huytop
Thành viên

Bài viết: 919
|
 |
« Trả lời #20 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2014, 08:31:12 pm » |
|
Huấn luyện viên đã kỹ càng nhắc Eli rằng: “Hôm nay thì toàn là bạn bè bám sát dấu vết của anh. Ngày mai, khi chỉ còn một mình anh đối diện với quân thù, thì ai biết kẻ nào sẽ theo dõi anh ở Cai-rô, Đa-mát hay Bat-đa?”
Ấy đấy, Đéc-vi-sơ là thế. Những mệnh lệnh, những lời giải thích của ông nói một cách bình thản, đi sâu vào lòng như mũi dao. Ngay từ buổi đầu tập sự, Đéc-vi-sơ đã dứt khoát xóa bỏ mọi ý nghĩ sai lầm về Eli. Huấn luyện viên không hề làm gì khiến Eli lo sợ. Nhưng ông cố làm cho Eli thực hành trong thực tế và đôi khi phải thấy tất cả sự khắc nghiệt, nguy hiểm đang chờ y ngày mà y vượt qua biên giới Israen.
Trong tất cả các cơ quan tình báo trên thế giới đều chấp nhận một sự thật hiển nhiên: một điệp viên hoạt động trên đất địch, số phận sẽ được đảm bảo hơn, sẽ hành động táo bạo và có hiệu suất hơn, nếu y chắc chắn người chỉ huy hoàn toàn tin cậy và y cũng hoàn toàn tin cậy vào người chỉ huy, vào sự sáng suốt, vào cơ sở vững vàng của mọi mệnh lệnh và mọi huấn thị từ thượng cấp đó đưa xuống.
Chỉ trong vòng vài tháng, Đéc-vi-sơ đã tranh thủ được sự tin cậy của Eli và tạo nên giữa họ một tình cảm hiểu biết và thân mật.
Đéc-vi-sơ, ngay từ buổi đầu gặp gỡ cũng có thiện cảm với Eli. Nhưng để đi từ sự thiện cảm bộc phát này tới một sự tin cậy lẫn nhau, cũng phải qua một chặng đường dài.
Thời kỳ làm việc ở bộ phận lưu trữ hồ sơ bộ Quốc phòng, Eli Cohen luôn luôn nói với các bạn cùng làm rằng y ao ước được công tác ở nước ngoài vì y không thấy thích làm công việc văn phòng. Công việc của y chỉ có xem kỹ và dịch ra tiếng Do Thái các báo chí Ả-rập hàng ngày từ khắp các xứ A-Rập, đặc biệt từ Ai-Cập và từ Xy-ri gửi tới Ten A-víp.
Cả trước mặt viên sỹ quan tình báo, một đại úy dáng tầm thước có bộ tóc hung hung phụ trách phòng phiên dịch của Bộ, Eli Cohen cũng tỏ ý ước mong được cử đi công tác. Viên đại úy này không phản ứng gì về lời phát biểu của Eli cả. Nhưng vài tuần sau, đột nhiên y bảo với Eli: “Tôi đã đặt vấn đề với người có thẩm quyền để hỏi xem người ta có cần anh không. Nhưng người ta đã trả lời tôi rằng, nguyên tắc từ chối với người tình nguyện vẫn được áp dụng đối với anh cũng như những người khác. Như vậy có nghĩa là người ta không dành một sự đặc biệt gì cho anh cả.”
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
huytop
Thành viên

Bài viết: 919
|
 |
« Trả lời #21 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2014, 07:06:08 pm » |
|
Đây là sự khước từ đầu tiên mà Eli vấp phải đối với Cục tình báo.
Sự thất vọng của Eli rất lớn. Y thổ lộ tâm trạng với Dan-man, một nhân viên khác trong phòng phiên dịch. Dan-man mang máng có nghe thấy Eli nói: “Tại sao tôi cứ phải phung phí thì giờ để nghiên cứu các báo chí Ả-rập, trong khi tôi thấy có khả năng thu lượm được tại chỗ nhiều tin tức có giá trị hơn?”.
Eli không ngờ câu nói của mình lại được Dan-man rất chú ý và báo cáo lên cấp trên một cách trung thực. Y cũng không hay biết rằng trong lúc ấy, Cục tình báo đang lập hồ sơ và thu nhập mọi tin tức do mọi nguồn tin cung cấp về y. Người ta nghiên cứu quá khứ của Eli, bí mật dò hỏi bạn bè, gia dình, những quan hệ giao tiếp của y.
Cuối cùng, khi hồ sơ của Eli làm xong, được chuyển tới Đéc-vi-sơ vào đầu năm 1960, ông ta quyết định đích thân làm quen và nghiên cứu trường hợp của Eli.
Một buổi tối , khi từ cửa hàng “Ma-sơ-bia” về, Eli ngạc nhiên thấy Dan-man đã ngồi ở nhà y. Xin lỗi Na-dia (vợ Eli) và viện lý do có câu chuyện bí mật về công việc buôn bán, Dan-man kéo Eli ra phố. Mãi lúc này, Eli mới biết rằng, trái hẳn với bề ngoài, Cục tình báo đã chấp nhận lời thỉnh cầu của y, Dan-man bảo Eli Cohen:
“Đã hai lần bọn chúng tôi không lưu ý đến anh. Nhưng bây giờ thì đến lượt chúng tôi hỏi lại anh: Anh đã thật sẵn sàng hợp tác với chúng tôi chưa? Khi cần anh có sẵn sang đi công tác ở nước ngoài, ở Châu Âu hoặc ngay ở các nước Ả-rập chẳng hạn?”. Eli Cohen rất cảm động chỉ nói một câu ngắn ngủi: “Tôi chỉ có một ý kiến biện bạch duy nhất là không muốn đi châu Âu. Tôi muốn đi một nước A-rập nào đó do tùy các anh chọn”.
Dan-man còn nói cho Eli biết, cuộc sống của y sẽ còn thay đổi không những vì vợ y đang có mang mà việc này có thể ảnh hưởng tới quyết định của y, rằng lương bổng của y sẽ lĩnh ở Cục tình báo thì quá thấp (350 bảng). Hơn nữa, cũng chưa có gì quyết định hẳn và y còn thì giờ và khả năng rút lui.
Hai ngày sau, cũng vào một buổi tối, sau giờ làm việc, Dan-man dẫn Eli kéo lên bậc của một ngôi nhà cũ kỹ ở phố A-len-by, cạnh nhà Bưu điện trung ương. Hai người bấm chuông một căn gác nhỏ, màu vôi đã loang lổ từng mảng.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 21 Tháng Tư, 2014, 07:31:57 pm gửi bởi huytop »
|
Logged
|
|
|
|
huytop
Thành viên

Bài viết: 919
|
 |
« Trả lời #22 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2014, 08:48:14 pm » |
|
Tôi là I-da-ác Đéc-vi-sơ – chủ nhà tự giới thiệu, nụ cười nở trên môi. Dan-man từ giã họ, chỉ còn Đéc-vi-sơ và Eli ngồi trên hai chiếc ghế bành trong căn gác nhỏ, đò đạc kê như một chỗ nghỉ chân của người sống độc thân. Trong cuộc trao đổi ấy, ngay từ những câu đầu tiên, họ đã có cảm tình đặc biệt với nhau.
Đéc-vi-sơ nói: “Này Eli, tại sao anh lại muốn đi thế? Cái gì đã xô đẩy anh vào vòng phiêu lưu? Ở nhà, anh không sung sướng hay sao? Hay anh muốn thoát khỏi cảnh sống gia đình?”.
Eli Cohen giật lên như bị rắn cắn. Nhiều lần y thường biểu lộ tình yêu chân thật đối với Na-đi-a và hạnh phúc của vợ chồng y một cách gần như quá đáng. Y thú thật là có lúc gặp khó khăn về vật chất, lương phụ kế toán mỗi tháng được có 150 bảng, làm sao kiếm cho đủ ăn. Nhưng Eli Cohen phản đối ý kiến cho là vì lý do hoàn cảnh vật chất nên phải vào làm ở Cục tình báo: “Tôi tin rằng có thể làm được nhiều việc tốt cho lý tưởng của chúng ta. Na-đi-a sẽ đồng ý xa tôi trong thời gian dài với điều kiện là tôi phải làm một việc gì có ích cho Tổ quốc và tôi phải chuyên tâm và một công việc mà tôi ưa thích”.
Đéc-vi-sơ cắt lời y: “Hãy nhớ như chôn vào ruột là không một người ruột thịt kể cả vợ anh hoặc bạn bè nào của anh được phép biết những hoạt động của anh, khi anh được chúng tôi tuyển dụng. Nếu hoạt động của anh có kết quả, anh có thể chia sẻ sự hân hoan và niềm kiêu hãnh…với ngay bản thân, và – hơi hãn hữu với người phụ trách của anh trong tổ chức Một-xát (Cơ quan tình báo Israen). Cấm tiệt anh không được hé răng với bất kỳ ai về bất cứ công việc gì dính dáng đến Cục tình báo. Cần nhớ kỹ rằng, không những sự sống còn của anh mà ngay cả những hoạt động của chúng ta ra nữa tùy thuộc vào việc này. Sự sống còn của anh cần thiết cho chúng tôi hơn là số phận của những hoạt động của chúng ta”.
Eli cảm thấy mình mắc sai lầm và cố gỡ lại: “Đâu phải là tôi nói với Na-đi-a sự thật về hoạt động của tôi. Tôi chỉ muốn nói đơn giản rằng, Na-đi-a sẽ sung sướng về công việc mới của tôi thôi. Vì nó phù hợp với ý định của chúng tôi tuy Na-đi-a không hiểu được đó là công việc gì”.
Đéc-vi-sơ hướng dẫn cho y cách làm cho Na-đi-a buộc phải tin hoàn toàn rằng chồng cô ta đã kiếm được việc làm trong một công ty xuất nhập khẩu và vì công việc của công ty này, phải đi lại ở Israen và ở nước ngoài
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 22 Tháng Tư, 2014, 09:29:24 pm gửi bởi huytop »
|
Logged
|
|
|
|
huytop
Thành viên

Bài viết: 919
|
 |
« Trả lời #23 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2014, 07:42:54 pm » |
|
“Anh bắt buộc phải nói dối vợ. Liệu sự dối trá này có làm nứt rạn gì giữa vợ chồng anh không?”. Đéc-vi-sơ hỏi Eli. Ông ta biết đích xác và sâu sắc rằng, chẳng một cơ quan tình báo nào trên thế giới lại có thể ngăn cản được nhân viên của họ nói với vợ cái, con cột sự bí mật công tác của mình, trong khi đầu gối tay ấp, sau nhiều ngày xa cách. Tuy nhiên Đéc-vi-sơ vẫn phải nói như thế với Eli, vì bất cứ cấp trên ở bất kỳ cơ quan tình báo nào cũng vẫn phải nói những lời vô ích như thế với bọn nhân viên mới.
Trong căn gác nhỏ ở phố A-len-by, cuộc trao đổi giữa họ kéo dài tới đêm khuya. Đéc-vi-sơ để trước mặt Eli tập hồ sơ và tiến hành ngay một cuộc thẩm tra khái quát: hỏi tất cả mọi vấn đề mà những người đã nghiên cứu hồ sơ của Eli đặt ra, trước khi “bật đèn xanh”- Thỏa thuận đồng ý – cho cuộc trao đổi đầu tiên này. Đéc-vi-sơ hỏi đầu nguồn, cuối gốc chi tiết của những cuộc phá hoại ở Ai-Cập và vụ Eli bị bắt giữ.Thật ra, cần phải hiểu xem người Ai-Cập hiểu biết hoặc có thể hiểu biết về cuộc đời của Eli đến đâu và trong phạm vi nào họ có thể phát hiện ra nếu y vượt qua biên giới của một nước A-rập. Cục tình báo Israen không bao giờ nghĩ đến việc phái Eli sang Ai-Cập vì ở đó y đã lộ mặt và bị xếp vào loại phần tử hoạt động cho phong trào Do thái tự trị.
Rồi Đéc-vi-sơ không ngừng quay trở lại những câu hỏi về nguyên nhân đã thúc đẩy Eli tình nguyện đi công tác. Ông ta còn hỏi có phải Eli đọc quá nhiều tiểu thuyết gián điệp và đó là căn nguyên khiến y muốn trở thành điệp viên không? Đến đây Eli phải chứng minh thiện chí và lòng thành thật của mình bằng cách nhấn mạnh rằng, vừa qua y đã phải mắng đứa em là A-bơ-ra-ham vì nó đọc nhiều loại sách trinh thám quá và loại văn này dễ làm cho nó sao lãng học tập.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
huytop
Thành viên

Bài viết: 919
|
 |
« Trả lời #24 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2014, 08:29:52 pm » |
|
Những lời đối đáp của Eli, lòng thành thực của y làm Đéc-vi-sơ hài lòng. Đéc-vi-sơ – vốn trước năm 1948, có tham gia một phong trào khủng bố bí mật, tự nhiên có cảm nghĩ rằng, Eli có thể hoàn thành tốt công tác tình báo.
Gần nửa đêm, huấn luyện viên đưa cho Eli Cohen ghi và ký vào nhiều mẫu giấy tờ mang tiêu đề “Quốc gia Israen – Bộ quốc phòng”. Đó là những câu hỏi mà y phải trả lời, tuy câu trả lời thì từ lâu, Đéc-vi-sơ và cấp trên của y đều rõ cả. Bọn họ chỉ còn thiếu chữ ký của Eli Cohen có nghĩa là chính thức hóa việc y tình nguyện vào công tác traong ngành tình báo Israen.
Những ngày khác thì dành cho việc kiểm tra dài về bệnh tật, tâm lý và tâm lý kỹ thuật. Eli được công nhận sức khỏe loại A1. Nhưng phần kiểm tra về tâm lý và tâm lý kỹ thuật kéo dài ba ngày và y phải nghỉ việc trong những ngày này ở cửa hiệu Ma-sơ-bia. Về phần này nữa, những kết quả kiểm tra đều chắc chắn và Eli được các nhà tâm lý học ghi nhận xét rất tốt.
Sau nhiều tuần kiểm tra, Đéc-vi-sơ đã gặp lại Eli lần thứ hai:
-Mọi sự đều tốt đẹp với anh, chỉ cần cứ tốt thế mãi. Đéc-vi-sơ vừa nói vừa vỗ vào vai y -Chúng ta hãy còn xa đích nhiều. Bây giờ anh phải xin thôi việc đi và hoàn toàn chịu quyền điều khiển của chúng tôi. Trong sáu tháng, anh sẽ theo một khóa huấn luyện khó khăn và vất vả - về thể xác cũng như tinh thần. Nếu trong khoảng sáu tháng, chúng ta vẫn còn nhất trí, ta sẽ dự tính chuyện kế tiếp. Bắt đầu từ nay, anh sẽ nhận một khoản lương hàng tháng là 350 bảng.
Hôm ấy, Eli vui sướng trở lại nhà và báo cho Na-đi-a biết ,là y vừa được tuyển dụng vào một công ty thương mại và lúc cần thiết, y sẽ đi nước ngoài. Na-đi-a không hỏi thêm y một câu nào vô ích. Từ hôm ấy Eli để ria mép, như Đéc-vi-sơ đã nói với y: “Một bộ ria mép cho đẹp vào, ít nhất cũng phải đẹp như ria của tôi ấy”. Thật ra vì Đéc-vi-sơ có một bộ ria mép khá đẹp, kích thước khá lớn, nhưng hơi lôi thôi và vàng khè vì chất Ni-cô-tin của thuốc lá mà ông ta hút như cái ống khói.
Có một hôm gia đình Eli Cohen lấy làm ngạc nhiên thấy y để ria mép mà người ta biết rằng ở phương Đông này, ý định đó coi như “bạo phổi”. Eli tìm ngay sự giải thích để làm giảm bớt sự lo ngại không đâu của gia đình y:
“Tôi đã thề sẽ không bao giờ cạo ria mép cho đến ngày Na-đi-a sinh một đứa con trai”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
huytop
Thành viên

Bài viết: 919
|
 |
« Trả lời #25 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2014, 11:33:04 pm » |
|
Bởi vì Na-đi-a vừa sinh con đầu lòng – Một bé gái đặt tên là Xô-phi. Nhưng Ê-li thì lại thèm khát một đứa con trai và y cũng không giấu giếm vợ điều này.
Ít ngày sau, một sự việc khác là Ê-li và gia đình y xúc động: người cha già của y chết ngay đầu năm 1960 đó.
Một ngày hè năm 1960, cùng với Đéc-vi-sơ, Ê-li đi đi lại lại trên đường phố A-len-by nhằm phát hiện “tên theo dõi” và làm cho tên này thất bại.
Thoạt tiên Ê-li thua hết keo này đến keo khác trong cuộc tập dượt nhiều ngày liền diễn đi diễn lại không ngừng. Chẳng có lần nào Ê-li tìm ra những nhân viên theo dõi mình. Sau mỗi lần tập dượt, Đéc-vi-sơ lại cho Ê-li xem nhiều ảnh mà bọn này đã chụp khi y dừng trước quầy bán báo hoặc trước tủ kính của một cửa hiệu trên đường phố Ten A-víp. Người ta còn cho Ê-li xem cả phim quay được lúc y đang đi bách bộ trên các phố, trong khi Ê-li không sao phân biệt nổi những người theo dõi mình với các khách qua đường khác.
Chỉ trong vòng một tuần của đợt tập luyện, Ê-li cũng đã khám phá ra được những kẻ “bám đuôi”. Và từ lúc ấy, sự tập dượt trở thành một trò chơi. Càng ngày Ê-li càng dễ dàng phát hiện ra và tìm cách đánh lạch bọn chúng, ngay khi chúng tìm mọi cách bí mật chụp ảnh bằng được Ê-li bằng loại máy ảnh nhỏ xíu.
Vào cuối tháng đầu của đợt tập dượt gắt gao này, huấn liện viên đặt Ê-li vào một thử thách loại khác. Một sự thử thách ở Giê-ru-xa-lem.
Công việc bắt đầu bằng việc trao cho Ê-li một hộ chiếu quốc tịch Pháp mang tên Mác- xen Cô-en. Đó là hộ chiếu của một người Do Thái gốc Ai Cập, đi qua I-xra-en trước khi đi đến một nước châu Phi. Trong thời gian tập dượt, người ta chỉ đánh đổi tấm ảnh của người du lịch tạm thời này với ảnh của Ê-li Cô-hen. Cô Dây-ra, thư ký cơ quan tình báo ở Ten A-vip, trao hộ chiếu này cho Ê-li.
Những chỉ thị của huấn luyện viên rất rõ ràng: với hộ chiếu mang tên Mác-xen, Ê-li sẽ phải từ Ten A-víp tới Giê-ru-xa-len và trong thời gian tập dượt, y phải cư xử như là chủ nhân thật sự của hộ chiếu này. Nói cách khác, Ê-li phải mang căn cước nhà du lịch người Pháp gốc Ai Cập, mà người ta biết rằng, người này chỉ nói có tiếng Pháp và tiếng A-rập. Dưới căn cước này, y có nhiệm vụ phải gặp gỡ thật nhiều người do y chọn – nhà buôn, công nhân, công chức và có thể ngay cả các bộ trưởng – khả dĩ có thể cung cấp cho y nhiều tin tức về I-xra-en.
Việc này cũng không có gì khác cái mà người ta vẫn gọi là hoạt động nấp dưởi “vỏ bọc”.
Đéc-vi-sơ kết hợp hoạt động này với cuộc tập luyện vừa rồi ở Ten A-víp. Y bảo Ê-li: Trong thời gian lưu trú ở Giê-ru-xa-lem, anh sẽ bị rất nhiều nhân viên của Cục tình báo theo dõi và sự hoạt động sẽ được đánh giá rất cao nếu anh tránh khỏi sự cảnh giác của họ. Xục đống với ý nghĩ là lần này, y sẽ phải sống ở Giê-ru-xa-lem như là một điệp viên hoạt động ở nước ngoài, Ê-li đã trở thành Mác-xen Cô-en, lên đường đi Giê-ru-xa-lem sau khi nói với vợ rằng y tới đây vì “công việc” và sẽ ở đây nhiều ngày.
Ê-li tới Giê-ru-xa-lem bằng xe lửa và ở trong một quán trọ. Rồi y lập tức làm bổn phận là dạo quanh thành phố một vòng và quan hệ với nhân dân theo ý của y.
Giê-ru-xa-lem có những khu phố nghèo nàn và những ngõ hẻm nhỏ bé, nằm dài trên biên giới Gióoc-đa-ni. Dãy thành lũy cổ kính ngăn cách thành phố thuộc I-xra-en với thành phố thuộc A-rập. Đây là lần thứ hai y đặt chân tới Giê-ru-xa-lem, từ khi đến I-xra-en. Những chòi bắn của quân đội A-rập trên các ụ súng của thành lũy này gợi cho E-li Cô-hen nỗi ám ảnh của một thành phố cũ ở phương Đông. Y có dịp a nhàn ngắm nghía thành phố và dần dần yêu mến tính chất khá đặc biệt và độc đáo của nó.
Nói thạo tiếng Pháp, Ê-li Cô-hen không gặp khó khăn gì khi chuyện trò với một vài khách trọ nơi y cùng ở. Y tự giới thiệu là khách “du lịch” ở miền Nam nước Pháp và hỏi họ ở quán cà phê hay tiệm ăn nào, có thể gặp gỡ thoải mái được các nhà doanh nghiệp hoặc với các công chức của chính phủ?
Thế là mới tới Giê-ru-xa-lem có hai ngày, Ê-li đã làm quen ngay ở tiệm cà phê “Viên-na” một công chức làm ở một Bộ quan trọng và ngay tối hôm đó, được mời tới ăn cơm tối ở nhà người này. Trong bữa cơm, Ê-li gặp viên giám đốc một ngân hàng nhỏ ở thủ đô. Khi nghe thấy nhà “du lịch Pháp” có ý định đến sinh sống ở I-xra-en và muốn chuyển về đó khoản vốn nhỏ, viên giám đốc liền hẹn gặp Ê-li ở văn phòng vào sáng hôm sau. Sáng hôm sau, cuộc trao đổi giữa Ê-li và viên giám đốc – cảm thấy có thể làm ăn được và định bụng muốn lợi dụng việc chuyển cái vốn ấy – kéo khá dài và kết quả. Thế là Ê-li biết tất cả những khó khăn về kinh tế và tài chính của I-xra-en, của sự “tai biến” sắp sửa đến gần do việc ngừng thanh toán những khoản bồi thường của Đức và việc giảm bớt những cuộc quyên góp tiền ở Mỹ cho I-xra-en. Ê-li đặt cơ man là câu hỏi và viêm giám đóc thì đem hết sức để cung cấp những lời giải đáp một cách vô cùng lễ độ và với thiện chí rõ rệt.
Không cần phải nói là sau đó, viên giám đốc ngân hàng trẻ tuối nọ tưng hửng như thế nào khi mất hút tin tức của khách hàng. Có thể giờ đây, đọc những dòng này, anh ta ắt phải tức giận lắm khi biết rằng người khách “du lịch” miền Nam nước Pháo không phải ai khác mà chính là Ê-li Cô-hen.
Tên gián điệp tập sự nhận thấy y bị theo dõi ở Giê-ru-xa-lem, đúng như Đéc-vi-sơ đã báo cho y biết trước. Sau này, y ngắm nghía những bức ảnh người ta chụp y cùng với những người khác ở tiệm cà phê Viên-na và viên công chức nọ. Trái lại, Ê-li đã giấu kín được cuộc gặp gỡ với viên giám đốc ngân hàng, và được huấn luyện viên của y khen ngợi.
Hoạt động ở “Giê-ru-xa-lem” kéo dài mười ngày. Ê-li Cô-hen dưới cái tên Mác-xen, còn làm quen được với một số đông đáng kể những nhà buôn, viên chức nhà nước và nhiều nhà trí thức ở thành phố đại học này. Dưới mắt cấp trên của y, tập hồ sơ y thu thập được quả là hoàn mỹ, Cục tình báo A-rập đáng ra phải thích tập hồ sơ này mới phải. Sau khi đọc tập hồ sơ, Đéc-vi-sơ thảo một báo cáo lên người phụ trách tổ chức “Mốt-xát” trong đó nhận xét rằng: “Ê-li Cô-hen khác người bởi một nhân cách biến đổi và những ý kiến độc đáo, y có đủ khả năng đặt quan hệ một cách nhanh chóng với người khác. Báo cáo này còn nói thêm – Ê-li Cô-hen có ý thức chủ động, có khiếu thông minh sáng tạo, có những phản xạ tinh thần mau lẹ và có sở trường về cách gây tín nhiệm với người xung quanh. Y nói thạo được nhiều thứ tiếng, điều này rất thuận lợi cho công tác, vì thế tôi tin rằng, y sẽ đạt kết quả trong nhiệm vụ được giao phó và y nhiệt thành mong muốn được giao nhiệm vụ. Hơn thế nữa, Ê-li lại là một gã cứng đầu cứng cổ, trong cái ý tốt của câu: “Cứng đầu để đạt mục đích””.
Cuộc thực tập ở Giê-ru-xa-lem chứng tỏ rằng Ê-li có thể thường xuyên mược căn cước của người khác và sinh hoạt y như người này. Tất nhiên là ăn ở như một người Do Thái, hoặc một người du lịch Do Thái gốc Pháp, giữa những người Do Thái ở Giê-ru-xa-lem rõ ràng thoải mái hơn là mược căn cước của một người A-rập và sinh hoạt như người A-rập ở Đa-mát hoặc ở Cai-rô.
Sau cuộc thực tập ở Giê-ru-xa-lem, Đéc-vi-sơ đi tới kết luận, người ta có thể, khi có thời cơ, ném Ê-li Cô-hen vào một thủ đô A-rập, không phải dưới một căn cước Tây Ban Nha hoặc Nam Mỹ như dự kiến lúc đầu, mà ngay dưới căn cước một người A-rập. Dáng dấp Ê-li và giọng nói A-rập hoàn hảo, theo ý kiến của Đéc-vi-sơ, hoàn toàn có đủ khả năng bố trí như vậy mà rất ít bị rủi ro.
Từ lúc còn ít tuổi, Ê-li vốn có một trí nhớ tuyện vời nên đã không gặp một khó khăn nào trong những cuộc thực tập “ghi vào trí nhớ” liên tục và ngày càng khó nhọc. Những cuộc tập luyện này phần nhiều ở trên căn gác nhỏ của Đéc-vi-sơ ở phó A-len-by. Hàng nhiều giờ liền, Đéc-vi-sơ đặt một số đồ vật đủ các loại lên trên bàn, đậy kín một lúc rồi bảo Ê-li vẽ lại những vật mà y chỉ mới nhìn thoáng qua hoặc trả lời những câu hỏi về chi tiết của vật này hay vật nọ. Chặng thứ hai Đéc-vi-sơ bày cho Ê-li xem những mô hình nhỏ các loại vũ khí khác nhau, từ khẩu súng lục đến súng trường, cho đén các loại xe bọc thép và máy bay siêu âm. Tới giai đoạn thứ ba, người ta chiếu ảnh những loại khí cụ thật hiện có trong quân đội A-rập, xe tăng T-54, máy bay Mig 15, Mig 17, Mig 19 và có cả loại Mig 21.
Đéc-vi-sơ nói với Ê-li:“Các nước A-rập hiện chưa có tất cả các loại vũ khí này, nhưng cũng không lâu đâu”. Hai năm sau, việc này đúng là đến thật.
Các cuộc tập luyện này diễn đi diễn lại trong nhiều ngày và nhiều tuần. Đéc-vi-sơ giải thích luôn miệng cho học trò của ông ta rằng, trí nhớ bằng quan sát không thể lầm lẫn là cần thiết, phải nhớ như in vào óc gần như tự động, tất cả các loại vũ khí của A-rập và ở đất địch càng ít ghi chép càng tốt. Những bản ghi chép và hồ sơ là cần thiết ở Tổng hành dinh. Còn anh, anh chỉ cần có trí nhớ của anh thôi!
Tháng 9 năm 1960, Ê-li Cô-hen được nghỉ phép lần đầu tiên. Kỳ nghỉ phép này, đúng vào ngày Tết năm mới Do Thái (Rosh - Hashana) thực té cũng là dịp đầu tiên Ê-li làm tròn vai trò làm cha với cô bé Xô-phi mới ra đời.
Cũng trong thời kỳ này đã xảy ra một câu chuyện tuy không quan trọng nhưng biểu lộ tình trạng tinh thần của Ê-li. Một trong mấy em trai của Ê-li Cô-hen là E-phra-im, sinh sống tại trại Rơ-vi-vim, trong vùng Nê-ghép, có nhớ lại rằng, Ê-li đến thăm anh ta vào cuối mùa hè năm 1960. Cả hai anh em đến nhà một tay chơi vô tuyến điện trong trại. Khi anh chàng này bắt được liên lạc với một tay chơi thông tin vô tuyến tài tử khác ở một nơi nào đó ngoài biên giới I-xra-en, Ê-li liền giằng lấy chiếc mi-crô và trước sự kinh ngạc của bạn bè, kêu tướng lên: “Tôi mới bị tống cổ ra khỏi A-rập như trăm ngàn người Do Thái khác. Còn rất nhiều người Do Thái hãy còn ở Ai Cập và tất cả đều bị ngược đãi”.
Người em của Ê-li giằng lại chiếc mi-crô ở trong tay y và giận giữ nói: “Anh không điên chứ? Ai xui anh làm như thế?”.
“Mọi người cần phải thấy rõ sự thật. Không có một ai làm gì để giúp đỡ chúng ta cả” – Ê-li chua chát đáp lại.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
huytop
Thành viên

Bài viết: 919
|
 |
« Trả lời #26 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2014, 12:13:25 am » |
|
VII.Căn cước mới
Sau tết Do Thái ít lâu, vào mùa thu năm 1960, Đéc-vi-sơ bắt đầu làm cho Ê-li Cô-hen một căn cước mới.
Trước hết, phải biến Ê-li thành một người A-rập theo đạo Hồi giống hệt như y đã theo đạo Do Thái. Để biến được như thế, Ê-li phải tới một thành phố A-rập ở Na-da-rét với căn cước giả là sinh viên trường đại học Giê-ru-xa-lem. Pháp sư Mu-ha-mét Xan-man, một ông già phong thái tộc trưởng, sau này là pháp sư của y về đạo Hồi, không tài nào hiểu nổi vì sao mà người học trò của ông lại khao khát đạo Hồi đến thế.
Ngồi theo lối phương Đông trên một tấm thảm trong một ngôi nhà đá xinh đẹp của pháp sư, Ê-li tập thực hành những lý thuyết đạo Hồi mà y đã học tại A-lec-xăng-đơ-ri hồi còn nhỏ. Đọc một vài chương trong kinh Cô-ran và nhất là những kinh nguyện thay đổi theo từng màu và từng ngày lễ, đó là điều căn bản của việc thực tập này. Ê-li đọc thuộc long năm bài kinh nguyện hàng ngày của đạo Hồi và kinh Pha-ta là bài kinh mở đầu và nhập đề cho các bài kinh khác.
Được pháp sư khen ngợi, Ê-li luôn luôn mang trong người quyển kinh Cô-ran mà y phải học thuộc long nhiều đoạn. Và cứ ngày thứ sáu, y có thói quen tới các nhà thờ mà người ta thường thấy ở vùng nông thôn A-rập ở I-xra-en, y cũng bò ra lễ, mặt quay về hướng thủ đô đạo Hồi và đáp lại viên xướng lễ (mu-e-din) gọi các tín đồ từ trên bậc cao của nhà thờ: “Thượng đế chỉ có A-la, còn Mô-ha-mét là tiên tri của Ngài”.
Các căn cước người ta làm cho Ê-li không bắt buộc y phải thông hiểu quá sâu về đạo Hồi mà chỉ cần có vẻ một người A-rập tiến bộ, hiểu qua tôn giáo nhờ lúc còn nhỏ đã được học qua. Nhưng Ê-li vốn dĩ chăm chỉ lại hăng hái nên đã học quá mức mong muốn của cấp trên.
Cuối năm 1960, Ê-li nhận được một căn cước mới, cũng đo Đéc-vi-sơ thong báo cho y trong căn gác nhỏ ở Ten A-víp một ngày đầu năm 1960:
“Bắt đầu từ nay, anh sẽ làm quen với tên mới của anh là Ca-man A-min Ta-áp. Ca-man là họ của anh, A-min là tên cha anh và Ta-áp là họ gia đình. Anh là con một gia đình quốc tịch Xy-ri”.
- Anh chỉ tìm được có cái tên này thôi à? Không được đẹp lắm, Ê-li nói, nụ cười nở trên môi.
- Tên không được đẹp lắm nhưng là một cái tên Xy-ri điển hình đấy – Đéc-vi-sơ giải thích thêm: Anh tốt số may mắn có trước vài tháng để làm quen với cái tên này, trong khi ấy, những người khác cũng trong hoàn cảnh tương tự bắt buộc phải tự tìm ra tên mình trong một hộ chiếu giả mạo nhận được của cấp trên trao cho giữa hai chuyến máy bay trong buồng rửa mặt của sân bay nào đó.
Cùng một lúc, Ê-li Cô-hen được biết nước mà y sẽ tới hoạt động là Xy-ri và từ nay y có thì giờ để làm quen kỹ càng với địa lý, địa hình, lịch sử quá khứ và hiện tại cũng như tình hình kinh tế của xứ sở này. Đéc-vi-sơ dặn Ê-li còn phải nghiên cứu thổ ngữ và giọng nói của tiếng Xy-ri vì nó khác với thổ ngữ và giọng nói của Ai Cập. Thật ra âm điệu A-rập ở Đa-mát có khác với âm điệu ở Cai-rô một chút. Việc hợp nhất về chính trị giữa Ai cập và Xy-ri thành nước Cộng hòa A-rập thống nhất, mới hình thành thời kỳ ấy nhưng tồn tại không được bao lâu, thật ra cũng chẳng làm thay đổi gì những sự khác nhau về phát âm giữa Cai-rô và Đa-mát.
Sau những cuộc thực tập “Theo dõi”, học thêm đạo Hồi với căn cước giả, Ê-li Cô-hen đã biến thành Ca-man A-min Ta-áp, trở thành học trò của một pháp sư A-rập người Đa-mát. Hàng ngày, y buộc phải nghe nhiều lần đài phát thanh Đa-mát để tiếp thu âm điệu tiếng Xy-ri và theo dõi tình hình thường xuyên của nước này.
Từ đó, Ê-li có một thời gian biểu lu bu: sang làm việc từ sớm và thường kéo dài mãi tới đêm khuyu. Những chuyên viên của Cục tình báo dạy y cách dung các loại đài phát, từ máy phát chuyên dụng đến máy bí mật nhỏ xíu thường dùng trong các công tác gián điệp. Là một điệp viên đơn tuyến, một mình Ê-li theo học mật mã với huấn luyện viên để sau này dùng trong các lần phát tin bí mật. Vì đã theo học nhiều lớp về điện đài khi còn ở Aléc-xăng-đơ-ri, cho nên Ê-li học kỹ thuật điện đài không khó khăn gì. Huấn luyện viên của Ê-li sung sướng nhận thấy Ê-li có bàn tay nhẹ nhàng và “cách đánh dịu dàng” (ý nói y sử dụng ma-níp khéo léo), chi tiết ấy sau này sẽ có những hậu quả đáng kể. Ê-li thực tập nhiều kỹ thuật khác nhau, tháo lắp các đài phát bé bằng bao thuốc là và dễ tìm nơi cất giấu thích hợp như giấu trong máy cạo râu hoặc nơi để các dụng cụ gia đình. Những máy ảnh trước kia Ê-li dùng để chơi nay cũng trở thành những vật dụng nghề nghiệp. Ngoài ra người ta còn dạy y dùng máy quay phim nhỏ là loại dùng để quay những phim bé tí xíu.
Y ngồi một mình hang giờ liền trong một buồng chiếu bóng nhỏ ở Ten A-víp để theo dõi trên màn ảnh những phim riêng gồm những cuộn phim sao lại của đài vô tuyến truyền hình Xy-ri và những tài liệu về đời sống của Xy-ri, những phim ảnh bí mật chụp về quân đội cũng như các cuộc duyệt binh của các lực lượng vũ trang Xy-ri.
Đồng thời điệp viện tương lai còn phải nghiên cứu sâu sắc về tình hình chính trị của Xy-ri. Y đọc rất nhiều sách, truyện, báo chí, thuộc lòng ngày tháng và tình hình chi tiết của một vài sự kiện chính trị. Y tự mình theo dõi thời sự hàng ngày của Xy-ri.
Sự kiện chính trị quan trọng nhất trong năm 1960 đối với I-xra-en, là tình hình ngày càng căng thẳng ở biên giới với Xy-ri. Sau khi các sư đoàn của tướng Mô-sê Đay-an đánh bại quân đội Ai Cập tại Xi-nai, tình hình có dịu đi ở dọc biên giới I-xra-en – Ai Cập, ngược lại tình hình biên giới giáp với Xy-ri lại càng nóng bỏng.
Thủ tướng I-xra-en, Ben Gu-ri-ôn không hề che giấu sự lo lắng về diễn bến tình hình. Ngày 17 tháng 1 năm 1960, ông đệ trình lên chính phủ họp tại Giê-ru-xa-lem dưới quyền chủ toạn của ông một bản báo cáo chi tiết. Theo ý ông, I-xra-en bất đắc dĩ bị đẩy vào một tình thế ngày một, ngày hai phải chiến đấu. Căn cứ vào số liệu do Cục tình báo cung cấp, ông ta thông báo cho chính phủ biết số lượng lớn vũ khí tối tân được nhập vào Ai Cập và Xy-ri.
So sánh lực lượng ở Trung Đông thường xuyên phát triển có hại cho I-xra-en, Ben Gu-ri-ôn tuyên bố trước các bộ trưởng và hướng về viên sĩ quan cao cấp phụ trách cục quân báo Mô-đi-in, yêu cầu cung cấp cho Hội đồng bộ trưởng những số liệu chính xác về dụng cụ chiến tranh mới nhập vào nước Cộng hòa A-rập Thống nhất. Nhân dịp này, Ben tỏ ý rất tiếc về tình trạng dân chúng I-xra-en không hề nhận thấy cái gì đang âm ỷ trong các thủ đo A-rập láng giềng và ông tuyên bố: “Sự thờ ơ lãnh đạm cũng là kẻ thù nguy hiểm của nền an ninh quốc gia”.
Trong phần kết luận của bản báo cáo, Ben tuyên bố I-xra-en cần phải cố gắng gấp đôi để kiếm những nguồn cung cấp vũ khí mới và hoàn thiện những nguồn tin tức để có thể dự đoán trước và kịp thời các âm mưu quân sự của Xy-ri hoặc của Ai Cập.
Hai tuần sau chứng minh nhận định của Ben là đúng, Xy-ri vừa bố trí quân ở dọc biên giới, về phía đông nam hồ Xi-nê-rét. Sự căng thẳng tăng lên một cách lạ thường khi binh lính Xy-ri nổ súng về phía Ten-cát-dia và cũng lần đầu tiên, trên bầu trời thung lũng Giuốc-đanh xuất hiện các máy bay chiến đấu Mig-17. Lập tức, Không quân I-xra-en điều đến tại chỗ nhiều máy bay “Mi-xte” do Pháp sản xuất, để đánh đuổi các máy bay Xy-ri.
Ngày 3 tháng 1 năm 1960, tại Tổng hành dinh, viên tư lệnh khu Bắc I-xra-en nói với các sĩ quan của mình đang cúi xuống bản đồ tác chiến: “Chính phủ đã quyết định phải bảo vệ hiện tình ở khu này, bằng bất cứ giá nào”. Vừa nói, ông vừa đặt trước mặt các sĩ quan nhiều mảnh đạn súng sớn mà ngay sáng nay, Xy-ri đã bắn sang phía Ten-cát-dia – Từ năm 1957, Xy-ri đã không công nhận đường biên giới quốc tế phân chia ranh giới hai nước chúng ta. Thái độ của chúng đã được Ai Cập ủng hộ. Chúng ta công nhận biên giới này và chúng ta sẽ bảo vệ đường biên giới đầu tiên bằng pháo binh của ta, nếu cần. Ông nói thêm với các sĩ quan như vậy.
Không quá hai tiếng sau, một người dân I-xra-en bị chết và hai người khác bị thương trong cuộc bắn súng lớn của Xy-ri sang Ten-cát-dia. Đêm sau, quân đội I-xra-en đánh lại, thực hiện cuộc hành quân trừng phạt đầu tiên kể từ chiến dịch Xi-nai, lần này đánh sang đất Xy-ri.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
huytop
Thành viên

Bài viết: 919
|
 |
« Trả lời #27 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2014, 11:18:02 pm » |
|
Sắp nửa đêm, lữ đoàn Gô-la-ni hành quân sang phía Xy-ri trên đồi Ta-oa-phích, nơi pháo binh Xy-ri đã bắn sang Ten-cát-đia. Suốt đêm hôm ấy, tiếng trong pháo và súng máy nổ dữ dội và không ngớt trong thung lũng Giuốc-đanh.
Trong trận này, lữ đoàn Giô-la-ni mang về một số xe bọc thép và vũ khí hạng nặng cũng như nhiều chiến lợi phẩm khác.
Ê-li Cô-hen là một trong những người đầu tiên được ngắm nghía số chiến lợi phẩm đố. “Sự thắng lợi ở Ta-oa-phích là đúng” – huấn luyện viên giải thích cho Ê-li – vì quân đội I-xra-en đã biết rõ số vũ khí đạn dược và quân số mà Xy-ri tập trung ở vùng này. Do đó, chúng ta có khả năng chiếm các đồn ở Ta-oa-phích trong không đầy mười bốn giờ. Đéc-vi-sơ giải thích thêm: “Để mở đầu, chúng ta đã loại ngay khỏi vòng chiến pháo binh của Xy-ri bằng những đường đạn bán chính xác, nhờ đã biết rõ ràng nơi bố trí của các cỗ pháo đó. Tóm lại là như thế đấy”.
Bài học mà Đéc-vi-sơ muốn dạy cho Ê-li ngay trong khi hãy còn ở bên này biên giới I-xra-en là:
- Những thắng lợi như chúng ta vừa thu được ở Ta-oa-phích sẽ còn lặp lại nếu ta biết thật chính xác, kịp thời tình hình Xy-ri, những đơn vị đóng dọc biên giới của ta, địa điểm chính xác những công sự và sự di chuyển của các đơn vị tiếp viện. Đây sẽ là nhiệm vụ thiết yếu của anh khi anh ở phía bên kia biên giới.
Suốt cả đêm hôm ấy, cùng đi với huấn luyện viên tới một tiền đồn ở I-xra-en, đột nhiên Ê-li đã nảy ra ý định vượt biên giới rồi vào nằm tại Đa-mát. Y không hiểu rằng y còn phải qua qua lại lại nửa trái đất trước khi mạo hiểm trên các đường phố, các Bộ và các Tổng hành dinh ở Đa-mát.
Ít lâu sau cuộc hành quân ở Ta-oa-phích, một sự kiện khác xảy ra khiến cho Ê-li phải nghiên cứu kỹ những thủ đoạn tình báo của Cộng hòa A-rập Thống nhất.
Ngày 8 tháng 2, sau vụ Ta-oa-phích một tuần, bộ trưởng bộ Quốc phòng Xi-mê-ôn Pê-rét cho biết I-xra-en đã kêu gọi nhiều nước để xin vũ khí hạng nặng và xe tăng để tự vệ, nhưng đều bị từ chối. Chẳng có một nước nào chịu để lọt tai những lời tuyên cáo của I-xra-en rằng Ai Cập có trong tay một số xe tăng lớn hơn số lượng xe tăng của các đạo quân Đức và Anh đánh nhau trong cuộc chiến tranh ở sa mạc Bắc Phi hồi đại chiến thứ hai. Trừ có Pháp cung cấp máy bay cho họ, còn các nước khác đều từ chối không chịu cấp cho I-xra-en những vũ khí cần thiết.
Bộ tham mưu hợp nhất của các lực lượng vũ trang Cộng hòa A-rập Thống nhất vẫn tiếp tục làm chủ tình hình và chỉ huy các cuộc hành quân của bộ đội Xy-ri ở biên giới phía bắc I-xra-en. Ngày 13 tháng 2, bỗng nhiên có tin Nát-xe bất ngờ tới Đa-mát. Vì biện pháp an ninh nên người ta không báo trước khi ông rời Cai-rô và chỉ sau khi máy bay hạ cánh, người ta mới báo tin ông tới Đa-mát. Ông Nát-xe chắc chưa quên vụ phá hoại bí mật xảy ra cũng trên đường bay này vào sáng sớm 29 tháng 10 năm 1956, một máy bay trên có quá nửa bộ tham mưu Ai Cập từ Đa-mát đi Cai-rô đã rơi xuống Địa Trung Hải gần bờ biển I-xra-en.
Ít lâu sau, Cục tình báo I-xra-en mới biết là trong chuyến Nát-xe đi Đa-mát, một cuộc chiến tranh xuýt nổ ra giữa Cộng hòa A-rập Thống nhất và I-xra-en, do có nguồn tin báo rằng I-xra-en “đang tập trung quân đội suốt dọc biên giới Xy-ri”.
Sau khi quân Đa-mát và biết “tin” này, Nát-xe lập tức ra lệnh cho các sư đoàn thiết giáp của ông ở phía trên kênh Xuy-ê bí mật tiến về Ga-đa và phía nam biên giới I-xra-en. Bốn trăm xe tăng hạng nặng của Ai Cập liền vượt kênh Xuy-ê và trong đêm 24 rạng 25 tháng 2 năm 1960 mở hết tốc lực vượt qua sa mạc Xi-nai. Quân đội Ai Cập đã lợi dụng bài học năm 1956 và sau khi đã cắt mọi liên lạc bằng vô tuyến điện giữa các đơn vị thiết giáp, đoàn xe tăng đã tới biên giới I-xra-en. Quân đội Ai Cập tin rằng cuộc di chuyển quy mô lớn này có thể giữ được bí mật.
Người ta dễ hình dung được tình trạng kinh hoàng của I-xra-en nếu cuộc điều động các sư đoàn xe tăng trên biên giới I-xra-en có thể làm được một cách bí mật. Nhưng mà lúc xe tăng Ai Cập vượt kênh Xuy-ê thì I-xra-en đã biết rồi. Lệnh báo động được phát ngay nhờ có một chuyến bay thám thính của không quân I-xra-en đã cung cấp cho bộ tham mưu những ảnh chụp từ trên cao rất chính xác cuộc vận chuyển to lớn của xa tăng địch qua bãi sa mạc.
Khi các lực lượng Ai Cập gồm có các xe tăng T34, T54 và các súng cống xe tăng S.U.100 cùng ba sư đôàn bộ binh bố trí trên sa mạc gần biên giới GGa-đa, họ không khỏi ngạc nhiên khi thấy trước mắt họ một lực lượng I-xra-en hùng mạnh cũng đang được bố trí.
Sau khi đã bố trí xong binh lực cần thiết để ứng phó với Xy-ri và Ai Cập, chính phủ I-xra-en mới quyết định tránh chiến tranh. Muốn thế thì phải tỏ cho Đa-mát và Cai-rô thấy rằng họ đã bị cơ quan tình báo của họ báo cáo sai.
Thủ tướng kiêm bộ trưởng Quốc phòng Đa-vít Ben Giu-ri-ôm quyết định cùng với Tổng tham mưu quân đội Hay-im Lát-xcốp đi Ten A-víp dự buổi biểu diễn kịch câm Pháp của Mác-xen Mác-xô. Hai ngày sau, ông ta chính thức tuyên bố trong tuần tới sẽ đi thăm Ca-na-đa và Mỹ.
Kết quả của quyết định này đã làm cho “tình trạng căng thẳng” xẹp ngay xuống. Quân đội Ai Cập rút khỏi Xi-nai và quay về bên trong kênh Xuy-ê. Chỉ còn Xy-ri để một bộ phận quan trọng quân đội đóng tại chỗ trên vùng biên giới giáp I-xra-en và tuyên bố họ sẽ phát động “chiến tranh thần thánh chống I-xra-en”.
Ê-li Cô-hen nhận được bản chỉ thị về quân sự và chiến lược, trong đó có phân tích về cuộc chiến tranh hụt đó như sau:
a - Xy-ri đã trở thành trung tâm chính của I-xra-en. Do đó mọi tin tức dù thuộc bất cứ loại nào liên quan đến tình hình Xy-ri đều có giá trị sống chết đối với I-xra-en;
b – Dành ưu tiên tuyệt đối cho các tin tức về âm mưu bất ngờ đánh I-xra-en;
c – Điều kiện cần thiết cho cơ quan tình báo I-xra-en muốn hoàn thành chức trách một cách tốt nhất là các tin tức, báo cáo phải chính xác và kịp thời.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
huytop
Thành viên

Bài viết: 919
|
 |
« Trả lời #28 vào lúc: 20 Tháng Tám, 2014, 02:34:53 pm » |
|
VIII - Hoạt động ở Bu-ê-nốt Ai-rét
Tháng hai năm 1961, Ê-li Cô-hen tới Bu-ê-nốt Ai-rét, thủ đô Ác-hen-ti-na, bằng máy bay. Kể từ hôm ấy y thực không còn là y nữa. Mang hộ chiếu với cái tên Ca-man Ta-áp, con trai của A-min, y trở thành một dân di cư A-rập như trăm ngàn người A-rập khác đã chọn Bu-ê-nốt Ai-rét làm nơi thử thời vận của mình. Nhưng hộ chiếu của Ê-li tới Bu-ê-nốt Ai-rét là hộ chiếu của một nước Nam Mỹ có thị thực quá cảnh của Ác-hen-ti-na. Ê-li có cả vé máy bay đi Chi-lê. Lợi dụng thị thực quá cảnh đó, y dừng lại Bu-ê-nốt Ai-rét trong nhiều tháng. Theo chỉ thị của Ten A-víp, Ê-li sẽ ở lại đây để giới thiệu và thêm thắt cho vai trò giả của mình. Ê-li cũng phải tìm cách xoay lấy hộ chiếu Ác-hen-ti-na thật mang tên Ca-man A-min Ta-áp.
Khi máy bay hạ cánh xuống sân bay Bu-ê-nốt Ai-rét, không có ai đón Ê-li Cô-hen cả. Y phải tự mình hành động ngay khi vừa đặt chân lên đất Ác-hen-ti-na và không bắt liên lạc với nhân viên tình báo I-xra-en lúc đó có thể có mặt tại đây.
Quyết định cho Ê-li lên đường đã được cấp trên của y duyệt vào tháng chạp 1960. Căn cứ vào những kết quả rực rỡ qua những lần học tập và các khả năng của E-li từ ngày Đéc-vi-sơ biết y, các sếp của Cục tình báo I-xra-en quyết định:
1 – Ê-li được “cắm” vào Xy-ri lâu dài; 2 – Phải tạo ra một cái “vỏ bọc” có thể giúp cho y xâm nhập nội bộ chính phủ Xy-ri khi có thời cơ.
Khi có các quyết định này thì Ê-li Cô-hen cũng đã học tập xong. Suốt hai tháng trước ngày lên đường, y chuyên vào hai việc nặng nhọc không kém những việc trước kia. Một là nghiên cứu thật sâu nhân vật Ca-man A-min Ta-áp. Hai là phải hiểu biết một cách cơ bản về những nước mà y sẽ đến sinh sống, trước hết là Ác-hen-ti-na.
Đại khái đây là nhân mật mà Ê-li sẽ phải đóng theo đúng kế hoạch do Đéc-vi-sơ đã vẽ ra một cách tương đối tỉ mỉ:
Cha của Ca-man là A-min Ta-áp, mẹ là Xi-i-a, tên hồi con gái là I-bơ-ra-him. Hai người đã rời Xy-ri sang Li-băng kiếm cuộc sống sung sướng hơn. Con trai của ông bà này là Ca-man A-min Ta-áp đẻ tại Bi-ê-rút, thủ đô Li-băng, năm 1930 (so với ngày sinh thật của Ê-li Cô-hen thì kém sáu năm) Ca-man Ta-áp chỉ biết Đa-mát và Xy-ri qua lời bố mẹ kể cho nghe và những điều đã học ở nhà trường. Nhưng bố Ta-áp đã dạy y tình yêu tổ quốc Xy-ri. Trong nhiều năm, bố y đã là công dân nước Xy-ri và dặn con kiếm ăn ở nước ngoài khi nào giàu có thì trở về Xy-ri phục vụ Tổ quốc và chiến đấu bên cạnh các nhà quốc gia Xy-ri đang đấu tranh cho chính nghĩa.
Gia đình Ta-áp đã sinh sống tại A-lec-xăng-đơ-ri và đến năm 1947, người bố mở một cửa hiệu buôn tơ lụa nhỏ. Nhưng trước đó một năm, người em của ông ta đã di cư sang Ác-hen-ti-na và luôn luôn viết thư khuyên ông nên đi đến Bu-ê-nốt Ai-rét để cùng làm giàu. Năm 1947, bố Ta-áp đem cả gia đình sang Ác-hen-ti-na với người em, rồi cùng một người bạn nữa mở một hiệu buôn tơ lụa ở Bu-ê-nốt Ai-rét, phố Lơ-ga-đi. Nhưng chỉ vài năm cửa hiệu này vỡ nợ.
Năm 1956, mẹ Ca-man Ta-áp chết và nửa năm sau đến người bố. Ca-man Ta-áp sống với chú một thời gian nữa và đi làm cho một đại lý du lịch tên là “Ma-ra-đi”. Sau cùng Ca-man A-min Ta-áp trở thành ông chủ một công ty xuất nhập khẩu quan trọng.
Nhưng khi đến Bu-ê-nốt Ai-rét, Ê-li Cô-hen (tức Ta-áp) sẽ phải thêm thắt chi tiết để câu chuyện kinh doanh phát tài như thế nào cho có thể tin được.
Bản lý lịch do Cục tình báo I-xra-en dựng lên cho người dân di cư Xy-ri Ca-man A-min T-áp nói đúng ra rất giản dị và phần lớn phù hợp với vai trò thật của Ê-li: y chẳng biết gì về Đa-mát cũng như Bi-ê-rút nhưng thực tế đã sống tại A-léc-xăng-đơ-ri cả thời niên thiếu và biết rất rõ bãi cảng này.
Nhưng cái tiểu sử này bắt buộc Ê-li phải hiểu rõ cả Bu-ê-nốt Ai-rét. Nơi Ta-áp đã từng “sống” hồi mười bảy tuổi. Tập hồ sơ người ta trao cho Ê-li ở Ten A-vip để y học thuộc lòng có ghi rõ từng chân tơ kẽ tóc. Cục tình báo cũng có sáng kiến trao cho Ê-li một quyển ảnh trong đó có những bức ảnh ghép ghi lại đời sống của gia đình Ta-áp, có những bức ảnh của y ở Bu-ê-nốt Ai-rét, cùng với bố mẹ và chú y. Không có gì thiếu sót. Nhân vật giả Ca-man A-min Ta-áp được tô điểm thêm với những chi tiết phong phú, y như thật và rất cụ thể.
Ê-li Cô-hen nói tiếng Tây Ban Nha tàm tạm được nhưng so với những người đã từng sống nhiều năm ở Ác-hen-ti-na thì còn kém. Như vậy lại phải dành những tuần cuối cùng trước ngày đi để theo gấp một lớp học tiếng Tây Ban Nha.
Khi huấn luyện xong, Ê-li còn phải làm đúng với vai trò của mình đến nỗi sinh ra nhiều khó khăn trong quan hệ với vợ mà tối nào y cũng gặp tại nhà. Ngay cả khi vợ và các bạn gọi y là Ê-li, y cũng không có phản ứng gì. Một hôm Ê-li bắt buộc phải nói với huấn luyện viên rằng: “Ở nhà, tôi hết sức cố quên rằng hiện nay tôi là Ca-man Ta-áp. Tôi cố giữ ý tứ trong quan hệ với vợ tôi, nhưng nào có phải dễ đâu. Ngay từ bây giờ, phần lớn thời gian của tôi, tôi phải ăn ở, cư xử như Ca-man Ta-áp. Trong điều kiện như thế, làm thế nào để trở lại là Ê-li Cô-hen, trong vài tiếng tại gia đình? Thật là gay go quá!”.
Về sau này Ê-li hết sức ngạc nhiên được nghe chính Na-đi-a nói rằng ngay từ thời kỳ trước khi y đi Ác-hen-ti-na cô đã biết rõ tất cả. Cô đã linh cảm rằng chồng cô có sự thay đổi gì sâu sắc lắm đây và việc nay mai đi ra nước ngoài mà chông cô đã nói cho biết, có nghĩa là một cuộc du lịch “ra ngoài bức màn bí mật nào đó”. Cũng như mọi phụ nữ I-xra-en khác trong hoàn cảnh tương tự, cô hình dung đó là một công tác bí mật với cơ quan an ninh I-xra-en và cũng không hỏi gì thừa cả.
Rõ ràng không phải là do sự tình cờ mà cấp trên của Ê-li lại đặt y vào Bu-ê-nốt Ai-rét. Việc lựa chọn này cốt tạo thuận lợi cho nhiệm vụ lây dài của Ca-man Ta-áp ở Xy-ri.
Thật vậy, Bu-ê-nốt Ai-rét là một trung tâm di cư A-rập quan trọng và có đến hàng vạn gia đình gốc Xy-ri. Cục tình báo I-xra-en mơ ước trong những người dân Xy-ri này có những người sẽ tạo điều kiện cho Ê-li những quan hệ chính trị mà y cần đến khi đã thu xếp xong nơi ăn chốn ở tại Đa-mát.
Như khắp mọi nơi trên thế giới, dân di cư người A-rập ở Bu-ê-nốt Ai-rét cũng bắt chước dân di cư của các nước khác tổ chức nhau lại thành những câu lạc bộ và hội quán kín. Ở Bu-ê-nốt Ai-rét, dân di cư gốc Xy-ri cũng thành lập những “hội đồng hương”, một tổ chức đại loại gần giống như các “hội ái hữu” Do Thái ở Mỹ hay ở châu Âu. Tổng số kiều dân gốc gác tứ xứ sống ở Bu-ê-nốt Ai-rét len tới gần nửa triệu, bên cạnh số dân A-rập ít ỏi, người ta còn thấy một đoàn dân di cư quan trọng người Do Thái, phần đông gốc Âu, nhưng trong số này cũng có một số dân Do Thái góc Á châu. Nhiều gia đình Do Thái bị xua đuổi khỏi các nước A-rập như là Xy-ri hoặc Ai Cập, hoặc phải bỏ những xứ này vì sợ những thủ đoạn phân biệt chống Do Thái, đều muốn sinh cơ lập nghiệp ở Nam Mỹ hơn là di cư về I-xra-en. Cho nên có những người A-rập và người Do Thái cùng ở một nước đến, cùng buôn bán như nhau hoặc làm những nghề tự do, đều giữ những quan hệ bạn bè như những người “đồng hương”. Sự hận thù chống Do Thái của những người A-rập Xy-đi hay Ai Cập cũng thường dịu bớt đi khi họ đều là dân di cư ở xa tổ quốc hàng vạn cây số.
Ngay Ác-hen-ti-na, một nước thu hút một lượng dân di cư khá lớn và đủ các gốc gác, vẫn không hoàn toàn đồng hóa nổi những người di dân A-rập và Do Thái và cả hai số dân nhỏ bé này đều giữ được bản chất dan tộc của họ, nhất là ở Bu-ê-nốt Ai-rét họ nói không thạo tiếng Tây Ban Nha và từ chối những phong tục Nam Mỹ. Pháp luật Ác-hen-ti-na đã toan đấu tranh với những tình trạng này để dễ dàng lôi cuốn và đồng hóa những người di cư mới nên hộ chiếu của chính phủ Ác-hen-ti-na cấp cũng chẳng ghi rõ quốc gia gốc và cả tôn giáo của người mang hộ chiếu nữa. Việc này thật là quý giá vô cùng cho mọi hạng người muốn bí mật rời bỏ xứ sở của mình và dưới một căn cước mới, biến vào cái nước Nam Mỹ này …
Qua đó người ta hiểu tại sao sự lựa chọn của Cục tình báo I-xra-en lại nắm vào Bu-ê-nốt Ai-rét. Tại thủ đô này Ê-li Cô-hen gặp nhiều may mắn. Một ngày nào đó y xuất hiện với một căn cước giả mạo sẽ không gây nên sự lo ngại nào trong các bạn “đồng hương” người Xy-ri của y.
Nhưng cục tình báo Ten A-víp cũng biết rằng bên cạnh những thuận lợi đồng hóa mà nhân viên của họ có được ở Bu-ê-nốt Ai-rét, thì ở đấy họ còn phải đối phó với bao nhiêu phức tạp và nguy hiểm của các cơ quan phản gián A-rập, nhất là với các phái viên bí mật của cơ quan phản gián Xy-ri. Ở tất cả các nước châu Mỹ la-tinh, các đại sứ quán A-rập đều giấu rất nhiều nhân viên. Hơn nữa, những đại sứ quán này còn duy trì những cơ quan đặc biệt tuyên truyền chống I-xra-en, cốt để đối phó với sự tuyên truyền thân I-xra-en đang tiến hành một cách rất hiệu nghiệm trong đám dân chúng Do Thái có uy tín ở gần khắp các thủ đô ở Nam Mỹ.
Một sự kiện xảy ra năm 1964 đã làm hoạt động của cơ quan phản gián A-rập ở Ác-hen-ti-na nổi tiếng và cho thấy, cuộc chiến tranh bí mật mà các cơ quan đặc biệt I-xra-en và A-rập đang tiến hành, đôi khi tác động ngay đến cả những nơi ở cách rất xa vùng Trung Đông.
Ngày 17 tháng Giêng năm 1964, hồi 10 giờ 37 phút, một máy bay mang màu cờ của không quân Ai Cập hạ cánh xuống một sân bay quân sự ở phía nam I-xra-en. Từ chiếc máy bay này xuất hiện một phi công mang quân hàm đại úy.
“Tôi bỏ hàng ngũ không quân Ai Cập. Tôi xin được quyền cư trú ở I-xra-en”, viên đại úy này khai với các phi công I-xra-en khi vừa xuống tới đất.
Buổi sáng ngày 17 tháng Giêng, đại úy Ma-mút Hin-mi, 36 tuổi bay từ sân bay quân sự Bin-bét, ở phía trên kênh Xuy-ê ở Ai Cập. Với tư cách là huấn luyện viên Hin-mi đổ đầy nhiên liệu vào máy bay, lấy cớ là bay tập, bay qua bãi sa mạc Xi-ani để hạ cánh xuống sân bay I-xra-en đầu tiên phát hiện ra máy bay của hắn. Nhiều máy bay loại Mig của không quân Ai Cập bay lên đuổi bắt, nhưng hắn ta cũng tránh thoát và vượt biên giới I-xra-en, an toàn. Tất cả những hành động này chỉ mất 1 giờ 15 phút.
Việc bỏ trốn của đại úy Hin-mi bằng máy bay là sự thất bại về tâm lý và đạo đức đối với Ai Cập.
Hôm đại úy Hin-mi bổ trốn, các nhà chức trách Ai Cập thề sẽ trừng phạt Hin-mi. Rồi lời thề được thực hiện còn sớm hơn cả Ai Cập dám mong muốn lúc đầu. Cuộc trừng phạt thật đáng sợ.
Ma-mút Hin-mi ở I-xra-en được sáu tháng, được các đồng nghiệp I-xra-en chiều chuộng mời tiệc tùng, chè chén lu bu, nhiều lần y được ngồi ăn một bàn với tướng E-de Oét-đơ-man, Tổng chỉ huy không quân I-xra-en. Trong vòng sáu tháng, y ngỏ ý muốn bí mất sang Ác-hen-ti-na và đề nghị nhà cầm quyền I-xra-en giúp đỡ.
Các nhà chức trách không phản đối ý định của Hin-mi. Người ta xoay xở giấy tờ căn cước cần thiết cho hắn ta và không những thế còn kiếm cho hắn một việc làm ở Ác-hen-ti-na, một chân lái máy bay dân dụng về nông nghiệp ở ngoại ô Bu-ê-nốt Ai-rét, lương tháng trung bình gần một nghìn đô-la, quá đủ cho một anh chưa vợ như hắn.
Tháng 6 năm 1964, Hin-mi mang một căn cước giả rời I-xra-en bằng đường hàng không. Trên đường đi Ác-hen-ti-na và ngay khi tới Bu-ê-nốt Ai-rét, hắn đã mắc phải hai sai lầm không sao sửa được, mặc dù đã nhiều lần được Cục tình báo I-xra-en nhắc nhở.
Máy bay vừa hạ cánh xuống sân bay một thủ đô châu Âu, Hin-mi vội vã chạy vào phòng quá cảnh bỏ một bưu thếp gửi cho mẹ già ở Cai-rô. Do hành động không suy nghĩ này mà Cục tình báo Ai Cập chả có khó khăn gì cũng biết là Hin-mi đã đi khỏi I-xra-en.
Tại Bu-ê-nốt Ai-rét, Hin-mi phải ở lại thủ đô vài ngày và ở một khách sạn. Hôm sau, hắn quyết định sẽ chén cho đã một bữa cơm Á tại một nhà hàng ăn A-rập ở Bu-ê-nốt Ai-rét. Ở đây, y làm quen một gái điếm gốc Ai Cập. Đáng lẽ ra thì phải cảnh giác với ả này, nhưng y đã mắc sai lầm ác nghiệt là đêm ấy đã nói tuốt với ả gái điềm tung tích thật của hắn và việc hắn bí mật trốn khỏi I-xra-en.
Hin-mi không bao giờ trở lại khách sạn nữa, ở đấy, chỉ còn hành lý và giấy tờ căn cước của hắn.
Ít hôm sau, vào đầu tháng bảy, ông Lơ-vi E-xcôn, thủ tướng I-xra-en tới Pa-ri để gặp tổng thống Đờ Gôn. Máy bay hạ cánh xuống sân bay Oóc-li chừng vài phút, khi ông ta còn ngồi ở trong một căn nhà gỗ kiến trúc theo kiểu nông thôn Nga nổi tiếng dành cho khách danh tiếng, người ta trao cho ông một bức điện của Cục tình báo I-xra-en: Hin-mi mất tích! Không nghi ngờ gì nữa, hắn đã bị Cục công tác đặc biệt Ai Cập ở Ác-hen-ti-na tóm cổ. E-xcôn lập tức ra lệnh điều tra xem có phải do những cơ quan có thẩm quyền được giao cho lo việc của Hin-mi đã mắc sai lầm hay có sơ xuất không.
Kết quả của cuộc điều tra được đưa lên thủ tướng E-xcôn đã khẳng định, cục tình báo I-xra-en không có sơ suất gì và riêng mình Hin-mi phải chịu trách nhiệm về số phận đáng buồn của hắn. Bản báo cáo nêu thêm: Có lẽ cũng bổ ích khi phải ghi nhận rằng, Cục tình báo Ai Cập đã hành động với sự mau lẹ và hiệu quả nhất. Ngay cái đêm ngẫu nhiên với nàng – “khách trọ Ai Cập”, Hin-mi đã bị các nhân viên tình báo Ai Cập tóm cổ và nhốt trong nhà của đại sứ quán Cộng hòa A-rập Thống nhất ở Bu-ê-nốt Ai-rét.
Vụ giải tên đào ngũ về Ai Cập kéo dài trong mười ngày. Hin-mi được đưa về A-léc-xăng-đơ-ri trên một tàu biển Ai Cập đậu ở một bến tàu Ác-hen-ti-na. Hai tháng sau, thế giới được tin Hin-mi đã bị đem ra xét xử bí mật trước tòa án quân sự, bị kết tội đào ngũ và phản quốc. Hặn bị kết án tử hình và bị giết ở Cai-rô.
Người I-xra-en đã biết rõ sự có mặt và hoạt động của các cơ quan phản gián Ai Cập ở Ác-hen-ti-na. Rõ ràng vì thế nên người ta lo lắng hết mức về việc lên đường của Ê-li Cô-hen và chú ý tỉ mỉ tới việc thi hành kế hoạch hành trình của y, trong đó có dừng chân ở châu Âu.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
huytop
Thành viên

Bài viết: 919
|
 |
« Trả lời #29 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2014, 01:59:34 pm » |
|
Khi mọi việc đâu vào đấy, đến ngày khởi hành, E-li từ biệt vợ, con gái là Xô-phi và gia đình, hẹn chẳng bao lâu nữa sẽ trở lại sau khi làm xong công việc ở nước ngoài cho một “hãng buôn”. Hắn hứa sẽ luôn luôn thư từ và đã giữ lời hứa ( Na-đi-a thực tế có nhận được thư từ tin tức của chồng, không phải từ Ác-hen-ti-na mà mỗi lần thư đều gửi từ châu Âu đến).
E-li Cô-hen sang sân bay Ly-da trong một chiếc xe nhỏ không có biển số của Cục tình báo do một thanh niên tên là Ghi-đê-ông lái. Một va-li tàng tàng, một hộ chiếu làm đúng tên thật và một phong bì trong có 500 đô-la do Ghi-đê-ông trao, Ê-li qua hải quan không phải kiểm soát và lên máy bay của công ty “En-An”. Theo chỉ thị của Đéc-vi-sơ, E-li sau khi tới Duy-rích (Thụy Sĩ) sẽ đáp chuyến xe buýt đưa hắn từ sân bay đến chỗ đỗ cuối cùng của thành phố.Ở đó, một điệp viên mà hắn không biết mặt, biết tên sẽ lo liệu cho hắn.
Ở Thụy Sĩ mọi việc đều diễn ra một cách tuyệt đối như vậy. Vừa ở trên máy bau xuống, E-li đáp chuyến xe khách tới nơi đỗ cuối cùng của thành phố trông sang Ba-nốp-xtrát. Ở đó, một người tuổi trung niên, ăn mặc lịch sự và nói tiếng Hê-bơ-rơ giọng lơ lớ Đức, tiến tới tự giới thiệu: “Tôi là Xa-linh-gơ, I-xra-en Xa-linh-gơ, y vừa nói và vừa chìa tay bắt tay hắn. Rồi Xa-linh-gơ lái xe dẫn Ê-li đến khách sạn, ở gần hồ Duy-rích.
E-li Cô-hen ở Duy-rich ba ngày, và hàng ngày gặp Xa-linh-gơ, liên lạc viên thường trực của Cục tình báo I-xra-en ở châu Âu. Ẩn dưới “vỏ bọc” chắc chắn là Giám đốc một hãng xuất nhập khẩu loại lớn. Xa-linh-gơ có nhiệm vụ truyền lại cho Ê-li chút ít giáo huấn sơ đẳng về thương mại. Ở Bu-ê-nốt Ai-rét, Ca-man A-min Ta-áp đứng đầu một hãng vận tải đường thủy và hàng không, mà đại diện ở châu Âu và đặc biệt là ở Duy-rích, chính là Xa-linh-gơ. Vì thế, ít nhất trên lý thuyết thôi anh chàng Ca-man Ta-áp cũng phải hiểu biết công việc này làm ăn ra sao, phải học qua ít kỹ thuật về hoạt động của ngành và ít nhất là phải sử dụng được ít danh từ đặc biệt thường dùng trong loại công ty như thế này.
Xa-linh-gơ trao cho Ê-li một quyển “séc” của ngân hàng có tiếng ở Duy-rích mà hắn đã cẩn thận mở một tài khoản ở đây đứng tên Ca-man Ta-áp. “Tất cả các doanh nghiệp ở Nam Mỹ đều có tài khoản ở Thụy Sĩ”. Xa-linh-gơ giải thích.
Ngày thứ ba là ngày cuối cùng, hai người cùng đi quanh các cửa hàng bán quần áo nam ở Ba-nốp-xtrát và Ê-li mua một túi đủ các quần áo mang nhãn hiệu Thụy Sĩ, từ tá mùi soa và vài cái ca-vát đến bộ com-lê, áo ba-đờ-xuy và hai đôi giày.
Sau cùng Ê-li trao lại cho Xa-linh-gơ các giấy tờ căn cước của I-xra-en và các quần áo cũ may theo kiểu I-xra-en, không giữ lại thứ gì có thể để lộ dấu vết của xứ sở gốc của hắn. Mang hộ chiếu Nam Mỹ với tên Ta-áp, một vé máy bay đi Bu-ê-nốt Ai-rét, Ê-li sửa soạn lại va-ly toàn quần áo mua ở Duy-rích và sau khi nhận của Xa-linh-gơ số của một hòm thư mà ở đó, có thể gửi thư từ cho Na-dia, hắn đi ra sân bay một mình.
Ba ngày sau khi tới Duy-rích, E-li Cô-hen đã chính thức trở thành Ca-man A-min Ta-áp đáp máy bay từ Duy-rích đi Pa-ri, ở lại sân bay Oóc-li vài tiếng đồng hồ không gặp ai, rồi sau cùng đáp máy bay đi Ac-hen-ti-na.
Sau này Ê-li kể lại với Đéc-vi-sơ “Trong suốt cả chuyến bay dài dằng dặc này, tôi không thể nghĩ đến việc gì ngoài vụ bắt tên Ếch-sơ-man.
Được Cục tình báo I-xra-en tuyển dụng vào thời kỳ bắt cóc tên A-đôn-phơ Ếch-sơ-man (Đồ tể Do thái-Tội phạm chiến tranh), trước khi đi Ten A-víp ít ngày, y được mời dự một buổi họp của bọn điệp viêp Cục tình báo mới tuyển dụng. Trong buổi họp, người ta nói lại với bọn này tình hình diễn biến xác thực và chi tiết vụ bắt có diễn ra ở Bu-ê-nốt Ai-rét trước đó ít lâu. Như vậy Co-hen từ nguồn tin đầu tiên đã biết mọi chi tiết của vụ này, những chi tiết chưa từng được công bố ở I-xra-en và trên thế giới. Bay dọc bờ biển Ac-hen-ti-na đến Bu-ê-nốt Ai-rét. Ê-li nhớ lại những chi tiết của vụ bắt cóc.Y có cảm tưởng đang đi ngược lại con đường của Ếch-sơ-man, bị nhân viên tình báo I-xra-en bao vây, trên máy bay của hãng “En-An” từ Bu-ê-nốt Ai-rét đi Ly-da.
“Câu chuyện của vụ bắt cóc này đã tiếp thêm can đảm cho tôi – Ê-li nói với Đéc-vi-sơ. Do có vụ này, tôi thấy rằng Cục tình báo của ta có thể làm được những việc khó hơn. Việc này làm cho cho tôi thêm tin tưởng, lúc tôi bay tới phía thù nghịch…”
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Mười, 2014, 06:46:58 pm gửi bởi huytop »
|
Logged
|
|
|
|
|