Chào các bác;
Đọc tâm sự của Bác Thai60 và các Bác về cattus pháo tôi cũng xin tham gia 1 chút cho đỡ nhớ E pháo ngày xưa ,ngày tôi ở c2-d10-457,là cái trận địa lựu pháo 105mm,nằm ngay bên trái đường ở km15,bên phải có cây cầu treo đi qua sông Lô sang NÀ SÁT, PHA HÁN ,thời điểm đó là vào gần giữa năm 85,chiến sự đang ở thời kỳ ác liệt,các loại hỏa lực đươc đưa vào mặt trận,tôi còn nhớ ngày đó bên kia sông ,có 1 trận địa DKB và DKU,cứ tối đến là các bác vận tải lại tập kết và vác những quả đạn dài ngoẵng qua cầu sang sông,nhưng trước khi đi kiểu gì các Bác ấy cũng phải ghé vào bắn nhờ các <QUÊ> điếu thuốc lào,và vứt lại cho chúng tôi những chiếc hòm gỗ đựng đạn dài khoảng 1m70,hôm sau bọn tôi tha hồ mà chẻ ra làm củi,không biết Bác Thai60,hay Bác nào khác đã được vác đạn qua trận địa tôi chưa nhỉ...?
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Chào các bác và anh em.Chào bác Trần Quốc Hùng.
Cái trận địa DKB và DKU ấy là của c14/e 14/F 313 Bác Hùng ạ.Theo trí nhớ của thai60,trên mặt trận Vị xuyên giai đoạn từ trước cho đến tháng 4/1987 (về sau này nữa thì em không biết vì đã ra quân ),chỉ có E 14 là được trang bị DKB,và từ đầu năm 1985 có thêm DKU.
Từ trước ngày 28/4/1984,ngày mà quân Trung quốc xâm lược dùng BB tấn công lấn chiếm vào sâu trong đất ta,c14 nằm trên sườn núi gần đỉnh 2000 thuộc dãy Tây côn lĩnh (ở chỗ đường tăng nằm vào điểm cao nhất,và quặt vuông góc về phía trái,chẳng biết chạy tiếp đi đâu). Chỗ góc vuông này có một khoảng đường rộng rãi,oto tải quay đầu thoải mái.Trận địa DKB nằm cách đỉnh này về phía Đông bắc ,hơi thấp xuống phía dưới khoảng 3 km.
Đơn vị lúc đó được trang bị 3 khẩu DKB và 3 khẩu H12 (loại 12 nòng , có bánh để kéo bằng tay hoặc oto).Để có đạn cho 2 loại vũ khí này,ta dùng xe tải chở theo đường tăng lên đỉnh 2000,sau đó lính mình vác vai chuyển về trận địa ,địa hình đường đi đoạn này tương đối bằng phẳng nên cũng không vất vả lắm.Sau tháng 4/84,chỉ có thêm một chuyến vận tải đạn nữa lên trận địa,và số lượng đạn được chuyển cũng rất ít.
Trong cuộc chiến đấu ngày 28/4/1984,để chi viện cho E BB 122/F313,đơn vị đã khai hỏa cả DKB và H12,bắn tập trung vào các trận địa pháo của địch nằm trên các cao điểm 1688 A,1688 B ( các cao điểm này nằm cùng trên dãy núi cao nối với cao điểm 1509,cách 1509 Về phía Tây ,Tây Bắc từ 2-3 km theo đường chim bay). Tuy nhiên,do lượng đạn có hạn ,khoảng cách xa (khoảng cách đến các trận địa pháo của địch tới 6-7 km),tầm đạn bắn bị với , hơn nữa không thể bắn liên tục vì còn phải giữ bí mật trận địa,nên hiệu quả cũng chỉ rất nhỏ.
Trong trận chiến đấu ngày 12/7/1984,đơn vị cũng bắn chi viện cho chiến dịch,mục tiêu cũng là các điểm cao 1688 A,1688 B,1509. Sau trận này,do trận địa đã bị lộ,địch tăng cường tập trung bắn phá khống chế,việc tiếp tế đạn dược khó khăn,hơn nữa hiệu quả chiến đấu vẫn không thể cải thiện,cấp trên đã quyết định chuyển trận địa này về khu vực Nà sát,bên phía đông sông Lô,khoảng ngang với km 16 của QL 2.Số lượng vũ khí lúc này vẫn đủ 3 khẩu DKB,3 khẩu H12.Ngoài ra ,đơn vị c14 lúc này còn được trang bị thêm DKZ,trận địa nằm trên Pha hán.Khoảng đầu năm 1985 (trước Tết âm lịch ),đơn vị lại được trang bị thêm 3 dàn phóng DKU.
Về lực lượng quân số,do đã được tăng cường thêm vũ khí,đơn vị đã được bổ sung thêm mấy chục chiến sỹ chuyển từ C15 cối 120 sang( C15 trước đó cũng nằm ở sườn núi phía Bắc dãy 2000,nhưng ở vị trí thấp hơn trận địa DKB).Tuyến tiếp đạn cho C này là chở bằng oto,theo đường QL2 đến ngã Ba Thanh thủy,rẽ trái chạy tiếp khoảng 16-17 km qua khu vực các xã Thanh hương Thanh đức,đi về hướng Lao chải,tập kết ở khu vực Cầu Khỉ.Lính mính sẽ vác đạn từ đó ngược lên trận địa cách đấy vài km,nhưng đường rất dốc,khó đi.
Cũng với những lý do như của C14 ,đơn vị này đã chuyển trận địa về phía dưới,nhưng ở Nà toong,nằm cạnh tuyến đường hào "Mùa xuân " nối từ điểm gần các ụ pháo 85 ly,76 ly 2 ở khu vực gần đỉnh 673 rẽ xuống Cọc 6,gần ngã Ba Thanh thủy.Nếu các bác đi theo tuyến hào này để vào các khu vực phía Bắc suối Thanh thủy (như hang Nàng Lò,Hang Dơi...,khi tụt từ trên đỉnh xuông theo con đường hào rất dốc,khoảng 1km,đến chỗ nào tương đối bằng phẳng,bên cạnh phía tay phải có một số hầm ,nhà âm,khe nước,thì đấy chính là khu vực trận địa của c15,mà lúc này đã được trang bị cối 82 .
Như vậy,sau khi được bổ sung quân số,vũ khí khí tài,C14 đã bám trụ,tham gia chiến đấu suốt từ khoảng tháng 11 năm 1984 đến sau Tết âm lịch năm 1987 (khoảng tháng 2-3/1987 ) thì được bàn giao trận địa (cho đơn vị nào thì 60 em cũng chả nhớ nữa ) rút xuống để củng cố.
Để tiếp tế đạn dược cho trận địa,xe oto sẽ chở đạn lên khu vực đầu cầu treo sang Nà sát,Pha hán ở khoảng km 15,gần chỗ rẽ vào làng Pinh(không phải cây cầu treo ở khoảng km 20,cách ngã Ba Thanh thủy khoảng 200m,cũng dẫn sang Pha hán,Nà sát).Phía bên trái đoạn đường này QL là trận địa pháo 105 của các bác 47,Quốc Hùng...Từ chỗ cầu treo này đi về phía Bắc ,về hướng đường biên khoảng gần 2 km nữa sẽ tới chỗ rẽ trái vào Nà cáy (khoảng km 17 QL2 ).
Từ chỗ tập kết ở km 15 này,các đơn vị vận tải (không chỉ có c25 VT bọn em ,mà còn có các đơn vị khác như C15 cối 82,C18 TT...) sẽ chuyển đạn qua cầu lên trận địa C14 trên Nà sát .Ở trên trận địa này có thể quan sát thấy Nà cáy nằm ở bên trái ,phía trước ,cách khoảng 1km ,bên Tây sông Lô.
Sau khi xây dựng trận địa,khoảng 11 giờ sáng ngày 2/11/1984 (nếu 60 em không nhớ nhầm ),đơn vị đã bắn những quả đạn DKB đầu tiên từ trận địa Nà sát. Ngày hôm đó có giao tranh trên khu vực 233,300,pháo ta và địch đang nện nhau ầm ĩ ,lúc đó bọn em đang ở Nà cáy,thì nghe thấy những tiếng nổ đầu nòng rất lạ từ bên kia sông Lô,phía trên cao,vọng sang,sau đó là tiếng rú rít của những quả đạn lạ hoắc đang lao lên phía đường biên.Lính tráng thi nhau đoán già đoán non xem đấy là loại gì,cuối cùng cũng đều nhận định đấy là DKB.Tối hôm ấy mới biết là sáng ấy quân ta bắn thử để hiệu chỉnh.Mấy ngày sau nghe a/e đồn là lính TQ sợ loại đạn này lắm,phần vì đây là loại vũ khí dạng tên lửa đất đối đất gần như bắn thẳng,sức hủy diệt rất kinh khủng (diện tích sát thương tới 900m2,nhiệt độ sát thương tới 4000 độ C,mức khoan sâu khi lắp ngòi khoan tới 3m),một phần vì chúng không có loại đó. Nghe đồn vậy,lính mình rất khoái.
Trong thời gian 2 tháng cuối năm 1984,thỉnh thoảng ta vẫn bắn DKB,nhưng mỗi trận chỉ khoảng chục quả.Và rất hiệu quả.Có trận ta chỉ bắn khoảng chục quả đạn DKB trong vài phút đồng hồ,nhưng đã xóa sổ gần hết một tiểu đoàn địch đang hành quân bằng cơ giới trên một đoạn đường mở trên núi cao bên địch,giống như kiểu đường tăng của bên mình.
Sang đến năm 1985,bắt đầu từ trước Tết âm lịch,khi quân ta tiến hành nhiều trận tấn công lấn dũi,lượng DKB được sử dụng đã tăng dần,có trận đã bắn tới vài chục quả.Và cũng thời gian này,C14 đã được trang bị thêm 3 dàn phóng DKU,loại vũ khí được cải tiến từ DKB (lắp thêm một khoang chứa bom bi ). Từ khi có DKU,gần như loại DKB đã không còn được dùng nữa (đúng như bác 47 đã nói trong một bài ở HG phần nào đó ).
Mật độ các trận đánh có bắn DKB,DKU và số lượng quả đạn được bắn đi càng về sau càng nhiều,có những trân bên ta đã bắn tới gần 100 quả trong 1-2 ngày liên tục.
Có thể nói,việc được trang bị và sử dụng vũ khí DKB,DKU chính là niềm tự hào của E14 nói riêng và F313 nói chung trong giai đoạn chiến tranh BGPB đó.Bởi điều đó đã nói lên tầm quan trọng mang tính chiến lược của tuyến biên giới Hà giang,đặc biệt là khu vực Vị xuyên và khu vực lân cận thuộc phía Đông sông Lô.
Thai60 ,cùng với bác maianh,hình như cả bác tiengiao...đã từng nhiều lần hân hạnh được ... cử sang Nà sát ...chơi,thăm đồng hương.Tối đến,mò ra km 15,khu vực mà bác Trần Quốc Hùng đã kể tới,nhận "hàng họ",khiêng vác những cục " quà " nặng chết cha chết mẹ vượt qua cầu treo,leo lên sườn dốc bên Đông sông Lô,lên tận trận địa C14 bên Nà sát.
Chẳng biết trong những dịp ..may được đi...chơi ấy,các bác kia có hay tranh thủ ghé vào chỗ các bác pháo binh để bắn nhờ hoặc xin các "Quê" điếu thuốc lào ,chén trà nóng hay không,nhưng thai60 em thì chưa bao giờ,vì em thừa biết trận địa của các bác nằm ở nơi rất...thoáng mát,lại thường xuyên được "bảo vệ " cả vòng trong vòng ngoài bằng những loạt pháo bất đắc kỳ tử từ phía đường biên dội về,chẳng kể ngày đêm,không hề có quy luật.Hơn nữa,thằng em 60 của các bác,cùng với những anh bạn c25 của nó,đã rất sợ,rất ngán,rất dị ứng...tóm lại là rất ..."không thích " cái mùi khói đạn pháo tươi rói ,hôi hổi chứa đầy hương vị tàn sát,chết chóc...mà ở đâu chứ ở quanh mấy cái hầm pháo của các bác thì có...đầy.Bởi vì các bác bị chúng nện từ trước thì cũng lắm,nhưng nhiều khi ,đúng lúc chúng em đang quanh quẩn...chơi ở gần đó,đang tíu tít hân hoan chia...quà,tự nhiên ,chả báo hiệu gì cả,các bác lại hò nhau bắn ầm ầm sang phía địch bên kia,trêu chọc chúng nó,để rồi chúng nó lại phải nện lại,báo hại cho chúng em đang loạng quạng ngoài mặt đường ,chẳng có hầm hố hang hốc gì để ẩn nấp ,đành chui rúc nháo nhào...khổ thân,khổ tâm và ...khó xử ...lắm lắm.Chúng em ngại cái sự "vô tư ,vô tình,vô tâm ,vô..lịch sự "...ấy của các bác vô cùng...
Tinh thần tác nghiệp chủ đạo của lính VT chúng em,dù ở bất cứ xó xỉnh nào của đất Vị xuyên ngày ấy ,là : Nhận thật nhanh,vận động thật linh hoạt,giao thật gọn,và ở chiều ngược lại cũng cố gắng như thế.Bởi chúng em quá thấu hiểu câu các cụ dạy : một ngày đàng là một sàng khôn.Suốt năm suốt tháng lang thang ngoài đường ,bị "dạy khôn " nhiều quá ,phát hiện ra "bể khôn của đời là vô bờ ","bể ngu của mình là không bến ",đâm ra bọn em ngại phải học thêm lắm lắm.Ngại lắm các bác ạ.Hi...hi...hi...Ngại thế cho nó...lành.
Các bác và anh em kính mến!
Nhớ mảnh đất Hà giang,thèm tình cảm đồng đội,em loằng ngoằng vài câu chuyện linh tinh như thế,nếu có gì chưa chính xác,xin các bác chỉnh lý bổ xung hoặc kể thêm thật nhiều chuyện nữa cho rôm rả.
Mong các bác và anh em ta khởi động dần để chuẩn bị tiếp tục lên đường ,rộn ràng nhịp bước trên những chặng hành quân của HG phần 15 đang sắp được mở ra ở phía chân trời trước mặt...
Mong được gặp lại nhiều bác,nhiều anh em trẻ đã lâu chưa trở lại với HG của chúng ta.../