 10, 2 Huân chương Nakhimova hạng Nhì, Huân chương Vệ quốc Hạng nhất, Huân chương sao Đỏ, nhiều Huân huy chương của các nước trên thế giới. Tại Theodosius, tại ngôi nhà mà ông từng sống tại Michurinske, tại trường cấp 2 số 12 nơi mà ông đã học người ta đã cho dựng những tấm biển kỉ niệm.



Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #28 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2008, 07:53:24 pm »


Thiếu tướng A. M. Nikolayev (11/10/1910-07/10/1991)

Thiếu tướng Nikolayev Aleksey Mikhaylovich sinh ngày 28 tháng 9 lịch Nga (tức ngày 11 tháng 10) năm 1910 tại làng Gusev nay là vùng Volokilamsk của Matxcova Nga. Năm 1927, ông học hết lớp 7 và sau đó làm việc tại nhà máy bơm Rublevskoy của Matxcova.

Ông nhập ngũ năm 1929. Năm 1930, tốt nghiệp Trường quân sự Matxcova và làm công tác khí tượng học tại phi đội độc lập số 24. Năm 1932, ông tốt nghiệp trường  quân sự Leningrad; năm 1933, tốt nghiệp khóa đào tạo phi công của Trường không quân Engelsskuyu. Sau đó ông công tác tại các đơn vị không quân ở biên giới, là Phó chỉ huy Phi đội.

Tháng 10 năm 1938, ông phục vụ tại Hạm đội Thái Bình Dương rên cương vị Phó chi huy và Ủy viên quân sự của phi đội, Chỉ huy phi đội không quân của trung đoàn không quân khu trục. Từ năm 1943, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn không quân tiêm kích.

Tham gia vào cuộc chiến tiêu diệt phát xít Nhật năm 1945. Trung đoàn không quân tiêm kích dưới sự chỉ huy của ông đã tham gia giải phóng Bắc Triều Tiên. Các phi công của Trung đoàn đã thực hiện hơn 120 nhiệm vụ chiến đấu, tiêu diệt 7 tàu vận tải và hộ tống của địch, 3 kho quân trang đạn dược và 11 xe lửa. Bản thân ông đã diệt 2 tàu vận tải của quân thù. Ngày 14 tháng 9 năm 1945, theo quyết định của Xôviết tối cao Liên Xô, Thiếu tá A. M. Nikolayev được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng.

Sau chiến tranh, ông là trung đoàn trưởng Trung đoàn không quân tiêm kích số 60 của Hạm đội Thái Bình Dương. Từ tháng 1 năm 1946, ông là sĩ quan tham mưu của Bộ tham mưu Không quân của Quân chủng Hải quân. Từ 1947 đến 1948, ông là thanh tra trưởng của Không quân tiêm kích. Năm 1950, ông tốt nghiệp khóa học sĩ quan cao cấp của Học viện Không quân Monino. Từ 1950 đến 1951, ông phụ trách bộ phận Huấn luyện của Bộ tham mưu Binh chủng Không quân của Quân chủng Hải quân. Từ 1951 đến 1953, ông là Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân tiêm kích (ở vùng Baltic). Năm 1955, ông tốt nghiệp Học viện Bộ tổng tham mưu. Từ tháng 11 năm 1955, ông phụ trách huấn luyện chiến đấu của Không quân chiến đấu thuộc bộ tham mưu của Lực lượng không quân của hải quân. Năm 1956, với quân hàm Thiếu tướng Không quân, ông chuyển nghạch dự bị.

Ông sống tại Matxcova và mất tại đây ngày 7 tháng 10 năm 1991. Phần mộ ông đặt tại nghĩa trang Mitino của Matxcova. Ông đã được thặng thưởng 2 Huân chương Lenine, 2 Huân chương Vệ quốc hạng Nhất, 2 Huân chương Sao đỏ và nhiều Huy chương khác.



Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #29 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2008, 07:56:24 pm »


Thiếu tướng N. A. Musatov (19/11/1911-17/10/1965)

Thiếu tướng Musatov Nikolai Alekseyevich sinh ngày 6 tháng 11 (lịch Nga, tức ngày 19 tháng 11) năm 1911 tại Kemenka bây giờ thuộc vùng Uzlovskogo của Tula trong một gia đình nông dân người Nga. Năm 1929, ông làm việc trong nhà máy gạch Kupavka thuộc thành phố Voskresensk vùng Matxcova. Sau khi tốt nghiệp trường kĩ thuật công nghiệp xây dựng ông làm thợ điện. Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản từ năm 1932.

Nhập ngũ năm 1933, ông được phân về Quân chủng Hải quân. Năm 1935, Ông tốt nghiệp phi công của Trường không quân Eyskuyu. Ông tham gia các trận chiến với lực lượng bạch vệ Ba Lan trong cuộc chiến 1939 và 1940. Chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ, ông tham gia chiến đấu ngay từ những ngày đầu quân phát xít tấn công Liên Xô, tháng 6 năm 1941.

Ông chiến đấu trong đội hình của Trung đoàn không quân trinh sát đường biển 119 thuộc Hạm đội biển Đen. Từ tháng 8 đến tháng 9 năm 1942, trung đoàn của ông ở trong đội hình của nhóm không quân tác chiến trên biển thuộc vùng phòng thủ Novorossisk. Trung đoàn khi đó thường xuyên được gọi là Trung đoàn không quân oanh kích tầm xa vì các phi công của Trung đoàn không chỉ thực hiện các nhiệm vụ trinh sát trên biển mà còn thực hiện các nhiệm vụ tấn công: ví dụ như không kích và tấn công các mục tiêu là các tầu vận tải đường biển của phát xít. Cuối năm 1942 và đầu năm 1943, Thiếu ta N. A. Musatov được đề bạt giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn không quân trinh sát biển số 119. Trong hồ sơ của các phi công biển, các chiến sĩ Hải quân biển Đen của Trung đoàn do ông chỉ huy đã thực hiện 4067 trận không kích, tiểu diệt 10 loại khác nhau của các phương tiện vận tải biển, tàu ngầm, 33 máy bay, 10 tầu tuần dương hạm, 44 kho tàng, pháo và pháo phòng không của phát xít.

Vì những thành tích chiến đấu với hiệu suất cao, Trung đoàn 119 Không quân do thám biên của Hạm đội biển Đen của ông đã được Dân ủy Nhân dân Hải quân quyết định ngày 22 tháng 1 năm 1944 trở thành Trung đoàn Không quân trinh sát biển cận vệ cờ Đỏ số 13 của Hạm đội biển Đen.

Là trung đoàn trưởng của Trung đoàn (trực thuộc Sư đoàn Không quân phóng lôi cận vệ số 2 trực thuộc Hạm đội biển Đen), cho đến tháng 5 năm 1945, Trung tá Musatov đã hoàn thành 247 nhiệm vụ chiến đấu. Theo quyết định của Xôviết tối cao Liên Xô ngày 15 tháng 5 năm 1946, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng.

Sau chiến tranh, ông tiếp tục phục vụ trong Quân chủng Không quân của Hải quân. Năm 1951, ông tốt nghiệp Học viện Không quân. Năm 1961, Thiếu tướng Không quân N. A. Musatov chuyển sang ngạch dự bị vì lí do sức khỏe.

Ông sống tại thành phố Leningrad (từ năm 1991 là Saint Petersburg) và mất ngày 17 tháng 10 năm 1965. Ông được chôn cất tại nghĩa trang Serafimovskom của thành phố.

Ông đã được tặng thưởng Huân chương Lenine, Huân chương Ushakov hạng Nhì, Huân chương Nakhimova hạng Nhì, Huân chương vệ quốc hạng Nhất, 2 Huân chương sao Đỏ và nhiều huy chương.



Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM