Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 09:37:37 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Truyện ngắn Aleksandr Solzhenitsyn  (Đọc 28991 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #10 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2013, 01:22:04 am »

Cô gái quay lại, ánh mắt vụt vui sướng hình như cô cảm thấy ấm áp qua bàn tay Zotov nắm cổ tay cô. Nhưng cô tiếp tục nói vào ống nói:
"Chuyến tầu Một Không Không Hai vừa mới tới đây xong. Chúng tôi không có gì gửi đi cả. Petrovich cho chuyến tầu sang đường Tambov nhé!"
"Cô Valia, mau mau bảo bà Aunt Frosya thay danh sách các toa đi nhé – hay tốt hơn cả thì bảo bà ấy để riêng bốn toa của ông này lại cho nhân viên hỏa xa nhé… Ông Trung sĩ đây sẽ đến gặp bà ấy sau – rồi để mấy toa ấy riêng ra cho đến sáng mai nhé".
Mụ Aunt Frosya vẫn ngồi co ro bên cạnh lò sưởi, mụ quay cái bản mặt phèn phẹt lại phía Trung uý rồi trề môi.
Valia đáp:
"Được rồi, Vassily!"
Cô mỉm cười tay vẫn cầm ống nói – có lẽ cô đợi Trung uý buông cổ tay cô ra. Cô tiếp:
"Em sẽ báo bà ấy ngay!"
"Còn bốn toa tầu ấy thì cô dàn xếp sao cho lên đường vào chuyến đầu tiên sáng mai nhé. Cô cố gắng nhé, Valia!"
"Chắc mà, Vassily!"
Cô cười thật tươi, thật rạng rỡ, Zotov quay sang Dygin:
"Rồi, việc vậy đó".
Mụ Aunt Frosya thở dài sườn sượt như bễ lò rèn, rên rỉ rồi đứng dậy. Dygin lặng lẽ giơ tay lên thái dương, chào y cứ giữ mãi cánh tay như vậy. Ở con người y chẳng có gì là nhà binh cả, kể từ cái mũ với hai giải che tai lòng thòng xuống đến ngực trở đi.
"Có phải anh mới nhập ngũ đây không? Trước anh là công nhân nhà máy phải không?"
"Thưa phải".
Ánh mắt nhìn của Dygin tràn đầy sự kính phục, y đăm đăm nhìn trung uý.
Zotov giơ tay chỉ lên bên cổ áo Dygin không có lon cấp bực, rồi bảo:
"Anh nên đeo lon lên cả bên này nữa mới được".
"Tôi chỉ có một chiếc. Chiếc bên này mất rồi".
"Còn cái mũ nữa, ít ra cũng phải buộc hai giải che tai lại chứ, hay là lật nó lên chứ đừng để lòng thòng như vậy. Hiểu không".
Mụ Aunt Frosya vừa khoác xong chiếc áo tơi mưa, mụ tưởng Trung uý bảo mụ, mụ liền cất giọng cằn nhằn có vẻ tức giận:
"Lật mũ lên là thế nào? Ngoài kia mưa lạnh thấy mẹ! Thôi đi ông, nào ta đi!"
"Rồi. Chúc anh may mắn, Trung sĩ! Ngày mai sĩ quan khác sẽ trực ở đây, anh hãy cố xin ông ấy cho đi sớm, đừng trễ nhé".
Zotov trở lại phòng riêng, chàng khép kính cánh cửa. Mới chỉ bốn tháng trở về trước, chàng chưa hề có một ý nghĩ nào về mức độ mau lẹ của chiếc khoá dây lưng nhà binh mỗi lúc cởi ra hay đóng lại, và chàng thấy cái lối chào của nhà binh là có vẻ kỳ cục buồn cười, lại thêm phần không thích hợp.
Khi chàng trở vào phòng, người khách lạ vẫn cứ ngồi im chẳng tỏ vẻ gì là ông ta định đứng dậy, nhưng ông lại có cử chỉ như thể muốn nói rằng: nếu cần thì ông ta sẽ đứng dậy. Chiếc ba lô của ông khách bây giờ để trên sàn, chiếc áo khoác dân sự mầu xám muối tiêu của ông ta để trên chiếc ba lô ấy.
Zotov ngồi xuống ghế ở bàn giấy, chàng nói vội:
"Ông cứ ngồi, cứ ngồi… Nào, xem nào…"
Chàng bắt đầu mở tờ giấy của người khách.
Khách lạ mỉm cười, một nụ cười nhận tội và nói:
"Tôi bị chuyến tầu bỏ rơi đấy ạ".
Zotov đọc tờ giấy, đây là tờ lộ trình thư do sĩ quan vận chuyển ở Ryazhsk ký. Rồi chàng nhìn người lạ, bắt đầu các câu hỏi thường lệ:
"Tên chót của ông là gì?"
"Iveritinov".
"Họ và tên tổ phụ?"
"Igor Dementievich".
"Ông năm nay cũng phải hơn năm mươi tuổi…"
"Không, tôi mới bốn mươi chín".
"Chuyến tầu ông đi số bao nhiêu?"
"Tôi không được biết".
"Họ không cho ông biết hay sao?"
"Không, họ không cho".
"Vậy thì tại sao lại có con số ghi ở đây? Ông phải biết con số này để cho sĩ quan vận chuyển ở Ryazhsk biết chứ?"
Con số ấy là Hai Mươi Bốn Năm Bốn Một Ba, tức là chuyến tầu Zotov cho đi đêm hôm trước rồi.
"Không, tôi không biết. Ở ga Ryazhsk tôi chỉ nói cho họ biết tôi ở đâu tới thôi, rồi từ đấy ông sĩ quan vận chuyển phải đoán ra chuyến số bao nhiêu chứ".
"Ga trước ông đến là ga nào?"
"Ga Skopin".
"Rồi xẩy sự ra sao?"
Iveritinov mỉm cười cầu tài, cặp môi ông ta thật dầy:
"Vâng, tôi xin thưa thật cả. Lúc ấy tôi đi bán vài thứ mang theo trong người, hi vọng là tìm được chút gì ăn đỡ đói… Đúng lúc ấy thì tầu chạy. Tầu chạy mà chẳng kéo còi gì cả, cũng chẳng có loan báo gì hết. Ngày nay các chuyến xe lửa chạy vội quá…"
"Thế việc này xẩy ra đúng ngày nào?"
"Ngày hôm kia".
"Ông vẫn chưa dàn xếp xong?"
"Vẫn chưa xong. Tôi làm cách nào được bây giờ? Ông xem, tìm cách lên được một toa tầu chở hàng hoá có dễ gì, nào là leo thang, đến lính cũng còn không chịu nổi, lại thêm lính canh xua đuổi, đẩy chúng tôi xuống không cho lên. Cho đến lên các toa chở súc vật họ cũng không cho lên. Có người thì bảo là không có chỗ. Có lần tôi còn thấy một chuyến tầu chở hành khách, lần ấy tôi được thấy hai người lái tầu đứng trên các bực toa tầu thấy bất cứ ai muốn lên tầu là đẩy trở xuống. Còn tầu chở hàng hoá, thì không làm sao hỏi được tầu chạy đường nào, suốt thời gian chuyến tầu đứng đợi ở đấy không có đầu tầu nên tôi không làm sao hỏi được xem chuyến tầu ấy chạy đi đâu; đến khi đoàn tầu có đầu tầu rồi thì tôi lại không làm sao hỏi kịp được nữa. Bây giờ thật không làm sao hỏi kịp được nữa. Bây giờ thật không hiểu tại sao người ta không dùng cái lối ngày xưa để cho hành khách biết rõ ràng chuyến tầu chạy đường nào có phải tốt không, chẳng hạn như chỉ đường MOSCOW-MINERALNYEVODY này. Còn hỏi thì không thể nào được rồi, hỏi thì bị mọi người nghi ngờ là gián điệp, nhất là khi lại ăn mặc lôi thôi như tôi thế này. Nói chung thì ngày nay hỏi han điều gì cũng nguy hiểm cả.
"Trong thời chiến tranh, thì chắc chắn đúng thế".
"Ngay cả trước thời chiến tranh cũng nguy hiểm như vậy đấy!"
"Thật tôi chẳng bao giờ được biết như vậy, tôi nói thật đấy".
Iveritinov nheo nheo mắt:
"Thật chứ, nhất là sau hồi 1937".
Zotov ngạc nhiên:
"Năm 1937 thì có gì lạ? Có gì xảy ra năm ấy? Có phải ông định nói đến trận chiến tranh Tây Ban Nha không?"
"Không, không phải…"
Iveritinov lầm bầm và lại mỉm cười, nụ cười thú tội:
"Không phải là chiến tranh Tây Ban Nha…"
Cái khăn quàng len của ông ta không thắt nút, hai đầu buông thõng dưới áo khoác lòng thòng xuống đến gần thắt lưng.
"Ông không phải là nhà binh, làm sao ông đi được? Áo khoác ngoài nhà binh của ông đâu?"
Iveritinov mỉm cười:
"Có bao giờ tôi được phát áo đâu!"
"Thế ông lấy cái áo nầy ở đâu?"
"Có người tốt bụng cho tôi".
Zotov lẩm bẩm:
"A, phải, tôi phải nói thực là ông tới đây được tương đối nhanh đấy. Ông có nói với tôi là sáng hôm qua ông ở sở vận chuyển tại trạm Ryazhsk, và chiều hôm nay ông ở đây. Tôi muốn biết ông làm thế nào mà tới đây được. Ông tới đây bằng đường nào?"
Iveritinov nhìn thẳng vào Zotov, cặp mắt ông ta lớn, thật thà, êm dịu. Zotov thấy tính tình ông này thật hết sức dễ chịu. Chàng cũng lại thấy thích cái cử chỉ của ông ta trong lúc ông ta vừa nói, vừa giải thích cho rõ công việc, ngón tay ông ta nhẹ nhẹ nhịp nhịp.
Ông ta nói:
"Thật là may mắn phúc đức cho tôi quả chừng đấy ông ạ. Tôi xuống tầu ở ga ấy… Trong hai ngày ấy tôi bắt đầu hiểu được tiếng lóng về hỏa xa, trước tôi thường nghe nói đến "toa phẳng" tôi cứ ngỡ rằng cái toa ấy nó phẳng để tiện dụng vào việc nào đấy, phẳng bẹt như đồ trang sức bẹt chẳng hạn này… Tôi mới leo lên bằng một cái thang, tôi thấy rằng nó là một cái "hố bằng sắt", một cái hốc trống trơn chẳng có gì để ngồi, cũng chẳng có gì để tựa hay bấu víu được. Trong toa ấy có than, đến khi tầu chạy, bụi than cuốn lên mù mịt. Thế là tôi được nếm mùi khốn khổ trong toa tầu ấy, nhất là lúc trời mưa xuống mới thật khổ hơn nữa…"
Zotov phá ra cười:
"Vậy mà ông bảo rằng đấy là phúc đức may mắn đấy hả! Tôi chẳng thấy phúc đức may mắn ở chỗ nào cả! Áo quần ông làm sao giặt sạch được!"
Rồi chàng lại cười, hai bên mép chàng vạch ra hai đường nhăn chạy lên đến tận hai bên cánh mũi.
"May mắn phúc đức là khi tôi ra được khỏi toa tầu ấy, rũ bụi than đi và nhận ra rằng đây là chuyến tầu về Nam. Tôi chạy dọc theo đoàn tầu chẳng thấy toa nào mở cửa, toa nào cũng đóng chặt. Rồi tôi thấy có một người lính từ trong một toa trống leo ra ngoài đi tiểu, rồi lại leo trở vào. Tôi bắt chước anh ta cũng leo như vậy. Thật là lạ lùng nói không thể tin được, toa tầu ấy toàn chăn len thôi!"
"Thế toa ấy không đóng cửa hay sao?"
"Không, không đóng cửa! Các chăn ấy nguyên cột lại mỗi gói năm hay mười cái, nhưng lúc tôi vào thì nhiều gói lung tung cả rồi, vì thế người ta có thể dùng các chăn ấy mà đắp được lắm. Trong toa tôi thấy có nhiều người đang ngủ!"
"Ông cũng im lặng luôn!"
"Thế là tôi chui vào ba bốn cái chăn một lúc, tôi ngủ được một giấc vừa dài, vừa ngon vừa ấm quá chừng suốt hai mươi bốn tiếng đồng hồ liền. Tôi không biết chuyến tầu ấy có ngừng lại đâu không nhất là từ hai ngày trước đấy tôi không được lĩnh khẩu phần của mình rồi. Tôi cứ ngủ li bì, ngủ liên miên, ngủ quên cả chiến tranh đang diễn ra, quên cả mình đang ở đâu và chung quanh mình ra sao… Tôi nằm mơ về gia đình tôi..."
Khuôn mặt râu ria lởm chởm, da nhăn của ông ta rạng rỡ hơi ấm.
Bỗng nhiên Zotov chợt nhớ ra điều gì chàng bật đứng dậy:
"Khoan khoan! Như vậy là ông tới bằng chuyến tầu ấy… Ông đến vào lúc nào nhỉ?"
"Tôi không biết, khoảng hai mươi phút gì đấy thôi… Tới nơi là tôi tới ông ngay mà…"
Zotov rảo bước đến cửa, chàng xô mạnh cánh cửa:
"Valia, Valia, chuyến tầu đi Balasho số bao nhiêu. Một không không cái gì, mấy?"
"Một không không hai".
"Chuyến tàu còn đây không?"
"Đi rồi".
"Cô có chắc không?"
"Có, em quả quyết mà".
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #11 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2013, 01:22:53 am »

Zotov hai tay vò đầu, chàng than thở:
"Hừ, thật khốn khổ. Bọn ta ngồi chết ở đây y như những đứa bị tội phải cầm bút mà biên chép, biên chép đủ thứ, thế mà có một việc thì lại chả thấy – thậm chí cũng không tìm ra được cơm mà ăn nữa! Gọi dây nói đi Michurinsk-Uralsky cho tôi ngay nhá".
Rồi chàng quay lại phòng riêng hỏi Iveritinov.
"Ông có cách gì cố nhớ cho được số toa tầu ấy không?"
Iveritinov mỉm cười đáp:
"Không ạ".
"Toa ấy có hai trục hay bốn trục".
"Lúc ấy tôi sợ tôi không biết gì về các thứ ấy cả".
"Vậy thì ông biết cái gì? Toa ấy rộng hay hẹp? Liệu vào loại toa chở bao nhiêu tấn?"
"Nó vào loại toa có cân ghi Tám ngựa hay mười bốn người thường dùng trong thời nội chiến ấy".
"Vậy là toa mười sáu tấn rồi. Ông nhớ là không có lính hộ tống hả?"
"Hình như không có thì phải".
Từ buồng bên cô Valia gọi vọng sang:
"Vassily!"
Có tiếng cô nói tiếp vào điện thoại:
"Đây là sở chuyến hàng quân đội!"
Rồi cô cao giọng gọi tiếp:
"Trung uý có muốn nói chuyện với Đại uý không?"
"Không biết tôi có nên nói chuyện với Đại uý không. Có thể hàng hoá ấy không phải là hàng hoá của nhà binh".
"Trung uý có muốn em tìm xem việc này ra sao không?"
"Valia, xin cô vui lòng tìm xem sao nhé. Có thể số chăn ấy chỉ là hàng tạm chuyển đi nơi khác thôi, ai biết được? Bảo họ xoát xét lại số hàng ấy cho thật kỹ lưỡng, lập bản kê khai rõ ràng, rồi niêm phong lại, cô chịu khó để ý xem mọi công việc ấy có được đầy đủ không nhé".
"Được Vassily, trung uý cứ để em làm".
"Cảm ơn cô Valia hết sức, cảm ơn lắm nhé, cô thật là tháo vát quá!"
Valia mỉm cười với chàng, mái tóc quăn xoã xuống mặt:
"A lô! Michurinsk-Uraisky…?"
Zotov đóng cửa lại, chàng vẫn còn xúc động lắm, chàng đi đi lại trong phòng riêng, hai nắm tay chàng đấm đấm vào nhau Chàng hậm hực:
"Ta không thể nào giải quyết hết mọi việc được, thế mà họ không cho thêm mình một người phụ giúp nào cả! Số chăn ấy có thể bị người ta ăn cắp mất hết. Chắc có một số bị mất rồi cũng nên!"
Chàng cứ đi lại trong phòng một hồi lâu, rồi sau mới lại ngồi xuống ghế. Chàng bỏ kính đem mắt ra, lau lại mặt kính bằng miếng nỉ. Cặp kính bỏ ra khiến cho gương mặt đầy ưu tư suy nghĩ vì công việc của chàng lập tức trở thành như mặt con nít, gương mặt ấy nay chỉ còn có chiếc mũ lưỡi trai màu xanh che chở.
Iveritinov vẫn lặng lẽ kiên nhẫn ngồi đợi… Ông ta rầu rĩ nhìn lên bức chân dung Kaganovich bận bộ đồng phục với huy hiệu hỏa xa cao nhất; rồi ánh mắt ông ta hết nhìn bức chân dung lại lơ đãng quay sang nhìn các lò sưởi, hết lò sưởi lại đến thúng đầy than và cuối cùng là nhìn cái xẻng.
Trong căn phòng quá nóng này, chiếc áo khoác đầy bụi than bẩn thỉu của ông ta quả thật là khó chịu, Iveritinov liền tuột chiếc áo khỏi vai, khăn quàng cổ bằng len cũng cởi ra nốt.
Ông Trung uý lại đeo cặp kính lên mắt, đoạn lại cuối xuống đọc lại tờ lộ trình thư. Phải thật thà mà nói rằng mảnh giấy này không thể coi được là một tài liệu nói rõ lý lịch của người mang nó, mà nó chỉ thuộc về người ấy qua lời nói của họ mà thôi. Lời nói ấy, lại có thể là nói sai, cũng có thế là nói đúng. Zotov nhận được các chỉ thị nói là phải hết sức cẩn thận đối với những người bị tập trung, nhất là đối với những người đi một mình chứ không đi chung với một đoàn một nhóm nào. Iveritinov không thể chứng minh được rõ ràng rằng ông ta lỡ chuyến tầu ở Pavelet thì sao? Và trong khoảng thời gian ấy ông có thể đã đi Mạc Tư Khoa, hoặc nơi nào khác mà ông được cử tới.
Mặt khác, sự kiện ông ta đã tới được Krechetovka mau đến như vậy là một điều may cho ông ta.
Nhưng ai là người dám quả quyết lời ông ta nói về chuyến tầu ông ta đi đến đây là đúng thật? ai dám chắc lời ông ta nói là đúng!
"Như thế mà trên đoạn đường tới đây, ông được thoải mái ấm cúng lắm phải không?"
"Dạ phải, tôi mong là sẽ lại được đi với những điều kiện như vậy".
"Thế tại sao ông lại bỏ con tàu ấy?"
"Để trình cho ông biết. Trở lại Tyazhsk, tôi được lệnh là khi nào tới đây tôi phải trình ngay cho sĩ quan vận chuyển biết".
Tất cả những nét trên khuôn mặt Iveritinov đều lớn; trán cao, rộng, lông mày rậm và lớn, mũi dài lớn. Cằm và má lởm chởm râu ria màu xám đen.
"Làm cách nào ông biết được đây là Krechetovka?"
"Trong toa tầu ấy có mấy người xứ Georgia ngủ cạnh tôi, họ nói cho tôi biết".
"Người xứ Georgia? Y là nhà binh? Cấp bực ra sao?"
"Tôi không biết. Ông ta đắp chăn kín cả chỉ có đầu là ở ngoài chăn thôi".
Trong câu trả lời của Iveritinov đượm giọng buồn. Càng nói, điệu buồn càng thêm nữa, như thế càng nói ông ta càng bị mất thêm một cái gì.
Zotov đẩy tờ lộ trình thư sang một bên, hỏi:
"Thôi bây giờ ông cho tôi biết, ông còn những giấy tờ gì khác nào?"
Iveritinov mỉm cười buồn:
"Tôi không có giấy tờ gì khác cả. Tôi lấy giấy tờ ở đâu được?"
"Tôi hiểu. Ông bảo ông không còn giấy tờ gì khác nữa phải không?"
"Khi chúng tôi bị quân Đức bao vây, chúng tôi đã phải huỷ hết các giấy tờ đi rồi".
"Nhưng sau đấy, khi ông trở lại lãnh thổ Xô Viết, chắc chắn người ta phải cấp cho ông chứng thư lý lịch nào chứ?"
"Họ không cấp gì cả. Họ chỉ lập một bản danh sách, chia chúng tôi ra từng nhóm mỗi nhóm bốn mươi người rồi gửi chúng tôi đi".
Sự việc như vậy là đúng. Khi mỗi người còn ở trong toán, thì là một phần tử trong số bốn mươi người và không có bất cứ một lý lịch riêng tư nào.
Nhưng Zotov muốn có một vài bằng chứng cụ thể nào đấy cho cái bản năng cảm tình của mình đối với người đàn ông có phong độ vững vàng và vẻ mặt nghiêm trang này.
"Không có giấy tờ gì… Trong các túi quần ông có sót lại mảnh giấy nhỏ nào không, mảnh giấy gì cũng được?"
"Không… Chỉ có vài cái ảnh. Ảnh gia đình…"
"Cho tôi xem!"
Dù rằng lời nói của Zotov có ý nghĩa là yêu cầu, xin được xem các tấm ảnh ấy chứ không phải là một mệnh lệnh, nhưng Iveritinov cũng khẽ cau mày. Ông ta mỉm nụ cười, vẫn nụ cười như lúc nẫy, có vẻ hơi lúng túng rồi lấy cũng ở trong túi áo ấy (túi bên kia mất khuy cài, ông ta không dùng) một gói giấy mầu vàng cam ra. Ông ta mở gói giấy trên đầu gối lấy ra hai bức ảnh, ngắm nghía, rồi đứng dậy đưa hai cái ảnh ấy cho Trung uý, ghế ông ta sát ngay bàn giấy lẽ ra ông ta không cần phải đứng lên cũng đưa được hai cái ảnh ấy cho Zotov. Zotov cúi người về phía trước cầm lầy, rồi ngắm nghía. Iveritinov vẫn giữ gói giấy vàng cam trên đầu gối, cũng cố nghển cổ đứng nhìn hai cái ảnh trong tay Zotov.
Một cái ảnh chụp cảnh một ngôi vườn nhỏ trong một ngày trời nắng – chắc phải là một ngày đầu xuân, vì cây cối lá mọc còn rất nhỏ và có thể trông qua được cả một lùm cây – có một cô gái trạc mười bốn tuổi mặc chiếc áo có sọc thưa thắt lại ở chỗ ngang thắt lưng. Cổ cô bé gầy, cao vươn lên khỏi cổ áo, mặt cô bé hơi cúi xuống gầy gò, không có vẻ gì là xúc động lúc ấy cả, nhưng lại làm cho ta có cảm tưởng là cô bé vừa rùng mình. Hình ảnh có một cái gì non nớt, chụp vội quả không diễn tả được điều gì, không có vẻ gì là thân mật trong bức ảnh cả.
Zotov thấy thích cô bé ở trong ảnh lắm. Môi chàng trễ xuống. Chàng hỏi một cách thật thản nhiên:
"Cô bé này tên chi?"
Iveritinov lúc ấy đã ngồi xuống ghế, hai mắt ông ta nhắm lại. Ông ta đáp bằng cái giọng vẫn trầm tĩnh, bây giờ có lẽ càng trầm tĩnh hơn nữa:
"Lala".
Đáp xong, ông ta mở bừng mắt, chữa vội lại:
"Không phải, tên nó là Irina".
"Ảnh này chụp hồi nào?"
"Năm nay".
"Ở chỗ nào đây?"
"Ngoại ô Mạc Tư Khoa".
Nửa năm trời! Một nửa năm trời đã trôi qua kể từ khi ấy đến nay, hồi ông ta nói: "Sẵn sàng, Lala, chụp này!" và bấm… Và từ đấy, hàng ngàn hàng vạn họng súng gầm thét, tung hàng triệu giọt đất đen vọt lên trời, khiến cho hàng triệu người quay cuồng trong cái trò chạy quanh bi thảm, những con người chân không từ Lithuanie chạy đi, những người chạy trốn bằng xe lửa từ Irkutsk đi nơi khác… Và đêm nay, một đêm lẫn lộn cả tuyết phủ, mưa rơi, lất phất tuyết xuống nơi nhà ga xe lửa với những chuyến tầu đợi khởi hành này, nơi những con người đi lang thang vơ vẩn suốt cả ngày cho đến bây giờ thì nằm lăn ra sàn ngủ mê mệt, làm sao có thể tin được rằng cảnh ngôi vườn này, cô gái nhỏ này, bộ áo sọc này, tất cả lại còn có thể tồn tại ở một nơi nào đấy trên thế gian này?
Tấm ảnh kia chụp một người đàn bà và một cậu bé ngồi trên một chiếc trường kỷ, cả hai đang xem một cuốn sách hình thật lớn. Hình dáng người mẹ gầy gầy, có những nét thanh nhã, vóc có vẻ cao, trong khi ấy thì thằng bé phải vào khoảng bẩy tuổi lại có gương mặt thật rắn rỏi, thằng bé không nhìn vào quyển ảnh mà lại nhìn mẹ nó, vẻ mặt thằng bé rất sáng sủa, dường như nó đang chú hết tinh thần nghe mẹ nó giảng giải về những hình ảnh. Hai mắt thằng bé rất lớn, giống như cặp mắt mẹ nó.
Nhìn chung, tất cả mọi người trong cái gia đình này hình như là những người được chụp có lựa chọn, có mục đích gì. Chính Zotov cũng chưa bao giờ được biết một gia đình nào như gia đình này, nhưng trong ký ức nhỏ bé xa xôi nào đấy của chàng còn mơ hồ ghi lại một vài chi tiết còn sót lại trong Viện triển lãm Tretyakov, từ một sân khấu, hay từ những câu chuyện tiểu thuyết nào, những thứ ấy có mô tả về cuộc sống như cuộc sống trong bức ảnh này của gia đình. Bỗng chàng cảm thấy như từ hai tấm ảnh này thoáng hiện ra luồng văn hoá và dễ chịu.
Vừa trả lại Iveritinov hai bức ảnh, chàng vừa hỏi:
"Ông có vẻ nực. Sao ông không bỏ hẳn áo ngoài ra?"
"Tôi xin phép".
Rồi ông ta cởi áo, chiếc áo bẩn thỉu. Rồi ông ta lúng túng không biết mắc cái áo vào đâu. Zotov giơ tay chỉ về phía ghế trường kỷ:
"Ông để trên ghế ấy".
Bây giờ thì có thể thấy được bộ quần áo mặc mùa hè thật luộm thuộm nghèo nàn của ông ta: tất cả các khuy trên áo ông ta đều mỗi thứ một cái, chẳng cái nào giống cái nào. Zotov lại nhận thấy Iveritinov rất vụng về về cách quấn xà cạp – có vòng thì chặt quá, có vòng lỏng quá tuột cả xuống. Nhìn chung, thì nhân vật này có vẻ khôi hài với cái đầu to tướng mầu xám.
Ngay từ đầu khi giọng nói của Iveritinov, Zotov không ngớt cảm thấy thích cái giọng nói êm đềm ấy. Chàng hỏi, giọng có vẻ kính trọng:
"Thế còn ông, ông làm nghề gì?"
Iveritinov vừa gói mấy cái ảnh lại, vừa buồn rầu đáp:
"Tôi là kịch sĩ".
Zotov kêu lên ngạc nhiên:
"Thế hả! Tôi lấy làm lạ sao tôi lại không nhận ra nhỉ. Quả thật ông trông giống một kịch sĩ thật!"
(Bây giờ thật ra trông ông ta chẳng có chút gì là một kịch sĩ cả).
"Tôi đoán ông là một kịch sĩ trong đoàn "Huy chương" phải không?" [1]
"Không phải".
"Thế ông diễn ở đâu?"
"Tại Sân khấu Kịch nghệ Mạc Tư Khoa".
"Tôi chỉ mới được tới Mạc Tư Khoa có một lần. Tôi có viếng thăm Sân khấu Nghệ thuật. Nhưng tôi thường xem diễn tại sân khấu Ivanov. Ông có bao giờ diễn ở sân khấu Ivanov không?"
"Không, tôi chưa bao giờ diễn ở đấy".
"Phải, bên ngoài thì chẳng thấy gì. Nhưng bên trong thì mới thật là vĩ đại nhỉ! Tôi rất thích đi xem diễn kịch. Tôi thấy xem kịch không còn là để giải trí nữa. Xem kịch, tôi thấy mình học hỏi được một cái gì hay, nếu vở kịch ấy là vở kịch khá. Ông có đồng ý như vậy không?"
Đã hắn là Zotov rất hiểu chàng có nhiều công việc, giấy tờ bề bộn về vụ chuyến tầu bị hư hại, nhưng công việc cũng phải mất đến trọn hai ngày mới giải quyết xong, do đó chàng có phí đi một tiếng đồng hồ để nói chuyện với một kịch sĩ danh tiếng, thêm kinh nghiệm, thì cũng chẳng sao.
"Ông hay đóng những vai nào?"
"Nhiều vai lắm…"
Iveritinov trả lời, nở một nụ cười chẳng có vẻ gì là khoan khoái cả, ông ta tiếp:
"Tôi chẳng thể nào kể hết ra cho ông nghe được, tôi đóng kịch nhiều năm rồi".
"Hiện giờ ông vẫn còn đóng kịch chứ?"
"Có, vai Đại tá Verhinin này… Rồi vai Bác sĩ Rank này…"
Zotov không thể nhớ được những vai ấy. Chàng hỏi:
"Hừ! Có bao giờ ông đóng một vai nào đấy trong các vở kịch của Gorky không?"
"Tự nhiên, cần gì phải nói nữa".
"Gorky là nhà viết kịch tôi thích nhất, nói chung thì Gorky là nhà văn tôi thích nhất. Gorky là khuôn mặt quan trọng nhất trong văn học nước ta đấy, ông đồng ý không?"
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #12 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2013, 01:30:04 am »

Iveritinov hơi nhíu đôi mày, ông ta cố tìm câu trả lời nhưng không được, đành im lặng.
"Tôi chắc tôi có thể nhớ được tên ông… Ông bảo ông không phải là một kịch sĩ Huy chương phải không?"
Sắc mặc Zotov bây giờ hồng hào với một vẻ vui sướng trong câu chuyện.
"Tôi nghĩ rằng, nếu tôi là một kịch sĩ Huy chương thì chắc lúc này tôi chẳng ngồi đây".
Iveritinov vừa nói vừa khoan thai xoè bàn tay giơ ra phía trước, cử chỉ của ông ta có vẻ thất vọng.
"Tại sao ông lại nói như vậy? A phải rồi, tôi hiểu rồi, vì ông không được gọi…"
"Người ta không nhận tôi. Tôi tình nguyện gia nhập quân đội. Chúng tôi đã qua các trung tâm tuyển mộ rồi".
"Chắc cũng có một số các kịch sĩ Huy chương trong số các ông cũng tình nguyện nhập ngũ chứ?"
"Ai cũng tình nguyện hết, ngay cả đến các ông giám đốc cũng vậy, nhưng danh sách các người ấy bị phân ra làm đôi bằng một cái gạch ngang, những người nào có tên ở dưới cái vạch ngang ấy thì được vào quân đội, những ai tên ở trên cái vạch ngang thì phải ở lại".
"Ông đã được huấn luyện quân sự bao giờ chưa?"
"Có, mới cách đây vài ngày thôi. Chúng tôi được học đánh lưỡi lê, đánh gậy, học cách ném lựu đạn…"
Hai mắt Iveritinov đăm đăm nhìn xuống sàn nhà, đăm đăm nhìn đến nỗi hai mắt đờ đẫn.
"Sau khi học người ta có cấp súng cho ông không?"
"Có, sau đấy chúng tôi sẵn sàng lên đường đi ra mặt trận, họ phát cho chúng tôi loại súng kiểu năm 1901. Chúng tôi đi bộ suốt cho đến Vyazma, tại đấy chúng tôi bị lọt phục kích của địch".
"Trận ấy các ông bị thiệt hại nhiều không?"
"Tôi đoán phần đông là bị bắt sống. Một số chúng tôi gặp một đơn vị chiến đấu từ chiến tuyến tới, chính đơn vị ấy cứu chúng tôi ra khỏi vòng vây của địch. Hiện giờ tôi cũng chẳng hiểu mặt trận hồi ấy là chỗ nào nữa. Ông có bản đồ không?"
"Không, tôi không có, còn các thông cáo thì không rõ ràng, nhưng tôi cho là không cần bản đồ tôi cũng có thể nói cho ông biết nơi ấy là chỗ nào được. Chúng ta bị chặn lại ở Sebastopol và một ít ở các vùng chung quanh, chúng ta còn Taganrog, vùng Thung lũng Donet cũng vẫn còn trong tay quân ta… Nhưng địch chiếm mất Orel và Kursk…"
"Hả! Như vậy là đến sát chung quanh Mạc Tư Khoa rồi?"
"Thật khó mà biết được hiện giờ đang ra sao. Theo các thông cáo nói thì chiến trận đang xẩy ra ở một vài vùng nghỉ mát ở ngoại ô. Còn đường đi Leningrad, thì hoàn toàn bị cắt đứt".
Trán Zotov nhăn lại, hai mắt chàng nheo lại vẻ đau khổ. Chàng nói:
"Thế mà tôi chẳng bao giờ được ra tiền tuyến cả!"
"Ông đừng buồn, đúng lúc tất ông sẽ được ra mặt trận".
"Tôi cho là thế nào tôi cũng sẽ được ra mặt trận, vì hiện giờ thì chiến trận lan rộng chắc sẽ còn kéo dài".
"Trước ông làm gì – sinh viên hả?"
"Vâng. Tuy thế nhưng ngay từ khi chiến tranh bùng nổ, tôi đã nộp giấy tờ xong rồi. Nhưng không còn có thi nữa. Lẽ ra chúng tôi thi vào tháng Chạp, nhưng họ báo chúng tôi là cứ hoạch định bất cứ biểu đồ và tính toán cũ nào có thể thực hiện được".
Zotov thật sự say mê trong câu chuyện những lời chàng nói ra lời nọ lẫn sang cả lời kia, chàng có vẻ muốn nói hết thẩy mọi việc ra, nói cho hết, nói cho hả.
"Hầu hết cả năm năm… Franco khởi đầu cuộc nổi dậy… Rồi họ đầu hàng quân Áo… Tiệp Khắc… Rồi là khởi đầu Thế giới chiến tranh lần Thứ hai… và trận chiến tranh Phần Lan nữa… Hitler tràn vào nước Pháp! Quân phát xít tấn công Hy Lạp, rồi Nam Tư!... Như vậy ông thử tưởng tượng xem chúng tôi được dễ dàng biết mấy trong việc tập trung sáng kiến vào các máy dệt! Nhưng đấy cũng không phải là điều tôi muốn nói. Ngay sau khi chúng tôi đoạt được mảnh bằng rồi, họ cử phần lớn chúng tôi vào học lớp động cơ cơ khí hoá do Hàn lâm Viện Khoa học tổ chức. Nhưng họ không nhận tôi vì mắt tôi kém – tôi cận thị nặng quá, ông thấy đấy. Vì thế tôi mới đi vận động với các nhân vật nhà binh. Tôi được việc làm đầu tiên vào năm 1937. Nhưng công việc của tôi là một người bảo lãnh hỏa xa cho Trường Tiếp liệu Quân đội. Rồi với cái chức bảo lãnh hỏa xa ấy, tôi đi Mạc Tư Khoa, việc làm đầu tiên của tôi là đến Bộ Quốc phòng. Tôi vận động xin gặp được một ông Đại tá già, lúc tôi vào gặp ông ta thì ông ta đang vội lắm, ông mở vội cặp giấy. Tôi nói với ông ta là tôi không muốn ở trong ngành tiếp tế vì tôi là một kỹ sư. Ông ta lại bảo: "Được, tôi sẽ hỏi anh đúng một câu hỏi thôi, nếu anh trả lời được đúng câu hỏi ấy thì anh chính là người kỹ sư từ lâu tôi vẫn mong muốn. Nào, bây giờ anh trả lời cho tôi biết, tay quay là cái gì?" Tôi mới trả lời rằng: "Một cái tay quay là một bộ phận nối liền vào với trục chuyển ráp vào một sợi dây trân để…" Vừa mới đến đấy, ông ta gạch bỏ Trường Tiếp liệu trên giấy thông hành của tôi, rồi viết thay vào đấy chữ Trường Vận chuyển. Rồi ông đóng cặp giấy lại. Tôi mừng rỡ quá? Nhưng khi tôi đến Trường Vận chuyển Quân đội thì họ lại không nhận thêm bất cứ người nào nữa, thế là họ gửi tôi đi học một lớp về vận tải hỏa xa thay vào đấy vậy. Thế là truyện cái tay quay cũng chẳng cứu vãn được gì cho tôi cả!"
Zotov hiểu rằng đây không phải là lúc để mà ngồi chuyện ngẫu nhắc lại việc ngày xưa, nhưng anh không thể nào cưỡng lại được cái cơ hội để trút ra bầu tâm sự của anh, tâm sự của một người có ăn học.
Bỗng chàng sực nhớ ra, hỏi:
"Ông có hút thuốc không? Ông cứ tự nhiên nhé. Đây cũng có một ít thuốc lá có cả giấy vấn nữa đây. Họ phát phần thuốc hút cho tôi, nhưng tôi không biết hút thuốc".
Chàng liếc mắt nhìn tờ giấy thông hành hỏa xa của Iveritinov, rồi rút từ trong ngăn kéo bàn ra một gói thuốc lá đẩy lại phía Iveritinov.
"Vâng, tôi có hút thuốc".
Iveritinov đáp như vậy, vẻ mặt ông ta rạng sáng với cả trước khi hút hơi thuốc đầu tiên. Ông ta hơi ngồi cao lên, cúi mình lại phía gói thuốc, nhưng, thay vì vấn điếu thuốc thì ông ta lại hít hít một cách say sưa những sợi thuốc mầu nâu, Zotov thấy dường như ông ta còn thốt ra tiếng rên rỉ nữa thì phải. Rồi ông ta đọc nhãn hiệu trên gói thuốc, gật gù:
"Thuốc xứ Amernie đây!"
Rồi ông ta vấn một điếu thật lớn, thè lưỡi liếm cạnh tờ giấy, ghé mồm châm lửa ở que diêm Zotov vừa bật cho ông ta.
Zotov bảo:
"Tôi chắc khi ông cuộn tròn trong đống chăn ấy, không có ai hút thuốc cả?"
"Tôi không thấy".
Iveritinov trả lời lấy lệ, ông ta đang chìm trong hạnh phúc vô biên của khói thuốc. Ông ta nói tiếp:
"Tôi đoán thì bọn họ không ai có thuốc lá cả".
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #13 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2013, 01:30:46 am »

Ông ta tiếp tục hút, hai mắt lim dim.
Bỗng Iveritinov hỏi:
"Thế còn việc ông nói về năm 1937 là thế nào?"
Zotov nồng nhiệt:
"Vâng, ông nhất định phải nhớ đến cái bầu không khí của thời ấy rồi! Trận Nội chiến Tây Ban Nha, bọn phát xít tiến lại gần Khu Định cư sinh viên Madrid, Lữ đoàn Quốc tế, Guadalajara, Teruel! Thật khó lòng mà ngồi yên được! Chúng tôi hò hét đòi hỏi các lớp mở rộng về tiếng Tây Ban Nha, nhưng họ lại cho chúng tôi học tiếng Đức. Tôi có một cuốn tự học tiếng Tây Ban Nha, rồi ngồi cặm cụi học thay vì sửa soạn cho các kỳ thi. Tôi cảm thấy chúng tôi đã dính líu ghê gớm vào tình hình Tây Ban Nha và cái ý thức cách mạng của chúng tôi làm cho chúng tôi không thể nào im lặng đứng bên lề các sự việc được nữa, nhưng tôi lại nhận thấy rằng: các báo chí của ta chẳng biểu lộ được chút nào về ý thức cách mạng ấy, và tôi cũng lấy làm lạ là tại sao mình lại lạc lõng tới đây. Giả thử trốn đi Odessa, lén xuống thuyền mà ra đi thì đã hẳn đấy quả là một ý tưởng trẻ con, vả chăng hành động như vậy khó lòng thành công được với các đạo quân tuần phòng biên cảnh của nước ta. Ấy cũng vì thế mà tôi mới đến Bộ Quốc phòng, năn nỉ các vị Tư lệnh các Đệ Tứ, Đệ Tam, rồi Đệ Nhị, cuối cùng là Đệ Nhất Phân Khu, xin các vị ấy cho chúng tôi được đi Tây Ban Nha. Các vị ấy đều cười vào mặt tôi, các vị ấy hỏi tôi: "Anh có mất trí không đấy? Ở đấy làm gì có người đồng bào nào của anh đâu, vậy thì anh nghĩ như thế nào và anh định làm gì ở xứ Tây Ban Nha ấy nào?!!..." Ấy, tôi thấy ông có vẻ thích hút thuốc, ông cứ giữ cả gói thuốc mà hút. Tôi để thuốc ấy chỉ để mời mọi người thôi đấy mà, vả lại ở nhà tôi còn thuốc nữa mà… Không, không, xin ông cứ cất bao thuốc ấy đi, như thế tôi lại còn hài lòng là ông sẽ không quên nó. Những ngày như ngày này thuốc lá nó sẽ mở những cánh cửa cho ông, tôi tin chắc là nó cũng lại sẽ tiện cho ông nữa… Rồi có một ngày tôi mới đọc trong một tờ Sao Đỏ - trong những ngày ấy tôi vớ được báo gì là đọc hết các báo ấy – tôi đọc thấy một đoạn trích ở một tờ báo Pháp nào đấy, mẫu bài ấy nằm giữa các tin tức bài vở khác, nó viết rằng: "Đức và Nga cùng nhìn Tây Ban Nha như là vùng đất cho một cuộc trắc nghiệm chiến tranh". Đoạn văn ấy nó làm cho tôi thấy mệt mỏi. Suốt trong ba ngày tôi đợi chờ, mong đợi được đọc một bài bình luận nào đấy chống lại, bác bỏ những ý tưởng ở trong mẩu tin trích của báo Pháp. Nhưng chẳng có bài báo nào viết như vậy cả. Thế là tôi lại đến Bộ Quốc phòng, tôi mang theo cả tờ Sao Đỏ nữa. Tôi đưa bài báo cho họ đọc. Tôi bảo: "Mời các ông đọc chỗ này xem. Tôi đợi mãi không thấy có cái chỉnh gì cả, vì thế tôi thấy đây đúng là sự thật, sự thật là chúng ta có những hoạt động chiến tranh tại Tây Ban Nha. Vì thế tôi xin được các ông cho tôi đi Tây Ban Nha với tư cách là thằng binh nhì thôi là được". Ông nhân viên Bộ Quốc phòng mới quát lên, đấm xuống bàn mà rằng: "Anh không được đến đây gây sự với tôi! Ai gửi anh đến đây làm gì? Nếu ở đây cần anh, người ta sẽ cử anh đi! Cút ra!"
Nhắc lại việc ấy, Zotov cười ngất thật thành thật, sung sướng. Vẻ vui sướng lại hiện ra trên gương mặt chàng. Chàng cảm thấy nói chuyện với nhà kịch sĩ này thoải mái dễ chịu lắm, rồi chàng lại còn kể về chuyện mấy nhà hàng hải Tây Ban Nha tới và chàng được gọi đến để dùng tiếng Tây Ban Nha mà trả lời cho họ biết.
Chàng cũng muốn hỏi Iveritinov xem sao lại cảm thấy bị quân Đức bao vây, xem ông ta nghĩ như thế nào và chiến tranh, và nhất là để được nói chuyện thêm nữa với người có học thức, thông minh.
Nhưng cửa mở, Valia bước vào, cô bảo:
"Vassily! Sở gửi hàng dân sự hỏi xem Trung uý có hàng hoá gì gửi đi với chuyến Bẩy Chín Bốn hay không? Nếu không có gì, thì ta nên để cho chuyến tầu đi luôn!"
Zotov nhìn vào bản ghi. Chàng hỏi:
"Chuyến tầu nầy đi đâu? Có phải là chuyến đi Povorino đấy không?"
"Thưa đúng!"
"Đã tới chưa?"
"Thưa, khoảng độ mươi phút nữa thì chuyến tầu ấy đến".
"Chuyến tầu này hình như chỉ có vài toa hàng hoá của quân đội. Ngoài ra còn có những toa nào khác?"
"Thưa còn có vài toa chở vật liệu kỹ nghệ và vài toa hành khách".
Zotov quay sang Iveritinov:
"Ồ, thật là lạ! Đây là chuyến tầu tôi sẽ để ông đi đấy! Chuyến tầu này rất tiện cho ông, ông sẽ không cần phải đổi tầu gì nữa cả. Còn cô Valia, hàng hoá thì ở đây cả rồi, cô có thể gửi đi được ngay. Lúc tầu đến, tôi muốn cho đậu lại gần, vào Đường Một hay Hai. Cô bảo cho họ biết thế nhé!"
"Vâng, Trung uý!"
Valia đi ra.
Zotov quay về Iveritinov:
"Thôi thật hết sức buồn là không có gì ăn được để mời ông cả. Xin ông hiểu cho tôi nhé, đến một cái bánh bít quy nhỏ tôi cũng chẳng có nốt!"
Zotov kéo ngăn kéo bàn giấy ra thật rộng để chứng minh là trong ngăn kéo của chàng quả thật không có gì ăn được cả. Trong ngăn kéo trống trơn, chàng có thói quen là khẩu phần của chàng được đem vào tận bàn giấy, và bao giờ chàng cũng ăn hết ngay. Chàng bảo:
"Tôi chắc là từ khi ông bị lỡ tầu đến giờ vẫn chưa ăn thứ gì cả, phải không ông?"
Iveritinov xoè bàn tay ấp lên ngực áo bẩn thỉu, đáp:
"Cảm ơn ông, nhưng ông đừng lo gì cho tôi cả. Quả thật tôi chưa ăn gì cả, nhưng tôi thấy mến ông vô cùng…"
"Ông làm ấm lòng tôi, ấm cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen. Ông là một người tốt. Tính tình tốt ấy của ông trong cái thời khó khăn này làm cho người ta phải quý trọng lắm. Nhưng bây giờ thì xin ông vui lòng cho hay nhé, đi khỏi nơi này thì tôi sẽ tới chỗ nào, sau đấy thì tôi phải làm gì, hở ông?"
Zotov giải thích thật trôi chảy:
"Trước hết là ông phải đến tận Gryazi. Tôi không có cái bản đồ để chỉ cho ông rõ, thật xấu hổ… Ông có thể tưởng tượng ra được nơi này không?"
"Tôi không chắc lắm… Tuy thế tôi tin là tôi có nghe nói đến cái tên chỗ ấy".
"Chỗ ấy là giao lộ quan trọng lắm đấy. Bây giờ nếu, trong ban ngày ông tới Gryazi, ông mang theo lộ trình thư – tôi đã thêm vào trong đó để chứng thực là ông đã tới tôi rồi – đến gặp sĩ quan chuyển vận quân đội ở đó, họ sẽ cấp cho ông một thẻ khẩu phần, ông có thể mang thẻ khẩu phần ấy đến lĩnh thực phẩm ở nhà kho, như vậy là ông có phần ăn trong hai ngày".
"Cảm ơn ông lắm lắm!"
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #14 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2013, 01:31:32 am »

"Nếu ông tới đấy vào ban đêm, ông vẫn còn liên hệ chặt chẽ với chuyến tầu này đấy! Lúc ấy ắt ông còn quấn chặt trong đống chăn, xuống tầu tất khổ lắm – không biết ông có dậy nổi hay không! Rồi chuyến tầu sẽ đưa ông từ Gryazi đến Povorino, nhưng dù có đến Povorino rồi, ông cũng đừng rời toa tầu trừ phi đi lấy các khẩu phần của mình. Đừng để chuyến tầu lại bỏ rơi ông lần nữa, sau đấy thì tầu sẽ đưa ông tới Archeda, đấy chính là nơi chuyến tầu của ông phải tới – chuyến Hai Bốn Mươi Lăm Bốn Một Ba".
Zotov trao lại cho Iveritinov lộ trình thư, Iveritinov vừa cất tờ giấy vào túi áo – bên túi có khuy cài - vừa nói:
"Archeda Archeda? Tôi chưa bao giờ nghe đến cái tên này. Acheda ở chỗ nào nhỉ?"
"Phải, Acheda là vùng ngoại ô của Stalingrad".
"Một vùng ngoại ô của Stalingrad…"
Iveritinov gật gù, rồi ông ta nhíu mày ra vẻ cố nhớ:
"Xin lỗi ông, Stalingrad… Trước nơi này tên là gì nhỉ?"
Trong người Zotov bỗng nhiên có gì rúng động và băng giá lại. Có thể nào lại như thế này được không – một công dân Xô Viết mà lại không biết Stalingrad được sao? Quả là một điều không thể nào tưởng tượng được! Tuyệt đối không thể nào tưởng tượng được! Không, không! Chàng không thể chấp nhận được bất cứ một sự việc nào như thế này cả!
Dù thế, chàng cũng cố trấn tĩnh, cố kiểm soát lấy mình. Chàng ngồi thẳng dậy, sửa lại mục kính cho ngày ngắn, nói thật bình tĩnh:
"Trước kia thường gọi là Tsaritsyn đấy mà".
(Như thế thì người này có thể không phải là một quân nhân Hồng Quân từng thoát hiểm trong một cuộc bị bao vây. Người này đã được cấy vào đám người ấy mất rồi. Một cán bộ của địch! Có thể là một trong những người Nga di cư, một lính Bạch vệ…) Phải, có thế mới giảng rõ được các tính tình, cử chỉ của y…
"A phải rồi – Tsaritsyn… Phòng tuyến danh tiếng của Tsaritsyn… (có lẽ ông ta là một sĩ quan Bạch vệ ngụỵ trang nữa cũng nên? Chắc rồi, chẳng thế tại sao ông ta lại hỏi bản đồ? Nhưng ông ta ngụỵ trang với những thứ áo quần lôi thôi rách rưới như thế này, thì chẳng là quá đáng một chút, nó làm cho người ta chú ý đến ông ta là gì?)
Mấy tiếng "sĩ quan Bạch vệ" tạo cho Zotov một cảm nghĩ vất vả, khổ sở về hình ảnh nguyên thuỷ của một tâm hồn Xô Viết: tâm tư ấy rất ồn ào, nhưng không nói thành lời được, nó hành hạ Zotov như đâm chém chàng bằng lưỡi lê cũng không bằng.
(Hà, ông ta thế là bị rơi vào bẫy rồi! Ông ta để lộ cái chỗ dại dột ra rồi! Tự ông ta chui đầu vào tròng, hãy thận trọng, hãy cẩn thận. Rồi bây giờ ông ta sẽ làm gì đây? Ông ta sẽ làm gì?)
Zotov nhấc ống nói điện thoại, tiếng chuông reo thật lâu.
Chàng áp ống nghe vào tai, hi vọng đầu giây bên kia Đại uý sẽ nghe.
Nhưng Đại uý không nhấc ống nghe.
Iveritinov nói:
"Trung uý, tôi thấy lấy cả gói thuốc của ông thì có tội nhiều lắm".
"Không sao, ông cứ giữ cả đi".
Zotov vừa nói vừa xua tay.
(Hà, hắn, Zotov, đã cư xử như một mụ đàn bà trong sạch – trong lòng hoàn toàn dịu dàng! Y đang giơ lưng ra cho địch thấy mà lại không biết làm cách nào để khiến cho địch được vui lòng!)
"Vâng, nếu vậy tôi xin phép được hút ở trong phòng của Trung uý thêm lần nữa – nếu Trung uý không thích thì tôi xin ra ngoài hút?"
(Y muốn ra ngoài? Có thể là một cái cớ thật giản dị - y đã biết là phạm phải một lỗi lầm, để lộ một hớ hênh rồi, và bây giờ y chạy trốn.)
"Không, không sao, ông cứ việc ngồi đây mà hút. Tôi thích ngửi mùi khói thuốc mà".
(Zotov mong rằng y nghĩ về một việc gì đấy. Không biết hắn sẽ hành động ra sao, làm thế nào để hành động?)
Zotov giục chuông điện thoại ba lần. Đầu giây đằng kia có tiếng động?)
"Phòng gác, tôi nghe!"
"Trung uý Zotov đây".
"Vâng, đồng chí Trung uý?"
"Guskov có đấy không?"
"Thưa đồng chí Trung uý, ông ấy vừa ra ngoài rồi".
"Ông ấy đi đâu? Ông ấy đi có việc gì? Trong vòng năm phút nữa xem ông ấy có ở bàn giấy không nhé!"
(Như vậy là cái anh chàng vô tích sự ấy chắc lúc này đang hú hí với một cô nào chứ gì!)
Zotov lấy một tờ giấy, không để cho Iveritinov trông thấy, chàng viết lên tờ giấy giòng chữ lớn: "Valia, vào phòng, rồi bảo rằng chuyến tầu Bẩy Chín Bốn đến trễ một tiếng đồng hồ nhé."
Chàng gấp tờ giấy, cầm đến cửa, trao cho Valia và nói:
"Đây, đồng chí Podshebyakina! Đây là những gì về chuyến tầu tôi nói lúc nẫy!"
"Chuyến tàu nào, Vassily?"
"Chuyến tầu mang số hiệu tôi ghi trên đó đó!"
Cô Valia bộ điệu thật ngạc nhiên, cô đi lại chỗ cửa đón lấy tờ giấy Zotov trao cho cô, Zotov không đợi chờ gì, chàng quay trở lại bàn giấy ngay.
Iveritinov lúc ấy đã mặc lại áo khoác ngoài xong.
Ông ta hỏi, giọng thật thân mật:
"Chúng mình không thể lỡ chuyến tầu này được đâu nhỉ, phải không?"
"Không, lần này chúng ta không lỡ đâu!"
Zotov đứng lên đi đi lại lại trong phòng, tránh không nhìn Iveritinov. Ông ta kéo tà áo xuống làm cái gì nhúc nhích một chút ở phí trên thắt lưng ông ta, ông ta ấn khẩu súng từ phía đằng sau lưng lại phía bên phải đội lại chiếc mũ lầu xanh cho ngay ngắn. Ông ta chỉ làm có như vậy, cũng không nói gì thêm.
Với Zotov, thì gian dối đã hẳn là không tốt lắm.
Chàng mong Iveritinov nói ra vài lời, vài điều. Nhưng ông ta giữ im lặng, kín đáo.
Bên ngoài cửa sổ, nước xiết mạnh trong máng xối, gió giật từng hồi.
Trung uý dừng lại bên bàn giấy, một tay vịn vào góc bàn, chàng lặng lẽ nhìn mấy ngón tay.
(Chàng hiểu rằng chàng có thể nhìn ông ta bằng con mắt lúc trước được, vì thế mà ông ta sẽ không cảm thấy gì, không thấy có gì thay đổi, nhưng chàng không muốn buộc mình nhìn như vậy được).
Zotov nói, và nóng nẩy đợi câu trả lời:
"Chỉ còn vài ngày nữa là đến ngày lễ rồi!"
(Nếu như ông ta mà hỏi là "Lễ gì?" thì thật không còn gì phải nghi ngờ thêm nữa.)
Nhưng ông ta lại đáp:
"Phải, phải…"
Zotov liếc nhìn Iveritinov, ông ta vừa hút thuốc vừa tiếp tục gật gù với tiếng "phải". Zotov bảo:
"Tôi không hiểu năm nay có diễn binh ở Công Trường Đỏ không nhỉ?"
(Ai lại có thể nghĩ đến một cuộc diễn binh được. Chàng không còn lạ gì về cuộc diễn binh cả, nhưng chàng cứ nói để cho qua thì giờ).
Có tiếng gõ cửa.
"Xin lỗi, đồng chí Trung uý…"
Valia thò đầu qua khe cửa ra vào. Vừa trông thấy cô, Iveritinov đi lại gần cái ba lô của ông ta. Valia nói tiếp:
"Chuyến tầu Bẩy Chín Bốn bị trễ ở chặng chót, vì thế phải một giờ nữa chuyến tầu mới tới đây được".
Zotov thốt kêu lên:
"Hả, cô đừng nói vậy! Rầy rà thật!"
Giọng chàng nghe ra khó chịu, bực mình với cái âm thanh giả dối:
"Thôi được, cảm ơn đồng chí Podshehyakina".
Đầu Valia lui khỏi cửa.
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #15 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2013, 01:32:21 am »

Ở bên ngoài, ngay sát căn phòng, trên Đường Số Một, Zotov có thể nghe được tiếng sì sì của đầu máy giảm sức và tiếng lịch kịch của các toa tầu chạm vào nhau khi sắp dừng lại. Mặt đất rung nhè nhẹ.
Zotov nói to lên:
"Làm sao bây giờ đây? Bây giờ phải đến nhà kho mới được…"
Iveritinov vẻ lo lắng vì gặp khó khăn. Ông ta bảo:
"Thôi tôi xin ra ngoài. Tôi đi loanh quanh đâu đây để đợi vậy…"
Ông ta đứng lên, nhấc cái ba lô lên.
Zotov nhấc áo khoác ra khỏi chiếc đinh treo trên tường. Chàng bảo:
"Ở ngoài lạnh lắm, ông ra làm gì cho bị lạnh? Ông vào phòng đợi không được đâu, vì người ta ngủ ở đấy đông nghẹt cả, không còn chỗ mà len chân được. Nếu ông muốn thì ông đi với tôi đến nhà kho vậy? Có thể tôi xoay xở được gì cho ông ăn chăng?"
Chàng nói chứ không tin là được việc, mặt nóng bừng.
Câu nói có thể khiến Iveritinov không vui! Nhưng ông ta lại có vẻ vui vẻ:
"Như vậy thì ông tốt quá rồi. Tôi thật không dám xin xỏ ông quá nhiều như vậy…"
Zotov quay đi, liếc nhìn bàn giấy, thận trọng đi ra cửa, tắt đèn.
"Tốt, thôi ta đi".
Vừa khoá cửa, chàng vừa bảo với Valia:
"Nếu có ai gọi dây nói cho tôi, cô bảo là tôi đi vắng vài phút rồi trở lại ngay nhé!"
Iveritinov đi trước Zotov, ông ta vẫn khoác chiếc áo lạ lùng và với đôi xà cạp quấn vụng về, cả hai đi qua dãy hành lang vừa lạnh vừa tối, hành lang có ngọn đèn mầu xanh, rồi bước ra ngoài sân ga.
Trong bóng đêm tối đen, dưới bầu trời mù mịt, nặng trĩu, chẳng có gì hơn là một trận mưa tuyết trắng xoá, tuyết ở độ đang tan.
Chuyến tầu đậu trên đường Số Một, ngay cạnh đấy. Chuyến tầu đen ngòm, mầu đen còn đen hơn cả bầu trời cho nên vẫn có thể nhận ra được những đường nét của mui các toa tầu. Phía bên trái, là đầu tầu, khoang chứa than sáng rực với tro hồng nóng bỏng rơi xuống đường rầy và lập tức bị gió cuốn đi ngay.
Quá về đằng trước chút nữa, ở chỗ cao hơn đầu tầu, có một ngọn đèn tròn mầu xanh đứng trơ trọi một mình, ngọn đèn treo ở đấy như không dính vào đâu cả. Ở phía đằng kia, về phía đằng đuôi chuyến tầu, có những tàn than đỏ nhấp nhánh bốc lên từ các ống khói lò sưởi các toa chở hành khách và các toa trống trải chở súc vật. Về phía những vệt nhấp nhánh sống động ấy, có những khuôn mặt đàn bà to lớn, hấp tấp đi lại dọc trên sân nhà ga; hơi thở của họ nặng nhọc dưới những gói nặng trong đêm đen không trông rõ được, tất cả lẫn vào nhau thành một âm thanh hổn hển thật lớn. Có vài bà lại lôi xềnh xệch ở đằng sau mấy đứa trẻ, có đứa khóc lóc, có đứa im lặng… Có hai bóng người vừa thở hồng hộc vừa xấn xổ vẹt đường mà đi, xô bắn Zotov ra một bên, hai bóng người trong bóng tối dường như khiêng một vật gì như một khúc cây lớn. Đằng sau hai người ấy, lại có mấy người khác đang đẩy một vật gì xem ra còn nặng hơn vật hai người kia khiêng, họ kéo vật ấy bằng một sợi dây.
(Người ta chọn đúng ngay vào những ngày này, khi sự đi lại đã trở thành nguy hiểm chết người như vậy, để bắt đầu lôi kéo đám con nít, các bà, nào hòm nào rương lớn nặng không làm sao vác lên được, những cái bó quá khổ phải to bằng cả một chiếc ghế trường kỷ lại thêm những đống gì như cái thân cây lớn bằng cả một cái tủ chén bát…, họ lôi tất cả những thứ ấy đằng sau họ, chen nhau mà đi).
Nếu không có những tro than sáng rực ở đầu máy, ngọn đèn xanh treo trên cao, tàn than bay phía trên các toa tầu, và những ánh đèn lù mù của công nhân hỏa xa đi ở xa, thì không ai lại có thể tin được rằng có nhiều đoàn tầu đến nằm cạnh nhau ở nơi này, rằng đây là một nhà ga chứ không phải là một nơi ở giữa rừng hoang, cũng không phải là một vùng bao la trống trải đang sửa soạn cho mùa đông tới.
Nhưng tai nghe rõ các toa tầu đang nối vào nhau, tiếng còi của người bẻ ghi, tiếng phì phò của các đầu tầu, và tiếng người ta ồn ào.
"Đường này!"
Zotov gọi to lên, chỉ một con đường từ sân ga chạy đi ngả khác.
Zotov xách một chiếc đèn bão, kính che chung quanh cây đèn sơn phủ một nước sơn xanh, chàng giơ cây đèn soi nhiều lần vào chân Iveritinov để ông ta có thể trông thấy đường mà đi.
Iveritinov làu nhàu:
"Hà, gió mạnh thật, khéo không lại bay mất cả mũ mất!"
Zotov lặng lẽ bước đi.
Iveritinov nói nữa, dường như để bắt chuyện:
"Cái thứ đang đổ xuống đây không phải là tuyết, nhưng nó lọt vào cổ áo sao mà lạnh thế!"
Áo khoác ngoài của ông ta không có cổ.
Lúc cả hai đang bước vào nơi bùn lầy lội, đặc quánh, Zotov bảo:
"Coi chừng, chỗ này bùn không à!"
Nhưng trong bóng đêm, không làm sao nhìn ra được lấy đường đi chỗ nào khô ráo.
Bỗng có tiếng quát của người lính gác nào đấy ở ngay bên cạnh:
"Đứng lại! Ai?"
Iveritinov giật bắn người, Zotov đáp:
"Trung uý Zotov".
Bùn ngập đến mắt cá chân, có khi còn sâu hơn thế nữa, rút được chân lên thật vất vả, hai người vượt gió đi về phía nhà kho. Lại gần chỗ cửa vào ở phía bên kia. Hai người giậm chân thật mạnh, rũ áo quần phủi tuyết rơi trên vai áo. Zotov vặn to ngọn đèn lên, dẫn Iveritinov vào một thứ phòng như phòng đợi, trong phòng có một chiếc bàn lớn và hai chiếc ghế dài – Các binh sĩ trong đội canh gác nhà ga thường thường ăn và nhận các chỉ thị tại nơi này, nhưng lúc này thì trong phòng hoàn toàn vắng vẻ. Giữa mặt bàn, có một ngọn đèn lù mù, sắp tắt, trong các góc phòng tối dầy đặc.
Cánh cửa phòng gác mở ra, một người lính xuất hiện, đèn điện bật sáng trong phòng gác chiếu từ phía sau lưng người lính lại, mặt người lính vẫn chìm trong bóng tối.
Zotov hỏi, giọng nghiêm nghị:
"Guskov đâu?"
Bên ngoài người lính quát hỏi:
"Đứng lại! Ai?"
Có bước chân nơi cửa vào, và Guskov hiện ra, theo sau là người lính đi tìm anh ta, cả hai bước vào.
Guskov phác một cử chỉ chào loáng thoáng như lối chào của nhà binh, y nói:
"Thưa đồng chí Trung uý, tôi đến để trình Trung uý rõ".
Trong bóng mờ của căn phòng, Zotov nhận rõ nét mặt khó chịu cau có, vẻ mặt y bao giờ cũng có vẻ kiêu căng, y rõ ràng là bực mình với ông Trung uý này, Trung uý hiện không phải là thượng cấp trực tiếp của y, làm cho y lúc nào cũng thấy bực mình, và bực mình về đủ mọi lý do.
Bỗng Zotov giận dữ:
"Trung sĩ Guskov, phiên trực của trung sĩ có bao nhiêu người?"
Guskov cứng cỏi, không sợ sệt, dù rằng anh ta có đôi chút ngạc nhiên – Zotov không bao giờ lớn giọng cả.
"Có hai người, nhưng trung uý đã biết…"
"Tôi không biết cái gì cả! Tìm hai người ấy ngay, thi hành đúng như trong quy định!"
Môi Guskov lại cong cớn:
"Binh nhì Bobiev! Lấy súng vào trạm gác!"
Người lính đi tìm Guskov đi ngang mọi người, y giậm chân thật mạnh, rồi đi vào phòng bên.
"Còn Trung sĩ, đi với tôi lên bàn giấy!"
Trước đây một lát, Guskov đã nhận thấy có điều gì đặc biệt xẩy ra.
Người lính đi ra ngoài phòng gác, tay anh ta cầm cây súng có gắn lưỡi lê, anh ta thận trọng đi ngang chỗ mọi người, rồi đứng gác ở chỗ cửa.
Và lúc ấy Zotov bỗng nhiên rụt rè, ngập ngừng, những lời chàng nói ra như thể không phải do chính ở cửa miệng chàng thốt ra nữa. Giọng Zotov hết sức dịu dàng, chàng hết sức cố gắng nhìn thẳng vào mặt Iveritinov:
"Ô… Tôi… Tôi phải đợi một việc…"
Giọng nói người xứ Volga lúc này thật rõ ràng, nghe rành mạch:
"Ông vui lòng ngồi ở đây. Ông không phải đợi lâu đâu. Xin ông vui lòng đợi…"
Cái đầu ông ta trông có vẻ không hợp với vành mũ xụp xuống, nó làm cho hiện ra hai cái bóng ông có vẻ nặng nề, khó nhọc – một cái bóng in lên trên tường, một cái hằn trên trần nhà. Chiếc khăn quàng quấn quanh cổ dài thòng như một cái mũi.
"Ông muốn bỏ tôi một mình ở đây? Như thế này thì tôi lỡ chuyến tầu mất… Không, thôi tốt hơn cả là tôi ra đợi ở ngoài, đợi ở sân ga tốt hơn, còn nếu như,…"
"Không, không… Ông phải đợi ở đây…"
Zotov bước nhanh lại phía cửa.
Và Iveritinov chợt hiểu ra. Ông ta kêu lên:
"Ông… Ông bắt tôi? Nhưng, đồng chí Trung uý, tại sao thế, tại sao thế? Xin ông cho tôi đi, cho tôi đợi chuyến tầu".
Ông ta lại làm cử chỉ như lúc ông ta cảm ơn Zotov – bàn tay ông ta xoè năm ngón ra đặt lên ngực. Ông ta bước ra phía cửa toan theo chân trung uý Zotov bước ra ngoài, nhưng người lính gác nhanh trí giơ ngay súng có gắn lưỡi lê ra cản đường ông ta.
Zotov không dám quay đầu lại nhìn ông ta lần chót nữa. Và, trong cái ánh sáng lù mù của ngọn đèn, trong những thứ âm u vây quanh, chàng nhìn thấy gương mặt của một thứ "Hoàng Đế Lear".
Iveritinov gào lên, giọng ông ta sang sảng như tiếng chuông vang dội:
"Ông làm gì kỳ vậy! Ông làm gì kỳ vậy! Ông nhớ lại xem, có bao giờ ông lại làm như thế này được!"
Iveritinov buông tay. Cổ tay ông vươn ra khỏi tay áo, tay áo có vẻ hơi ngắn. Một tay ông ta xách cái ba lô nhà binh, bây giờ thì dường như cái bóng của ông nở rộng ra cùng với bóng tối chung quanh, vì vậy trần nhà như đè xập xuống đầu ông ta.
Zotov nói như dỗ dành an ủi, chàng cảm thấy đế giầy đè trên ngưỡng cửa:
"Ông đừng phiền lòng, đừng phiền lòng. Có một chút xíu việc cần xét cho rõ ràng lại thôi mà…"
Rồi chàng quay gót bước đi.
Guskov đi theo Zotov.
Lúc đi ngang qua phòng của Valia, Trung uý Zotov bảo:
"Cô giữ chuyến tầu nầy chậm lại một chút nhé!"
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #16 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2013, 01:33:34 am »

Vào trong phòng, ngồi xuống trước bàn, chàng viết:
"Gửi: Toán Hành Động NKVD
Tôi xin gửi đến các ông một người khai tên là Iveritinov, Igor Dementievich, Ông ta khai là quân nhân trong lực lượng Xô Viết thoát chết trong một cuộc bao vây của địch. Người nầy khai là trễ chuyến tầu số 24-54-13 tại Skopin".


"Trong lúc nói chuyện với tôi…"
Zotov bảo Guskov:
"Chuẩn bị. Lấy một người rồi dẫn y tới trung tâm".
Ít ngày trôi qua. Ngày lễ lại gần.
Nhưng Zotov không tài nào quên được con người có nụ cười chưng hửng và tấm ảnh chụp người con gái ông ta trong bộ quần áo có sọc.
Tuy thế, dường như chàng đã hành động đúng, làm được một điều phải.
Đúng, và cũng không đúng.
Zotov cho rằng người đàn ông ấy là một cán bộ địch trá hình. Vì thế chàng mới báo cho mật vụ NKVD biết.
"Tôi đưa đến các ông một người khai tên là Iveritinov vào ngày mồng một tháng Mười một. Xin quý ông có thể vui lòng cho tôi được biết về trường hợp của ông ấy đã rõ ràng như thế nào chưa?"
NKVD trả lời bằng điện thoại một cách cứng rắn, rằng:
"Trung uý Zotov, công việc điều tra còn đang tiến hành! Và theo các tài liệu liên quan đến số hàng hoá bị hư hại lên đến tám chục phần trăm, chắc chắn có những điều mờ ám gì trong vụ này đây. Đây là một việc hết sức quan trọng, vụ này có kẻ nhúng tay vào đây".
Và suốt mùa đông, Zotov làm việc vẫn tại nhà ga ấy với chức vụ sĩ quan phụ tá cho sĩ quan chuyển vận trưởng quân đội. Nhiều lần chàng muốn hỏi lại NKVD xem việc trước ra sao. Nhưng hỏi mãi như thế tất người ta nghi ngờ.
Có một lần, thẩm tra viên của Mật vụ NKVD từ trạm trung ương tới, Zotov liền hỏi xem ông ta có biết vụ ấy không:
"Ông có nhớ một người có cái tên là Iveritinov không? Hồi mùa thu năm ngoái tôi có bắt giữ ông ta ấy mà!"
Người Thẩm tra viên cau mày có vẻ khó chịu, giọng quan trọng:
"Tại sao ông lại hỏi việc ấy?"
"Thưa, bởi vì… tôi băn khoăn không hiểu ông ta ra sao".
"Người ta sẽ điều tra cặn kẽ về việc cái tên Iveritinov ấy của ông, ông không phải lo ngại gì cả. Chúng tôi không bao giờ bỏ rơi một vụ nào lưng chừng cả".
Nhưng sau đây, thì trong suốt cả cuộc đời, Zotov không bao giờ quên được con người ấy nữa.
Hết
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #17 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2013, 01:36:42 am »

Ngôi nhà của Matriona

Nguyễn Văn Son dịch

Tại cây số 184, hơn một năm rưỡi sau, các xe lửa đều chạy chậm lại, tiến từ từ như mò mẫm. Hành khách đều dán mũi vào cửa kính, và dồn ra phía chỗ trống đầu toa. Có chuyện gì vậy? Sửa đường à? Có xe nào chạy không đúng thời biểu chăng?
Nhưng không. Qua khỏi đoạn đường đó, xe dần dần chạy nhanh trở lại, hành khách đều trở về chỗ cũ.
Duy chỉ có các tài công là biết và nhớ lý do của tất cả những gì đã xảy ra.
Và tôi nữa.
1.
Mùa hè 53, từ một miền sa mạc nóng bỏng và bụi bặm, tôi trở về đất Nga, vô chủ đích. Không có một xó nào có người chờ đợi hay kêu gọi cả. Tôi đã mất hàng chục năm trời rồi còn gì, do đó… điều tôi muốn chỉ còn là miền Trung nước Nga, không nắng ấm nhưng lá cây xào xạc trong rừng. Tôi muốn được chìm sâu và mất dạng ngay trong lòng đất Nga… Nếu có!
Ở phía bên này của dãy Oural, một năm trước đây, tôi chỉ có thể được thuê làm phu vác giỏ là cùng. Người ta sẽ không bao giờ thuê tôi làm việc ở một công trường thích hợp, dù chỉ là với tư cách một thợ điện. Trong khi đó tôi chỉ hướng về nghề dạy học. Có người hiểu chuyện bảo tôi không nên phí tiền, vì cuộc du hành sẽ không đem lại một lợi ích nào cả.
Nhưng mọi việc đang bắt đầu chuyển mình. Khi tôi bước lên thang lầu học viện X và hỏi thăm chỗ đặt văn phòng sở nhân viên, tôi rất kinh ngạc khi nhận thấy các cán bộ ở đây không còn ngồi trong những căn phòng có cửa lợp da đóng kín mà lại ngồi phía sau những tấm vách bằng kiếng, y hệt như ở tiệm thuốc tây vậy. Tôi bẽn lẽn tiến đến ghi-sê, nghiêng người xuống hỏi:
“Xin lỗi, ông có cần giáo sư toán để dạy ở một miền nào xa đường xe lửa không? Tôi muốn định cư vĩnh viễn ở đó”.
Người ta dò từng chữ một trên thẻ căn cước của tôi, kế đến họ thi nhau chạy tới chạy lui hết phòng này sang phòng khác, rồi những cú điện thoại liên tiếp. Dù sao, đây cũng là một trường hợp hơi lạ vì thường thì ai cũng xin việc ở thành thị, và nếu có thể, ở thành phố càng lớn càng tốt. Cuối cùng người ta cũng cho tôi một việc làm ở một nơi hẻo lánh mà chỉ cái tên không “Đồng Nội Cao Nguyên” cũng đủ tạo niềm vui trong lòng tôi.
Thật xứng đáng với tên của nó. Trên một mô đất cao giữa những thung lũng nhỏ cùng nhiều ngọn đồi con khác, xung quanh có rừng cây xanh vây kín, Đồng Nội Cao Nguyên với chiếc hồ con và cái đầm của nó là nơi mà người ta cảm thấy sự sống và cái chết không có gì đáng phiền trách cả. Tôi ngồi đây rất lâu, trên một gốc cây trong cánh rừng thưa, và thầm ước phải chi mình có thể không cần đến những bữa cơm, miễn sao được ngồi đây mà nghe tiếng lá xào xạc trên mái trong đêm thanh vắng, không bao giờ có tiếng máy thu thanh đến quấy rầy, và tất cả mọi thứ trên cõi trần là sự im lặng.
Tiếc thay, đây không phải là đất sống. Không thấy ai bán món gì có thể ăn được trên vùng đất này. Cả làng phải đi chở những bữa cơm nghèo trong những cái bao nhỏ mãi tận ở tỉnh lỵ về.
Tôi lại phải trở về với các anh cán bộ và xin xỏ trước ghi-sê. Thoạt tiên người ta không muốn nghe tôi nói. Nhưng rốt cuộc, những cuộc chạy tới chạy lui từ phòng này sang phòng khác, những cú điện thoại, tiếng bút sột soạt trên giấy lại diễn ra, và cuối cùng người ta cũng đánh máy trên nghị định bổ nhiệm của tôi: “Torfprodoukt”.
Torfprodoukt? Lạ quá! Chính Tourgueniev cũng không bao giờ ngờ là người ta có thể phịa những tên như vậy trong tiếng Nga.
Đến ga Torfprodoukt, một dãy nhà bằng ván tạm bợ và xiêu vẹo màu xám, ở đó có người dán lên một bố cáo nghiêm khắc sau đây: “Chỉ lên tàu phía bên sân ga!” rồi ai đó thêm vào mấy chữ kẻ bằng đầu đinh nhọn “Và không cần vé!”. Và người ta thấy bên cạnh chỗ thu tiền cũng câu đó, nhưng lại kẻ bằng dao với đầy vẻ quả quyết và cũng chứa đựng một ý nghĩa pha trò buồn bã: “Không có vé’. Sau này tôi mới thấm thía ý nghĩa của những chữ viết thêm đó. Đến Torfprodoukt thì dễ nhưng đi thì rất khó.
Ở đây cũng có rừng sâu rậm rạp mà cách mạng không tàn phá nổi. Nhưng rồi gỗ cũng được phu mỏ than và nông dân các hợp tác xã kế cận đốn đi. Chủ tịch công xã nhân dân [1] , tên Chachkov, đã đốn sạch mấy mẫu liền để bán với giá rất cao ở vùng Odessa.
Thành phố được dựng lên với tất cả sức lực của nó giữa những hầm mỏ: những trại bằng gỗ hệt như vào các năm 30, và những nhà nhỏ có hiên bộc gỗ khắc hình theo kiểu những năm 50. Nhưng ở bên trong thì không có vách ngăn cao đến trần nhà, và chính vì vậy mà tôi không thể thuê được một căn phòng với bốn bức tường thực sự.
Một ống khói nhà máy tỏa nghi ngút bao phủ lên khắp thành phố. Một con đường rất hẹp như nối liền hai đầu của thành phố ấy và thỉnh thoảng rẽ chỗ này chỗ nọ, với mấy cái đầu tàu con con, cũng phun ra một thứ khói dày đặc, và với những tiếng hú đinh tai, kẽo kịt lôi ra các toa hàng chở đầy than bùn nâu sẫm, từng bảng to hay từng viên nhỏ như viên gạch. Tôi có thể đoán mà không sợ lắm là buổi chiều một chiếc máy phóng thanh sẽ gào thét trước câu lạc bộ, rồi những bợm nhậu sẽ lang thang khắp đường phố để rồi cuối cùng những nhát dao sẽ kết liễu cuộc vui.
Đó là kết quả của sự mơ mộng đến một vùng nhỏ bé và yên tĩnh trên đất Nga. Giờ đây tôi mới thấy nơi mà tôi rời bỏ vẫn thơ mộng hơn, vì ít ra tôi cũng còn có một cái nhà bằng đất nhìn ra sa mạc, đêm đêm gió mát, và bầu trời trong vắt chỉ thấy có trăng sao.
Nằm trên chiếc ghế dài ở sân ga, tôi không tài nào dỗ được giấc ngủ, và đến tờ mờ sáng tôi lại đi lang thang trong thành phố. Bấy giờ tôi mới khám phá ra là có một cái chợ tí hon, chỉ có một người đàn bà duy nhất vào giờ này đang đứng bán sữa. Tôi mua một chai và uống ngay lúc đó.
Giọng nói của chị ta làm tôi ngạc nhiên hết sức. Chị không nói, chị hát nho nhỏ mà khi nghe ta có cảm tưởng như lòng mình hoàn toàn rung động, và những lời nói của chị phát ra chính là những lời đã kéo tôi ra khỏi mảnh đất Á Đông này.
“Uống đi nếu bạn thấy thích. Chắc chắn bạn không phải là người địa phương này?”.
“Còn chị, chị từ đâu đến?”. Tôi vui vẻ hỏi lại.
Tôi cũng được biết là xung quanh đây không phải chỉ có các mỏ than, mà khi vượt qua khỏi đường xe lửa, ta sẽ đến một ngọn đồi, rồi sau đó là một cái làng tên là Talnovo. Theo người ta kể lại thì làng này đã có từ lâu, ngay từ thời “tsgiane”, khi còn một cánh rừng già bao phủ khắp vùng. Rồi xa hơn nữa là cả một vùng đất có nhiều làng mạc: Tchaslitsy, Ovintsy, Spoudni, Chevertni, Chestimirovo, tất cả đều heo hút cách xa con đường sắt và nằm cạnh những bờ hồ.
Những tên đó đối với tôi như một luồng gió yên lành hứa hẹn một nước Nga thăm thẳm.
Tôi liền đề nghị với người bạn mới đưa giúp tôi đến Talnovo sau khi chợ tan, và tìm giúp tôi một căn nhà để tôi ở trọ.
Tôi được coi như một khách trọ có nhiều quyền lợi: nhà trường sẽ cung cấp thêm một số tiền thuê một xe chở than cho tôi dùng trong mùa đông. Sự lo lắng hiện trên nét mặt của chị ta không còn là sự dịu dàng của tâm hồn nữa. Nhà chị không có dư chỗ trống (chị có chồng và phải “nuôi dưỡng” mẹ già), thế nên chị dẫn tôi đến nhà mấy người bà con của chị, hết nhà này đến nhà nọ. Nhưng không đâu có phòng riêng cả. Đã không có chỗ mà lại còn ồn ào nữa.
Cứ như thế mà chúng tôi đến một nơi có con sông gần như khô cạn cùng một cái đập và một chiếc cầu nhỏ. Chưa có chỗ nào trong làng mà tôi thấy xinh đẹp như ở đây: vài ba cây liễu, một căn nhà gỗ xiêu vẹo, một đàn vịt đang lội dưới ao cùng mấy con ngỗng vừa rẩy lông ướt vừa leo lên bờ.
“Thôi, bây giờ chỉ còn cách là đến nhà Matriona, người hướng dẫn của tôi nói, chị ta có vẻ chán rồi. Có điều là nhà không được sạch sẽ lắm, bà ấy hơi bê bối một chút và hơi yếu đuối nữa”.
Căn nhà của Matriona cũng ở trong một xóm gần đó: bốn khung cửa sổ nhỏ nằm ngay hàng bên phần râm mát ở phía sau, mái nhà lợp bằng dăm bào với một khung cửa nhỏ của cái vựa sát nóc làm theo kiểu Térème.
Nhưng dăm bào đã mục, các thanh gỗ của căn nhà và cổng, xưa kia chắc phải oai vệ lắm, nay đã ngả màu xám xì vì quá cũ, ngay cả lớp hồ bên ngoài cũng đã loang lổ rất nhiều.
Cánh cổng đã cài then, nhưng chị hướng dẫn viên của tôi, thay vì gõ cửa, đã lòn tay xuống phía dưới và kéo then cửa qua một bên, đó chỉ là biện pháp thô sơ để ngăn ngừa gia súc khỏi xổ chuồng. Sân không có mái che nhưng có một dãy nhà phụ dính liền với căn nhà trên. Qua khỏi cổng là một cầu thang bên trong đưa đến nhiều sân gác rộng thênh thang cách mái nhà rất xa. Bên trái là một cầu thang khác đưa đến “căn phòng đẹp”, một căn phòng không lò sưởi, biệt lập; vài bậc thang khác lại đưa đến một cái gác xép dùng để chứa đồ. Phía bên phải là cái nhà gỗ thật sự với đầy đủ vựa và hầm.

Nhà này được cất lên lâu lắm rồi, và rất chắc chắn, cho một gia đình đông người, nhưng giờ đây người duy nhất ngụ ở đó là một bà cụ tuổi đã lục tuần.
Khi tôi bước vô thì thấy bà đang nằm ngay trên cái lò sưởi kiểu Nga, cạnh cửa vào, trên người đắp những mảnh vải rách rưới màu sậm khó đoán được là loại gì, nhưng chắc chắn trong cuộc sống của dân lao động không có một giá trị nào.
Căn nhà gỗ rộng lớn, đặc biệt là phía bên còn khá nhất, chứa ngổn ngang chai lọ và thùng nhỏ làm bằng gỗ sung dùng để đựng nước đặt trên mấy cái ghế đẩu. Những đồ vật đó mặc dù im lặng nhưng sống động đã lấp đi phần nào sự cô độc của bà chủ nhà. Chúng nằm la liệt một cách tự nhiên, và hứng tất cả các tia nắng nghèo nàn lọt vào từ phía Bắc. Và trong cái ánh nắng chiếu sắp tắt đó, gương mặt tròn trĩnh của bà chủ nhà khuất sau cái lò sưởi càng tăng thêm vẻ vàng vọt và bệnh hoạn. Đôi mắt lờ đờ của bà cho thấy sự đau ốm đã hành hạ bà rất dữ dội.
Trong khi nói chuyện với tôi, bà vẫn nằm bẹp trên cái lò, đầu không có gối, quay về hướng cánh cửa nơi tôi đang đứng. Bà không tỏ ra sung sướng chút nào khi biết mình vừa bắt được một khách trọ, trái lại chỉ than thở vì căn bệnh độc hại mà cơn đau vừa mới hành hạ bà xong: không phải tháng nào cơn cũng trở lại, nhưng cứ mỗi lần nó đến thì:
“… Nó hành hạ tôi hai ba ngày liên tiếp, như vậy tôi không biết làm sao có thể đi đứng và dọn ăn cho ông. Không phải vấn đề cái nhà, tôi không thấy có gì khó chịu vì có ông ở đây cả”.
Thế rồi bà kể cho tôi một lô những căn nhà khác có thể cho tôi nhiều tiện nghi và yên tĩnh hơn, bà muốn tôi đi qua một vòng xem sao. Nhưng tôi đã hiểu là số phận đã bắt tôi phải trọ tại căn nhà gỗ khá tối tăm này, với cái gương soi mặt đã mờ không còn phản chiếu được gì nữa cả, với hai tấm bích chương giá một rúp màu sắc lòe loẹt nói về sự bán sách và mùa gặt, mà bà dán lên tường cho đẹp.
Và mặc dù Matriona Vassiliévna buộc tôi phải đi khắp làng, nhưng đến khi tôi trở lại lần thứ nhì bà vẫn còn ngoan cố từ chối:
“Nhưng lỡ một ngày nào đó tôi không nấu cơm được thì ông sẽ làm sao?”.
Tuy nhiên bà cũng đứng dậy để tiếp tôi, và phải công nhận lần này thấy tôi trở lại trong đôi mắt bà thoáng hiện một cái gì như là sự vừa ý vậy.
Chúng tôi thỏa thuận về giá cả và số than do nhà trường cung cấp.
Sau này tôi mới biết là trong nhiều năm qua Matriona Vassiliévna không có lãnh được một cắc nào vì bà không được cấp hưu bổng. Bà con không ai giúp đỡ bà cả. Còn ở công xã nhân dân thì bà làm việc không lương mà chỉ lãnh những cây gậy nhỏ, thể hiện cho những ngày làm việc, và được ghi vào một cuốn sổ bẩn thỉu.
Thế là tôi trọ tại nhà Matriona. Chúng tôi không ngăn căn phòng ra làm đôi. Giường của bà kê trong một góc sát cánh cửa ra vào cạnh lò; tôi kê giường tôi cạnh một cửa sổ, và để có thêm ánh sáng tôi dời mấy cái thùng bằng gỗ sung ra xa một chút, để đặt một cái bàn cạnh một cửa sổ khác. Trong làng có điện: người ta đã câu điện vào Chatoury ngay từ những năm 20. Vào thời đó, báo chí thường nói đến “cái đèn của Ilitch”, và các bác nhà quê trợn to mắt mà gọi: “Đó là Nữ hoàng ánh sáng!”.
Có thể những người khá giả nhất trong làng sẽ cho là căn nhà của Matriona không phải là nơi sinh sống lý tưởng, nhưng đối với chúng tôi, trong mùa thu và mùa đông năm ấy, thì lại là một căn nhà rất tốt: các trận mưa chưa làm đổ mái nhà và những cơn gió lạnh chưa quét hẳn sự ấm áp tỏa ra từ cái lò, trừ lúc gần sáng, nhất là khi gió thổi vào từ phía đổ nát.
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #18 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2013, 01:37:32 am »

Ngoài Matriona và tôi ra, trong nhà còn có một con mèo, rất nhiều chuột và gián.
Con mèo cũng không còn trẻ lắm, nhưng đáng chú ý nhất là nó què một cẳng. Matriona đã nuôi nó vì lòng nhân đạo và từ đó nó trở thành một thành phần trong gia đình bà. Mặc dù bốn cẳng nó vẫn còn đi được nhưng nó cà nhắc rất nhiều. Như vậy cái chân què của nó mới đỡ đau. Mỗi lần nó phóng từ trên lò xuống đất, tiếng động do nó gây ra khi chạm mặt đất không mềm mại như ta thường thấy ở loài mèo, mà lại mạnh cho đến độ lúc đầu tôi phải giật mình. Lý do là nó đặt ba cẳng xuống cùng một lúc để che chở cho cẳng thứ tư.
Tuy nhiên nếu trong nhà có nhiều chuột, đó không phải vì chú mèo què quặt không diệt chúng nổi: chú ta phóng nhanh như chớp vào một góc nhà để chụp chúng và ngoạm giữa hai hàm răng. Nếu bọn chuột thoát được khỏi móng vuốt của mèo là vì trước kia, vào thời kỳ sự sinh sống còn khá dễ dàng, ai đó đã làm đẹp vách tường bằng cách dán lên một loại giấy màu xanh lục có dợn sóng, và không phải chỉ có một lớp mà đến năm lớp. Những lớp giấy dính sát vào nhau, nhưng có nhiều chỗ lại bị tróc khỏi vách và tạo ra một lớp da thứ hai của căn nhà. Giữa lớp da giấy màu và các lóng gỗ tròn của bức tường, bọn chuột đã làm những lối đi và di chuyển ở trong đó, gây ra những tiếng sột soạt đầy ngạo mạn, và chúng còn chạy lên đến tận trần nhà nữa. Chú mèo cứ đưa mắt theo dõi tiếng sột soạt mà muốn điên tiết lên vì chúng ở quá xa.
Đôi khi nó cũng ăn gián, nhưng ăn rồi lại bị bệnh. Nơi duy nhất mà bọn gián tôn trọng là lằn mức của bức vách nhỏ ngăn cách cái miệng lò và nhà bếp với căn phòng trong. Chúng không bao giờ xâm nhập vào trong phòng cả. Trái lại ở nhà bếp thì đầy lúc nhúc. Ban đêm có khi tôi xuống uống nước, vừa bật đèn lên thì thấy gần như khắp sàn nhà, cái ghế dài và ngay cả bức tường trở thành một màu nâu sẫm, nhúc nhích không ngừng. Tôi có mang chất hàn the của phòng thí nghiệm ở trường về, rồi chúng tôi trộn với bột dẻo hy vọng đầu độc được chúng. Bọn gián bắt đầu thưa thớt, nhưng Matriona lại sợ con mèo ăn phải chất độc ấy. Thế là chúng tôi ngưng chiến dịch diệt trừ gián và chúng lại sanh sôi nảy nở đông đảo như trước. Ban đêm khi Matriona đã ngủ và tôi ngồi làm việc nơi bàn, tiếng chuột chạy rúc rích thật nhanh sau lớp giấy màu bị che lấp bởi tiếng ồn ào của bọn gián phía sau bức vách lẫn lộn với nhau, không lúc nào ngớt; và tạo ra một âm thanh tương tự tiếng sóng rì rầm nơi xa xa. Nhưng rồi tôi cũng quen đi, vì trong tiếng động đó thật ra không có gì xấu cả, cũng không có một sự lừa dối nào hết. Tiếng xào xạc đó chỉ nói lên sự sống của chúng tôi mà thôi.
Tôi cũng quen dần với cô gái vẽ bằng màu sắc rực rỡ trong tấm bích chương, lúc nào cũng giơ ra cho tôi những tác phẩm của Bélinski, Panférov và còn một chồng sách khác không biết thuộc loại gì, nhưng được có cái là cô ta không nói gì cả. Tóm lại, tôi quen đi với tất cả mọi thứ trong căn nhà của Matriona.
Matriona thức dậy lúc bốn, năm giờ sáng. Cái đồng hồ treo tường, bà đã mua cách đây hai mươi bảy năm trong một cửa tiệm nông thôn, luôn luôn đi sớm, nhưng điều đó không làm bà lo ngại: miễn sao nó đừng đi muộn và đừng làm bà chậm trễ buổi sáng là được rồi. Bà bật đèn sau bếp lên và lặng lẽ, khéo léo, cố gây ít tiếng động chừng nào tốt chừng nấy, bà đốt lửa trong lò, ra vắt sữa dê (về súc vật thì bà chỉ có bao nhiêu đó thôi: một con dê cái với cặp sừng cong queo), bà đi lấy nước nấu đồ ăn trong ba cái nồi: một cho tôi, một cho bà và một cho con dê. Cho con dê thì bà lấy ở gác xép ra một củ khoai nhỏ nhất, cho bà thì bà dành củ vừa vừa, còn tôi thì bà cho một củ lớn bằng quả trứng gà. Nói về củ lớn mới nghĩ đến cái vườn phủ đầy cát của bà, từ trước Thế chiến chưa khi nào được bón phân và lại được trồng khoai, nhưng chưa bao giờ đào được một củ nào cả.
Buổi sáng tôi hầu như không nghe bà làm việc. Tôi ngủ lâu lắm, tôi thức dậy cùng lúc với mặt trời mọc trễ trong những ngày đông giá, và vươn vai thò đầu ra khỏi chăn và chiếc áo ngủ rộng thùng thình. Thêm một cái áo vải loại molleton, dùng để đi trại, đắp trên chân, phía dưới lót một bao nhét đầy rơm, chúng giữ được hơi ấm cho tôi ngay cả trong những đêm mà sự giá lạnh từ miền Bắc lùa xuống các cánh cửa sổ lung lay của chúng tôi. Mỗi khi nghe tiếng động khe khẽ kín đáo của bà từ phía sau vách, tôi nói vọng sang bằng một giọng chậm rãi và rõ ràng:
“Chào bà Matriona Vassiliévna!”.
Và để trả lời tôi, lúc nào cũng là những lời nói ân cần vang lên từ phía sau vách. Bắt đầu là một loạt tiếng ro ro trầm trầm và êm ái như trong chuyện đời xưa của các cụ già kể lại:
“Mr… mr … mmr… chào ông!”.
Rồi ngừng một lúc:
“Bữa điểm tâm của ông còn nóng hổi đây!”.
Bữa điểm tâm, dù bà không nói ra, rất dễ đoán: khoai luộc để vỏ, hay canh khoai, hay cháo nấu bằng lúa mạch (ngoài ra không thể tìm được thứ gì khác ở Torfprodoukt, ngay cả lúa mạch cũng phải giành giựt lắm mới mua được: vì là thứ đồ ăn rẻ nhất nên người ta dùng để nuôi heo và mua từng bao). Không bao giờ bà nêm muối được vừa miệng cả, thường hay bị khét, do đó lúc ăn thế nào cũng bị dính một lớp vỏ trên hàm ếch của miệng, hay ở lợi răng, và làm cho dạ dày đau.
Nhưng đó không phải lỗi của Matriona: ở Torfprodoukt bơ cũng không có, người ta giành nhau margarine (bơ thực vật - Chú thích của talawas) và thứ có thể mua tha hồ là mỡ của thú vật. Ngoài ra, theo như tôi đã nhận xét, cái lò Nga không tiện lợi cho việc nấu ăn lắm: bà bếp không trông thấy những gì đã chín, nhiệt độ phân phối không đều trên mặt lò. Nhưng lý do mà ông cha chúng tôi chịu thừa hưởng nó từ thời đại thạch khí là khi ta đốt lò từ sáng sớm, nó sẽ hâm nóng suốt ngày thức ăn thức uống của cả người lẫn vật, và người ta có thể ngủ yên trong cái hơi ấm mà nó tỏa ra.
Tôi ngoan ngoãn ăn bất cứ những gì bà dọn cho tôi, và mỗi khi cắn phải một vật lạ: sợi tóc, mảnh than vụn, chân gián, tôi chỉ bỏ ra mà không tỏ vẻ gì sốt ruột cả. Tôi không có lòng dạ nào phiền trách Matriona. Dù sao bà cũng đã báo trước: “Lỡ lúc nào đó chưa biết, tôi không nấu nướng gì được thì ông sẽ làm sao?”.
“Cám ơn bà”, tôi nói một cách thật tình.
“Cám ơn cái gì hả ông? Cám ơn vì ông được cái mà ông có quyền hưởng à?”. Bà bèn trả lời với một nụ cười rất tươi.
Rồi bà nhìn với một tâm hồn mộc mạc thể hiện qua đôi mắt xanh nhạt, và hỏi:
“Chiều nay ông muốn ăn gì?”
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #19 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2013, 01:38:10 am »

Chiều nay có nghĩa là bữa ăn tối của tôi đấy. Một ngày tôi chỉ ăn có hai bữa như khi ở ngoài mặt trận vậy. Xin bà ấy cho mình ăn cái gì chiều nay bây giờ? Lúc nào cũng chỉ có món khoai luộc hay canh khoai.
Tôi thích nghi được, vì đời đã dạy tôi phải nhìn cái ý nghĩa của cuộc sống hằng ngày qua một cái gì khác hơn là cái ăn. Đối với tôi nụ cười trên khuôn mặt tròn trĩnh của bà còn có ý nghĩa hơn. Và đến khi tôi kiếm đủ tiền để mua một chiếc máy ảnh, tôi cứ cố chụp cho được nụ cười đó nhưng chưa bao giờ tôi toại nguyện. Cứ mỗi lần bà thấy con mắt lạnh lùng của ống kính chĩa về phía bà là bà lấy một vẻ mặt cau có hay nghiêm khắc và kiêu hãnh.
Tôi chỉ thành công có mỗi một lần duy nhất, đó là lúc bà mỉm cười vì những ý nghĩ riêng khi nhìn xuống đường qua khung cửa sổ.
Mùa thu năm ấy, Matriona có nhiều lo lắng. Mấy bà hàng xóm đã thuyết phục bà phải đòi cho được hưu bổng. Tứ cố vô thân, nhất là từ khi sức khỏe của bà bắt đầu suy yếu trông thấy, bà mất việc làm ở nông trường. Đó là cả một chuỗi bất công cho bà: bà bị đau nhưng không được coi là bị phế tật; bà đã phục vụ cho công xã trong suốt một phần tư thế kỷ, nhưng vì không phải như làm việc ở công xưởng, bà không có quyền xin hưu bổng cho chính bà, và chỉ có thể xin được cho chồng bà mà thôi, nghĩa là hưu bổng vì mất sự trợ cấp gia đình. Nhưng mà bà đã mất chồng từ mười hai năm nay, ngay lúc chiến tranh mới bắt đầu, và bây giờ không dễ dàng gì mà xin được tất cả những chứng chỉ của tất cả những nơi ông đã từng làm việc, với thời gian phục vụ và tổng số lương bổng. Xin cho được hết mấy cái chứng chỉ đó là cả một vấn đề; và còn phải xin người ta ghi vào số lương của ông, dù chỉ là 300 rúp mỗi tháng, rồi phải chứng thực một chứng chỉ xác nhận bà sống một mình và không được ai giúp đỡ; và một chứng chỉ khác chứng thực ngày sanh tháng đẻ của bà; rồi mang tất cả đến cơ quan bảo trợ xã hội; rồi mang về sau khi đã sửa những điểm bất hợp lệ; rồi lại mang đến một lần nữa. Sau đó lại phải đi hỏi thăm xem người ta có chịu cấp hưu bổng cho bà không…
Các thủ tục đó phải gặp nhiều phiền phức hơn nữa. Lý do là văn phòng của cơ quan bảo trợ xã hội đặt cách xa Talnovo đến hàng hai mươi cây số ở phía Đông, văn phòng Xô Viết nông thôn cách mười cây số về phía Tây, và văn phòng Xô Viết địa phương cách khoảng nửa giờ đi bộ về phía Bắc. Người ta đã bắt bà chạy hết phòng này sang phòng khác, trong suốt hai tháng trường, chỉ để sửa một dấu chấm hay một dấu phết. Mỗi lần đi và về phải mất cả ngày trời. Khi bà đến văn phòng Xô Viết nông trường thì nhằm bữa ông thư ký vắng mặt, ông ta không có mặt, thế thôi, đó là chuyện rất thường ở thôn quê. Thế là hôm sau bà phải trở lại. Lần này thì có mặt ông thư ký, nhưng ông ta không có con dấu thích hợp. Lại phải trở lại lần thứ ba. Rồi lần thứ tư, vì mắt ông kém nên ông ký trên những tờ giấy không cần ký, còn giấy cần ký thì ông lại không ký, lý do một phần là vì giấy tờ Matriona mang đến nhiều quá, ghim thành một tập dày cộm.
“Họ hành hạ tôi, Ingatitch à”, bà than với tôi sau những trận đi đi về về vô ích đó. “Tôi lo quá!”.
Nhưng vầng trán của bà không sa sầm lâu. Tôi để ý bà có một phương pháp rất hữu hiệu để lấy lại sự vui tươi, đó là làm việc. Ngay sau đó, bà đi lấy cuốc để đào khoai hoặc xách giỏ đi kiếm than, hoặc bưng thúng vô rừng hái trái nạc. Thay vì đi luồn cúi ở những cơ sở hành chánh, bà đi tìm cái ăn trong rừng. Thế rồi, gò lưng dưới gánh nặng, Matriona trở về nhà với sự hớn hở, bằng lòng vì mọi chuyện, và đã tìm lại được nụ cười tươi tắn.
“Giờ này mà tôi lấy được đó, Ingatitch, tôi biết chỗ rồi”, ý bà nói đến đống than. “Chỗ tốt quá, thật là may hết sức!”.
“Nhưng mà tại sao, Matriona, bộ than của tôi không đủ sao? Cả một xe cam nhông mà!”
“Ối! Than của ông! Một lần như vậy, và một lần như vậy nữa thì may ra mới đủ. Ở đây mùa đông mà đến và gió bấc thổi mạnh qua cửa sổ thì mình có đốt lò nóng cách mấy cũng bay đi hết. Hồi trước chúng tôi đi nhặt được nhiều lắm! Cỡ vào tháng này ít nhất cũng được ba xe rồi. Nhưng mà người ta lại bắt mình. Có một người đàn bà trong xóm bị lôi ra tòa rồi đó”.
Quả đúng như lời bà nói. Ngọn gió đông đã bắt đầu nổi dậy. Xung quanh làng có rừng bao phủ nhưng không biết kiếm củi ở đâu để đốt lò sưởi cả. Đâu đâu cũng nghe rền rĩ tiếng máy khoan trong hầm mỏ, nhưng họ không bán than cho dân chúng mà chỉ cung cấp cho chính quyền và những kẻ có chút ít liên hệ, ngoài ra là mấy ông giáo, mấy ông thầy thuốc và thợ ở xưởng. Dân ở Talnovo không có quyền mua than, và không có vấn đề xin xỏ. Ông chủ tịch công xã đi lùng khắp trong làng, nhìn chòng chọc vào mắt thiên hạ với sự nghiêm khắc hay dễ dãi, và nói với họ về đủ thứ chuyện, trừ chuyện nhiên liệu. Lý do là riêng ông ta, ông không bao giờ thiếu than, do đó không phải lo mùa đông sắp đến.
Đại khái, ngày xưa, người ta trộm củi của vua, và ngày nay ăn cắp than của nhà máy. Mấy chị đàn bà tụ tập từng nhóm năm người để có thêm can đảm đi kiếm than giữa ban ngày. Vào mùa hè họ đi đục than ở mọi nơi và chất thành từng đống dài để phơi khô. Có cái hay là than vừa được đục ra không thể mang đi ngay được. Phải phơi ở đó cho đến mùa thu, hoặc đôi khi đến những trận mưa tuyết đầu mùa nếu đường chưa đi được. Và trong thời gian đó, họ đi nhặt dần về dùng. Họ bỏ vô túi xách mang về mỗi lần năm, sáu miếng nếu còn ướt, và khoảng một chục nếu đã khô. Mỗi một bao như vậy, có khi phải đi xa đến ba cây số mới lấy được, chỉ đủ chụm lò sưởi một lần thôi. Trong khi đó thì mùa đông kéo dài tới hai trăm ngày. Và buổi sáng phải đốt lò Nga, chiều lò Hòa Lan bằng sành.
“Nói mà không đi tới đâu hết thì nói làm gì cho mệt?” Matriona nói như giận dỗi một kẻ vô hình. “Từ khi mình không còn ngựa để chở đồ thì ráng chịu chớ biết làm sao. Lưng tôi lúc nào cũng có việc để làm cả. Mùa đông kéo xe trượt tuyết, mùa hạ vác củi. Thật tình mà!”.
Mấy chị đàn bà mỗi ngày phải đi hơn một lần. Gặp ngày trời tốt Matriona mang về đến những sáu bao. Than của tôi thì bà chất thành đống lớn cho mọi người thấy, còn của bà thì bà giấu ở dưới mấy cái gác trên trần, và mỗi buổi tối bà bít lối ra vào lại bằng một tấm ván.
“Trừ phi quân giặc đó đoán được”, bà vừa cười vừa nói, tay gạt mồ hôi trán, “chớ còn lâu tụi nó mới tìm thấy”.
Trong trường hợp bị mất mát đó, mấy mỏ than sẽ làm gì? Họ không có đủ nhân viên để canh gác trong tất cả đầm lầy. Chỉ còn cách là ghi số than khổng lồ đã đào được vào sổ thống kê, rồi trừ đi số thất thoát: vì mưa và mảnh vụn. Đôi khi người ta cũng tập họp vài toán lính canh và chận bắt mấy chị đàn bà đi lấy than về ngay tại những ngõ vào làng. Mấy bà nông dân vội ném bừa mấy bao than xuống và chạy thoát thân ra khắp tứ phía. Đôi khi, do đơn tố cáo, họ xét nhà, lập biên bản chứa than lậu và hăm dọa sẽ đưa ra tòa. Thế là mấy bà nghỉ đi lấy than một thời gian; nhưng rồi khi mùa đông đã quá gần kề thì họ lại đổ xô đi lấy than bằng xe trượt tuyết, và chỉ đi ban đêm thôi.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM