anhquaynop
Thành viên

Bài viết: 244
|
 |
« Trả lời #40 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2014, 08:59:16 am » |
|
Vài ngày sau chiến thắng Gò Đậu, Đoàn J16 đã tổ chức trọng thể lễ gia nhập Quân giải phóng miền Nam Việt Nam cho kíp xe nghĩa binh. Thiếu úy Phùng Văn Mười đã đọc lời kêu gọi binh sĩ ngụy phản chiến trên Đài phát thanh Giải phóng và thay mặt lực lượng khởi nghĩa Gò Đậu tiếp nhận Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất do Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng. Đồng chí Phùng Văn Mười cũng được tặng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất. Anh em trong lực lượng khởi nghĩa gồm: Đặng Công Nghiệp (Sáu Vân), Phan Văn Nho (Hai Thắng), Nguyễn Xuân Thảo (Nhứt), Lê Văn Tình (Mười Tình), Trần Văn Tâm đều được tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhì và hạng Ba.
Tháng 11 năm 1966, tôi được cấp trên thông báo, Phùng Văn Mười được điều động về J16; tôi giao cho Lâm Kim Chung, Sáu Tống và một số chiến sĩ đến Ban Binh vận R đón anh. Về đến căn cứ, tôi cùng các anh trong ban chỉ huy J16 và đông đảo cán bộ, chiến sĩ tiếp đón Phùng Văn Mười rất nồng nhiệt, đậm đà tình đồng chí. Nhằm tạo điều kiện để Phùng Văn Mười tiếp tục cống hiến cho cách mạng, tôi đề xuất ý kiến với Đảng ủy, chỉ huy Đoàn giao cho anh nhiệm vụ Trợ lí tham mưu tác chiến. Sau khi nhận công tác mới, tôi nói với anh em bên Tác chiến tạo mọi điều kiện để Phùng Văn Mười phát huy được hết khả năng của mình. Quả đúng như tôi nhận xét ban đầu mới về, thời gian ở J16 anh đã đem những hiểu biết của mình về binh chủng thiết giáp quân đội Sài Gòn trao đổi hết cho anh Phạm Hà Hải và anh Lâm Kim Chung ghi lại để làm tài liệu. Anh cũng thường trao đổi với Vũ Đức Hùng để bổ sung kiến thức vào giáo án huấn luyện sau này.
Chiếc xe tăng M41-AL số 247 thuộc loại hiện đại nhất của Mĩ lúc bấy giờ, trở thành “báu vật”, không chỉ của J16 mà là của cả lực lượng Quân giải phóng miền Nam. Chiếc xe đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của các đồng chí trong Bộ Chỉ huy Miền: Tư Chi (Trần Văn Trà), Sáu Nam (Lê Đức Anh), Năm Ngà (Nguyễn Minh Châu). Đồng chí Sáu Nam - Tham mưu trưởng Miền quyết định giữ lại chiếc xe tăng mấy năm để đào tạo kíp xe và huấn luyện bộ đội.
Lúc mới đưa xe về căn cứ Long Nguyên, Bộ Chỉ huy Miền giao cho một trung đoàn thuộc Sư đoàn 9 làm nhiệm vụ bảo vệ. Thời gian sau, do yêu cầu chiến đấu, trung đoàn bàn giao lại xe cho Đoàn cơ giới J16.
Liên tiếp trong hai mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967, các đại đội thuộc J16 Cơ giới Miền sát cánh cùng các đơn vị bạn bẻ gãy hai cuộc càn “tìm diệt” và Gianxơnxiti (Operation Juction City), lớn nhất của Mĩ vào Chiến khu Dương Minh Châu. Với tinh thần: “Tìm ngụy mà đánh, tìm Mĩ mà diệt”, J16 đã đánh nhiều trận đáng nhớ. Tiêu biểu nhất là loạt tập kích ban ngày vào cụm cơ giới Mĩ tại ngã ba Bà Chiêm ngày 7 tháng 1 năm 1967. Chúng tôi sử dụng một tổ 5 đồng chí thuộc Đại đội cơ giới 23, do đồng chí Nguyễn Xuân Tình trưởng xe chỉ huy đánh bằng chiến thuật đặc công, tiêu diệt gọn một trung đội Mĩ, phá hỏng 6 xe M113. Trận đánh diễn ra nhanh gọn làm cho địch không kịp trở tay. Phía ta, cả 5 đồng chí đều trở về an toàn nhờ cơ động bí mật, khéo léo và biết lợi dụng địa hình rừng núi. Đúng như câu thơ của nhà thơ Tố Hữu: “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”.
Ngày 22 tháng 1 năm 1967, Mĩ đổ 25.000 quân lính dù, cả quân ngụy tổng cộng khoảng 45.000 tên với đông đảo lực lượng không quân, pháo binh, xe tăng. Mục tiêu của Mĩ - ngụy đặt ra cho cuộc hành quân Gianxơnxiti là tiêu diệt các sư đoàn chủ lực, các binh chủng, trực tiếp đánh vào an toàn khu nơi các cơ quan đầu não của ta gồm Trung ương Cục miền Nam, Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam… đóng ở miền Đông Nam Bộ. Để đối phó với âm mưu thâm hiểu của địch, ngoài các đơn vị bộ đội tập trung, ta chủ trương dùng lực lượng tại chỗ của các cơ quan phối hợp với quân chủ lực Miền chống lại cuộc càn lớn nhất này của Mĩ.
Nhằm thực hiện thống nhất chỉ huy các lực lượng tạo nên thế trận chiến tranh nhân dân, lãnh đạo Miền quyết định các ngành dân chính đóng ở đông, tây đường 22 đến giáp sông Vàm Cỏ được tổ chức thành 6 huyện căn cứ. Các cơ quan, bệnh viện, công xưởng, kho tàng trực thuộc Bộ Chỉ huy Miền đóng từ đường số 4 đến giáp sông Sài Gòn chia thành 7 khu vực thành 7 huyện căn cứ. lúc địch chưa đánh tới chiến khu Dương Minh Châu, trên chỉ định tôi làm “Huyện đội trưởng” huyện Bà Chiêm với nhiệm vụ đánh chặn địch và đưa quân đến phối hợp bảo vệ các cơ quan trong vùng, tổ chức chống càn. Sau đó, tình hình chiến sự phát triển ngày một ác liệt, J16 được trên giao đóng vai huyện đội Cà Tum làm nhiệm vụ chống càn. Cấp trên giao cho tôi làm Chính trị viên huyện đội, anh Mười Thọ làm Chỉ huy trưởng. trong mỗi “huyện” phân chia thành nhiều “xã”. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị giữ chức “Huyện đội trưởng”, “Xã đội trưởng”. Gọi là huyện nhưng dân rất ít, du kích cũng không, vì thế, mỗi cán bộ, chiến sĩ J16 vốn là bộ đội chủ lực khẩn trương vào vai một du kích Cà Tum để chiến đấu với quân Mĩ - ngụy với số lượng đông gấp nhiều lần và trang bị cực kì tối tân. Trong vai trò huyện đội Cà Tum, J16 có nhiệm vụ đánh địch để bảo vệ phái tây nam căn cứ Dương Minh Châu. Cùng với các đơn vị đánh địch ở khu vực Cà Tum, Bổ Túc, Bà Háo, không cho địch vào căn cứ Dương Minh Châu.
Cán bộ ở cơ quan, đơn vị J16 mỗi người đều nhận thêm 1 khẩu AK và 4 băng đạn. Số anh chị nuôi quân và phục vụ hậu cần trong cơ quan cũng được giao mỗi người 1 khẩu AK, 1 cơ số đạn, 20 người chuyên lo bếp núc cho bộ đội được tập hợp lại để Phùng Văn Mười huấn luyện cấp tốc về tác chiến. Tôi nói với Phùng Văn Mười:
- Mấy đồng chí đó chưa ra trận lần nào, đồng chí phải huấn luyện để anh chị em quên với các trận đánh ác liệt sắp tới và phải biết cách chiến đấu, vì trong cuộc càn sắp tới ai cũng phải cầm súng.
Mỗi cơ quan, đơn vị được dự trữ 3 tháng lương thực.
Hơn nửa tháng sau, địch bắt đầu đánh vào Chiến khu Dương Minh Châu. Đầu tiên chúng chiếm trảng Trà Dơ, Đồng Rùm, Đồng Phan để bố trí pháo binh và tìm điểm trú quân về đêm. Riêng căn cứ dã ngoại Mĩ đóng ở Trà Dơ có mấy chục khẩu pháo, nhiều xe tăng, rất đông quân lính. J16 chúng tôi chỉ cách nơi bọn Mĩ đóng chừng hơn 5 cây số đường chim bay.
Quy luật tác chiến của Mĩ - ngụy thông thường có ba bước: Thứ nhất, chúng dùng máy bay ném bom, đánh phá vào khu vực nghi có quân ta (có khi dùng cả B.52); tiếp đó cho pháo binh bắn cấp tập dọn đường, sau cùng mới xua bộ binh tiến công. Lần này chúng sử dụng chiến thuật “thiết xa vận”, chắc chắn sẽ gây nhiều khó khăn cho ta. Tình hình đặt ra lúc này là, nếu ta diệt được xe tăng thì sẽ hạn chế hoặc ngăn chặn được các mũi tiến quân của địch. Trước đó đơn vị vừa tiếp nhận được một số vũ khí bộ binh, trong đó có cả B40, B41. Bộ đội được trang bị AK, các tổ chiến đấu có thêm 1 - 2 khẩu B40, B41 để bắn xe tăng địch. Trước khi diễn ra cuộc chống càn, tôi rút Nguyễn Đình Doãn, Khuê lên cơ quan tăng cường cho bộ phận tác chiến do đồng chí Lâm Kim Chung phụ trách. Trong một trận chống càn, Doãn và hai đồng chí nữa được trang bị súng AK, lựu đạn và 1 khẩu B40, đảm nhiệm một mũi chiến đấu ngăn chặn quân địch không cho chúng vào căn cứ Bà Chiêm.
|
|
|
|
|
Logged
|
Chiều hôm em đứng giã bàng Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
|
|
|
anhquaynop
Thành viên

Bài viết: 244
|
 |
« Trả lời #41 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2014, 09:01:32 am » |
|
Đại đội 23 do Nguyễn Tường Tiến chỉ huy có nhiệm vụ ngăn chặn, kìm chân địch trên một hướng quan trọng, bảo vệ cụm kho do Đoàn 83 (Hậu cần Miền) phụ trách. Nếu để chúng tiến đánh, Bà Hảo sẽ bị chúng phá hủy, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức chiến đấu của bộ đội ta trên chiến trường miền Đông. Chỉ chưa đầy 50 con người, trang bị thiếu thốn, trong lúc địch đông tới hàng tiểu đoàn, lại được máy bay và pháo binh yểm trợ, Đại đội 23 vẫn chiến đấu kiên cường, quyết bảo vệ căn cứ.
Trong tình thế hiểm nghèo, Đại đội trưởng Nguyễn Tường Tiến quyết định bỏ cứ thứ nhất, cơ động sang cứ thứ hai. Anh động viên bộ đội có bao nhiêu vũ khí đưa ra hết để đánh địch. Chỉ còn chừng ấy con người, Nguyễn Tường Tiến phải quyết đoán: “Lấy hỏa lực thay cho binh lực”. Theo lệnh của anh, bộ đội rải mìn chống địch từ xa, cho bộ đội lui về phía sau để chờ lệnh.
Vừa sáng sớm, tôi nhận được báo cáo: địch cho trực thăng đổ quân xuống căn cứ Bà Hảo - khu vực Đại đội 23 đang chiến đấu. Ruột gan tôi như có lửa. Anh em đã chiến đấu nhiều ngày, sức lực bị vắt gần đến kiệt, vũ khí cũng gần cạn, chưa tiếp tế kịp, liệu cứ giữ được căn cứ không? Mấy phút sau, tôi lại nhận được báo cáo: chúng đang xua công binh cắt cây, dọn chỗ cho trực thăng đỗ lấy xác lính Mĩ. Mừng quá. Như thế là Đại đội 23 không những kìm chân mà còn tiêu diệt được sinh lực địch, bảo vệ được kho tàng, góp phần bảo vệ căn cứ Dương Minh Châu.
Đại đội 23 về đến căn cứ Bà Chiêm, tôi ra đón anh em. Người nào người nấy gầy rộc, mặt hốc hác, mắt thâm quầng, trũng sâu. Đại đội trưởng Nguyễn Tường Tiến râu dài như người rừng. Hơn nửa tháng nằm vòng vây Mĩ - ngụy được trang bị đến tận răng, anh em ta chiến thắng trở về là một thời kì. Tôi chỉ thị cho Hậu cần J16 có gì trong kho mang ra bồi dưỡng anh em. Tôi chỉ cho Nguyễn Tường Tiến xuống chiếc hầm chữ A để nghỉ cho lại sức. Trưa hôm ấy, công vụ bưng xuống hầm cho anh bát cháo gà để bồi dưỡng. Trong lúc đó, ở chiến trường kiếm được con gà không phải dễ.
Nguyễn Tường Tiến chỉ nghỉ được trọn một ngày. Trưa ngày thứ hai thì địch càn vào Căn cứ Bà Chiêm - nơi đóng quân của J16. Tôi chạy đến hầm hét to:
- Tiến ơi, chúng nó càn vào cứ rồi.
Tiến choàng dậy, khoác vội khẩu AK. Cả cơ quan J16 cơ động nhanh ra vị trí chống càn.
Suốt một thời gian dài, ngày nào cũng vang động tiếng máy bay các loại, tiếng bom, tiếng pháo rền trời, đinh tai nhức óc. Đã nhiều lần, chúng tôi bố trí các tổ chiến đấu trang bị gọn nhẹ tiếp cận căn cứ dã ngoại của lính Mĩ đóng ở các trảng. Thừa lúc đám trực thăng đưa hàng tiếp tế xuống, lính Mĩ bu lại, ta cho ĐH.10 nổ, cối dập, tiếp theo là B40,B41, trung liên, AK, chỉ đánh tiêu hao ngắn gọn rồi rút. Hoặc đem vài tổ B40, B41 đánh xe tăng. Cách đánh kiểu này làm quân Mĩ rất bối rối, căng thẳng, mất ăn, mất ngủ.
Tuy bị tiêu hao lực lượng nhưng chúng vẫn không chịu rút cuộc chống càn của chúng tôi ngày càng quyết liệt. Có lần địch cho trực thăng đổ quân xuống cách chỗ chúng tôi chỉ vài trăm thước. Lúc đầu chúng cho máy bay ném bom phát quang, cây cối ngả rụi. Tiếp đó chúng đưa cả tiểu đoàn công binh đến dùng cưa máy chạy rèn rẹt, dọn bãi, làm công sự để trực thăng đổ quân Mĩ xuống.
Cơ quan J16 có anh quản lí bếp ăn tên là Nguyễn Thà Khẹt, vợ là cô y tá Út Dìa có đứa con trai mới được 6 - 7 tháng. Sáng hôm đó Mĩ đổ quân sát chuồng heo của đơn vị. Đến đêm, thằng nhỏ khóc ngằn ngặt. Tôi sốt ruột, sợ bị lộ, chạy sang hầm Út Dìa, quát to:
- Muốn chết cả hay sao mà để cho con khóc!
Thấy tôi, Út Dìa vội áp vú cho con bú, nhưng thằng bé không chịu, vẫn khóc. Tôi vội vén áo thằng nhỏ lên, thấy 5 - 6 con ve rừng đang cắn mà mẹ nó không biết. Bắt hết ve, cháu bé ngủ ngon lành, mặc cho mọi người đang rậm rịch lo chống càn.
Hai ngày sau chúng mới rút.
Trận đó, chúng tôi bị khủng bố tinh thần nhiều nhất.
Lính Mĩ khi hành quân thường có những hành động như sau. Thứ nhất, dù rất sợ chết, nhưng ý thức kỉ luật của chúng rất cao, không bao giờ cưỡng lại lệnh cấp trên chỉ huy. Thứ hai, dù gặp thương vong, bằng mọi giá phải lấy cho hết số lính bị chết hoặc bị thương. Vì thế nhiêu lần chúng tôi bố trí mai phục diệt nhiều tên địch khi chúng trở lại lấy xác đồng đội. Thứ ba, tuy phát hiện được cứ của ta nhưng chúng chưa đánh ngay vào vì chúng rất kị ban đêm. Biết rõ hành động chiến thuật của quân Mĩ nên trong suốt cuộc càn Gianxơnxiti, J16 chúng tôi đã đánh cho địch nhiều đòn đau mà vẫn giữ được lực lượng.
Cuộc hành quân Gianxơnxiti của Mĩ - ngụy đã thất bại thảm hại. Tuy nhiên chúng cũng gây cho ta nhiều khó khăn và tổn thất. Một số cán bộ, chiến sĩ của J16 chúng ta hi sinh. Trong số anh em không trở về có Nguyễn Đình Doãn.
Anh bị thương rất nặng, được đưa vào viện K71A cứu chữa nhưng không qua khỏi. Doãn hi sinh làm làm anh em trong đơn vị rất đau buồn, như chính người ruột thịt của mình. Anh Phan Quế kể lại, ngày 18 tháng 7 năm 1964, khi Nguyễn Đình Doãn lên tàu ở ga Hàng Cỏ (Hà Nội) để vào chiến trường, có người yêu cũng ra tiễn. Đó cũng là lần cuối cùng họ gặp nhau. Doãn hi sinh khi mới 32 tuổi.
|
|
|
|
|
Logged
|
Chiều hôm em đứng giã bàng Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
|
|
|
anhquaynop
Thành viên

Bài viết: 244
|
 |
« Trả lời #42 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2014, 09:03:37 am » |
|
* Trở lại câu chuyện chiếc xe M41-AL số 247 mà J16 thu được của địch trong trận Gò Đậu. Khi có chiếc xe “làm vốn”, Bộ Chỉ huy Miền chỉ thị cho chúng tôi phải bảo vệ cho được, đồng thời tổ chức huấn luyện, tập huấn, thực hành sử dụng thành thạo xe tăng địch. Một số cán bộ cốt cán của Đoàn J16 từng được đào tạo ở Liên Xô, Trung Quốc nay được chỉ định nghiên cứu, soạn thảo giáo án để huấn luyện bộ đội. Tôi giao nhiệm vụ cho đồng chí Vũ Đức Hùng trực tiếp làm tổ trưởng tổ giáo viên. Vũ Đức Hùng sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước ở Bồng Sơn, Bình Định. Trong kháng chiến chống Pháp, gia đình anh từng nuôi giấu cán bộ hoạt động cách mạng, có lần đồng chí Phạm Văn Đồng đã về nghỉ ở nhà anh. Tập kết ra Bắc, anh được quân đội đưa đi đào tạo thành viên kíp xe tăng thiết giáp ở Trung Quốc. Về nước, Hùng làm kĩ thuật viên Đại đội 7, Tiểu đoàn một thời gian, sau chuyển lên công tác ở Ban kĩ thuật Trung đoàn xe tăng 202. Là một cán bộ kĩ thuật giỏi, lại có tinh thần trách nhiệm cao, nhiều năm liền Vũ Đức Hùng là chiến sĩ thi đua, được chụp ảnh dưới quân kì. Ngày 4 tháng 5 năm 1962, Vũ Đức Hùng vinh dự đại diện cho cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn xe tăng 202 đi dự Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ ba tổ chức tại Hà Nội. Trong giờ giải lao, khi anh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng đứng nói chuyện tì Bác Hồ đi qua, thấy Vũ Đức Hùng mang quân hàm thiếu úy, Bác hỏi: - Chú ở Binh chủng Xe tăng? Quá bất ngờ, Vũ Đức Hùng “dạ” rất to rồi thưa với Bác: - Báo cáo Bác, cháu ở Trung đoàn xe tăng 202 ạ! Với gương mặt rất vui, đôi mắt sáng, Bác đặt bàn tay ấm nóng lên vai anh. Giọng Bác ấm áp: - Xe tăng là lực lượng xung kích. Chú là cán bộ, là hạt giống đỏ. Thủ tướng Phạm Văn Đồng thưa với Bác: - Báo cáo Bác, đồng chí Hùng là người Bình Định. Bác lại cười, vỗ vỗ vào vai anh, thân tình như cha con: - Là người miền Nam, chú phải học tập và rèn luyện cho thật tốt, huấn luyện cho thật nhiều chiến sĩ, mai này về chiến đấu giải phóng quê hương. Vũ Đức Hùng dập gót giày, đứng nghiêm, đặt tay lên vành mũ: - Thưa Bác, cháu xin nhớ lời Bác dạy. Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng cười vang. Lát sau, Bác nói giọng nhỏ nhẹ thân tình: - Nhớ là tốt nhưng phải làm cho được! Câu chuyện cảm động ấy Vũ Đức Hùng đã kể cho cán bộ, chiến sĩ trung đoàn sau khi anh đi dự Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn quốc trở về. Lời dạy của Bác không chỉ cho riêng Vũ Đức Hùng, mà cho tất cả cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn xe tăng 202 chúng tôi. Lời Bác thấm vào máu người con xứ dừa Bình Định. Vì thế khi vào chiến trường Nam Bộ, được giao nhiệm vụ gì, Vũ Đức Hùng đều hoàn thành xuất sắc. Lần này, nhớ lời dạy của Bác: “huấn luyện cho thật nhiều chiến sĩ”, tôi rất yên tâm khi giao nhiệm vụ nặng nề này cho anh. Địa điểm cất giấu chiếc xe tăng địch gần suối Bờ Cảng, thuộc căn cứ Long Nguyên. Trong bom đạn ác liệt, anh em đã bảo quản, huấn luyện rất tốt. Nơi này vừa là xưởng, vừa là trường học huấn luyện bộ đội về xe địch. Vừa bám xe, anh em vừa tranh thủ biên soạn tài liệu từ tiếng Anh sang tiếng Nga, rồi từ tiếng Nga dịch ra tiếng Việt. Rất may là đồng chí Trần văn Khuê còn mang được cuốn từ điển Nga - Anh, nên đã cùng với Vũ Đức Hùng, Vũ Đình Hạt, Trương Luông ngày đêm biên dịch tài liệu, soạn thành giáo án để huấn luyện bộ đội. Trong điều kiện ác liệt, lớp học vẫn được tổ chức có bài bản, chia thành các lớp lái xe, pháo thủ, trưởng xe. Ngoài việc huấn luyện cho cán bộ, chiến sĩ trong binh chủng, đơn vị còn tập huấn cho nhiều đoàn cán bộ, chiến sĩ các binh chủng đặc công, pháo binh, công binh, bộ binh về tính năng, kĩ chiến thuật xe tăng M41-AL, để khi tác chiến có thể vận dụng những kiến thức cơ bản về xe tăng địch, hạn chế tối đa ưu thế hỏa lực, đồng thời khai thác những điểm yếu để dùng vũ khí được trang bị diệt xe tăng địch.
|
|
|
|
|
Logged
|
Chiều hôm em đứng giã bàng Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
|
|
|
anhquaynop
Thành viên

Bài viết: 244
|
 |
« Trả lời #43 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2014, 09:06:29 am » |
|
Từ năm 1966 đến năm 1968, vùng căn cứ Long Nguyên nằm trong điều kiện ngặt nghèo, ác liệt của chiến tranh. Có lúc khó khăn chống chất, tưởng chừng không vượt qua, nhất là giữ cho xe “sống được” để huấn luyện. Anh em đào hầm rộng 4m, dài 84, sâu 4m để giấu xe. Mái hầm lợp lá trung quân (một loại lá rừng đốt không cháy, thân cây nhỏ và thấp). Xung quanh có hệ thống hầm hào liên hoàn để chiến đấu bảo vệ xe. Giữa rừng sâu, lại trong tầm hỏa lực của địch, công tác bảo đảm kĩ thuật như chống ẩm, bảo dưỡng khí tài điện tử, nguồn điện khởi động là một khó khăn rất lớn. Điều mà anh em kĩ thuật lo lắng nhất là giữ cho ắc quy thường xuyên đủ điện, khi cần có thể nổ máy được ngay. Dù xe nằm một chỗ nhưng hằng tháng đều phải tháo bình ắc quy để nạp thêm điện và chăm sóc bảo quản. Trú quân trong rừng, lại thường xuyên bị phi pháo, thám báo biệt kích lùng sục nên rất khó khăn khi nổ máy nạp điện. Sợ biệt kích đi lùng nghe được, anh em ta lợi dụng lúc trời mưa to để nổ máy. Việc làm này chỉ áp dụng được trong màu mưa và không có chu kì nhất định. Còn mùa khô anh em lợi dụng lúc có máy bay ném bom vào khu vực lân cận nơi đóng quân. Tiếng gầm rú của máy bay, tiếng bom làm át tiếng máy nổ nạp bình điện. Nhưng chu kì thất thường, có khi cả tháng không nổ máy được lần nào.
Một lần, tôi giao cho Vũ Đức Hùng mang tặng anh Sáu Nam (đồng chí Lê Đức Anh) chiếc mặt nạ phòng độc thu được trong trận Gò Đậu. Khi trao tặng xong, đồng chí Sáu Nam hỏi Vũ Đức Hùng:
- Điều khó nhất hiện nay của đồng chí đối với chiếc xe là gì?
Vũ đức Hùng báo cáo với đồng chí Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Miền:
- Thưa thủ trưởng, cái khó nhất giữ chiếc xe M41-AL là làm cho nó sống lâu, có nghĩa là giữ cho được bình ắc quy đủ điện. Không đủ điện khởi động, xe sẽ chết.
Thủ trưởng Sáu Nam lại hỏi:
- Vậy hiện tại đồng chí làm sao?
Vũ Đức Hùng trình bày việc lợi dụng trời mưa, lúc máy bay địch bắn phá, ném bom để nổ máy nạp bình điện. Đồng chí Sáu Nam lại hỏi: “Nếu không có những thứ ấy thì các đồng chí xoay sở làm sao?”. Vũ Đức Hùng đang lúng túng thì thủ trưởng Sáu Nam hỏi lại:
- Tôi cho pháo kích khu vực có được không?
Vũ Đức Hùng không ngờ câu chuyện về chiếc bình ắc quy trên xe tăng M41-AL lại phức tạp đến vậy. Nghe thủ trưởng hỏi anh hoảng quá, càng lúng túng. Đồng chí Sáu Nam nói để anh yên tâm:
- Được rồi, khi nào cần nạp điện, hết bao nhiêu thời gian, đồng chí cho tôi biết, cố gắng đừng để xe chết.
Vũ Đức Hùng chào thủ trưởng ra về trong lòng suy nghĩ miên man. Anh báo cáo với tôi chuyện gặp thủ trưởng Sáu Nam. Hai anh em tính toán, nếu cho máy nổ chạy mười phút thì mất chừng này quả đạn cối, đạn ĐKB (hồi ấy chưa có pháo 105 li). Chúng tôi thấy tầm quan trọng chiếc xe tăng ta thu được của địch và bình ắc quy quá lớn.
Để chiếc xe tăng M41-AL luôn trong tình trạng “sống”, không chỉ có bình điện mà còn các thứ khác, như xăng dầu chẳng hạn. Vũ Đức Hùng và anh em mua xăng từ Bến Súc, dùng xe bò bí mật chở về đầu cầu Thị Tính, cho vào can nhựa, chờ cho trời trối mới thả trôi theo dòng nước. Gần sáng thì xăng trôi về tới Bờ Cảng. Trong lúc xăng đang trôi trên sông, bộ phận ở nhà đã đào hố. Khi xăng về vớt lên cho vào thùng phuy 200 lít rồi chôn xuống hố giống như các nấm mộ trong nghĩa trang. Lúc cần, anh em bí mật đào lớp đất phía trên, dùng ống nhựa hút xăng lên, gùi về căn cứ. Trong khi thao tác, nhiều anh em bị bỏng rộp da. Cách làm này của bộ đội ta đã thắng được chiến thuật “thiết xa vận” và tránh được con mắt nhòm ngó của kẻ thù.
Sau Mậu Thân 1968, địch điên cuồng phản công, đánh phá ác liệt căn cứ Long Nguyên. Lực lượng giữ xe từ một trung đội lần lượt rút xuống còn một tiểu đội “cảm tử”. Anh em bám giữ xe theo nguyên tắc: “Ta thấy địch mà địch chưa thấy ta thì chưa đánh; địch thấy ta mà chưa thấy xe thì chưa phá xe”. Tháng 6 năm 1968, cả tiểu đoàn Mĩ được máy bay yểm trợ, đổ quân xuống khu vực giấu xe, tiểu đội cảm tử đã chiến đấu suốt 4 ngày đêm. Trong trận đánh không cân sức này, đồng chí Phan Văn Nho (Hai Thắng), nghĩa binh, đảng viên chống trả tới viên đạn cuối cùng và anh dũng hi sinh. Sự tàn khốc của chiến tranh đã làm cạn dần sinh lực tiểu đội cảm tử. Một số anh em bị thương, hi sinh, chỉ còn lại 6 người bám trụ đến cùng. Mặt khác, tình hình tiếp tế vô cùng khó khăn, mỗi người chỉ được cấp 200g gạo trong ngày. Cuối năm 1968, do biết trước địch sắp càn qua khu vực ta giấu xe, tình thế trở nên gay go, phức tạp, Bộ Chỉ huy Miền chỉ thị rút tiểu đội “cảm tử” về căn cứ. Nhận được lệnh, anh em khẩn trương tháo rời khí tài điện đài, súng đại liên, dụng cụ quang học trên xe đem về căn cứ mới. Phần xe còn lại chôn sâu dưới lòng đất chiến khu Long Nguyên và gài mìn bảo vệ.
|
|
|
|
|
Logged
|
Chiều hôm em đứng giã bàng Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
|
|
|
anhquaynop
Thành viên

Bài viết: 244
|
 |
« Trả lời #44 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2014, 09:10:38 am » |
|
8. CHIẾN TRƯỜNG ÁC LIỆT Sau những đòn thất bại choáng váng, quân Mĩ chủ động đẩy cuộc chiến tranh lên tầm khốc liệt mới. Bên cạnh đội quân ngụy Sài Gòn được Mĩ trang bị đầy đủ, ngay có cả những đơn vị lính Mĩ trực tiếp tham chiến. Riêng mặt trận miền Đông Nam Bộ, địch đã tập trung đến 5 sư đoàn chủ lực. Quân ngụy có 3 sư đoàn: 5, 13 và 25; Mĩ có 2 sư đoàn: Sư đoàn 1 “anh cả đỏ”, Sư đoàn 25 “tia chớp nhiệt đới” và Lữ đoàn dù 173 “kị binh bay”. Chúng đánh phá ta theo chiến thuật “trực thăng vận” và “thiết xa vận” hòng tiêu diệt cơ quan Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam. Ngày 17 tháng 7 năm 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn dân chống Mĩ, cứu nước. Người nói: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do!” (1). Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác, cả chiến trường miền Nam dâng lên cao trào đánh Mĩ. Nhiệm vụ cấp thiết lúc này của cán bộ, chiến sĩ J16 cơ giới là “đánh Mĩ” và “thắng Mĩ” bằng mọi vũ khí hiện có trong tay. Chưa có xe tăng, thiết giáp thì đánh Mĩ bằng vũ khí bộ binh với chiến thuật đặc công. Phát huy thắng lợi trận Gò Đậu, Đại đội 40 cơ giới cùng các đơn vị trực thuộc Ban Đặc công (B18) và Ban Cơ giới đã tổ chức tập kích vào các vị trí quân, cụm xe tăng, cơ giới và pháo binh của Mĩ; phối hợp với các lực lượng vũ trang ta bẻ gãy các cuộc càn trong hai mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967 của Mĩ. Để phát huy lợi thế của lối đánh đặc công: lấy ít địch nhiều, luồn sâu, đánh hiểm, tháng năm 1967 Bộ Chỉ huy Miền quyết định sáp nhập B18 Đặc công với J16 Cơ giới thành Phòng Đặc công - Cơ giới với phiên hiệu mới là J16 Đặc Cơ. Ban Chỉ huy J16 Đặc Cơ gồm: Nghiêm Xuân Đẩu (Tư Cang) - Cán bộ Phòng Quân huấn Miền, được cấp trên đưa sang giữ chức Chỉ huy trưởng. Tôi làm Chính ủy, Phạm Hà Hải - Chỉ huy phó và Bùi Tân - Phó Chính ủy. Biên chế của J16 Đặc công Cơ giới Miền có ba cơ quan: Tham mưu, Chính trị, Hậu cần. Lực lượng trực thuộc có 2 liên đội (1 và 2), mỗi liên đội có 2 đại đội đặc công, 1 đại đội cơ giới (15, 46, 23, 40, 47 và 48); 3 đại đội phục vụ: trinh sát, vận tải, sửa chữa. B18 có 2 đại đội, Đại đội đặc công bộ có phiên hiệu là 48. Còn đại đội đặc công nước được điều bổ sung cho Đoàn 10 đặc công Rừng Sác. Tôi muốn nói thêm: J16 Cơ giới Miền thành lập tháng 11 năm 1965 là lực lượng tăng, thiết giáp từ miền Bắc chi viện vào cho chiến trường miền Đông Nam bộ. Đây là số cán bộ, chiến sĩ chủ yếu của Trung đoàn xe tăng 202. Còn J16 Đặc Cơ Miền là sự hợp nhất hai binh chủng Đặc công và Tăng - Thiết giáp lại với nhau. Về tác chiến, J16 Đặc Cơ vẫn lấy chiến thuật đặc công là chính. J16 Đặc công Cơ giới có chức năng giúp Bộ Chỉ huy Miền xây dựng, quản lí, chỉ huy các đơn vị đặc công và cơ giới. Đây là sự “hợp lưu” bởi tình thế chiến lược trong thơi điểm ác liệt nhất trên chiến trường miền Đông Nam Bộ (1968 - 1969). Đó cũng là biểu tượng cao đẹp trong hiệp đồng, sát cánh chiến đấu cốt tử của hai binh chủng Đặc công và Tăng - Thiết giáp dưới phiên hiệu “Đặc Cơ” J16. Sự độc đáo này chỉ có ở mặt trận miền Đông Nam Bộ, cho thấy tính sáng tạo và tinh thần khắc phục khó khăn của bộ đội tăng - thiết giáp B2 những năm đánh Mĩ. Sau ngày hợp nhất, J16 Đặc công Cơ giới Miền nhanh chóng ổn định tổ chức, lãnh đạo tư tưởng, chuẩn bị mọi mặt cho những trận đánh tiếp theo. Ngày 1 tháng 7 năm 1967, đồng chí Nguyễn Xuân Tĩnh, trưởng xe, chỉ huy 4 chiến sĩ tập kích cụm cơ giới Mĩ tại ngã ba Bà Chiêm (Tây Ninh) ngay giữa ban ngày, diệt một trung đội địch, phá hủy 6 xe M113. Đây là trận thắng đầu tiên dưới màu áo của J16 Đặc công Cơ giới Miền. Ở chiến trường ăn uống kham khổ, chiến đấu căng thẳng, tôi bị sốt rét, viêm phổi rất nặng. Người tôi sút cân nhanh chóng, từ 73 - 74kg, nay còn 49kg. Anh em chuyển tôi qua bệnh viện của Miền đóng ở Xumpô trên đất Campuchia điều trị. Chiến sự ngày càng ác liệt, mỗi ngày nằm viện là thêm một ngày lòng tôi như có lửa đốt. Tôi lo cho đơn vị ở nhà. Lo lắng cũng chẳng giải quyết được gì, tôi nghĩ, để chóng được trở về đơn vị, ngoài thuốc tiêm đặc hiệu diệt kí sinh trùng sốt rét và lao phổi, mình phải rèn luyện. Được các thầy thuốc và anh em bệnh nhân phổ biến kinh nghiệm, hằng ngày tôi vào rừng đào cây Atisô về nấu thành cao, tìm cây sâm rừng làm nước uống. Các loại thuốc nam do tôi tìm kiếm và chế biến hóa ra lại hỗ trợ điều trị bệnh thất rất hiệu quả. Sau gần ba tháng điều trị sức khỏe tôi ổn định trở lại. Được phép của các bác sĩ, tôi hăm hở khoác ba lô về đơn vị tiếp tục chiến đấu. Cuối năm 1967, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở miền Nam. Quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị cùng với kế hoạch Tổng tiến công và nổi dậy được triển khai rất bí mật, khẩn trương. (1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.108.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Hai, 2014, 09:23:20 am gửi bởi anhquaynop »
|
Logged
|
Chiều hôm em đứng giã bàng Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
|
|
|
anhquaynop
Thành viên

Bài viết: 244
|
 |
« Trả lời #45 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2014, 09:15:06 am » |
|
Theo chỉ thị của bộ Chỉ huy Miền, chúng tôi tổ chức hai đại đội và một ban chỉ huy tiểu đoàn nhẹ, thực hành tiến công vào căn cứ của Sư đoàn bộ binh 1 “anh cả đỏ” Mĩ ở Technique (Bình Long). Trước khi xung trận chúng tôi quán triệt tới mỗi cán bộ, chiến sĩ đây là đòn đánh phủ đầu quân viễn chinh Mĩ, vừa để rút kinh nghiệm về sử dụng lực lượng đặc công cơ giới đánh vào căn cứ, hậu cứ lớn của Mĩ, phá hủy vũ khí, phương tiện chiến tranh và tiêu diệt sinh lực địch.
Trận đánh do đồng chí Kính - Tiểu đoàn phó và Chính trị viên phó tiểu đoàn Lê Như Hòa trực tiếp chỉ huy. Bộ đội được tổ chức thành hai mũi, bí mật luồn sâu, áp sát và các mục tiêu bên trong căn cứ. Đúng giờ G, đồng chí Kính phát lệnh tiến công, các mũi đồng loạt nổ súng. Kết quả, ta loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên Mĩ, phá hỏng nhiều nhà cửa, hầm ngầm, phương tiện chiến tranh của địch. Đây là trận đánh lớn đầu tiên vào căn cứ cấp sư đoàn của J16 Đặc công Cơ giới Miền sau 42 ngày thành lập đã giành thắng lợi giòn giã, khích lệ tinh thần phấn khởi, hồ hởi, tin tưởng của bộ đội vào cách đánh mới khi hợp nhất hai lực lượng cơ giới và đặc công.
Trong trận đánh này, Mũi phó Nguyễn Xuân Tình lại thể hiện tính sáng tạo, dũng cảm của mình. Sau khi phá gần hết các lớp rào, chỉ còn lại hàng rào cuối cùng mà bộc phá lại không nổ, anh nhanh trí ôm bộc phá đè lên hàng rào cho đồng đội nhanh chóng nhảy qua, đánh thọc sâu vào căn cứ địch. Khi Mũi trưởng hi sinh, Tình nhanh chóng thay thế, chỉ huy đồng đội đánh thẳng vào bãi xe địch. Đến giữa căn cứ Technique, thấy tổ bạn gặp khó khăn, anh dùng B40 diệt ngay hỏa điểm, chỉ viện cho đồng đội diệt sở chỉ huy của địch.
Trận đánh hoàn thành mục tiêu đề ra. Tổ chiến đấu của Nguyễn Xuân tình được phân công ở lại kiểm tra chiến trường, vừa yểm trợ cho các mũi rút ra ngoài. Vào thời khác trước giờ chiến thắng, địch tiếp viện 60 xe tăng, xe bọc thép phản kích, hòng bao vây, tiêu diệt tổ chiến đấu của Tình. Trong tình thế cả tổ chỉ còn một khẩu B40 với 6 quả đạn và một ít đạn tiểu liên, anh động viên anh em tổ chức chiến đấu. Với 5 quả đạn B40, anh diệt 4 xe tăng, mở đường cho đồng đội rút ra ngoài. Nhưng mới đến cửa mở, tổ anh bị 3 xe thiết giáp của địch bắn xối xả, bịt kín lối ra. Trong tay lúc này chỉ còn lại một quả đạn chống tăng, anh sực nhớ lúc vào có một chiến sĩ mang đạn B40 bị thương ngay cửa mở. Nguyễn Xuân Tình quyết định quay lại, tìm được hai quả B40.
Lập tức phối hợp với tổ giữ cửa mở, anh bắn hai quả đạn diệt luôn 2 xe. Thấy đồng bọn bị tiêu diệt, chiếc thứ ba quay đầu tháo chạy, lợi dụng thời cơ, tổ chiến đấu của anh phá vỡ vòng vây, rút về căn cứ an toàn.
Đón đánh bất ngờ, hiểm và đau vào sào huyệt của Sư đoàn “anh cả đỏ”, làm quân Mĩ choáng váng. Chúng không ngờ, lực lượng ấy lại là những cán bộ, chiến sĩ xe tăng vì không có xe buộc phải đánh Mĩ và quyết thắng Mĩ bằng vũ khí bộ binh.
Sau trận Technique, Đảng ủy J16 Đặc Cơ họp xem xét trận đánh một cách kĩ lưỡng. Tuy đã giành thắng lợi nhưng việc bảo toàn lực lượng luôn là yêu cầu số một. Để có được một tay súng giữa chiến trường miền Đông Nam Bộ là vô cùng quý giá. Vì thế, công tác nghiên cứu chiến trường, xây dựng phương án tác chiến cũng như thực hành chiến đấu phải luôn sáng tạo và tỉnh táo.
Ngày 10 tháng 7 năm 1967, chúng tôi lại tập kích vào trung tâm chiều hồi, rồi phát triển sang tòa hành chính, cảnh sát Tây Ninh. Vẫn bằng lối đánh đặc công, lần này anh em ta luồn sâu vào tận sào huyệt của bộ máy ngụy quyền tỉnh Tây Ninh - nơi được xem là an toàn nhất. Sau trận tập kích táo bạo này, nhân dân đã hồ hởi nhận xét: “Quân giải phóng đã làm đạo náo thị xã Tây Ninh”.
Trong men say chiến thắng, cuối năm 1967, J16 Đặc công Cơ giới Miền tổ chức nhiều đợt điều tra, nghiên cứu các mục tiêu lớn của Mĩ ở Đồng Dù, Technique, Lai Khê, Cà Tum, Dầu Tiếng, Trảng Lớn, núi Bà Đen. Phong trào thi đua lập công chào mừng kỉ niệm 23 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam do J16 Đặc công Cơ giới phát động diễn ra sôi nổi. Được tăng cường một đại đội đặc công (thuộc Sư đoàn bộ binh 7), Liên đội 1 thuộc J16 do Chính trị viên phó tiểu đoàn Lê Như Hòa chỉ huy tập kích vào căn cứ Technique của Sư đoàn “anh cả đỏ” lần thứ hai. Trận này, ta loại khỏi vòng chiến đấu gần 1.000 tên địch, phá hỏng 7 trực thăng, 12 xe quân sự, trong đó có 8 xe M113, gần chục khẩu pháo 105mm và 155mm, một kho xăng cùng nhiều phương tiện chiến tranh khác. Do lập được chiến công xuất sắc, Liên đội 1 được tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhì.
Tháng 12 năm 1967, quân Mĩ sử dụng Sư đoàn 25 mở cuộc hành quân mang tên “Hòn đá vàng” đánh vào khu vực Cà Tum. Cuộc càn quét với âm mưu “tìm diệt” của địch gây cho ta nhiều khó khăn. Nếu không giữ được Cà Tum, căn cứ Bà Chiêm và cả Chiến khu Dương Minh Châu sẽ bị uy hiếp, ta không còn chỗ đứng chân. J16 Đặc công Cơ giới Miền được lệnh đánh trả cuộc càn của địch. Tham gia chống càn có Liên đội 1, Đại đội 46, cùng cán bộ chiến sĩ ba cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần. Bộ đội ta đã chiến đấu với lòng quả cảm, không sợ hi sinh trước kẻ thù đông và mạnh hơn rất nhiều lần. Từ ngày 29 tháng 12 năm 1967 đến ngày 3 tháng 1 năm 1968, đơn vị chiến đấu bằng mọi thủ đoạn chiến thuật với vũ khí có trong tay. Đoàn Đặc công Cơ giới J16 Miền đã đánh 27 trận lớn nhỏ bằng các hình thức tập kích, pháo kích, bắn máy bay, diệt xe cơ giới và phối thuộc cho Sư đoàn bộ binh 9 của Miền đập tan cuộc càn quét của địch.
|
|
|
|
|
Logged
|
Chiều hôm em đứng giã bàng Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
|
|
|
anhquaynop
Thành viên

Bài viết: 244
|
 |
« Trả lời #46 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2014, 07:23:53 am » |
|
* Vừa chiến đấu, vừa âm thầm và khẩn trương chuẩn bị cho “Cơn bão lớn”, mỗi cán bộ, chiến sĩ chúng tôi ai cũng thấy hồi hộp, xen lẫn lo âu. Sau mỗi trận đánh, danh sách quân số của đoàn ngắn lại. Trong lúc lực lượng bổ sung chưa có. Tôi linh cảm thấy khó khăn thử thách lớn đang đến rất gần. Buổi chiều, khi đang chăm chú nghe bản tin trên Đài phát thanh Giải phóng, tôi nhận được chỉ thị của Bộ Chỉ huy Miền: J16 chuẩn bị 2 liên đội để tăng cường cho 5 phân khu mới được tổ chức, đồng thời là 5 hướng tấn công vào Sài Gòn trong Tết Mậu Thân. Liên đội 2 do đồng chí Sáu Vẽ, Lê Như Hòa, Phan Thanh Châu, Đào Cao Tuy, tăng cường cho hướng phân khu 5 (Bà Rịa, Long Thành, Thủ Đức); Liên đội 1 do đồng chí Đặng Văn Thọ, Nguyễn Duy Tôn, Đặng Lâm Thao, Nguyễn Em, Trần Oanh, Nguyễn Văn Giáp, Nguyễn Văn Thịnh tăng cường cho hướng phân khu 1 (Củ Chi, Gò Vấp, Hóc Môn). Đi cùng Sở Chỉ huy tiền phương Bộ Chỉ huy Miền có một bộ phận cơ quan J16, đội đại đội đặc công bộ, một đại đội cơ giới do tôi và đồng chí Lâm Kim Chung phụ trách. Những năm ở chiến trường hầu như chúng tôi không có thời gian để nghĩ đến Tết. Những Tết trước, ngành Hậu cần cấp trên chỉ lo cho được ít đậu xanh, lạc, mấy cân thịt. Anh em ta mày mò tìm dụng cụ để làm kẹo lạc, giá đỗ. Tết nào bộ đội bắn được con thú rừng đã là sang lắm. Tôi nhớ, Tết Bính Ngọ (1966), anh em bắn được một con cheo. Để bữa tất niên được rôm rả, anh em còn hái lá kim cang để ăn thay rau sống. Lá kim cang có vị chua như lá chua me ngoài Bắc. Tết Đinh Mùi (1967) lại khá đặc biệt. Cuộc sống kháng chiến ở miền Đông Nam Bộ thiếu thốn trăm bề nhưng đến Tết vẫn có thịt heo, thịt rừng, bánh tét, bánh chưng, bánh kẹo, chả giò. Anh em Hậu cần còn kiếm được một ít rượu để pha loãng, nhâm nhi đêm giao thừa. Ở chiến trường mà có cái Tết đậm đà hương vị dân tộc như thế nên anh em ai cũng cảm thấy hạnh phúc bởi tình đồng chí, đồng đội. Năm 1967 là một năm chiến đấu cực kì vất vả, gian khổ và ác liệt của J16 chúng tôi. Mải đánh giặc, chạy càn nên gần Tết Mậu Thân rồi mà ngành Hậu cần chưa mua sắm được gì đáng kể cho bộ đội ăn Tết. Đồng chí Mai Văn Đáng, Chủ nhiệm Hậu cần gặp tôi vò đầu bứt tai, báo cáo đã cử người sang Campuchia nhưng vì cận ngày quá nên không mua được gì. Tết này đánh lớn, để anh em ăn uống đạm bạc tôi thấy không yên lòng. Khó khăn là thế nhưng cuối cùng anh em Hậu cần cũng đã lo cho bộ đội một cái Tết khá tươm tất. Chúng tôi ăn Tết Mậu Thân sớm hơn mọi năm để còn bước vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân. Gọi là tươm tất nhưng cũng chỉ có mấy món được chế biến từ thịt heo. Ngoài ra, anh em còn có báo kẹo, trà thuốc để dùng trong mấy ngày Tết. Chiều áp Tết, chúng tôi hồi hộp chờ lệnh Tổng tiến công. Các hướng chiến đấu của J16 Đặc công Cơ giới báo về tất cả đã được đặt lên bệ phóng. Tôi nhìn gương mặt từng người, ai cũng thấy xón xang, hồi hộp, xen lẫn lo lắng. Điều đó cũng đúng thôi, bởi vì đây là một chiến dịch thật lớn mà người chiến sĩ sắp phải đối mặt, hậu quả khó lường. Chiến trường miền Nam lúc này như chiếc cung lớn mà mỗi người lính chúng tôi như một mũi tên, chỉ chờ lệnh là bay vút về phía trước. Tôi nằm trên chiếc võng mắc giữa hai thân cây rừng suy nghĩ về chiến dịch sắp tới. Đài phát thanh Giải Phóng đang phát đi bài hát “Xuân chiến khu” của nhạc sĩ Quân giải phóng miền Nam Xuân Hồng. Tiếng hát cô ca sĩ vút cao, lảnh lót, tươi vui, nhí nhảnh: “Mùa xuân về trong chiến khu, gió đưa cây rừng cành lá vi vu u ú u như hát mừng mùa xuân thắng lợi. Mai vàng, mai vàng đang nở lưng đồi, chào anh bộ đội thêm một tuổi đời, mừng anh thêm một tuổi quân lập nhiều chiến công toàn dân đang mong”. Đã hơn 4 năm ở chiến trường, tôi đã thêm chừng ấy tuổi đời và tuổi quân. Tết này tôi và anh em thi đua, quyết “lập nhiều chiến công” để thỏa lòng mong ước của nhân dân, như lời bài hát. Đêm 30 Tết Mậu Thân 1968, Đại đội 15 cơ giới, thuộc Liên đội 2 đã chiếm được trại thiết giáp Phù Đổng của địch tại Gò Vấp. đây là nơi làm việc của cơ quan thiết giáp ngụy, nên ta chỉ bắt được tù binh, thu vũ khí, không thu được xe tăng. Sau khi chiếm được mục tiêu, Đại đội 15 Cơ giới củng cố phòng thủ, chờ lực lượng bộ binh từ ngoài chi viện. Sang ngày thứ ba, Mĩ - ngụy phản kích, dùng máy bay ném bom hủy diệt cả số lính ta bắt làm tù binh. Sau đó, chúng dùng xe M113 bao vây phản kích. Cán bộ, chiến sĩ Đại đội 15 Cơ giới anh dũng chống trả, nhưng vì lực lượng mỏng, lại không được chi viện kịp thời, nên phần lớn anh em hi sinh, chỉ có một ít rút được ra ngoài. Bước vào giai đoạn 2 của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, số cán bộ, chiến sĩ còn lại của Đại đội 15 được nhập với một số đặc công đánh vào các mục tiêu kho đạn Gò Vấp, các chốt lĩnh Mĩ và một số mục tiêu nằm sâu trong nội đô Sài Gòn. Trên hướng ngoại đô, ngày 23 tháng 2 năm 1968, Tiểu đoàn 5 Đặc Cơ gồm 180 tay súng do đồng chí Lê Như Hòa - Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Sanh - Chính trị viên, đồng chí Đế - Chính trị viên phó đã chỉ huy đơn vị phối thuộc với Tiểu đoàn 14 đặc công tỉnh Tây Ninh tập kích vào Sư đoàn 25 của Mĩ đóng tại Dầu Tiếng. Được đồng chí Khoa, quân báo Dầu Tiếng dẫn đường, Tiểu đoàn 5 đã tập kích vào quân Mĩ. Các chiến sĩ tăng - thiết giáp đã thực hiện kĩ thuật tiềm nhập đặc công rất thành thạo. Sau tiếng nổ lệnh, bộc phá, thủ pháo bộ đội ta đồng loạt nổ vang trời, chớp lửa trên 8 hướng tùm kín căn cứ Mĩ - ngụy, kẻ địch bị đánh bất ngờ, trở tay không kịp. Sau 2 giờ chiến đấu, ta đã diệt và làm bị thương cả ngàn tên địch, phá hủy 100 xe quân sự các loại, 11 máy bay trực thăng, 7 khẩu pháo 105mm và 175mm, 2 kho đạn và nhiều phương tiện chiến tranh khác. Tiểu đoàn 5 Đặc Cơ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
|
|
|
|
|
Logged
|
Chiều hôm em đứng giã bàng Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
|
|
|
anhquaynop
Thành viên

Bài viết: 244
|
 |
« Trả lời #47 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2014, 07:25:25 am » |
|
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã tiến hành đồng loạt khắp chiến trường miền Nam, đánh thẳng vào đại sứ quán - Cơ quan điều hành chiến tranh của Mĩ, làm chấn động dư luận nước Mĩ và thế giới.
Nhiều trận đánh do cán bộ và chiến sĩ cơ giới (tăng - thiết giáp) chiến đấu với tinh thần dũng cảm vô song, khí phách anh hùng trước một kẻ thù tàn ác, xảo quyệt, đông và mạnh hơn ta gấp bội về vũ khí và phương tiện tác chiến hiện đại.
Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, J16 Đặc công Cơ giới bị hao tổn lực lượng khá lớn. Nhiều anh em hi sinh, một số bị thương, một số ngươi không may rơi vào tay giặc. Trong số anh em không trở về có Lâm Kim Chung. Anh hi sinh khi đang cùng tôi đi theo Sở Chỉ huy tiền phương Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam ở Bưng Còng - Rạch Bắp thuộc huyện Bến Cát. Sáng hôm đó, chiến trường có một khoảng bình yên ngắn ngủi. Anh em đang đứng bên ngoài hầm trao đổi nhiệm vụ thì máy bay địch ào tới. Mấy cán bộ, chiến sĩ chạy nhanh vào chiếc hầm lớn. Lâm Kim Chung nhường cho Bá vào trước. Đến lượt mình vào thì bất ngờ một loạt đạn từ chiếc trực thăng cán gáo của địch bắn xuống. Chung bị một viên đạn quái ác của địch xuyên qua bụng dưới. Lúc ấy vào khoảng 8 - 9 giờ sáng ngày 30 tháng 1 năm 1968 (sáng mùng 1 Tết Mậu Thân).
Tôi lớn hơn Lâm Kim Chung 4 tuổi; hai đứa chúng tôi có rất nhiều kỉ niệm đẹp. Cùng là bộ đội tập kết, đều thuộc lớp cán bộ đầu tiên của Trung đoàn xe tăng 202. Là hai cán bộ đầu tiên của Trung đoàn 202 vượt Trường Sơn vào Nam đánh giặc. Ngày chúng tôi đi chiến trường, Mai - vợ Chung bế đứa con trai mới 5 - 6 tháng tuổi từ Nghi Tàm đến nhà tôi ở Quán Thánh. Hôm đó, vợ tôi làm bữa cơm để tiễn anh em tôi trở lại chiến trường. Đã nhiều năm sống với nhau, chúng tôi thân thiết như anh em ruột thịt. Thế mà bây giờ Chung đang bị thương rất nặng. Đến khoảng 3 - 4 giờ chiều, Chung nói, giọng đã yếu lắm: “Anh về với anh em đang chờ, lo công việc. Tôi ở đây có bệnh viện lo rồi”. Hôm sau, anh em báo với tôi Chung đã mất. Ở chiến trường, đồng đội nhận về mình sự hi sinh để người khác được sống là việc vẫn thường gặp. Riêng sự hi sinh của Lâm Kim Chung làm tôi suy nghĩ nhiều. Về đơn vị mấy ngày sau, anh em xì xào về việc Báo không nhường hầm cho cán bộ. Sau đó Bá cùng người yêu tên là Tuyết, bỏ đơn vị đi đâu không ai biết. Bá không xứng đáng với sự hi sinh của Lâm Kim Chung, điều đó làm tôi day dứt mãi.
Sau Mậu Thân 1968, Đoàn J16 Đặc công Cơ giới như bè trầm trong bản hợp xướng bi hùng.
Đảng ủy J16 họp trong không khí khá nặng nề bởi đau thương và mất mát quá lớn. Nhìn đồng đội ai cũng hốc hác, mắt trũng sâu, da người nào cũng xanh xao như vừa qua trận ốm nặng, tôi không cầm lòng được. Nhưng thật mừng, những ánh mắt vẫn sáng, kiên gan, không hề nao núng. Nhiều giải pháp được đưa ra bàn bạc, phân tích, nhằm “xốc lại đội hình”. Trước mắt, phát động đơn vị khơi dậy lòng căm thù và nâng cao ý chí quyết chiến quyết thắng của người quân nhân cách mạng. Tôi đưa ra cuộc họp các giải pháp đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, biểu dương, cổ vũng những tập thể, cá nhân có nhiều thành tích trong chiến đấu. Xây dựng, đề nghị lên cấp trên phong tặng danh hiệu Anh hùng cho đồng chí Nguyễn Xuân Tình. Trước mắt, phải củng cố lực lượng, đánh một vài trận để trả thù cho những đồng chí đã hi sinh.
Khi đau thương, mất mát, nếu được động viên, khích lệ đúng lúc thì sức mạnh tiềm ẩn trong mỗi con người lại trỗi dậy nhanh chóng. Những ngày sau đó, Đoàn Đặc công Cơ giới đã dấy lên phong trào thi đua giết giặc lập công, trả thù cho các đồng chí bị kẻ thù giết hại.
Chúng tôi đã liên tiếp đánh địch trên những địa bàn trọng yếu như: Trảng Lớn ngày 21 tháng 5 năm 1968, Bà Đen ngày 15 tháng 5 năm 1968. Trận Trảng Lớn tuy đơn vị giành được thắng lợi nhưng bộ đội thương vong nhiều nên tôi nấn ná ở lại. Sáu giờ sáng tôi và mấy anh em mới vào đến bìa rừng. Đi gần đến bờ sông Vịnh, sát biên giới Việt Nam - Campuchia, bỗng thấy trên đầu hàng đàn máy bay địch quần đảo, tìm kiếm. Đồng chí trinh sát phát hiện một tốp lính Mĩ đang đi cách chúng tôi chỉ hơn trăm thước. Tôi ra hiệu anh em bí mật ẩn nấp, còn mình căng mắt quan sát. Chúng đông cỡ đại đội. Anh Giàu - cán bộ kĩ thuật đề nghị tôi cho nổ súng. Từ chỗ chúng tôi tới tụi lính Mĩ đúng một tầm bắn AK hiệu quả. Anh em trinh sát đi bảo vệ tôi cũng đề nghị đánh đòn phủ đầu bọn Mĩ để trả thù cho đồng đội. Tôi suy nghĩ, lúc này bọn Mĩ chưa phát hiện ra mình, chúng lại đông hơn, trang bị tốt hơn, nếu nổ súng chắc chắn sẽ bị tổn hao thêm lực lượng. Mấy chục phút sau tụi lính Mĩ di qua, chờ chúng rút khỏi chúng tôi cũng trở về căn cứ an toàn.
Trận tập kích vào Cà Tum tháng 5 năm 1968 là trường hợp đặc biệt. Đây là sào huyệt huấn luyện biệt kích của Mĩ - ngụy, nên địch phòng thủ rất kiên cố. Bọn biệt kích được huấn luyện ở đây vốn nổi tiếng ác ôn, từng gây bao tội ác cho nhân dân ta. Vì thế, ý định của Bộ Chỉ huy Miền muốn nhổ căn cứ Cà Tum càng sớm càng tốt. J16 Đặc công Cơ giới Miền sử dụng Đại đội 46 và Đại đội 23 thuộc Tiểu đoàn tập kích vào căn cứ. Tiểu đoàn 5 do đồng chí Hoàng Hỗ làm Tiểu đoàn trưởng, Lê Như Hòa làm Tiểu đoàn phó, đồng chí Sanh làm Chính trị viên. Để chắc thắng, Bộ Chỉ huy Miền tăng cường một số cán bộ thuộc Cục Tham mưu, một đại đội bộ binh có hỏa lực mạnh do đồng chí Sáu Cương chỉ huy. Tôi được trên giao trực tiếp chỉ huy trận đánh.
|
|
|
|
|
Logged
|
Chiều hôm em đứng giã bàng Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
|
|
|
anhquaynop
Thành viên

Bài viết: 244
|
 |
« Trả lời #48 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2014, 07:26:45 am » |
|
Mới điều trị vết thương ở bệnh viện về được ít ngày, nhưng Nguyễn Xuân Tình(1) xung phong dẫn tổ điều nghiên luồn qua 18 lớp hàng rào kẽm gai vào trung tâm biệt kích để nắm tình hình và tìm cách đánh phù hợp. Vốn xông xáo, gan dạ và có nhiều sáng tạo trong chiến đấu nên tôi giao cho anh chỉ huy mũi chính của trận đánh. Khi các mũi đều phát triển thuận lợi thì mũi chính do Tình chỉ huy bị địch ngăn chặn quyết liệt. Không chần chừ, Nguyễn Xuân Tình sử dụng tổ dự binh đánh vòng sau Sở Chỉ huy địch. Đòn đánh hiểm này làm địch bị rối loạn. Nhân cơ hội đó, anh chỉ huy mũi chính đánh thọc sâu, nhanh chóng diệt gọn Sở Chỉ huy địch và một đại đội biệt kích.
Sau hơn 2 giờ chiến đấu, ta tiêu diệt Sở Chỉ huy căn cứ biệt kích Cà Tum, diệt gần 200 tên, bắt sống nhiều tên và thu nhiều vũ khí. Tuy nhiên, ta không làm chủ được chiến trường vì đại đội bộ binh tăng cường chó hỏa lực mạnh do đồng chí Sáu Cương chỉ huy đi lạc đường. Do không vào đúng vị trí quy định nên không tiêu diệt được lô cốt chính 2 tầng. Chúng dựa vào lô cốt nhiều tầng để chống cự. Đến gần sáng, tôi ra lệnh rút quân. Sau đó chúng dùng pháo bắn tới tấp vào căn cứ để phi tang.
Tuy giành được thắng lợi lớn nhưng trận này ta bị tổn thất khá lớn. Nhiều tấm gương chiến đấu mưu trí, dũng cảm đã kịp thời cổ vũ tinh thần bộ đội. đồng chí Hoàng Hỗ - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 chỉ huy bộ đội chiến đấu táo bạo, tiêu diệt nhiều mục tiêu quan trọng của địch. Đồng chí Huỳnh Cừu, chỉ huy một mũi táo bạo thọc sâu, diệt nhiều tên địch, đoàn đề nghị lên cấp trên tặng thưởng cho anh Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba.
Tuy lập được chiến công trong trận tập kích vào căn cứ Cà Tum nhưng Nguyễn Xuân Tình đã bị thương nặng, phải vào Viện K71 của Miền sát biên giới Campuchia điều trị. Chân phải của Nguyễn Xuân Tình bị nhiều vết thương, có chỗ bị dập. Tôi vào khoa ngoại Bệnh viện K71 nói với đồng chí phụ trách: “Ráng cứu, đừng cưa chân mà tội nó. Cậu ấy sắp được phong Anh hùng đấy”.
Ở chiến trường, thiếu thuốc men, thiếu phương tiện y tế, trường hợp bị thương như Tình thông thường đều bị cắt bỏ. Nếu chân phải của anh bị chưa thì còn đánh đấm được gì. Tôi trực tiếp gặp bác sĩ trưởng khoa ngoại trình bày suy nghĩ của mình.
Hai ngày sau, tôi lại đến Bệnh viện K71 gặp bác sĩ Kính và các anh chị khoa ngoại. Tôi tặng khoa chiếc đài bán dẫn Orionton còn mới với lời nhắn gửi; “Mong các anh chị giúp Tình, đừng cưa chân cậu ấy”. Bác sĩ Kính khám cho Tình, nói với tôi: “Không cưa nhưng phải mổ”. Đây không phải lần đầu Nguyễn Xuân Tình bị thương, nhưng lần này nặng nhất. Không có thuốc gây mê, không có cả thuốc tê, Tình đã chuẩn bị một thanh tre, vót trơn tru giống như chiếc đũa cả. Tự mình buộc chân, nhờ đồng đội buộc tay bằng dây vải, anh nói với bác sĩ Kinh: “Cứ mổ đi” rồi lấy thanh tre ngáng qua miệng. Lưỡi dao mổ lách đến đây, nước mắt anh trào ra đến đó. Cơn đau làm mặt anh đỏ như người uống rượu. Tôi phải quay mặt đi để ngăn dòng nước mắt đang chực trào ra. Nhất là khi bác sĩ cho dụng cụ vào móc tủy, đau quá, anh bị ngất.
Ca mổ kéo dài mấy tiếng đồng hồ, cứu được chân không phải cắt. Nhưng chân bị lệch, anh chống nạng tập đi rất khó khăn, nhiều lần bị ngả, đau chảy nước mắt. Với mong muốn chóng được trở về đơn vị chiến đấu, Tình đã kiên trì rèn luyện. Anh buộc nẹp, buộc dây dù vào chân, buộc cả hòn đá to, treo chân lên để tập. Rèn luyện trong ba tháng, chân anh mới trở về vị trí cũ.
Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, nhiều cơ sở của ta bị địch bắt, hệ thống kho tàng dự trữ lương thực cũng bị địch bắn phá. Cả chiến trường miền Đông đứng trước nguy cơ đói dài ngày. Ở chiến trường ăn độn là thường xuyên nhưng chúng tôi sợ nhất là ăn độn đậu xanh. Tiêu chuẩn được mỗi ngày một lon gạo tôi cũng nhường anh em đau ốm và bị thương.
Giữa năm 1968, tôi vào Viện 7C của Miền thăm anh em đang điều trị ở đây. Nằm gần giường một cán bộ J16 là chiến sĩ bộ binh sốt rét da tái xanh, ốm yếu. Đang thiếu liên lạc, tôi đưa Vũ Bá Nhai - tên người chiến sĩ, về đơn vị. Nhai quê ở xã Chương Dương, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Anh nhập ngũ đầu năm 1966, tháng 9 năm 1967 vào miền Đông, được bổ sung cho Đoàn 222 bộ binh. Khi Vũ Bá Nhai về làm liên lạc cho tôi, J16 đóng gần suối Bà Chiêm, thuộc huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
Thấy tôi ăn uống cực khổ, Vũ Bá Nhai cuốc đất trồng rau muống, rau cải. Lúc rỗi, cậu ta vào suối Bà Chiêm cắm câu bắt cá, hái măng le. Món cá suối mà Nhai nấu rất hợp với khâu vị của tôi: kho khô, có nhiều ớt. Nhai còn khéo tay làm giá đỗ. Hôm nào gửi anh em ra biên giới Campuchia mua được tí thịt, cậu ta lại kho mặn để ăn dè.
Liên lạc của tôi cũng là người mát tay nuôi gà. Từ một con gà mái, sau thành cả đàn hơn chục con. Lúc nào đi công tác, Nhai nhờ cháu Lâm Văn Quang, con anh Lâm Văn Hai - Phó Chủ nhiệm Hậu cần ở nhà trông giúp. Có trứng gà, tôi bảo liên lạc mang bồi dưỡng cho anh em ốm. Gà đang đẻ, không thấy trứng thường bỏ đi tìm ổ khác. Nhai đánh lừa con gà mái bằng cách lấy que chọc một lỗ nhỏ vào đầu quả trứng, lấy hết lòng đỏ và lòng trắng rồi đặt vào ổ.
Tôi thường làm việc rất khuya, có hôm đến 2 - 3 giờ sáng. Nhiều lần giữa đêm khuya, Nhai bưng xuống hầm cho tôi bát cháo gà thơm phức: “Thủ trưởng ăn cho nóng”.
Những năm ở chiến trường, tôi nghiện thuốc lá nặng, chủ yếu là Rubic và Mic, có đêm hút hết một bao. Các chiến sĩ liên lạc như Kính, Xuyên, Nhai, Quảng không muốn thủ trưởng hút thuốc, khuyên tôi bỏ. Đến thời kì Vũ Bá Nhai làm liên lạc tôi mới có quyết tâm cao để bỏ. Mấy hôm đầu, Nhai đưa tôi mỗi ngày hai bao, dần xuống còn một bao, về sau chỉ còn ngày mấy điếu. Phương pháp cai nghiện này khá hiệu quả, chỉ mấy tháng sau, tôi bỏ được thuốc lá.
Chú thích (1) Đồng chí Nguyễn Xuân Tình được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng ngày 10 tháng 2 năm 1970. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là Tiểu đoàn phó thuộc Đoàn 429 Đặc công Cơ giới.
|
|
|
|
|
Logged
|
Chiều hôm em đứng giã bàng Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
|
|
|
anhquaynop
Thành viên

Bài viết: 244
|
 |
« Trả lời #49 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2014, 07:27:13 am » |
|
Sau Mậu Thân, địch tập trung triệt hạ các cơ sở nội thành Sài Gòn, dùng phi pháo, xua quân tái chiếm lại vùng ven đô và các vùng nông thôn phụ cận. Chúng dùng phi pháo chủ yếu là các loại máy bay ném bom rải thảm. Có ngày chúng dùng máy bay cánh quạt bay hàng ngang rải bom vào các khu rừng mà chúng nghi có quân ta đóng. Cứ mỗi tốp có từ 7 - 10 chiếc; 20 - 30 phút lại có một tốp lao đến đánh phá. Chúng đánh phá từ 8 giờ sáng đến 5 giờ chiều mới chịu nghỉ.
Thế của ta trên chiến trường Đông Nam Bộ bị giảm sút do bộc lộ hết lực lượng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Một tổn thất khác là ta bị mất các căn cứ bàn đạp ở vùng nông thôn rộng lớn, dẫn đến hệ thống các kho tàng ở nơi địa đầu bị địch đánh phá. Không còn vị trí đứng chân, các sư đoàn chủ lực của Miền đều phải dạt lên vùng biên giới giáp Campuchia để bảo toàn lực lượng.
Chiến tranh ác liệt, anh em ta hi sinh nhiều đã có tác động không nhỏ tới tư tưởng bộ đội. Một số cán bộ dao động, không ít chiến sĩ nao núng tinh thần, cá biệt có người quay lưng lại đồng đội, đầu hàng kẻ thù. Đáng tiếng trong số kẻ phản nghịch ấy đã từng là đồng đội của tôi, là cán bộ của Đoàn J16 Đặc công Cơ giới. Hắn tên là Phan Xướng.
Từ một người làm nghề đánh xe ngựa chạy đường Biên Hòa - Sài Gòn, Phan Xướng vào bộ đội tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp. Năm 1954, Xướng tập kết ra Bắc. Do có sự phấn đấu tốt, Xướng được bổ nhiệm làm cán bộ đại đội, rồi tiểu đoàn của Trung đoàn xe tăng 202.
Tháng 7 năm 1965, Phan Xướng làm Đoàn phó 711 hành quân vào chiến trường miền Đông Nam Bộ. Hồi ở với tôi, vợ Phan Xướng từ Sài Gòn lên căn cứ thăm chồng hai lần, sau đó nghe tin gia đình đã chiêu hồi. Xướng là người kín đáo, khi ở chiến trường miền Đông Nam Bộ chưa thấy bộc lộ quan điểm,tư tưởng gì sai lệch.
Giữa năm 1967, Bộ Chỉ huy Miền điều động một số cán bộ của J16 tăng cường cho các cơ quan, đơn vị, Phan Xướng được điều về Trung đoàn 4 (Gia Định). Khi làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn Gia Định, Phan Xướng mới lộ rõ bản chất của một kẻ phản bội Tổ quốc.
Là “ong tay áo”, Xướng không lạ gì căn cứ của Bộ Chỉ huy Miền và Đoàn Đặc công Cơ giới J16. Ông ta khai báo, chỉ điểm nơi đóng quân của J16 để địch đánh phá bằng không quân, pháo binh, xua lính đi càn. Ngồi trên trực thăng, kẻ phản bội đã dùng mọi lời lẽ hòng lung lạc tinh thần cán bộ, chiến sĩ ta: “Phan Xướng đây, hỡi anh em J16, hàng thì sống chống thì chết!”.
Một lần, tôi lên căn cứ Dương Minh Châu dự họp. Lúc này đại bộ phận các cơ quan Miền sau Mậu Thân đã chuyển lên sát biên giới Campuchia. Bộ Chỉ huy Miền triệu tập các Chính ủy từ trung đoàn trở lên họp về công tác chính trị, tư tưởng; công tác dân, địch vận ở chiến trường mới.
Họp xong, đại bộ phận cán bộ ra về, anh Sáu Thu - trợ lí tổ chức, vốn là chỗ quen biết từ khi mới vào miền Nam bảo với tôi ở lại chơi, sáng mai hẵng về. Vì công việc không có gì gấp lắm nên tôi nhận lời. Cơm nước xong hai anh em mắc võng nằm nói chuyện. Khoảng 10 giờ đêm tôi nghe tiếng máy bay B.52. Vì đã bị đánh nhiều lần nên tôi dễ dàng nhận ra tiếng động cơ của loại phương tiện giết người mà giặc Mĩ từng gọi là “pháo đài bay”. Tiếng động mỗi lúc một to. Lúc đầu nghe tiếng bom nổ xa, 30 phút sau tiếng nổ gần hơn. Và chỉ trong vòng 30 phút, 3 đợt bom rơi cách chỗ chúng tôi chỉ 50 - 60 mét. Có tiếng bộ đội kêu sập hầm, tiếng gọi nhau xem ai còn sống. Đêm ấy, căn cứ Dương Minh Châu bị 4 - 5 trận bom B.52 rải thảm. Giữa lúc trận bom hủy diệt, chúng cho máy bay trực thăng kêu gọi cán bộ, chiến sĩ ta muốn sống về với vợ con thì ra đồn gần nhất của chúng để đầu hàng, nhận nhiều ưu đãi và bảo đảm cuộc sống.
Sau mỗi trận bom, tôi và anh Sáu Thu lại chạy ra các hầm gần đó hỏi thăm mọi người rồi lại chạy về hầm mình để chịu đợt bom mới. Hầm của anh Sáu Thu ở chỗ làm việc sâu hơn 1,2m, liền đó có hầm chữ A đủ chỗ cho một người mắc võng và trú được mấy người. Đêm đó, tôi và anh Sáu Thu mắc võng trên chỗ làm việc, khi có tiếng B52, chúng tôi vào hầm chữ A ngồi chịu trận. Sau khi máy bay rải bom chồng lên lần thứ hai, chúng tôi thật sự lo lắng vì có tiếng hô kéo người này hi sinh, người kia bị kẹt dưới hầm di bị đất vùi.
Chúng tôi lo sẽ đến lượt mình hi sinh. Tôi nói với anh Sáu: “Anh còn có người yêu, lại quen biết nhiều, lỡ hi sinh còn có người biết. Còn tôi, đến vợ cũng chưa biết quê chồng ở đâu”. Trong một cuộc họp của Miền, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nói với chúng tôi: “Sau chiến thắng Ba Gia, Bàu Bàng, Đất Quốc, quân đội ta thắng Mĩ là cái chắc”. Lúc đó Đại tướng nhìn đội ngũ Chính ủy các trung đoàn, sư đoàn rồi nói thêm: “Nhưng thắng Mĩ không phải dễ đâu. Chúng đánh đến lúc ta không có gạo ăn, thiếu thuốc men và không còn đất ở chúng mới chịu”. Hồi đó tôi chưa tin, bây giờ nghĩ lại thấy ông nói rất đúng.
Nay vị tướng tài của Quân đội ta đã qua đời, nhưng dự đoán của ông đang diễn ra theo chiều hướng thắng lợi thuộc về nhân dân ta, quân đội ta. Lần này không may đến lượt mình hi sinh thì cũng không có gì ân hận. Tôi chỉ lo ra đi sớm như thế này thì nhiệm vụ của Bộ, của Binh chủng, của Miền giao chưa hoàn thành, nhưng tôi tin các anh Tư Hải, Mười Tân, sẽ thay tôi hoàn thành nhiệm vụ trên giao.
|
|
|
|
|
Logged
|
Chiều hôm em đứng giã bàng Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
|
|
|
|