Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:01:39 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những chặng đường đời  (Đọc 66582 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #50 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2014, 07:28:49 am »

Tôi chỉ băn khoăn, ngày đi bộ đội đến nay qua nhiều đơn vị nhưng tổ chức mới chỉ biết quê mình qua lí lịch. Còn một nỗi vợ tôi chưa biết quê chồng, các con chưa biết quê cha. Các con cũng chưa biết ông bà, quê quán. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo như thế này, lại ngồi trong hầm chữ A ngong ngóng chờ bom nổ. Sau mỗi trận bom mới biết mình còn sống.

Tôi nói với Sáu Thu: “Chúng mình có thể bị hi sinh. Nếu một trong hai người còn sống phải tìm về quê để nói cho gia đình rõ”. Bàn ghế không có, đèn dầu leo lét, tôi lấy giờ giấy kê lên đầu gối. Hình ảnh miền quê Sơn Thủy, Hòa Hải… hiện lên. Tôi để lại mấy lời nếu không may phải ra đi thì anh Sáu chuyển về Đoàn Đặc công Cơ giới J16 có nhiều anh em Khu 5 họ sẽ tìm cách chuyển cho gia đình vợ con tôi. Tôi đưa bài thờ cho Sáu Thu đọc. “Bài thơ gửi vợ” như sau:

            Ai về Non Nước tìm về,
            Trước sông, sau biển, núi kề bốn bên,
            Núi Chúa(1) phía tây ngó lên,
            Sơn Trà phía bắc, đông nam: Ngũ Hành.
            Tôi sinh trong một gia đình,
            Cha là Mai Nhạc, mẹ Phùng Thị Ngân.
            Anh em có chín, cùng vần,
            Chị Hai qua phần tôi chửa sinh ra.
            Mai Dân anh trai thứ ba,
            Mai Sỏ thứ bốn, tôi là thứ năm.
            Em trai có chú Sáu Hà,
            Em gái có bốn: Phò, Ca, Nhịp, Đờn.

Bom B52 của giặc Mĩ chà đi xát lại, nhưng lạ lùng, cả tôi và Sáu Thu vẫn sống. Khi chiến dịch “trả thù” tàn khốc của địch tạm ngừng, chúng tôi cùng tìm về đơn vị, tiếp tục chiến đấu.

Trở về đơn vị, chúng tôi củng cố lại thành công, phát động căm thù, động viên anh em chiến đấu. Tôi bàn với Đảng ủy và chỉ huy, tổ chức đánh một vài trận để tạo khí thế thi đua lập công. Sau khi cân nhắc, tôi thấy Technique là mục tiêu thuận lợi. Technique là nơi J16 tập kích hai lần, gần nhất vào ngày 20 tháng 12 năm 1967. Lần này, chúng tôi phát động bộ đội lập chiến công mừng sinh nhật Bác lần thứ 79. Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ, ngày 12 tháng 5 năm 1969, J16 tập kích vào Technique giành được thắng lợi lớn. Chiến thắng như liều thuốc tinh thần cỗ vũ bộ đội vươn lên lập công. Đến ngày 6 tháng 6 năm 1969, đơn vị lại tập kích vào căn cứ Technique lần thứ tư. Như vậy, căn cứ Technique của địch đã bị J16 tập kích bốn lần. Cả bốn lần đều do đồng chí Lê Như Hòa - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 Đặc Cơ chỉ huy. Trong số cán bộ lập công trong các lần tập kích vào Technique có các đồng chí: Vũ Đức Hùng, Nguyễn Văn Đễ, Nguyễn Xuân Tình…

*

Ngày 4 tháng 2 năm 1969, Đoàn J16 Đặc công Cơ giới được tăng cường lực lượng từ miền Bắc vào, Bộ Chỉ huy Miền quyết định thành lập Trung đoàn đặc công 429 ở Chiến khu Dương Minh Châu. Anh Mười Thọ - Trưởng phòng Công binh Miền được điều làm Trung đoàn trưởng. Tôi - Chính ủy Đặc công Cơ giới Miền J16 làm Chính ủy trung đoàn. Các đồng chí Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Cụ (Tư Cường), Nguyễn Văn Tịch làm Trung đoàn phó; Phạm Hà Hải - Tham mưu phó; Mười Tân - Phó chính ủy, Chủ nhiệm Chính trị; Nguyễn Văn Trọng - Phó chính ủy.

Phiên hiệu J16 Đặc công Cơ giới Miền không còn, thay vào vị trí đó là Đoàn Đặc công 429 Miền. Tuy nhiên, trong tất cả các cơ quan, đơn vị của Đoàn Đặc công 429 Miền đều có cán bộ, chiến sĩ tăng - thiết giáp.

Kể từ ngày thành lập Ban Cơ giới Miền B16 (tháng 11 năm 1964), đến khi J16 Đặc công Cơ giới Miền kết thúc nhiệm vụ chính trị (tháng 11 năm 1969), bộ đội tăng - thiết giáp đã chiến đấu dưới màu áo Đặc công Cơ giới. Trải qua 5 năm hình thành, xây dựng và phát triển, lúc tập trung, khi phân tán theo yêu cầu nhiệm vụ trên giao, vừa xây dựng đơn vị, vừa chiến đấu bằng kĩ chiến thuật Binh chủng Tăng - Thiết giáp, đặc công trong các chiến dịch, trận đánh: Bình Giã, Đồng Xoài, Bàu Bàng, Thủ Đức, Gò Đậu, núi Bà Đen, Trảng Lớn, Dầu Tiếng (2 lần), Cà Tum, Technique (4 lần), Đồng Dù, Chơn Thành, Tân Sơn Nhất, Trại Phù Đổng… mãi mãi đi vào truyện thống của các đơn vị. Đồng thời in dấu chiến công của bộ đội tăng - thiết giáp Quân giải phóng miền Nam đánh bằng chiến thuật Đặc công. Vì thế, J16 Đặc công Cơ giới là một trong những đơn vị tiền thân của Trung đoàn 429 Đặc công chủ lực miền Đông Nam Bộ.

Đây là một sự kiện hết sức đặc biệt, hết sức độc đáo mang tính sáng tạo của tăng - thiết giáp Miền nói riêng và của bộ đội tăng - thiết giáp Việt Nam.

Là người chỉ huy, từ ngày đầu bộ đội ta lấy xe địch đánh địch, tôi vô cùng tự hào và biết ơn đồng chí, đồng đội. Chính tôi cũng không ngờ là cán bộ, chiến sĩ xe tăng do yêu cầu của cách mạng, anh em đã xuống xe để chiến đấu bằng chiến thuật đặc công.

Chiến công của bộ đội tăng - thiết giáp miền Đông Nam Bộ sừng sững như một tượng đài. Từ hai cán bộ đầu tiên vào chiến trường, J16 Đặc công Cơ giới tập hợp được 292 cán bộ, chiến sĩ tăng - thiết giáp chiến đấu dưới hình thức đặc công đã lần lượt hi sinh, bị thương về tuyến sau, bị địch bắt, chỉ còn lại hơn 80 đồng chí.

Giai đoạn 1963 - 1969, được coi là mốc thời gian hình thành và tạm kết thúc của lực lượng tăng - thiết giáp miền Đông Nam Bộ gian lao mà rất đỗi anh hùng.

Chú thích
(1) Bà Nà.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #51 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2014, 07:29:26 am »

9. HỪNG ĐÔNG HÉ RẠNG

Từ cuối năm 1969, chiến trường miền Nam đã có sự thay đổi. Sau khi Tổng thống Mĩ Níchxơn (Nixon) lên thay Giônxơn (Johnson), đế quốc Mĩ thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Sự thay đổi từ “Chiến tranh cục bộ” bằng “Việt Nam hóa chiến tranh” chính là Mĩ đã thừa nhận sự thất bại không gì cứu vãn nổi. Sau ba năm ồ ạt đưa vào miền Nam hơn 50 vạn quân (chưa kể quân chư hầu: Ôxtrâylia, Thái Lan, Hà Quốc, Philíppin…), tham gia cùng với hơn 1 triệu quân ngụy Sài Gòn, Mĩ vẫn không xoay chuyển được tình thế. Thất bại đau đớn, Mĩ buộc phải chấp nhận rút quân từng bước ra khỏi chiến trường miền Nam.

“Việt Nam hóa chiến tranh” là thuật ngữ văn hoa, che đậy âm mưu thâm độc của đế quốc Mĩ, thực chất của nó là dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam. Tuy không còn những đơn vị quân Mĩ tham chiến trên chiến trường nhưng quân ngụy Sài Gòn chiến đấu bằng vũ khí của Mĩ, có xe tăng, máy bay, đại bác, cùng nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại khác mà Mĩ để lại. Thực hiện “học thuyết Níchxơn”, Mĩ tiếp tục kéo dài chiến tranh, mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương, “dùng người Đông Dương giết người Đông Dương” bằng tiền của và vũ khí Mĩ, do Mĩ chỉ huy để tránh thất bại về sinh mạng cho thanh niên Mĩ, xoa dịu làn sóng chống chiến tranh trong lòng nước Mĩ đang dâng cao.

Những năm đầu thực hiện chiến lược mới, Mĩ - ngụy đã có lợi thế thông qua các hoạt động bình định quyết liệt ở nông thôn, nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh quanh Sài Gòn. Âm mưu của địch “giành dân, chiếm đất” đã gây cho ta nhiều khó khăn. Mất địa bàn đứng chân, các đơn vị Quân giải phóng và Bộ Chỉ huy Miền phải dồn sang bên kia biên giới Campuchia.

Trước áp lực ngày càng tăng của các lực lượng vũ trang giải phóng ở các tỉnh giáp biên giới, địch phỏng đoán ta có thể đánh chiếm thị xã Tây Ninh hoặc vùng Lộc Ninh (Bình Long).

Từ bối cảnh và nhận định trên, chính quyền Mĩ quyết định mở cuộc tiến công chiến lược sang Campuchia. Chúng hí hửng: Nếu phá được “thánh đường” Việt cộng ở Campuchia thì chiến tranh sẽ kết thúc trong vòng một năm” (ABrams - Tư lệnh quân Mĩ ở Đông Nam Á). Chúng cũng cho rằng: “sẽ xóa căn cứ bàn đạp chiến lược, cắt hành lang tiếp tế của cộng sản ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, kết hợp xóa bỏ nền trung lập Campuchia, lập nên chính quyền thân Mĩ”. Từ nhận định trên, chúng đã huy động một lực lượng từ 26 đến 29 trung, lữ đoàn Mĩ - ngụy, 22 tiểu đoàn pháo, 17 thiết đoàn xe thiết giáp cộng với một lực lượng không quân chiến thuật và máy bay B.52 chiến lược. Lúc cao điểm chúng sử dụng tới 200 lần chiếc máy bay chiến thuật và 35 lần chiếc B.52 chi viện trong ngày.

Về phía ta, Trung ương Cục miền Nam nhận định: “Địch đánh lên biên giới là thời cơ rất tốt để ta tiêu diệt sinh lực và phá hỏng phương tiện chiến tranh của chúng. Hỗ trợ đắc lực cho toàn miền Nam đánh phá bình định. Chủ trương của Trung ương Cục là: Phải tiến công, sẵn sàng đánh phản công, đồng thời tranh thủ củng cố lực lượng về mọi mặt.

Để đáp ứng yêu cầu của chiến trường, từ tháng 11 năm 1969, lực lượng đặc công ở miền Bác vào miền Đông Nam Bộ ngày càng nhiều. Bộ Chỉ huy Miền quyết định chuyển Trung đoàn 429 Đặc công chủ lực Miền lên Lữ đoàn Đặc công 429. Đồng chí Thượng tá Đặng Ngọc Sĩ (Hai Sĩ) làm Lữ trưởng, Nguyễn Văn Thọ (Mười Thọ (Mười Thọ) Lữ phó; đồng chí Nguyễn Huy Định - Thượng tá, Phó Chính ủy Sư đoàn 1 được điều về làm Chính ủy Lữ đoàn; tôi làm Phó Chính ủy.

Tháng 4 năm 1970, Mĩ - ngụy mở cuộc hành quân lớn sang Campuchia, Bộ Chỉ huy Miền điều đồng chí Nguyễn Văn Thọ - Lữ đoàn phó 429 Đặc công và tôi đưa hai tiểu đoàn đặc công 7 và 8 đi làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia. Lực lượng này tăng cường cho Mặt trận C40 ở các tỉnh Kampong Cham và Kampong Thom

Tuy không còn phiên hiệu J16 Đặc công Cơ giới nhưng cán bộ, chiến sĩ tăng - thiết giáp đã sát cánh với Đoàn Đặc công 429 tham gia những trận đánh lớn trên chiến trường Campuchia, hỗ trợ cho lực lượng cách mạng nước bạn như: Trận Kampong Cham, trận Kampong Thom (tháng 4 năm 1970), trận đánh vào Stung Treng (tháng 5 năm 1970), trận Simchilăng (tháng 5 năm 1970) đã góp phần cùng các đơn vị bạn tiêu diệt 7.050 tên địch, thu 817 súng, phá hủy 357 xe các loại, bắn rơi 28 máy bay, giải phóng hàng ngàn dân Campuchia và Việt kiều bị giam giữ trong các nhà tù, trại tập trung.

Sau bốn tháng thực hành chiến dịch, với chiến thuật “vây, lấn, tấn, phá, triệt diệt”, chủ lực Miền và các lực lượng vũ trang giải phóng đã liên tiếp giành được thắng lợi lớn.

Sau 19 tháng (tháng 4 năm 1970 đến tháng 11 năm 1971) mở rộng chiến tranh sang bên kia biên giới, địch đã tự mình chuốc lấy hậu quả nặng nề. Chúng không những không xóa bỏ được vùng “đất thánh” mà ngược lại “đất thánh” ngày càng được mở rộng và củng cố vững chắc hơn, khả năng cung cấp được khơi thông, có những nguồn mới dồi dào hơn; cách mạng Campuchia phát triển vượt bậc, thế của ta ở bắc Sài Gòn càng vững vàng hơn.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #52 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2014, 07:29:50 am »

Sau những thất bại liên tiếp, nặng nề trên các chiến trường, đặc biệt là cuộc hành quân “Lam Sơn 719” (Đường 9 - Nam Lào), các hoạt động bình định, quân sự của Mĩ - ngụy có dấu hiệu chững lại. Với chiến thắng Đường 9 - Nam Lào, ta đã khơi thông tuyến đường vận tải chiến lược vào tận các chiến trường Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ. Nắm bắt thời cơ, Đảng ta chủ trương: “Giành thắng lợi trong năm 1972 bằng một cuộc Tổng tiến công chiến lược trên toàn miền Nam với ba hướng tiến công chủ yếu: Trị Thiên, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.

Chấp hành Nghị quyết Bộ Chính trị, Trung ương Cục miền Nam và Quân ủy Miền quyết định mở chiến dịch Nguyễn Huệ trên địa bàn các tỉnh Tây Ninh, Bình Long, Phước Long, Bình Dương, nhằm phá vỡ tuyến phòng thủ phía bắc Sài Gòn của địch và giải phóng những khu vực trọng yếu trên địa bàn bốn tỉnh, phối hợp, hỗ trợ cho phong trào chống phá bình định ở nông thôn đồng bằng, tạo thế đứng chân vững chắc, đồng thời nâng cao trình độ tác chiến tập trung, hiệp đồng binh chủng của bộ đội.

Trước khi mở chiến dịch, Bộ Tổng tham mưu đã bổ sung cho chiến trường Nam Bộ và cực nam Trung Bộ hai trung đoàn bộ binh 24 và 271, hai tiểu đoàn pháo 85mm, một tiểu đoàn pháo 122mm, hai tiểu đoàn cao xạ 37mm, một tiểu đoàn xe tăng, một đại đội tên lửa chống tăng B72.

Bộ Chỉ huy Miền giao cho Đoàn Pháo binh Biên Hòa tổ chức và giúp cán bộ xe tăng tiếp nhận các loại trang bị từ miền Bắc vào. Tôi đang giữ cương vị Phó Chính ủy Lữ đoàn 429 Đặc công được Miền điều về làm Phó Chính ủy Đoàn Pháo binh Biên Hòa cùng tham gia tổ chức tiếp nhận xe tăng, pháo binh và các trang bị chiến đấu khác được Bộ tăng cường cho B2.

Sự xuất hiện của tăng - thiết giáp trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào cho thấy đã đến lúc đưa xe tăng - thiết giáp vào tác chiến hiệp đồng binh chủng tại chiến trường Đông Nam Bộ. Đón trước nhiệm vụ mới, Bộ Chỉ huy Miền đã chủ trương tập hợp số cán bộ, chiến sĩ tăng - thiết giáp đang công tác ở các binh chủng khác khoảng 80 người về căn cứ để triển khai nhiệm vụ chuẩn bị cho mặt trận B2.

Tháng 11 năm 1970, Bộ Chỉ huy Miền triệu tập các đồng chí Phạm Hà Hải và Vũ Đức Hùng đang công tác ở Đoàn Đặc công 429 về Bộ Chỉ huy giao nhiệm vụ: “Chuẩn bị cơ sở vật chất để đón nhận lực lượng tăng - thiết giáp từ miền Bắc chi viện cho chiến trường B2”. Cùng một lúc, hai đồng chí phải triển khai mấy nhiệm vụ cụ thể: Tổ chức đón tiếp Tiểu đoàn tăng - thiết giáp, ổn định tổ chức biên chế, sẵn sàng chiến đấu và tổ chức lực lượng thu gom xe tăng - thiết giáp của địch”.

Nhận nhiệm vụ xong, hai anh đạp xe từ Đàm Say Pông ngược lên Stung Treng. Sau bốn ngày các anh đã đến ngã ba đường 19 9 giáp lộ 7 Campuchia), từ Khu 5 vào. Tại đây, họ gặp đồng chí Lai - Tham mưu trưởng Đoàn pháo binh Biên Hòa cùng bàn bạc khu vực đóng quân, chọn vị trí làm hầm lán cho xe, chọn đường cơ động, vẽ sơ đồ, xây dựng quyết tâm chiến đấu và trở về Bộ Chỉ huy Miền báo cáo tình hình, xin bổ sung lực lượng, chuẩn bị cho nhiệm vụ mới.

Tháng 11 năm 1971, Vũ Đức Hùng phụ trách một đoàn 10 người gồm cán bộ kĩ thuật, tham mưu, trinh sát và chiến sĩ phục vụ hành quân bộ theo đường 19 đến vị trí đón lực lượng tăng cường của binh chủng từ miền Bắc vào. Sau hai tháng khẩn trương làm công tác chuẩn bị, bộ phận tiếp nhận xe từ miền Bắc vào đã sẵn sàng. Ngày 3 tháng 3 năm 1971, Bộ Chỉ huy Miền cũng thành lập Sở Chỉ huy tiền phương Cơ giới do đồng chí Phạm Hà Hải chỉ huy. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, những cán bộ, chiến sĩ tăng - thiết giáp chiến đấu phân tán ở các binh chủng như đặc công, pháo binh, thông tin, các phân khu, các cơ quan phục vụ Bộ Chỉ huy Miền nhanh chóng trở về Sở Chỉ huy tiền phương Cơi giới nhận nhiệm vụ. Khung cơ quan Sở Chỉ huy tiền phương có các bộ phận: tham mưu, chính trị, hậu cần, kĩ thuật.

Đến cuối tháng 3 năm 1971, anh em cán bộ tăng - thiết giáp đã tìm về địa điểm đóng quân tại một cánh rừng trên đất Campuchia thuộc tỉnh Stung Treng. Gần 50 người ôm nhau mừng mừng, tủi tủi. Không mấy người trong số họ lành lặn, hầu hết bị mất đi một phần cơ thể, hoặc bệnh tật, sốt rét nhưng cố chống gậy trở về để ghi danh vào đội ngũ tiếp tục chiến đấu.

Chỉ với số người ít ỏi, Sở Chỉ huy tiền phương đã phối hợp với lực lượng công binh khẩn trương triển khai vị trí đón xe, khảo sát địa hình, mở tiếp đoạn đường bí mật từ Stung Treng về vị trí tập kết cuối củng ở phía bắc huyện Lộc Ninh.

Ngày 25 tháng 5 năm 1971, Bộ Chỉ huy Miền ra quyết định thành lập tiểu đoàn thu gom trang bị kĩ thuật của địch, trong đó có một đội thu gom xe tăng thiết giáp. Đội thu gom xe tăng - thiết giáp địch lấy phiên hiệu C33 để kỉ niệm ngày thành lập Sở Chỉ huy tiền phương Cơ giới, tháng 3 năm 1971. Biên chế của đại đội có 8 đồng chí do Thượng ủy Vũ Đức Hùng làm Đội trưởng; Trung ủy Đỗ Ngọc Tịch - Chính trị viên; Thiếu úy Nguyễn Ngọc Thiết - Đội phó Hậu cần; Thiếu úy Nguyễn Khắc Giàu - Đội phó Kĩ thuật và các đồng chí Trương Luông (kĩ thuật viên); Nguyễn Tấn Đức (lái xe ô tô); Đặng Quang Thắng (trinh sát); Nguyễn Ngọc Dung (công vụ); Nguyễn Ngọc Mậu (y tá).
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #53 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2014, 07:30:27 am »

Sau ngày thành lập, C33 hành quân về vị trí đóng quân tại Phum Xa Mát, cách Sênun 30km về phía tây. Ngày ra quân đầu tiên, C33 đã thu được một chiếc M113 tại Sênun.

Ngày 28 tháng 5, C33 thu được một xe Jeep, một xe M113, một xe Zeo. Bộ đội ta còn phát hiện một trận địa pháo có 3 khẩu 105mm, anh em dùng xe M113 kéo ra mặt đường, bàn giao cho Đoàn pháo binh Biên Hòa đưa về vị trí cất giấu.

Chỉ có 9 người với khẩu súng bộ binh, trong tay không có dụng cụ tháo gỡ nhưng với quyết tâm “thu xe địch đánh địch”, anh em đã lặn lội ngày đêm, thay nhau tháo lấy các khí tại trang bị trên xe tăng địch. Khi anh em chui vào xe, có chiếc xác địch thối rữa, bốc mùi, trên trời máy bay lại quần đảo, ném bom, bắn phá. Để tháo được hộp số nặng mấy trăm cân, anh em phải tự khắc phục bằng cách lấy cây rừng làm cần cẩu, ròng rọc tận thu ở nhà máy cao su Sênun. Hai chiếc xe M113 đầu tiên thu được là tài sản vô cùng quý báu của Quân giải phóng. Xe được bộ đội đào hầm để cất giấu, chăm sóc bảo quản. Có xe, lại được bổ sung lên tới 64 đồng chí, C33 biên chế thành ba trung đội huấn luyện, hai trung đội lái xe M113 và M41, một trung đội pháo thủ. Số cán bộ cũ được phân công làm giáo viên, trợ giáo, đơn vị bước vào huấn luyện sôi nổi.

Trên cơ sở phương tiện và lực lượng hiện có, ngày 19 tháng 7 năm 1971, Bộ Tư lệnh Miền quyết định thành lập Phòng Cơ giới (M26), tách ra khỏi Pháo binh (Đoàn 75), trực thuộc Cục Hậu cần, có nhiệm vụ bảo đảm hậu cần kĩ thuật cho lực lượng Cơ giới Miền ở B2. Cùng thời điểm trên, số cán bộ, chiến sĩ biệt phái đi các đơn vị đã trở về căn cứ, việc thu gom xe tăng, xe thiết giáp địch cũng đạt kết quả tốt. Trong khi đó chiến trường miền Đông đòi hỏi khả năng chiến đấu hiệp đồng binh chủng ngày càng trở nên bức xúc.

Tình thế chiến trường miền Nam đã có nhiều đổi thay, có lợi cho ta. Tôi nóng lòng muốn được trở về với anh em tăng - thiết giáp để tiếp tục chiến đấu. Nhưng tháng 6 năm 1971, đang ở Đoàn đặc công 429, tôi được Bộ Chỉ huy Miền điều động về nhận công tác tại Đoàn pháo binh Biên Hòa. Khi giao nhiệm vụ cho tôi, các đồng chí trong Bộ Chỉ huy Miền giải thích: Chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công chiến lược năm 1972, một số đơn vị hỏa lực của B2 phải được tăng cường đội ngũ cán bộ có năng lực, có nhiều kinh nghiệm trong chiến đấu.

Trên dải đất miền Đông rộng lớn này tôi đã phục vụ và chiến đấu trong sắc áo bộ đội tăng - thiết giáp, đặc công và bây giờ là pháo binh. Quân đội yêu cầu, chiến trường đòi hỏi, tôi chỉ biết chấp hành và thực hiện cho tốt.

“Đoàn pháo binh Biên Hòa” là tên do Quân ủy Miền và Bộ Tư lệnh Miền tặng khi Đoàn còn mang phiên hiệu Đoàn pháo binh 69. Đoàn pháo binh 75 lúc ấy tương đương cấp sư đoàn. Đồng chí Bùi Cát Vũ được cấp trên điều về làm Tư lệnh từ năm 1967. Tôi làm Chỉnh ủy, đồng chí Nguyễn Văn Kiên - Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng. Lực lượng của Đoàn lúc bấy giờ khá hùng hậu: hai trung đoàn (28, 96) với 6 tiểu đoàn pháo mang vác; một trung đoàn pháo cao xạ 37mm và 12,7mm, một tiểu đoàn pháo xe kéo, hai đại đội tên lửa chống tăng (B72).

Tại Suối Ngô, Đại hội đại biểu Đảng bộ Đoàn pháo binh Biên Hòa lần thứ hai đã tiến hành trong hai ngày, Đại hội thảo luận, nhất trí đề ra 16 chữ vàng: “Xung kích, đánh giỏi, bắn trúng, toàn năng, khoa học, sáng tạo, tự lực, tự cường”. Đó là phương hướng chiến đấu của pháo binh chủ lực Miền trong suốt cả quá trình kháng chiến chống Mĩ, cứu nước, về sau trở thành truyền thống tốt đẹp của pháo binh ba thứ quân toàn Miền. Nghị quyết của Đại hội nêu rõ: “Pháo mang vác là cơ bản, pháo xe kéo là quan trọng, sử dụng tốt thì pháo xe kéo sẽ là hỏa lực chủ yếu”. Và đề ra khẩu hiệu hành động: “Khí thế như Mậu Thân, truyền thống như Điện Biên, Biên Hòa, hỏa lực mạnh, cơ động nhanh, hiệp đồng đánh giỏi, thắng to”.

Tại Đại hội, tôi được bầu làm Bí thư Đảng ủy Đoàn.

Sau Đại hội, Đoàn pháo binh Biên Hòa như được tiếp thêm sinh khí mới, khẩn trương chuẩn bị cho những trận đánh lớn. Trong lúc đơn vị củng cố và tiếp tục huấn luyện, một bộ phận cán bộ, chiến sĩ Đại đội 17 chia ra 5 tổ ngày đêm tiến hành đo đạc, lập mạng pháo binh. Vừa đánh địch mở đường vừa làm nhiệm vụ, tỏa ra các hướng chiến dịch, cắt khoảng 250km dường rừng, chuẩn bị 76 trận địa bắn, đo đạc 150 tọa độ mục tiêu, lập 6 đài cơ bản. Cơ quản hậu cần - kĩ thuật của đoàn bảo đảm khối lượng lớn lương thực, thực phẩm, đạn dược, thuốc chữa bệnh và nhiên liệu dự trữ. Tất cả xe pháo được sửa chữa, ổn định về kĩ thuật. Đoàn còn phối hợp với các địa phương vùng căn cứ điều động lực lượng dân công, sửa chữa và mở thêm đường cho xe, pháo cơ động.

Tháng 3 năm 1972, Đoàn pháo binh Biên Hòa tiếp nhận Tiểu đoàn 9 lựu pháo 122mm và Đại đội cối 160mm từ miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Đông với quân số, vũ khí đầy đủ, có thể chiến đấu được ngay. Mọi công tác đã chuẩn bị xong, các lực lượng đã vào vị trí tập kết an toàn, sẵn sàng tham gia chiến dịch mang tên vị Anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #54 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2014, 07:30:57 am »

Nhiệm vụ của Chiến dịch Nguyễn Huệ là tiến công tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá vỡ hệ thống phòng ngự của địch trên hướng bắc Sài Gòn, mở rộng vùng giải phóng ở các tỉnh Bình Long, Phước Long, Tây Ninh. Theo kế hoạch, các đơn vị tham gia chiến dịch chia làm hai hướng tiến công. Hướng chủ yếu là đường 13 đoạn Lộc Ninh - Bến Cát. Lộc Ninh là trận mở đầu then chốt, thị xã An Lộc là quyết chiến điểm. Lực lượng ta có Sư đoàn 9, Sư đoàn 5, Sư đoàn 7 bộ binh và các đơn vị pháo binh, đặc công, thiết giáp. Hướng thứ yếu do Đoàn 30B đảm nhiệm nghi binh địch đường 13 và khu vực Tây Ninh.

Tại Sở Chỉ huy của Đoàn pháo binh Biên Hòa ở tây nam Lộc Ninh, chúng tôi giao nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị.

Trung đoàn 28 tung cả 3 tiểu đoàn phối thuộc cho Sư đoàn 9, Sư đoàn 5 và Sư đoàn 7. Cả 3 tiểu đoàn pháo 105mm, 122mm và 85mm làm nhiệm vụ cụm pháo chiến dịch cho Sư đoàn 5 tiến công Lộc Ninh và chi viện Sư đoàn 7 ngăn chặn địch rút từ Lộc Ninh về An Lộc. Bộ Tư lệnh Đoàn 75 chúng tôi trực tiếp nắm và chỉ huy cụm pháo chiến dịch.

Đại đội 1 tên lửa chống tăng phối thuộc Sư đoàn 7 đánh xe tăng địch ở Chơn Thành.

Trung đoàn 96 chuyên trách đánh địch trên sông và dùng một lực lượng tăng cường cho Đoàn 30B trên hướng thứ yếu.

Giờ phút chúng tôi chờ đợi đã đến!

Đêm 31 tháng 3, rạng ngày 1 tháng 4 năm 1972, những quả đạn pháo của Trung đoàn 96 rót trúng các căn cứ Xa Mát, Thiện Ngôn, Bàu Dưng của địch. Hai trung đoàn bộ binh của Đoàn 30B lập tức nổ súng tiến công và Chiến đoàn 49 ngụy, đập tan hệ thống phòng thủ của địch trên đường 22, phối hợp với quân và dân tỉnh Tây Ninh tiến công và nổi dậy giải phóng huyện Tân Biên.

Trong lúc địch đang bối rối lo đối phó với ta trên đường 22 thì Sư đoàn 5 và Trung đoàn 3 Sư đoàn 9 được tăng cường 2 đại đội xe tăng bí mật tiếp cận Lộc Ninh. Pháo xe kéo và tiểu đoàn 22 pháo binh của Sư đoàn 5 tiến vào trận địa.

Tiểu đoàn 6 pháo cối 120mm sử dụng 120 chiếc xe đạp thồ để chở đạn pháo. Ngày 4 tháng 4, đoàn xe đạp thồ gặp địch, các chiến sĩ nhanh chóng chuyển đạn pháo lên vai, mỗi người vác 4 viên, nặng gần 40kg, tiếp tục hành quân.

Lần đầu tiên cơ động trên một địa hình phức tạp qua rừng rậm, đầm lầy, lại bị kẻ địch lùng sục gắt gao, nhưng cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn pháo xe kéo đã thể hiện quyết tâm, ý chí rất cao, nhất là khi gặp những tình huống không thuận lợi. Tiểu đoàn 4 pháo 105mm gặp địch đã tìm đường để vòng tránh. Ba khẩu đội chối 160mm cũng gặp địch đã dừng lại để chiến đấu, sau đó đưa pháo vào chiếm lĩnh vị trí an toàn. Tiểu đoàn 9 lựu pháo 122mm cơ động sang phía tây đường 13, khi vượt sông Măng, do công tác tổ chức chỉ huy chưa tốt và bị sa lầy nên không đến kịp giờ nổ súng. Đại đội 2 Tiểu đoàn 34 pháo 85mm tảng sáng mới vào đến trận địa, địch phát hiện bắn ra nên thương vong nhiều, chỉ còn Đại đội 3 vào theo hướng khác chiến đấu được.

5 giờ 30 phút ngày 5 tháng 4 năm 1972, trên hướng chủ yếu ta bắt đầu tiến  công căn cứ Lộc Ninh. Địch tập trung ở đây một lực lượng khá lớn gồm khoảng 5.000 tên. Pháo ta bắn cấp tập 1.200 viên đạn vào các loại sở chỉ huy, trận địa pháo và các cụm quân địch. Do chuẩn bị phần tử bắn chính xác nên ngay từ loạt đạn đầu đã trúng các mục tiêu. Khu thông tin, kho tàng, lô cốt của địch bị bắn sập, phá hỏng. Khi pháo binh ta chuyển làn, Sư đoàn 5 bộ binh và thiết giáp xông lên đột phá. Gần 4 giờ sau, Tiểu đoàn 9 lựu pháo chiếm lĩnh được trận địa, bắt đầu bắn các mục tiêu được phân công.

Sau hai ngày chiến đấu giằng co, quyết liệt vẫn chưa giải quyết được chiến trường, ta tổ chức đợt tiến công mới. Pháo của Đoàn pháo binh Biên Hòa lại đồng loạt bắn cấp tập, mạnh mẽ và chuẩn xác vào các mục tiêu, tạo điều kiện cho bộ binh, xe tăng ta phát triển, buộc địch phải đưa lực lượng ứng cứu. Chớp thời cơ, Trung đoàn 3 Sư đoàn 9 đã nhanh chóng vận động phục kích diệt gần hết lực lượng này, loại khỏi vòng chiến đấu 1.400 tên, phá hủy 56 xe, thu 12 xe tăng M41. Đến 14 giờ ngày 7 tháng 4 năm 1972, lực lượng còn lại của địch ở chi khu Lộc Ninh kéo cờ trắng ra hàng.

Đây là trận thắng lợi diệt chiến đoàn địch phòng ngự trong công sự vững chắc bằng lực lượng binh chủng hợp thành của bộ đội chủ lực Miền. Ta đã tiêu diệt, bắt sống, làm tan rã toàn bộ 5.000 tên địch, bắt sống 2.000 tên, trong đó có tên đại tá Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 9 Nguyễn Công Vĩnh; thu gần 2.000 vũ khí các loại, trong đó có 16 khẩu pháo 105mm, phá hủy hơn 200 xe quân sự. Huyện Lộc Ninh với hơn 30 ngàn dân được giải phóng, ít lâu sau trở thành trung tâm chính trị của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Phát huy thắng lợi trận mở màn, ngày 8 tháng 4 năm 1972 các đơn vị pháo binh cùng bộ binh, xe tăng, cơ động từ Lộc Ninh xuống phía nam 20km mở trận quyết chiến tại thị xã An Lộc. Là một căn cứ rộng và kiên cố, An Lộc được chính quyền ngụy Sài Gòn giao cho Sư đoàn 4 ngụy chiếm giữ. Ngay khi mất Lộc Ninh, Mĩ - ngụy chọn An Lộc làm “tuyến đầu chặn sức tiến công của Cộng sản, tăng cường lực lượng mở cuộc hành quân chiến thắng 72C”. Chúng tập trung tối đa lực lượng nhằm giải tỏa áp lực của ta quanh thị xã, sử dụng không quân, pháo binh đánh phá các ngả đường dẫn đến thị xã.

Quân ta hình thành vòng cung dài hơn 20km bao vây An Lộc. Đoàn pháo binh Biên Hòa được tung phần lớn lực lượng vào trận quyết chiến điểm. Số pháo xe kéo được sử dụng tăng lên 17 khẩu, bố trí tại các trân địa Technique, Phủ Lố, Cần Lê. Trận địa cối 160mm đặt ở bắc sân bay An Lộc. Phía đông và tây An Lộc là trận địa pháo cao xạ 37mm.

Trong hai ngày 11 và 12 tháng 4 năm 1972, pháo binh ta đã bắn phá hoại nhiều lần, chuẩn bị cho trận đánh hiệp đồng binh chủng ngày 13 tháng 4. Kế hoạch hỏa lực được bộ Chỉ huy chiến dịch thông qua và phê chuẩn. Tổng số đạn bắn của pháo xe kéo trong trận này là 2.850 viên với ba lần dồn dập trong 90 phút. Đây là kế hoạch hỏa lực quy mô lớn bắn theo bải bản chính quy đến thời điểm này chưa từng có trên chiến trường Nam Bộ.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #55 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2014, 07:31:30 am »

Đúng 5 giờ 15 phút ngày 13 tháng 4 năm 1972, trên bầu rời An Lộc xuất hiện ba phát pháo hiệu đỏ. Lập tức máy vô tuyến phát tín hiệu “111”, máy hữu tuyến điện gọi “Bão”. Tất cả các trận địa pháo của ta nhất loạt gầm lên như sấm. Trên khu vực mục tiêu khói lửa trùm kín cùng tiếng đạn nổ kéo dài không ngớt suốt 90 phút theo đúng kế hoạch.

Từng đoàn xe tăng từ những cánh rừng bất ngờ xuất hiện dũng mãnh trải băng xích, tiến về thị xã An Lộc. Các khẩu đội pháo 85mm nhanh chóng di chuyển lên phía trước chiếm lĩnh trận địa bắn trực tiếp. Những đường đạn căng, rực lửa, liên tiếp phóng vào các mục tiêu bên trong thị xã. Bọn địch trong căn cứ cuống cuồng gọi pháo, máy bay đến để  cứu ngụy. Pháo cao xạ 37mm của ta đồng loạt tạo thành lưới lửa dày đặc, hất ngược những tốp máy bay của địch lên. Bị ta vô hiệu hóa, máy bay và xe tăng địch không thể cứu được đồng bọn trong căn cứ. Các lực lượng bộ binh, xe tăng ta dũng mãnh tiến vào thị xã. Đồng chí Tham mưu phó Sư đoàn 9 bộ binh có mặt trên đài quan sát của Tiểu đoàn 4 không giấu được niềm vui: “Pháo binh bắn trúng lắm! Cả cuộc đời chiến đấu đến hôm nay tôi mới thấy một trận đánh đẹp như thế này”.

Được sự chi viện đắc lực của pháo binh, Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 9 của Sư đoàn 9 bộ binh nhanh chóng chiếm được sân bay An Lộc. Lần đầu tiên lực lượng cao xạ ta được trang bi tên lửa đát đối không A72 và đã sử dụng tốt. Các tiểu đoàn pháo binh cũng đã chiếm lĩnh được một số căn cứ vòng ngoài chi viện đắc lực cho bộ binh. Tình huống mới, bất ngờ xuất hiện khi xe tăng ta bị hỏng nhiều, phải lùi ra sau sửa chữa, bộ binh dừng tại chỗ chiến đấu giằng co với địch từng tấc đất, từng đoạn chiến hào. Đêm 13 và cả ngày 14 tháng 4 năm 1972, địch dựa vào công sự vững chắc, lại được máy bay chiến lược B.52, máy bay chiến thuật và pháo đánh phá ác liệt vào các vị trí bàn đạp của ta. Các chiến sĩ pháo binh ta không hề nao núng. Có khẩu bị bom giội lật nghiêng pháo, anh em ta bình tĩnh kích pháo trở lại và tiếp tục bắn. Khi có lệnh, mặc dù trời mưa, đường trơn và đêm tối, anh em đã dùng sức người đẩy những khẩu pháo 85mm, 105mm, 122mm vượt chặng đường 5km vào ép sát vành đai vây hãm.

Ngày 14 tháng 4, địch đổ Lữ đoàn dù số 1 và 4 khẩu pháo 105mm xuống Núi Gió, cách thị xã 3km về phía đông nam để yểm trợ cho quân ngụy trong căn cứ. Pháo binh ta bắn mạnh không cho địch củng cố công sự.

Ngày 15 tháng 4 năm 1972, ta mở đợt tiến công thứ hai nhưng địch dùng hỏa lực không quân và pháo binh ngăn chặn, bộ binh không phát triển được. Vì là lần đầu tiên đánh hiệp đồng binh chủng, ta bộc lộ một số nhược điểm: có lúc xe tăng thọc sâu nhanh phải đợi bộ binh, có lúc bộ binh lại không bám được xe tăng, cán bộ tỏ ra lúng túng. Cá biệt, có lúc pháo binh không phát huy được hỏa lực chi viện cho bộ binh do khâu truyền lệnh thiếu chính xác, kịp thời.

Từ ngày 16 tháng 4 đến ngày 19 tháng 4 năm 1972, Đoàn pháo binh Biên Hòa bắn vào quân địch ở Sóc Gòn, Phú Hòa, Núi Gió, điểm cao 169. Đặc biệt, đêm 19 tháng 4, cả bốn loại pháo 105mm, 155mm, 85mm và 122mm bắn tập trung, cấp tập 300 viên đạn vào Núi Gió tạo điều kiện cho bộ binh xung phong. Đến 6 giờ 30 phút ngày 20 tháng 4, trận đánh kết thúc thắng lợi, ta tiêu diệt toàn bộ Tiểu đoàn 6, Ban Chỉ huy Lữ đoàn 1 dù và trận địa pháo 4 khẩu của địch trên điểm cao Núi Gió.

Từ cuối tháng 4 năm 1972, ta tiếp tục duy trì áp lực xung quanh thị xã An Lộc, thực hiện chủ trương của Bộ Tư lệnh chiến dịch: tiêu diệt quân địch bên ngoài để phá chỗ dựa của quân địch bên trong. Các trận địa pháo của chiến dịch và của các sư đoàn bộ binh liên tục bắn vào các mục tiêu trong thị xã khiến địch vô cùng căng thẳng. Đầu tháng 5 năm 1972, địch tăng cường thêm cho An Lộc 5 chiến đoàn, cùng với 8.400 lính ngụy từ các nơi được điều về nhằm cố giữ cho được An Lộc. Chúng co cụm trong công sự. Thấy thời cơ tiêu diệt địch thuận lợi, hỏa lực pháo binh ta tiếp tục tập kích bằng nhiều phương pháp: bắn khống chế, bắn ngăn chặn, bắn thời cơ, cắt đứt toàn bộ đường cơ động, tiếp tế trên bộ và trên không của địch.

Ngày 11 tháng 5 năm 1972, ta mở đợt tiến công thứ ba vào An Lộc. Lực lượng tiến công gồm Sư đoàn 9 và Trung đoàn 2 của Sư đoàn 5 bộ binh, 25 xe tăng và toàn bộ pháo binh chiến dịch. Ta tiêu diệt một phần sinh lực địch, chiếm thêm một số mục tiêu, rồi sau đó để một phần lực lượng vây hãm giam chân 17 tiểu đoàn ngụy trong căn cứ. Lực lượng còn lại chuyển sang đánh vận động tiêu diệt địch trên khu vực từ nam An Lộc đến bắc Bến Cát. Trong các trận đánh này, pháo binh đã chi viện đắc lực cho Sư đoàn 9 và Sư đoàn 7 bộ binh đánh vận động tiêu diệt địch ở Thanh Bình, Tân Khai, Chơn Thành. Trên đường 13, các đơn vị pháo binh tinh nhuệ đã cùng Sư đoàn 7 chốt chặn dài ngày ở Tàu Ô, đánh lui nhiều đợt phản kích của địch. Ở hướng này, địch tập trung hàng sư đoàn chủ lực của Quân đoàn 3, có hàng trăm xe tăng và xe bọc thép đi cùng, với sự chi viện hỏa lực tối đa của pháo binh và máy bay. Để cứu nguy, Mĩ - ngụy đã dồn tất cả mọi phi vụ B.52 cho thị xã An Lộc và đường 13. Nhưng bộ đội ta chiến đấu dũng cảm, giữ vững chốt Tàu Ô. Các pháo thủ, trắc thủ B72, ĐKZ, cối, pháo xe kéo ngày đêm sát cánh cùng bộ binh, dội bom đạn, chịu đựng mưa nắng, đói khát, kiên cường bám trụ để hoàn thành nhiệm vụ cắt đứt đường 13 từ Chơn Thành lên An Lộc.

Từ ngày 16 tháng 5 năm 1972, ta chuyển sang vây hãm, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch ở thị xã An Lộc và đánh địch lên giải tỏa đường 13. Bị tổn thất nặng nề, tinh thần quân lính sa sút, địch phải bỏ hàng loạt căn cứ ở Xa Mát, Thiện Ngôn, Cần Đăng.

Kết thúc chiến dịch, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 30 ngàn tên địch, diệt và bức rút trên 500 đồn bốt, giải phóng nhiều vùng nông thôn rộng lớn. Chiến trường miền Đông Nam Bộ đang ló rạng ánh bình minh.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #56 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2014, 09:11:52 am »

10. VỀ LẠI MÁI NHÀ XƯA

Sau thất bại mang tính chiến lược trong cuộc hành quân “Lam Sơn 719” đánh ra Đường 9 - Nam Lào năm 1971, đế quốc Mĩ và ngụy quyền Sài Gòn cố giữ bằng được cục diện chiến trường Đông Dương không sa vào cảnh ảm đảm. Ở miền Nam, chúng co lại phòng ngự, tăng cường hoạt động ở Lào, Campuchia, tiếp tục đánh phá miền Bắc bằng không quân, hải quân nhằm ngăn chặn sự chi viện của hậu phương cho các chiến trường. Mặt khác, được sự hà hơi tiếp sức của Mĩ, chính quyền Sài Gòn tăng cường bình định, củng cố và phát triển quân ngụy, tạo thuận lợi cho cuộc đàm phán ở Pari và cuộc vận động bầu cử tổng thống Mĩ cuối năm 1972.

Về phía ta, thực hiện chủ trương tiếp tục tiến công giữ vững, phát triển thế và lực đã có, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tiến công chiến lược 1972, quân và dân miền Nam tích cực phá tan bình định; duy trì và phát triển lực lượng chính trị, quân sự; phát triển mạnh chiến tranh du kích để tiêu hao và làm suy yếu quân địch.

Phối hợp với chiến trường Việt Nam, quân và dân Lào, Campuchia đã đập tan các cuộc hành quân của địch, bảo vệ và mở rộng vùng giải phóng, xây dựng lực lượng cách mạng vững mạnh. Cục diện chiến trường Đông Dương đứng trước triển vọng mới, có lợi cho ta.

Nắm bắt tình hình trên, Bộ Chính trị Trung ương Đảng chủ trương động viên sức người, sức của, chuẩn bị lực lượng mọi mặt, quyết tâm giành thắng lợi to lớn trong năm 1972, nhằm tạo ra bước ngoặt quan trọng cho cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước của nhân dân ta.

Từ cuối 1971, thực hiện chủ trương của trên, Binh chủng Tăng - Thiết giáp tăng cường phát triển lực lượng chuẩn bị cho đánh lớn. Các tiểu đoàn tăng 171, 297, 198 thuộc Trung đoàn xe tăng 203 và các tiểu đoàn 397, 177 thuộc Trung đoàn tăng 202 gấp rút tiếp nhận bổ sung quân sự, trang bị kĩ thuật, khẩn trương kiện toàn biên chế, tổ chức huấn luyện, chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng lên đường.

Ngày 18 tháng 11 năm 1971, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập thêm Trung đoàn tăng 201 và chuyển Trung đoàn tăng 202 thành Trung đoàn bộ binh cơ giới 202. Được bổ sung thêm hai tiểu đoàn bộ đội địa phương: 244 của tỉnh Quảng Ninh và Tiểu đoàn 66 của tỉnh Nam Hà nên sức chiến đấu của Trung đoàn 202 mạnh hơn bao giờ hết.

Từ cuối 1971 đến đầu 1972, lực lượng tăng - thiết giáp được tiếp tục củng cố, phát triển và bố trí lại lực lượng trên các chiến trường. Tiểu đoàn 512 và cơ quan Trung đoàn tăng 203 từ nam Quân khu 4 chuyển vào Trị Thiên; Tiểu đoàn tăng 397 (Trung đoàn 202 cũ) từ Nam Lào cùng với Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn tăng 201) mới thành lập, từ Xuân Mai hành quân vào bổ sung cho Trung đoàn tăng 203 chuẩn bị bước vào chiến dịch.

Chiến tranh không cho phép chúng tôi nghĩ nhiều về bản thân mình. Chiến đấu liên miên bỗng một ngày thấy Tết đã cận kề. Áp Tết năm 1971 sang năm 1972, anh em Hậu cần báo cáo với tôi chưa chuẩn bị được gì cho bộ đội ăn Tết. Bên Hậu cần cử anh em tiếp phẩm đi khắp nơi mà vẫn không mua được heo. Bí quá anh em đến nhà ông Nguyễn Văn Sang và bà Nguyễn Thị Hường nhà ở sát biên giới Camuchia để nhờ giúp đỡ. Ngoài buôn bán nhỏ, ông bà còn làm nghề cạo gió nên bộ đội ta gọi là ông bà Tư “cạo gió”.

Hôm ấy khi anh em tiếp phẩm đến nhà, ông Tư “cạo gió” hỏi Thiết: “May đã mua được heo chưa?”. Đồng chí Thiết trả lời: “Dạ, chưa mua được ba ạ”. Nghe vậy, mặt ông buồn thiu, lát sau ông nói với đồng chí Thiết: “Thôi tối rồi, mày vô chuồng bắt con heo của tao đi, nhỏ chút cũng được. Có còn hơn không”. Ông Hoa kiều đứng gần đó nghe thế liền cự lại: “Ông già nói chơi à! Tui không đồng ý bán đâu. Con heo đương lớn mà, bán nhỏ uống lắm. Phải nuôi đủ tạ hoặc ít ra cũng 80 kí trở lên mới bán được giá heo tạ. Bán nhỏ mất giá lắm, được ít tiền lắm”.

Nghe cuộc đối thoại của hai người, anh em ta biết ngay là ông bà Tư “cạo gió” nuôi rẽ heo của ông Hoa kiều. Thấy vậy, đồng chí Vũ Đức Hùng và đồng chí Thiết lại gần hai ông năn nỉ: “Vì nước ngập đường chúng tôi đến muộn, nếu đến sớm, vào trong phum, sóc, chỗ nào cũng có. Nhưng giờ tối rồi, ông thông cảm bán cho chúng tôi con này rồi nuôi con khác vậy”. Ông Tư “cạo gió” bảo: “Được mà! Tao bảo mày vô bắt đi để kịp về cho sớm”. Ông Hoa kiều sừng sộ: “Tui thách đấy! Tui biểu nuôi được 80 kí bán với giá heo tạ thì tui mới bán. Ông muốn bán thì phải bù cho tôi đấy”. Chỉ chờ có vậy, ông Tư nói: “Được, được, sợ gì! Ông giàu mà keo, có mấy kí heo mà cũng làm eo, lần sau tui không thèm nuôi cho nữa”.

Ông Tư quay lại bảo Vũ Đức Hùng: “Nhờ cậu chở tui đi đây một lát”. Sẵn xe đạp, Hùng chở ông Tư xuống chợ Sa Lông cách đó mấy trăm mét. Vừa đến chợ, Hùng nghe tiếng một bà đứng tuổi nói giọng khàn khàn đặc sệt Nam Bộ: “Ông đi đâu mà bắt cậu Hai chở vậy?”. Ông Tư xuống xe, bà hỏi liền: “Tụi nó đã bắt heo chưa?”. Ông Tư đáp: “Cái thằng cha chết tiệt đó nó không chịu bán, đòi mình phải chịu bù giá heo tạ nó mới chịu”. Bà già nói ngay: “Có vậy mà ông không tính được sao”. Ông lại nói: “Nó không chịu chứ bộ”. Nghe đến đây, mặt bà đỏ gay, giọng như ra ra lệnh: “Đi về bắt heo đi. Heo mình nuôi mình bán chứ sợ gì nó. Trời đét ơi, có vậy mà cũng quýnh lên. Bắt heo nhanh lên cho tụi nhỏ nó về. Tôi nghiệp chúng nó”. Hùng và ông leo lên xe, bà còn nói với theo: “Cơm cá tui nấu xong cả rồi, biểu tụi nó ăn đi rồi mới được về đơn vị đấy”.

Nhờ mua được con heo 64 ký của ông bà Tư “cạo gió”, anh em Hậu cần chế biến được mấy món, làm cho mấy bữa Tết Nhâm Tí thêm rôm rả. Biết được câu chuyện về con heo, anh em rất cảm động về tấm lòng yêu quý bộ đội giải phóng của ông bà Tư “cạo gió”.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #57 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2014, 09:12:46 am »

Tháng 2 năm 1972, Bộ quyết định thành lập gấp thêm hai tiểu đoàn tăng: Tiểu đoàn 177A bổ sung cho miền Đông Nam Bộ và Tiểu đoàn 177B trang bị hỗn hợp tăng - thiết giáp bổ sung cho chiến trường Khu 5.

Trước sự phát triển mạnh mẽ của chiến tranh nhân dân, thế và lực của ta ngày càng tăng, Mĩ - ngụy có những sai lầm trong chiến lược, vấp phải thất bại liên tiếp. Lúc này, tuyến đường vận tải chiến lược mang tên Bác Hồ kính yêu đã vươn vào tận miền Đông Nam Bộ. Việc đưa các đơn vị tăng - thiết giáp từ hậu phương miền Bắc vào Đông Nam Bộ đã thuận lợi hơn.

Từ thực tiễn chiến đấu cũng như yêu cầu về tác chiến binh chủng hợp thành trên chiến trường Đông Nam Bộ càng đặt ra bức thiết, ngày 12 tháng 5 năm 1972, Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam Hoàng Văn Thái (Mười Khang) kí Quyết định số 39/M chuyển Phòng Cơ giới Miền (M26) thuộc Cục Tham mưu thành Đoàn Cơ giới trực thuộc Bộ Tư lệnh Miền. Đoàn Cơ giới mang phiên hiệu Đoàn 26, tổ chức tương đương cấp sư đoàn và tăng - thiết giáp trên chiến trường B2 được tổ chức thành một trong những binh chủng của Quân giải phóng miền Nam.

Xa anh em tăng - thiết giáp chưa được một năm mà tôi ngỡ đã lâu lắm. Đấy là khoảng thời gian dài đằng đẵng trong tôi. Là người quân nhân cách mạng, khi Đảng giao bất cứ nhiệm vụ gì tôi đều tận tâm, tận lực hoàn thành cho bằng được. Nhưng đối với tôi, tăng - thiết giáp vẫn là lĩnh vực thuận tay hơn, nơi có nhiều đồng đội đã từng gắn bó, vào sinh ra tử với nhau. Trong thời gian xa J16, khi có dịp gặp gỡ và làm việc với các đồng chí lãnh đạo Bộ Chỉ huy Miền, tôi đều đề đạt nguyện vọng xin được trở về chiến đấu với anh em. Không hiểu sao tôi đinh ninh rằng, người lính xe tăng trên chiến trường Đông Nam Bộ không thể chiến đấu bên ngoài tháp pháo mãi được. Chiến trường đang cần những chiếc xe tăng có hỏa lực mạnh và sức cơ động cao. Tôi tin là trước sau rồi con đường vận tải chiến lược cũng vươn dài đến các chiến trường xa. Lúc đó xe tăng - thiết giáp sẽ có đường vào chiến trường Đông Nam Bộ.

Thấu hiểu nguyện vọng trở về chiến đấu với anh em tăng - thiết giáp, cùng với sự đòi hỏi của chiến trường, tháng 6 năm 1972, trong khi Chiến dịch Nguyễn Huệ đang diễn ra quyết liệt, tôi được Bộ Chỉ huy Miền điều động trở lại Đoàn Cơ giới M26.

Không thể diễn ta hết nỗi vui mừng của tôi lúc ấy. Nhiều anh em ở Đoàn 26 cũng vui mừng khi tôi trở về. Có đồng chí nói với tôi: “Em tin là có ngày anh sẽ trở lại”. Được về lại mái nhà xưa ai mà không xúc động. Chúng tôi nắm tay nhau, ôm lấy nhau, cười đấy mà nước mắt trào ra.

Đơn vị tăng - thiết giáp đầu tiên hành quân bằng xích vào miền Đông Nam Bộ là Tiểu đoàn 171. Từ Quảng Bình vào đến Tây Ninh dài gần 2.000km, trong đó có 900km đường quân sự làm gấp. Tiểu đoàn tăng 171 đã vượt các trọng điểm địch đánh phá như Bản Đông, Dốc Thơm, Cổng Trời, ngầm Bạc, Sê Ca Máng... Với điều kiện hành quân đường dài, số xe vận tải đi cùng có hạn nên nỗi xe tăng phải tự mang trên dưới 800kg vật tư, khí tài kĩ thuật, lương thực, thực phẩm, xăng dầu... Để khắc phục những khó khăn về kĩ thuật, đường sá, về hoạt động đánh phá của địch, Tiểu đoàn tăng 171 đã duy trì tốt việc ngụy trang trong hành quân, trú quân, bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt và bí mật trong mọi tình huống; biết điều chỉnh thời cơ hành quân, phù hợp với quy luật hoạt động của không quân Mĩ. Mỗi đại đội được tăng cường 3 - 4 thợ sửa chữa cùng với Đại đội phó kĩ thuật ngồi ở xe cuối đội hình để kịp thời xử lí những hỏng hóc dọc đường. Sau gần hai tháng hành quân liên tục, ngày 2 tháng 4 năm 1972, Tiểu đoàn tăng 171 đã đến đích an toàn. Chỉ sau 5 ngày củng cố, đơn vị đã bước vào chiến dịch Nguyễn Huệ đang diễn ra trên chiến trường miền Đông Nam Bộ.

Đưa được một lực lượng lớn xe tăng, thiết giáp từ miền Bắc vào tận Đông Nam Bộ, kịp thời tham gia chiến dịch là một bất ngờ lớn Mĩ - ngụy. Chúng không tài nào hiểu tại sao đã dùng không quân đánh phá quyết liệt, các thiết bị trinh sát điện tử hiện đại vào bậc nhất lúc bấy giờ để phát hiện; dưới đất bọn biệt kích, thám báo, đêm ngày sục sạo tuyến đường vận tải chiến lược mang tên Bác mà xe tăng ta vẫn vào được Đông Nam Bộ.

Lực lượng tại chỗ của M26 cũng có sự phát triển. Đại đội 35 có nhiệm vụ tổ chức huấn luyện chiến sĩ mới và thu gom xe địch để bổ sung cho Đại đội 33 làm nhiệm vụ chiến đấu. Vừa mới thành lập, thiếu thốn trăm bề, ngay khi đang đứng chân trên đất Campuchia, Đại đội 35 đã huấn luyện khóa đầu tiên cho 80 chiến sĩ gồm 2 lớp lái xe M113 và M41, 1 lớp pháo thủ. Đầu tháng 3 năm 197, Đại độ 35 lại huấn luyện cho 40 chiến sĩ vừa mới được bổ sung từ miền Bắc vào.

Tiếp đó các Tiểu đoàn tăng 20 và 21 được trang bị xe tăng T54, T59, xe bọc thép lội nước PTR-85, PTR-50 PK. Chưa lúc nào trên chiến trường Đông Nam Bộ lại có cuộc hội quân của xe tăng - thiết giáp lớp như thế.

Như tôi đã nói, miên Đông Nam Bộ la chiến trương xa hậu phương gân 2.000 cây số, lại vô cùng gian khổ ác liệt, khi có lực lượng được chi viện tư miên Bắc vao, tâm lí của ngươi chỉ huy nôn nóng, muốn đánh ngay. Trước khi tôi trở lại Đoan 26, đơn vị đã bị tổn thất khá nặng. Tiêu biểu là trận Bình Long - trận then chốt trong Chiến dịch Nguyễn Huệ từ ngay 1 tháng 4 năm 1972 đến ngày 19 tháng 1 năm 1973. Hai tiểu đoàn tăng 20 và 21 phối thuộc với 4 trung đoàn bộ binh đột kích vào thị xã Bình Long. Qua 4 đợt tấn công, 2 tiểu đoàn đã mất 36/45 xe tăng, xe thiết giáp. Đau lòng nhất là một nửa quân số hi sinh, bị thương, mất tích và cả bị địch bắt.

Đoàn 26 lúc tôi trở lại giống như một người vừa qua trận ốm nặng. Tôi được cấp trên giao làm Đoàn trưởng kiêm Chính ủy. Các đồng chí Phạm Hà Hải, Hồ Hồng Thái làm Đoàn phó. Đồng chí chí Lê Trung Sum làm Chủ nhiệm Chính trị; đồng chí Vũ Ngô Sửu làm Tham mưu trưởng.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #58 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2014, 09:13:58 am »

Lực lượng của Đoàn 26 lúc này quá mỏng. Hai tiểu đoàn tăng 20 và 21 chỉ còn 20 chiếc, đủ biên chế cho 2 đại đội chiến đấu. Chỉ có Đại đội 33 là khá hơn vì có tới 18 chiếc xe tăng M41, M48 thu được của địch. Sau nhiều ngày chiến đấu, xe tăng, xe thiết giáp của ta đều xuống cấp, thiếu phụ tùng thay thế. Vì thế, sức cơ động trong những trận đánh tới sẽ gặp không ít khó khăn.

Đảng ủy Đoàn họp trong không khí khá nặng nề. Mở đầu cuộc họp, tôi nói, đại ý: Trận Bình Long đã được rút kinh nghiệm, bây giờ không phải là lúc căng thẳng mà phải nhìn về phía trước. Chiến trường đang đòi hỏi xe tăng từng ngày, phải khẩn trương hành động. Sau một hồi bàn bạc, thảo luận, Đảng ủy quyết định phải khẩn trương làm tốt ba việc lớn. Trước hết phải củng cố lực lượng, tiếp đó là tập trung huấn luyện cho cán bộ từ trung đội trở lên cả về xe ta và xe địch. Cuối cùng là làm tốt công tác chuẩn bị, nhất là về hậu cần, kĩ thuật để đón các đơn vị xe t ăng từ miền Bắc vào.

Thấu hiểu được những khó khăn của chiến trường miền Đông Nam Bộ, Bộ Tư lệnh Tăng - Thiết giáp đã đưa vào 2 tiểu đoàn 25A và 25B thuộc Trung đoàn 201. Cầm bức điện từ tay đồng chí cơ yếu, thấy con số 40 xe T54B và T59, 10 xe K63 tôi mừng đến rơi nước mắt. Đi cùng 2 tiểu đoàn còn có 1 đại đội sửa chữa. Lần đầu tiên chúng tôi được trên chi viện cho cả trung đoàn xe tăng - thiết giáp.

Tháng 8 năm 1972, tôi lại nhận được tin Đại đội 21 với trang bị 20 xe bọc thép bánh lốp PTR-60PB, thuộc Tiểu đoàn 17 Phòng Hậu cần Binh chủng cũng đang vào miền Đông Nam Bộ.

Đến đầu tháng 10 năm 1972, Đại đội 21 bọc thép bánh lốp đã vào đến Bù Đốp. Mấy ngày sau (15 tháng 10), hai tiểu đoàn 25A và 25B cũng vào đến căn cứ của Đoàn. Một tin vui nữa lại đến, Bộ Tư lệnh Tăng - Thiết giáp còn chi viện cho chúng tôi nhiều vật tư, khí tài như mắt xích, trục cân bằng, ổ bi, bánh chịu nặng, máy nổ, bình điện... Công tác khôi phục, sửa chữa xe tăng thiết giáp đã có nhiều thuận lợi. Chỉ trong thời gian ngắn, ngành kĩ thuật của Đoàn đã đưa được nhiều đầu xe vào chiến đấu.

Nhiệm vụ ở chiến trường luôn đòi hỏi sự cố gắng rất lớn của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Có lẽ, không nơi đâu hai tiếng “Tổ quốc” lại trở nên thiêng liêng với mỗi người lính như ở chiến trường. Tình yêu Tổ quốc, yêu quê hương với mỗi chúng tôi thật giản dị. Đó là ra trận bất cứ lúc nào, không sợ chết, không nề hà gian khổ. Hôm nay đang vui cười với nhau, nhường nhau từng thìa cáo, ngày mai có người đã không trở về. Là người lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, tôi rất đau lòng khi danh sách anh em hi sinh mỗi ngày cứ dày lên.

Trong thời gian củng cố và bổ sung lực lượng, Đoàn 26 vẫn nhận nhiệm vụ chiến đấu do Bộ Tư lệnh Miền giao. Trong 6 tháng cuối năm 1972, Đoàn đã ra quân đánh 6 trận vào Phước Bình (2 lần), Công Bông Ta Béc (3 lần); tập kích chi khu Krang Xoai. Các trận đánh này đều do Đại đội 23 dùng xe thu được của địch và Tiểu đoàn 21 đảm nhiệm.

Những trận đánh này có ý nghĩa góp phần cùng quân và dân Campuchia mở rộng vùng giải phóng, thực hiện 3 nước Đông Dương là một chiến trường. Với chiến trường miền Nam, ta buộc Mĩ và chính quyền Sài Gòn phải ngồi vào bàn đàm phán tại Hội nghị 4 bên ở Pari. Tháng Cháp năm 1972, quân và dân Hà Nội đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng B.52 của không quân Mĩ, làm nên một “Điện Biên Phủ trên không”. Thất bại liên tiếp trên các chiến trường buộc Mĩ phải kí kết Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam - ngày 27 tháng 1 năm 1973.

Nhận được tin em trai Mai Đăng Hà bị địch đày ra giam giữ ở Phú Quốc đã về đất liền chờ ngày chúng trao trả theo Hiệp định đình chiến, tôi quyết định đi thăm. Mười chiếc xe Honđa 90 phân khối của Đoàn, tôi đi từ Bù Đốp, mất 2-3 ngày mới đến sân bay Đồng Banh - Thiện Ngôn. Lần trước gặp em trong nhà tù thực dân Pháp, lần này là tù chính trị của chế độ Mĩ - ngụy. Anh em gặp lại nhau sau 19 năm, mừng mừng, tủi tủi. Người Hà gầy chỉ còn da bọc xương, xanh xao, ốm yếu do chế độ nhà tù hà khắc. Gặp được em tôi biết được một phần tin tức quê nhà. Hào Hải quê tôi bị giặc chà đi xát lại, chỉ còn là vùng đất trắng. Nhà chỉ còn anh Ba Dân cùng bà con làng xóm bám trụ giữ quê hương.

Theo chính sách của Nhà nước đối với những người bị bắt tù chính trị mới được trao trả về sẽ được ra Bắc điều dưỡng trở về, tôi ghi địa chỉ vợ và các con ở Hà Nội để chú Hà tìm đến.

Tuy danh nghĩa là ngừng bắn nhưng trên thực tế quân ngụy vẫn ngoan cố giành dân chiếm đất. Chúng tăng cường bắt lính, đôn quân, đẩy mạnh hoạt động hành quân đánh phá vùng giải phóng. Để cho quân ngụy yên tâm, Mĩ để lại miền Nam 25 ngàn tên cố vấn. Được Mĩ đổ thêm phương tiện chiến tranh, đô la, quân ngụy càng tin tưởng vào chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” do quan thầy phía bên kia đại dương vạch ra. Nguyễn Văn Thiệu hô hào “bình định trong vòng ba năm: 1973 - 1975”. Chúng tập trung hơn 60% quân chủ lực có máy bay, pháo binh yểm trợ đánh sâu vào các vùng giải phóng của ta, thực hiện âm mưu “tràn ngập lãnh thổ”.

Đứng trước thời cơ mới, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 21 (khóa III), đã chỉ rõ: “Vấn đề giành dân, giành quyền làm chủ, phát triển thực lực của cách mạng là yêu cầu vừa bức thiết vừa cơ bản trong giai đoạn mới”(1), nhằm đánh bại kế hoạch bình định lấn chiếm của địch, chuẩn bị tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Giữa chiến trường, Nghị quyết của Đảng là mệnh lệnh thiêng liêng. Ngay sau đó, Đảng ủy Đoàn 26 đã quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Nghị quyết Trung ương tới mọi cán bộ, chiến sĩ. Sau đợt học tập chính trị, Đoàn đề ra chương trình hành động cụ thể. Công tác huấn luyện được triển khai rầm rộ trên nhiều nội dung sát với yêu cầu của chiến trường. Đại đội 35 lúc này nằm sâu trong đất Campuchia, giống như một trung tâm huấn luyện lớn. Nội dung huấn luyện đi sâu vào góp cán bộ các cấp nắm chắc kĩ thuật về cả xe ta và xe địch; về tác chiến hợp đồng binh chủng cấp trung đoàn, sư đoàn.

Chú thích
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.34, tr.233.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
anhquaynop
Thành viên
*
Bài viết: 244


« Trả lời #59 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2014, 09:14:58 am »

Chiến trường Đông Nam Bộ luôn được hậu phương chăm lo, ưu tiên cao nhất. Ngày 19 tháng 3 năm 1973, Trung đoàn 201B do Thiếu tá Đỗ Văn Thất làm Chính ủy, Đại úy Trần Đức Dực làm Trung đoàn phó chỉ huy hành quân bằng xích vào tới căn cứ Bù Đốp thuộc tỉnh Bình Phước. Biên chế của Trung đoàn có 2 tiểu đoàn xe tăng, 1 đại đội xe bọc thép bánh lốp, 1 đại đội thông tin.

Có được thêm quân trên bàn cờ chiến dịch, chúng tôi chụm đầu vào tính toán sắp xếp lực lượng. Chuyển Tiểu đoàn 1 thành Tiểu đoàn 22 có 3 đại đội. Còn Tiểu đoàn 3 thì chia ra: 1 đại đội bổ sung cho Tiểu đoàn 20, 1 đại đội bổ sung cho Tiểu đoàn 21; còn 1 đại đội nhập vào Tiểu đoàn 24 để cùng Đại đội 35 làm nhiệm vụ huấn luyện. Đoàn còn thành lập thêm 2 tiểu đoàn chiến đấu là Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 23.

Năm 1973 - 1974, Đoàn 26 Thiết giáp vừa củng cố lực lượng, vừa tham gia chi viện cho các đơn vị chủ lực và địa phương, chiến đấu giữ vững và mở rộng vùng giải phóng. Tham gia đánh địch lấn chiếm trên đường 14, tây nam Bến Cát. Cùng các đơn vị bạn mở Chiến dịch Quảng Đức. Vì tầm quan trọng của chiến dịch, Đoàn đã xuất 45 lượt xe tăng - thiết giáp, đánh 8 trận, giành thắng lợi lớn. Ta thu được 4 xe M113 bổ sung cho đơn vị. Chiến dịch nam Tây Ninh và bắc Hậu Nghĩa để giữ vững vùng giải phóng và mở rộng hành lang vận chuyển chiến lược xuống tới Đồng bằng sông Cửu Long đều giành thắng lợi. Đại đội 33 đã cùng với các đơn vị bộ binh đánh chiếm Long Khốt.

Từ năm 1966 đến năm 1973, bộ đội tăng - thiết giáp miền Đông Nam Bộ đã chiến đấu mưu trí, dũng cảm, đánh chiếm, thu được 42 xe tăng, xe thiết giáp của Mĩ - ngụy. Những chiếc xe tăng, xe thiết giáp mang nhãn hiệu USA được bộ đội ta sử dụng thành thạo, tham gia nhiều chiến dịch, đánh nhiều trận, dội sấm sét lên đầu kẻ thù.

Đầu năm 1974, tôi nhận nhiệm vụ ra Bắc an dưỡng và học tập tại Học viện Quân sự (ở Bưởi) nay là Học viện Quốc phòng. Lớp học gồm những cán bộ cấp sư đoàn trở lên vừa từ chiến trường miền Nam ra. Tôi ở tổ học tập của anh Nguyễn Thới Bưng. Những vấn đề thực tiễn trong chiến đấu nay được lí luận và học thuật quân sự làm sáng tỏ thêm. Các bài tập tác chiến chiến dịch cấp sư đoàn, quân đoàn; tiến công trong thành phố… thêm hào hứng cho học viên chúng tôi. Cấp trên cũng cho chúng tôi biết: Đây là lớp học nhằm chuẩn bị cho kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm 1975 - 1976.

Cuối năm 1974, tôi nhận được tin Đoàn 26 Thiết giáp đang khẩn trương chuẩn bị tham gia một chiến dịch lớn. Tôi linh tính, có thể đấy là Phước Long. Tin tức quân và dân miền Nam tiếp tục tiến công, nổi dậy, mở rộng vùng giải phóng liên tiếp bay ra miền Bắc làm chúng tôi thêm phấn chấn. Một hôm, tôi mở Đài Tiếng nói Việt Nam, buổi phát thanh thời sự đưa tin ta đã giải phóng thị xã Phước Long. Mừng quá, mấy anh em học viên nắm chặt tay nhau, nói cười, bàn luận sôi nổi.

Phước Long không xa lạ gì với cán bộ, chiến sĩ Đoàn 26 Thiết giáp chúng tôi. Những năm đầu dưới màu áo J16 Đặc Cơ, chúng tôi đã từng ngang dọc Phước Long. Biết chắc là sẽ có ngày ta đánh lớn nên Mĩ - ngụy đã biến thị xã Phước Long thành vị trí chiến lược nằm trong tuyến phòng thủ từ xa bảo vệ Sài Gòn. Ba mặt của thị xã bao bọc bởi sông Bé, lại có núi Bà Rá cao 733 mét, chúng đặt đài quan sát trên đó, địch cho rằng thị xã Phước Long là bức tường thép kiên cố, vững chắc bảo vệ Sài Gòn.

Tối hôm đó, tôi lại được nghe bài tường thuật trên Đài về chiến thắng Phước Long. Chiến dịch diễn ra từ ngày 31 tháng 12 năm 1974 đến ngày 6 tháng 1 năm 1975. Đoàn 26 Thiết giáp đã đưa 2 đại đội của Tiểu đoàn tăng 21 và 1 đại đội của Tiểu đoàn tăng 20 tham gia trận đánh có ý nghĩa này. Đây là những đơn vị thiện chiến của Đoàn 26 Thiết giáp chúng tôi phối thuộc với Sư đoàn bộ binh 7 và Sư đoàn bộ binh 341(Quân đoàn 4) đánh vào thị xã Phước Long. Trong 7 ngày, ta mở 5 đợt tiến công, đợt cuối cùng đánh vào Dinh tỉnh trưởng và Tòa thị chính diễn ra rất ác liệt. Đến 17 giờ ngày 26 tháng 1 năm 1975, thị xã Phước Long được hoàn toàn giải phóng.

Sau mỗi trận đánh, cán bộ, chiến sĩ Đoàn 26 Thiết giáp càng trưởng thành về mọi mặt. Từ Chiến dịch Bù Bông đến Chiến dịch giải phóng thị xã Phước Long đơn vị đã ghi thêm nhiều chiến công oanh liệt mới. Trận đánh này làm nổi bật tinh thần chiến đấu sáng tạo, quả cảm của cán bộ, chiến sĩ. Đại đội trưởng Nguyên chiến đấu rất gan dạ, chỉ huy mưu trí, khi xe có bộ phận bị hỏng vẫn vừa đánh, vừa sửa xe. Đến ngày thứ 6 rồi mà trận đánh vẫn dây dưa, quyết liệt, đồng chí Thiết - Tiểu đoàn trưởng được đồng chí Năm thái cử vào nắm tính hình. Đại đội trưởng Đại đội 10 Nguyễn Văn Thành đề nghị Thiết lên nhà lầu trên đồi cao ta vừa chiếm để quan sát địch. Nhờ đó mà Thành đề nghị hỏa lực các binh chủng, bộ binh bắn tập trung vào các ổ đề kháng, tiêu diệt địch, yểm hộ cho bộ binh. Chính trị viên Nguyễn Xuân Liêm bị thương vẫn không rời vị trí chỉ huy. Các chiến sĩ lái xe dũng cảm, khôn khéo uy hiếp địch bằng tiếng gầm và xích sắt.

Chiến thắng giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long làm nức lòng nhân dân cả nước, cho thấy ngụy quyền Sài Gòn ngày càng suy yếu về thế và lực. Với linh cảm của người chỉ huy quân sự, tôi tin là cuộc Tổng tiến công giải phóng miền Nam sắp bắt đầu. Tối hôm đó, tôi nói với vợ:

- Tình thế có thể thay đổi, anh chuẩn bị tinh thần để trở lại chiến trường.
Logged

Chiều hôm em đứng giã bàng
Thương anh quẩy nóp trong hàng quân đi
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM