huytop
Thành viên

Bài viết: 919
|
 |
« Trả lời #30 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2014, 12:06:27 pm » |
|
Ngay ở sân bay Bu-ê-nốt Ai-rét, hắn còn để ý tới những chiếc máy bay trên sân, cố bày lại trong trí tưởng tượng chuyến bay của hãng En-An mang theo trong khoang “kiện hàng-quí giá” của Cục tình báo I-xra-en.
Đặt chân lên Bu-ê-nốt Ai-rét, sau khi xuất trình hộ chiếu, Ê-li xách một va-li nhỏ, vượt qua hàng rào chính và đi về phòng thông tin du lịch. Người ta chỉ cho hắn một khách sạn ở thành phố, ở đây hắn thuê được buồng ở dễ dàng.
Không có ai chờ hắn ở sân bay cả. Một chiếc xe tắc xi chở hắn tới trước một khách sạn loại vừa, ở đại lộ trung tâm Bu-ê-nốt Ai-rét là Nu-ê-vô-đen Giu-li-ô (đại lộ ngày 9 tháng 7). Hắn thê một phòng có buồng tắm trong thời gian một tuần lễ.
Đây là một đường phố lớn do Tổng thống Pê-rông xây dựng theo kiến trúc :Săng Ê-li-dê” của Pa-ri. Ca-man A-min Ta-áp đi chơi bộ chuyến đầu tiên, cố gắng tìm hiểu tình hình của thành phố lớn này, là nơi hắn có nhiệm vụ phải tự tạo lấy thanh thế và sau cùng mở một con đường dẫn y đi Xy-ri.
Mãi sáng hôm sau, Ê-li mới có một cuộc gặp gỡ thứ nhất tối mật với một liên lạc viên địa phương. Ở Duy-rích, Xa-linh-gơ đã dặn y sau hốm đến phải có mặt ở quán cà phê Cô-rin-tát ở đại lộ Mồng 9 tháng 7, hồi 11 giờ sáng. Xa-linh-gơ cũng cẩn thận nhắc đi nhắc lại rằng, việc tiếp xúc này, tuy cần thiết nhưng phải hết sức nhanh chóng, tránh sự theo dõi có thể có của cơ quan phản gián Ai Cập và Xy-ri.
Ê-li tới hiệu cà phê Cô-rin-tát trước 11 giờ. Ngồi chưa nóng chỗ và uống xong tách cà phê thì một người trach sáu lăm tuổi, tóc bạc phơ đẹp như cước, lại gần hắn, tự giới thiệu tên là “A-bơ-ra-ham” và bắt tay hắn giống như Xa-linh-gơ ở Duy-rích. Lão già này nhận ra Ê-li nhờ một tấm ảnh do Cục tình báo Ten A-víp đưa cho.
Cuộc trao đổi giữa hai người ngắn gọn, họ nói với nhau bằng tiếng Tây ban nha. Đông đảo khách hàng của tiệm lớn này không biết rằng, ngay trước mặt họ đang bắt đầu một trong những hoạt động lớn nhất của thế kỷ này.
Sau vài lời trao đổi chúc mừng, A-bơ-ra-ham đưa cho Ê-li một tờ báo, trên lề đã ghi một địa chỉ, giải thích cho Ê-li là phải tìm đến địa chỉ này, ở đây có thể thuê một căn nhà có đồ đạc sẵn khá sang trọng. Rồi ông ta dặn miệng với Ê-li địa chỉ một giáo sư dậy tiếng Tây Ban Nha và nói thẳng: Anh nói dậy tiếng Tây Ban Nha còn tồi lắm và cần học thêm ít bài học nữa.
A-bơ-ra-ham hẹn, thật họa hoằn ông ta mới gặp Ê-li và trong trường hợp khẩn cấp, sẽ cho y một số điện thoại để có thể gặp ông ta được.
Ê-li Co-hen còn phải thuộc lòng địa chỉ và số điện thoại của hãng giao dịch vận chuyển đường biển và đường không mà ở đây, người ta sẽ trả lời y vào bất kỳ lúc nào vì rằng “Ông Ta-áp là chủ nhân và là Tổng giám đốc của hãng”. A-bơ-ra-ham còn hứa với Ê-li ngày mai sẽ kiếm cho y một số danh thiếp và giấy có tiêu đề cần dùng.
A-bơ-ra-ham cho biết, trong hạn ba tháng, sẽ tìm cho người điệp viên I-xra-en một hộ chiếu Ác-hen-ti-na mang tên Ta-áp. Và để kết thúc, A-bơ-ra-ham trao cho Ê-li một mảnh giấy nhỏ trên có ghi những nhân vật A-rập sống ở Bu-ê-nốt Ai-rét, địa chỉ của họ và những chỉ dẫn cần thiết về “Câu lạc bộ Hồi giáo” ở thủ đô và các tiệm ăn A-rập, nơi gặp gỡ ưa thích của dân di cư Xy-ri và Li-băng.
“Hãy quan hệ thật nhanh với những nơi này và anh sẽ có những thư giới thiệu và gửi gắm với Đa-mát” A-bơ-ra-ham nói thêm. Sau khi bắt tay Ê-li, y đi khỏi bàn. Cả cuộc trao đổi giữa hai người không đầy mười lăm phút. Rồi như chợ nhớ tới điều gì, A-bơ-ra-ham quay lại, ghé sát vào tai Ê-li nói bằng tiếng Hê-bơ-rơ với nụ cười trên môi: Bê-hát-xla-ba (nghĩa là thành công).
Từ ngày ấy, vận may đã dẫn y từ thành công này đến thành công khác. Ngay trong tháng 2 năm 1961, Ê-li đã làm quen với một nhân vật quan trọng, người này chẳng biết y là ai, đã mở đường cho y đi Đa-mát.
Mới đến Bu-ê-nốt Ai-rét được một tuần, Ê-li Cô-hen tức Ca-min Ta-áp đã trở thành khách quen của “Câu lạc bộ Hồi giáo” do A-bơ-ra-ham giới thiệu. Hàng ngày y tới đây đọc các báo xuất bản ở Cai-rô và Đa-mát mà Câu lạc bộ dành cho khách và dễ dàng trở thành một thành viên của Câu lạc bộ. Y chuyện trò trao đổi, tất nhiên là bằng tiểng Ả-rập với cánh di cư Li-băng và Xy-ri trẻ tuổi luôn luôn chơi Sét-bét (một loại cờ đô-mi-nô) với họ, và cùng bọn họ ăn cơm tối thật khuya, như vẫn thường như thế ở Bu-ê-nốt Ai-rét. Ta-áp nói ít thôi, nhưng thỉnh thoảng kín đáo để lộ một chi tiết nào đó về địa vị và cuộc đời của y, thỉnh thoảng lại nói cho cánh thanh niên này biết y là nhà buôn, đã gom góp được một số vốn nhỏ và điều ước mong quí giá của y là trở về xứ sở của cha mẹ để tham gia những hoạt động chung. Họ tranh luận tới đêm khuya những vấn đề lúc bấy giờ đang chấn động Xy-ri.
Một hôm, có một người đàn ông tuổi trạc năm mươi rất nổi tiếng trong chính giới A-rập ở Ác-hen-ti-na tên là Áp-da-la La-típ A-lê-san đến ngồi vào bàn cờ Sét-bét của Ta-áp.
Điểm một bộ ria mép khá đẹp nhưng đầu chẳng còn sợi tóc nào, thấp bé và bụng phệ. A-lê-san là chủ bút có quyền thế của tờ tuần báo A-rập quan trọng ở Bu-ê-nốt Ai-rét, tờ An A-a-lam A-ra-bi (Thế giới A-rập). Ngay khi đến Câu lạc bộ lần thứ hai, Ca-min Ta-áp đã chú ý đến A-lê-san và chờ có dịp thuận lợi là làm quen. Ván cờ Sét-bét lúc này có tác dụng tuyệt diệu. Đi xong vài nước, Ta-áp mở đầu với A-lê-san bằng câu chuyện dài về tình hình chính trị ở Xy-ri, Ta-áp nói với người chủ bút của tờ tuần báo là hắn quá chịu đựng với cuộc sống “tha hương”, hắn cảm thấy mình là dân Xy-ri hơn là dân Ác-hen-ti-na, và rất nhớ quê hương xứ sở. Tóm lại, Ta-áp nói rất thật và hết sức tự nhiên “Tôi có ý định nay mai đi Đa-mát”. A-lê-san nghe chàng thanh niên nói một cách thích thú và mời Ta-áp tới thăm tòa soạn để tiếp tục cuộc mạn đàm. Ta-áp hoan hỉ nhận lời và lập tức hẹn gặp nhau vào ngày 23 tháng hai năm 1961.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 01 Tháng Mười Một, 2014, 12:28:16 am gửi bởi huytop »
|
Logged
|
|
|
|
huytop
Thành viên

Bài viết: 919
|
 |
« Trả lời #31 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2014, 01:54:31 pm » |
|
Đó là ngày đánh dấu sự thành công của Ta-áp về sự mau lẹ mà y biết sẽ dẫn vào các chính giới có quyền thế ở Bu-ê-nốt Ai-rét. Chưa dầy hai tuần lễ sau khi tới Ác-hen-ti-na, một xứ sở xa lạ và hoàn toàn mới mẻ. Ca-min Ta-áp đã chễm chệ ngồi trong chiếc ghế bành sang trọng trước mặt người chủ bút tuần báo A-rập của thủ đô.
Cuộc mạn đàm kéo dài đến hơn hai tiếng đồng hồ. Nhà viết báo hỏi chàng thanh niên A-rập hàng tràng câu hỏi về đời sống và gia đình của y và Ta-áp cũng kể cho nhà báo hàng lô chuyện thật phong phú về thời niên thiếu của y, về A-lec-xăng-đơ-ri về việc di cư của cha mẹ y và các hoạt động kinh doanh ở thủ đô Ác-hen-ti-na.
Qua vài nhận xét về A-lê-san, Ta-áp biết rằng A-lê-san mong thấy một Đảng “BAATH” ở Xy-ri (Đảng Xã hội Phục hưng A-rập) nắm chính quyền trong nước. A-lê-san nói cho Ta-áp biết rằng ông tán thành chính sách hợp tác giữa Xy-ri và Ai Cập nhưng chống lại sự thống trị của Ai Cập đối với “Tỉnh Xy-ri” và sự bóc lột của chính quyền Nát-xe đang tiến hành ở Xy-ri.
Ta-áp liền có nhận xét như sau: “Tôi sẽ sẵn sàng đi Xy-ri ngay hôm nay để hiến dâng phần mình cho nỗ lực quốc gia. Nhưng tôi sẽ lo không được đón tiếp cẩn thận. Tôi không quen biết ai ở Đa-mát cả, tôi sợ mất cả thì giờ và thiện chí của tôi”.
A-lê-san đáp: “ Ngày nào anh định đi Đa-mát, hãy báo cho tôi và chớ có ngại việc gì cả. Không lo gì cả, tôi sẽ giới thiệu anh với tất cả các bạn của tôi. Trong khi chờ đợi, khi nào anh muốn, cứ đến gặp tôi. Tôi thích anh lắm, tôi là bạn anh”.
Trước khi chia tay, A-lê-san hỏi xin địa chỉ của Ta-áp để gửi cho y báo hàng tuần của ông ta. Ta-áp liền cho ngay địa chỉ nhà hắn vừa thuê xong ở Bu-ê-nốt Ai-rét: Phố Ta-ca-ra số 1485. Ta-áp còn cho A-lê-san một danh thiếp trên có ghi tên và địa chỉ của hãng vận tải. Y có cảm giác đã tranh thủ được tín nhiệm của nhà báo A-rập và cảm giác ấy là có cơ sở hơn là phỏng đoán. Chứng cớ hiển nhiên và công khai chỉ đước nêu lên bốn năm sau, lúc mà Ê-li Cô-hen bị xử tử ở Đa-mát. Áp-da-la La-típ A-lê-san hồi đó có gửi một bức thư ngỏ cho tờ báo hàng ngày “En Hay-át” ở Bêy-rút, một tờ báo quan trọng nhất ở Trung Đông, tự bào chữa trước những lời tố cáo của Xy-ri là ông ta có tội đã giúp đỡ tích cực cho tên gián điệp I-xra-en.
Bức thư đó như sau:
“Có một hôm, tôi tiếp một thanh niên trạc 30 tuổi, tự giới thiệu là Ca-man A-min Ta-áp. Hắn kể với tôi rằng hắn đã sống ở Ai Cập khi còn trẻ. Sau đó, tôi có dịp hay gặp hắn trong những cuộc chiêu đãi, tiệc tùng ở các sứ quán A-rập và ở Câu lạc bộ đạo Hồi mà tất cả thanh niên A-rập ở Bu-ê-nốt Ai-rét thường lui tới. Chúng tôi có trao đổi với nhau nhiều lần. Nói chung hắn lầm lì. Tôi có ấn tượng hắn là một thanh niên đứng đắn và chín chắn. Hắn rất chú ý đến các vấn đề của các nước A-rập và đã xin tôi các tờ báo A-rập sau khi tôi đã xem xong.
A-lê-san viết tiếp: “Một hôm hắn bảo với tôi rằng hắn sẽ về Xy-ri. Đúng, hồi đó tôi có cho hắn mấy bức thư giới thiệu. Nhưng không phải tôi là người phái hắn sang Xy-ri để do thám cho I-xra-en. Chính những bạn thân, các Tổng lãnh sự của các nước A-rập đã thị thực và tạo điều kiện cho hắn xâm nhập Đa-mát. Sau đó, nếu hắn đánh lừa được tất cả các cơ quan mật vụ của A-rập trong bốn năm trời thì có nên kết tội tôi là người không biết lý lịch thật của hắn trong mấy lần tôi nói chuyện với hắn hay không?”
Ngay bản thân Ê-li cũng không biết trước thời gian y gặp A-lê-san, y đã gây được lòng tin đối với ông ta đến mức cao độ như bức thư kể trên. Nhưng sự tiên đoán đã cho biết là y thủ vai Ca-man Ta-áp thành công và nhân vật Ê-li Cô-hen ngày nay hoàn toàn tan ra mây khói.. Y cũng hiểu rằng, và đây là điều quan trọng sống còn, A-bơ-ra-ham, người liên lạc viên đã chăm sóc một cách có hiệu quả, vẽ mọi chi tiết cho cái “vỏ bọc” của y, cung cấp cho y mọi lập chứng cần thiết, đề phòng trường hợp có sự điều tra bất ngờ của bạn bè mới quen về gốc rễ, quá khứ của gia đình y. Mỗi bước đi, Ê-li cảm thấy hiệu quả từ những thế lực của A-bơ-ra-ham. Vấn đề biết mình được hỗ trợ trong nhiệm vụ và biết mình được bảo vệ có tác dụng tăng gấp đôi lòng tin tưởng của tên gián điệp.
Thỉnh thoảng A-bơ-ra-ham lại cung cấp tiền nong cho Ta-áp để tiêu dùng cần thiết và cho sinh hoạt, vì do tính chất của vai trò mà y đang đóng khá cao. Y không hề đặt vấn đề này với Cục tình báo Ten A-víp và y thì ăn tiêu không bao giờ quá số tiền được phép chi.
Áp-da-la La-típ A-lê-san đã không thêm thắt gì trong bức thư đề năm 1965. Ca-man Ta-áp không chịu dừng lại ở chỗ chỉ có quan hệ với viên chủ bút tờ tạp chí A-rập ở Bu-ê-nốt Ai-rét mà thôi. Chỉ trong vòng vài tuần lễ, y đã trở thành một quan khách quen thuộc của mọi buổi chiêu đãi ngoại giao tại các sứ quán A-rập ở thủ đô. Người ta thấy y trong mọi cuộc lễ lạt A-rập phần nhiều do “Câu lạc bộ Hồi giáo” tổ chức. Người ta gặp gỡ y trong các tiệc đứng ở các sứ quán Xy-ri, Ai-cập và Li-băng. Trong vòng mấy tuần lễ này, có thể nói Ta-áp đã trở thành một nhân tố thụ động nhưng kiên trì của cái quang cảnh nửa xã giao, nửa chính trị, trong số vài trăm người không thay đổi mà người ta thường gặp tại các buổi chiêu đãi ngoại giao dù là ở Bu-ê-nốt Ai-rét, ở Oa-sinh-tơn hay ở Pa-ri. Việc này đương nhiên chả có gì là lạ cả và ai đã quen thuộc với chốn quyền cao này, căn bản đều biết rằng chẳng có gì dễ dàng hơn là muốn trở thành khách quen của các buổi chiêu đãi xã giao. Chỉ cốt là mình muốn, chịu hiểu những nơi này và có đủ can đảm cần thiết để đến nơi định đến cho đúng giờ. Những người khác, khách và chủ có thói quen thấy một người nào đó trong buổi chiêu đãi, chẳng bao giờ đặt vấn đề hỏi gốc gác và lý do sự có mặt của người này. Việc có mặt của Ta-áp ở tất cả các sứ quán A-rập cũng không vượt ra ngoài sự bình thường. Đã nhập vào nơi này rồi, liệu y có thể tiếp tục giữ vai trò của Ca-man Ta-áp, không nứt rạn gì, và dưới cái căn cước này mà mở rộng thêm vòng quan hệ cá nhân để từ đó có thể lợi dụng được khi cần?
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 01 Tháng Mười Một, 2014, 09:50:09 pm gửi bởi huytop »
|
Logged
|
|
|
|
huytop
Thành viên

Bài viết: 919
|
 |
« Trả lời #32 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2014, 09:55:32 pm » |
|
Có một hôm, Ta-áp gặp ở sứ quán Xy-ri một người, bốn năm sau sẽ quyết định xử tử y, tướng A-min En Ha-phê. Tướng Ha-phê đẹp trai, tóc đốm hoa râm, với một chùm tóc luôn luôn lòa xòa trước trán, có dáng người Nam Mỹ hơn là Xy-ri, lúc bấy giờ là Tùy viên quân sự của Đại sứ quán Xy-ri ở Bu-ê-nốt Ai-rét. Trong một buổi chiêu đãi ở sứ quán, Áp-da-la A-lê-san đã giới thiệu Ta-áp với tướng Ha-phê. Ông tùy viên quân sự oai vệ, dưới bộ quân phục bóng bẩy, đang bàn chuyện chính sự với A-lê-san và Ta-áp. Ha-phê nhắc đi nhắc lại nhiều lần với niềm tin tưởng về tương lai của Đảng BAATH của ông ta. Ông quả quyết với hai người rằng: ‘Đây là Đảng duy nhất ở Xy-ri có khả năng đem lại vinh quang cho đất nước chúng ta. Cuối năm nay tôi sẽ hết nhiệm vụ ở Ac-hen-ti-na. Trở về Xy-ri tôi sẽ chuyển hoạt động chính trị trong Đảng”.
Vị quân nhân Xy-ri lịch sự này có lẽ chưa biết rằng chẳng bao lâu nữa, Đảng BAATH sẽ đặt ông cho chức vụ cao nhất của nước ông, Tổng thống nước Cộng hòa Xy-ri.
Ta-áp chăm chú lắng nghe như nuốt từng lời của Ha-phê và chỉ nhận xét như thế này: “Thưa tướng quân, nếu tôi mà ở Đa-mát, tôi cũng sẽ làm giống như ngài..”
“Thế anh còn chờ gì mà chưa về đấy?..” Ha-phê đáp lại như một mệnh lệnh và quay mặt đi để nói chuyện với người khác.
Trong một bản báo cáo sau này gửi lên cấp trên, Ê-li Cô-hen ghi rằng, tướng Ha-phê không chút nghi ngờ gì về câu nói ngắn của y vì nhiều lần gặp lại y ở các dịp khác, ông đề nhay nháy mắt và hỏi: “Thế nào, định để chuyến đi Xy-ri đến bao giờ thế?”.
Họa hoằn Ê-li mới có dịp gặp A-bơ-ra-ham, mỗi lần ở một nơi khác nhau và mỗi lần lại giữ bí mật tuyệt đối. Y trao cho A-bơ-ra-ham những báo cáo chi tiết về các mối quan hệ trong các chính giới A-rập, mở rộng từ tuần lễ này tới tuần lễ khác. A-bơ-ra-ham có vẻ hài lòng. Trong vòng ba tháng, như đã hứa, y trao cho Ê-li một hộ chiếu và một thẻ căn cước Ác-hen-ti-na mang tên là Ca-man A-min Ta-áp.
Tháng 5 năm 1961, A-bơ-ra-ham truyền đạt lại cho Ca-min Ta-áp một chỉ thị mới của Ten A-víp: ‘Phải báo cho bạn bè biết là anh định nay mai sẽ đi thăm các nước A-rập và có ý định sẽ thăm Đa-mát để tìm hiểu tại chỗ những khả năng sinh sống hẳn ở đây”.
Ta-áp chấp hành ngay. Y đi tìm bạn bè để xin thư giới thiệu. Ngày 13 tháng 5 năm 1961, Ta-áp đến văn phòng A-lê-san báo cho ông ta biết là mình quyết định đi và xin thư giới thiệu. A-lê-san đã giữ lời hứa, ông hoan hỉ đưa cho Ta-áp xem bức thư vừa viết cho con trai ở Đa-mát và ghi thêm vào bức thư vài chữ giới thiệu ông bạn Ca-man Ta-áp. Ngoài ra, A-lê-san còn đưa cho Ta-áp một bức thư giới thiệu khác gửi con trai tên là Ca-man Hát-xan và ba bức thư như thế, một bức cho Ha-bíp Ha-ríp là một nhà buôn, bạn của A-lê-san, là người có tiếng ở Đa-mát, một bức thư khác gửi cho người em họ ở A-lec-xăng-đơ-ri và bức thứ ba cho một tay chủ ngân hàng có tiếng ở Bi-ê-rút.
Với kiểu này, Ta-áp có cả một lô những thư từ của bạn bè A-rập ở Bu-ê-nốt Ai-rét, phần đông nhờ hắn gửi cho gia đình ở Li-băng và Xy-ri. Ta-áp thận trọng kể với mọi người rằng, hắn sẽ đi tham quan nhiều thủ đô A-rập, nhưng không quên nói thêm, y sẽ dừng lại châu Âu một thời gian.
Ta-áp xin được một thị thức Ai Cập ở Đại sứ quán Cộng hòa A-rập thống nhất ở Bu-ê-nốt Ai-rét không khó khăn gì. Cả lãnh sự quán Li-băng cũng cấp cho y một thị thực giá trị trong sáu tháng. Như vậy là Ca-man Ta-áp sẵn sàng lên đường mà nơi dừng chân cuối cùng là Đa-mát. Sáu tháng trôi qua kể từ ngày y tới Ác-hen-ti-na, vai trò mới của y thế là đã tác thành vĩnh viễn.
Cuối tháng tám năm 1961, Ta-áp đáp máy bay đi từ Bu-ê-nốt Ai-rét đi Duy-rích, lần này y đi qua Luân-đôn, nhưng không ở lại. Làm đúng chỉ thị nhận qua A-bơ-ra-ham, y chỉ ở lại Duy-rích trong thời gian đổi máy bay. Khi kiểm soát hộ chiếu và hải quan xong, y nhận ra một người quen cũ: I-xra-en Xa-linh-gơ, liên lạc viên của y ở châu Âu.
Trong suốt thời gian Ê-li ở lại Ác-hen-ti-na, Xa-linh-gơ đều nhận gửi thư từ của y cho Na-đi-a ở I-xra-en qua một hòm thư bí mật ở Duy-rích, mỗi lần Xa-linh-gơ đều cẩn thận gửi từ một thành phố khác nhau ở châu Âu. Thư Ê-li viết cho vợ đều ngắn gọn và chỉ nói đến “công việc làm ăn” mà y đang làm ở châu Âu. Trong khi chồng đi vắng, Na-đi-a đều đặn tiếp nhận lương hàng tháng của chồng do một hãng buôn tưởng tượng trả cho.
Xa-linh-gơ được nghe chính Ê-li Cô-hen kể lại tình tiết về nhiệm vụ mà y đã hoàn thành ở Ác-hen-ti-na. Nhiều lần Ê-li nói, y sẵn sàng đi Đa-mát và có thể vui vẻ lên đường ngay ngày hôm nay. Xa-linh-gơ cho y biết chỉ thị cuối cùng của Ten A-víp: “Ê-li sẽ chỉ đi Đa-mát trong vài tháng nữa”. Trong lúc này, ở Ten A-víp y còn phải trải qua một đợt huấn luyện mới và là đợt cuối cùng.
Xa-linh-gơ nhận từ tay Ê-li những giấy tờ căn cước mang tên Ta-áp, những thư giới thiệu với các thủ đô A-rập và cả túi quần áo mà y sắm được ở Ác-hen-ti-na. Ê-li nhận lại của Xa-linh-gơ những giấy tờ căn cước I-xra-en, quần áo cũ gửi Xa-linh-gơ khi ở Duy-rích. Còn lại ít thì giờ rỗi rãi ở Duy-rích, y đi mua nhiều quà cho vợ, con gái và gia đình. Sau cùng y đáp một máy bay I-xra-en đi Ten A-víp.
Ở Ly-da từ trên máy bay xuống, vẫn cái xe tải nhỏ của cơ quan “Môt-xát” và gã lái xe Ghi-đê-ông đưa Ê-li Cô-hen về Bát Y-am.
Ê-li trở về nhà cũng đột ngột như lúc ở nhà đi. Khỏi cần phải nói đến sự vui mừng của vợ con và gia đình khi gặp lại y sau sáu tháng ròng vắng nhà, cũng như khi Ê-li Cô-hen nghe thấy con gái là Xô-phi nói tiếng Hê-bơ-rơ “ab-ba”, nghĩa là “bố ơi”.
Y kể lại chuyện châu Âu cho mọi người trong nhà nghe nhưng không hề đả động đến thời gian ở Nam Mỹ.
Ngay cả Đéc-vi-sơ cũng không hề gây phiền hà gì. Trong suốt tuần lễ đầu tháng chín, Ê-li hoàn toàn vui thú với gia đình ở I-xra-en.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Mười Một, 2014, 07:51:32 pm gửi bởi huytop »
|
Logged
|
|
|
|
huytop
Thành viên

Bài viết: 919
|
 |
« Trả lời #33 vào lúc: 15 Tháng Mười Một, 2014, 12:20:57 pm » |
|
IX - DỪNG CHÂN Ở I-XRA-EN
Ê-li Cô-hen biết rằng y dừng chân ở Bát Y-am không bao lâu và sau đó ít ngày sẽ phải trở lại với những hoạt động của nhân viên tình báo. Chính Đéc-vi-sơ, huấn luyện viên thực thụ của y, mới có một tuần lễ đã cắt bỏ những ngày nghỉ của y bên cạnh gia đình. Một hôm đến giờ ăn trưa, Đéc-vi-sơ dẫn y vào tiệm “Gian-nét”, một tiệm ăn nổi tiếng về món cá rán ở Giáp-pha. Ngồi đối diện với nhau trên sân trời của khách sạn trông ra bến tàu., hai người say sưa trong câu chuyện sôi nổi, hệt như hai cha con đang bàn về chuyện nhà, chuyện cửa.
Đéc-vi-sơ ngồi nghe người học trò của mình kể lại những chiến công của y ở Nam Mỹ.
“Anh pha giọng Tây Ban Nha khi nói tiếng Hê-bơ-rơ đấy”, Đéc-vi-sơ vừa nhận xét vừa cười.
-Hãy chờ đó nghe tôi nói tiểng Ả-rập – Ê-li đáp lại - Ở Bu-ê-nốt Ai-rét người ta chỉ nói tiếng A-rập pha giọng Tây Ban Nha thôi. Kết luận câu chuyện, Ê-li đoan chắc với Đéc-vi-sơ rằng, y có đủ tất cả mọi sự giới thiệu để bắt tay vào công việc đang chờ y ở Đa-mát. “Tôi cảm thấy có thể” – Y nói thêm, rút bớt nhiều chặng, để xâm nhập một cách nhanh chóng vào các giới lãnh đạo ở Đa-mát.
Về sau này, Đéc-vi-sơ ghi nhận trong các báo cáo của ông ta là Ê-li Cô-hen đã biểu thị một sự vững vàng “dễ truyền cảm” và một sự tự tin hoàn toàn. Những người phụ trách tình báo khác ở Ten A-víp đã có dịp gặp Ê-li trong thời gian y ở I-xra-en hồi tháng 9 năm 1961 đều cũng có nhận xét như vậy. Sự nhận xét này rõ ràng là khích lệ, nhưng nhìn dưới một khía cạnh khác thì sự tự tin quá đáng của một điệp viên cũng có thể nguy hiểm cho ngay chính bản thân anh ta và có thể dẫn đến những hành động sơ xuất thiếu cân nhắc và quá mạo hiểm.
Dù sao, cũng phải để cho Ê-li qua lần thực tập cuối cùng nữa trước khi có lệnh cho y lên đường. Để các bạn bè Ả-rập của Ta-áp ở Bu-ê-nốt Ai-rét bớt lo lắng, y phải viết khá nhiều bưu ảnh để gửi từ các thủ đô châu Âu khác nhau về Ác-hen-ti-na. Đáp lại mọi sự dặn dò của Đéc-vi-sơ, Ê-li uể oải trả lời cụt lủn: “Tôi không cho rằng con đường đi Đa-mát lại dài đến thế. Tại sao lại phải chết vì mệt mỏi và nôn nóng trước khi tới đấy”. Về phần y, đây không phải là cơn khó chịu mà là tình cảm giống như sự bồn chồn của loại ngựa chiến đã hít mùi thuốc súng và mùi chiến trường muốn vội vàng lao mình vào cuộc chiến. Nhưng cấp trên của y thì nghĩ khác, việc luyện tập thêm là cần thiết và ngay bây giờ, bắt đầu từ những kết quả đặc biệt của phần đầu chuyến công tác ở Ác-hen-ti-na, phải sắp đặt kế hoạch chi tiết của y ở Xy-ri.
Một lần nữa, Ê-li lại tìm đến căn gác nhỏ của Đéc-vi-sơ ở phố A-len-by tại Ten A-víp. Với sự giúp đỡ của một huấn luyện viên chuyên gia về các đài phát bí mật của Cục tình báo. Ê-li tiến bộ nhanh chóng trong việc sử dụng một đài phát giống như đài mà y sẽ sử dụng nay mai ở Đa-mát. Sau vài tuần huấn luyện, y đã đánh trung bình mỗi phút được 45 đến 50 chữ, được các nhà chuyên môn công nhận là vừa phải. Y học cách dùng nhiều mật mã, tập đọc các bức điện mật mã do huấn luyện viên của y “gửi” cho và sau đó học thuộc lòng các mặt mật mã.
Trong đợt huấn luyện cuối cùng ở Ten A-víp, nhiều lần huấn luyện viên của Ê-li có nhiệm vụ khám phá những nét riêng biệt trong “cách đánh” của y khi phát tin. Đối với cái tai của một chuyên gia giỏi, “cách đánh” của mỗi người đều khác nhau như vân tay của con người vậy. Nói cách khác, tính chất của mỗi tín hiệu “mooc-xơ” được phát đi từ một đài ở khoảng cách nhất định, có thể dễ dàng nhận ra người phát ra tín hiệu này mà không cần báo trước mật số. Những thay đổi rất nhỏ “cách đánh” chẳng nghĩa lý gì với một cái tai không được huấn luyện, nhưng qua tai của nhân viên kỹ thuật có kinh nghiệm, chúng lập tức ghi nhận và hiểu ra ngay.
Một số rất hạn chế nhân viên điện đài của Cục tình báo ở Ten A-víp từ tháng 9 năm 1961, đã bắt đầu nghiên cứu và nhận xét những lần tập phát tin của Ê-li. Sau này cũng vân những nhân viên này ngồi nghe điện của y phát từ thủ đô Xy-ri.
Ê-li dùng một phần thì giờ nghiên cứu cách pha chế các loại mực hóa học khác nhau bằng các vật liệu tại chỗ, cách cất giấu khéo léo trong một căn nhà, cách cất giấu những đồ vật bí mật trong các dụng cụ gia đình đủ các loại; cách chuyên chở bí mật các vũ khí cá nhân, tài liệu, thư từ hay các loại vi phim khâu lẫn trong quần áo hoặc giấu ngay ở trong mình. Tóm lại, việc học tập những ngón nghề của tên điệp viên kiểu mẫu, trái với điều người ta tưởng tượng khi đọc ở một vài cuốn truyện gián điệp, đòi hỏi một sự nỗ lực bền bỉ và chỉ có cái tên là kích thích mà thôi.
Sau khi nghiên cứu một lần nữa các loại vũ khí nặng nhẹ kiểu mới mà quân đội Xy-ri đang dùng. Ê-li Cô-hen được tập sử dụng các loại súng ngắn và tiểu liên loại “Xmai-xơ” của Đức chế tạo và thông dụng trong quân đội Xy-ri. Y còn học cả cách dùng các loại chất nổ khác nhau.. Ngay trong những cuộc tập bắn, Đéc-vi-sơ vẫn cảnh cáo: “Ở Đa-mát, anh sẽ không được phép đổ một giọt máu nào. Nhưng Xy-ri là một nước Cộng hòa kiểu Nam Mỹ mà cuộc cách mạng tương lai có thể nổ ra bất cứ lúc nào. Có thể bất đắc dĩ anh phải dùng vũ khí tự vệ. Khi nào thật cần lắm anh mới nên dùng đến”.
Hơn cả những lần tập luyện trước, Ê-li nghe đài phát thanh Đa-mát và thận trọng theo dõi những biến cố chính trị ở Xy-ri. Khi nghe đài phát thanh hoặc xem những chương trình vô tuyến truyền hình Xy-ri, chắc chắn Ê-li sẽ bác bỏ ngay nếu lúc ấy có người nào đó nói rằng, sau này chính y sẽ xuất hiện trên màn ảnh vô tuyến truyền hình ở Đa-mát.
Ngày 28 tháng 9 năm 1961, ở Xy-ri đã xảy ra một sự kiện chính trị khá quan trọng. Tổ chức liên hiệp Ai-Cập Xy-ri tan vỡ một cách ầm ĩ và nhanh chóng cũng như khi nó được thành lập cách đây ba năm. Xy-ri khôi phục lại nền độc lập chính trị và kinh tế của mình. Nhưng sau khi từ chối vai trò một bộ phận nhỏ bé trong nước Cộng hòa A-rập thống nhất, nước Xy-ri trở thành một bãi chiến trường thực sự của một cuộc nội chiến âm thầm nhằm tranh giành quyền hành thực tế đang khuyết. Xứ sở này trong suốt mười ba năm đã chứng kiến mười hai cuộc cách mạng và đảo chính liên tiếp, giờ đây sẽ bị Đảng “BAATH” chi phối lâu dài và nhiều đảng viên Đảng “BAATH” đã trở thành bạn của Ca-man Ta-áp từ hồi ở Bu-ê-nốt Ai-rét. Trong những ngày tháng chín, Ca-man Ta-áp đã gửi cho tướng Ha-phê ở Ác-hen-ti-na một tấm thiếp bỏ ở Duy-rích, lời văn độc nhất chỉ có mấy chữ: “Đảng BAATH muôn năm!” và chữ ký của y.
Ê-li Cô-hen đã biết sự diễn biến chi tiết của những sự kiện vừa xảy ra ở Xy-ri, và qua những hồ sơ mật được xem xét vội vã ở Ten A-víp, y còn biết một cách nhanh chóng ai là những nhân vật chính trong vụ đảo chính chống Nat-xe này. Thật ra khi cấp trên của Ê-li và cả y nữa cũng phải thừa nhận rằng, mọi bước ngoặt của tình thế ở xứ sở này đều vượt khỏi sự phân tích chính trị và không sao lường trước được. Khi nói đến Xy-ri, người của Cục tình báo Ten A-víp thường nói rằng: ‘ Chính quyền ở đây thuộc về tay sĩ quan nào buổi sáng dậy sớm hơn đối phương của mình và đánh chiếm lấy đài phát thanh”.
Người cầm đầu thực sự vụ đảo chính chống Nát-xe ở Xy-ri là viên đại tá trẻ tuổi của quân đội Xy-ri: Áp-dun An Ka-rim Nát-la-vi – phụ tá quân sự của thống chế A-me, một sĩ quan thân cận và trung thành của Nát-xe, toàn quyền Ai-Cập ở Xy-ri. Đại tá Nát-la-vi đã cảm thấy sự bất mãn của khối nông dân và cả giai cấp tư sản là những người trước nhất bị khổ vì sự thống trị của Ai-Cập, họ đã dự định trong lâu dài, nhất định giải phóng Xy-ri chống lại Ai-Cập. Nông dân và những người buôn bán kết tội chính quyền Ai-Cập là bóc lột Xy-ri, một nước tài nguyên thiên nhiên còn phong phú và thịnh vượng hơn cả nước Ai-Cập. Các sĩ quan Xy-ri thì không bằng lòng vì các đơn vị của họ đều do sĩ quan Ai-Cập chỉ huy. Trường không quân của quân đội Xy-ri bị chuyển sang Ai-Cập và mang theo một đoàn Mig 17 của Xy-ri. Ngay những bộ phận đầu não của cơ quan hành chính ở Xy-ri, cũng có cả người Ai-Cập.
Ngày 28 tháng 9, lúc tảng sáng, khi hãy còn ở trong giường ngủ, viên toàn quyền Ai-Cập ở Xy-ri là thống chế Áp-dun Ha-kim A-me, được tin đại tá Nát-la-vi chiếm được đài phát thanh, đã lập tức dùng điện thoại báo cáo với tổng thống Nát-xe ở Cai-rô và Nát-xe tuyên bố sẵn sàng đến ngay Đa-mát để cứ vãn tình thế. Trong thâm tâm, Nát-xe cũng hiểu rằng sự tan vỡ của khối liên hiệp với Xy-ri là một thất bại của ông về tinh thần đối với các nước Ai-Rập nói riêng và với cả thế giới mặc dầu trong thời kỳ ấy, với uy tín cá nhân rộng lớn ở Xy-ri, Nát-xe có nhiều thời cơ giành lại tình hình. Nhưng thống chế A-me gàn ông ta, cam kết là có thể khôi phục lại tình thế và đặt lại trật tự trong nước.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Mười Một, 2014, 07:21:23 pm gửi bởi huytop »
|
Logged
|
|
|
|
huytop
Thành viên

Bài viết: 919
|
 |
« Trả lời #34 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2014, 11:05:54 am » |
|
Đại tá Nát-la-vi và quân đội của ông ta làm mạnh hơn. Trong buổi sáng, viên đại tá trẻ tuổi đã cho bắt giữ ngay thống chế A-me và cho áp giải ông bằng máy bay về Cai-rô. Hai đội biệt kích nhảy dù Ai Cập đổ bbooj lên bến La-ta-ki-ê ở Xy-ri dưới sự yểm trợ của các chiến hạm Ai-Cập bỏ neo ở cửa bể, đã đầu hàng không nổ một phát súng nào. Chỉ trong vài giờ, đại tá Nát-la-vi đã trở thành người chỉ huy hiển nhiên nhưng hầu như giấu mặt ở Xy-ri; ông ta đặt những nhà chuyên nghiệp và có kinh nghiệm hoạt động chính quyền vào cơ quan đầu não của chính phủ. Vụ đảo chính ở Xy-ri làm náo động vùng Trung Đông. Chính phủ I-xra-en sung sướng trước những đau khổ của Tổng thống Nát-xe. Việc tan vỡ của khối Liên hiệp Ai Cập và Xy-ri đã thủ tiêu mối nguy cơ đối với I-xra-en do có Bộ chỉ huy thống nhất của quân đội Ai Cập và Xy-ri. Nhưng mặt khác cũng còn phải chờ đợi một cuộc biến chuyển khác nữa. Sự thù hằn giữa Đa-mát và Cai-rô một lần nữa đã có hậu quả làm tăng sự ganh đua giữa hai nước trong việc tuyên truyền dân chúng chống I-xra-en, lúc đầu bằng lời nói và sau đấy là bằng hành động.
Việc người Ai Cập rời bỏ Xy-ri là sự kiện quan trọng bậc nhất đối với nhiệm vụ mà Ê-li phải thực hiện ở Đa-mát. Khi trước, lúc khối liên hiệp Ai Cập và Xy-ri còn tồn tại, thì Ê-li nhận được chỉ thị phải hết sức tránh với người Ai Cập ở thủ đô Xy-ri. Cấp trên của y e ngại có thể vì tình cờ mà một người Ai Cập nào đó sinh trưởng ở A-lêc-xăng-đơ-ri nhận ra Ê-li chăng. Xấu hơn nữa, năm 1954, y đã từng bị cơ quan an ninh Ai Cập bắt giữ và hỏi cung. Ở Đa-mát, sự tình cờ có thể khiến Ê-li lại gặp – một số các chính giới Ai Cập – một công an viên có biết y hồi năm 1954 ở A-lêc-xăng-đơ-ri hay ở Cai-rô. Việc người Ai Cập bỏ đi như vậy mở ra những hy vọng mới mẻ cho Ê-li và tạo sự dễ dàng trong mức độ nào đó cho những hoạt động sau này của y ở Đa-mát. Rôi y nhận được chỉ thị chính trị khác xuất phát từ những biến cố ngày 28 tháng 9: Từ nay Đảng “BAATH” có khả năng nắm chính quyền!. Về phần Ca-man Ta-áp, trước tướng Ha-phê ở Bu-ê-nốt Ai-rét, y đã công khai bày tỏ cảm tình của mình với Đảng này trong tấm bưu thiếp mà Đéc-vi-sơ bảo y gửi từ Thụy Sĩ cho viên tùy viên quân sự Xy-ri ở Ác-hen-ti-na. Y còn khẳng định một lần nữa lòng “trung thành” của y đối với Đảng này. Nhưng cấp trên đã dặn y rằng; Khi nào đã xâm nhập được vào các bộ phận có quyền lực của Đảng “BAATH” ở Đa-mát thì chớ có xin gia nhập Đảng, tốt hơn hết là phải kiên trì và đợi khi nào tình hình chính trị ở Xy-ri sáng sủa hơn.
“Nếu anh cứ tuyên bố liều lĩnh quá sớm ủng hộ Đảng “BAATH” , anh có thể bị xử tử không phải vì tội làm gián điệp cho I-xra-en nhưng vì tội gia nhập một Đảng mà Đảng này có thể bị trấn áp bởi một chính phủ khác do một cuộc đảo chính khác đưa lên”.
Những người phụ trách trực tiếp Ê-li nhận xét anh ta hoàn toàn bình tĩnh, thậm chí bình tĩnh một cách khác thường trước những biến cố sôi sục xảy ra trong những ngày tháng 9 năm 1961 tại Xy-ri, nơi một điệp viên Ta-áp sắp xâm nhập. Dưới mắt cấp trên và bạn bè ở Cục tình báo, Ê-li đã biểu thị một sự trầm lặng nội tâm đặc biệt và một sự can đảm pha lẫn tính khiêm tốn. Khi quan sát y theo dõi những biến cố ở Xy-ri trên đài vô tuyến truyền hình và trên báo chí, hoặc nghe y phân tích tình hình, người ta phải cho là y sửa soạn đi nghỉ phép ở Đa-mát chứ không phải đến đây để dấn thân vào vô vàn nguy hiểm.
Thái độ quả quyết phi thường khi Ê-li nói đến nhiệm vụ nay mai của mình với lòng tin tưởng hoàn toàn vào thắng lợi đã khiến cấp trên của y phải luôn luôn nhắc nhở: “Khi tới Đa-mát, chớ có vội vàng, trái lại cứ thủng thẳng và từng bước đi vào giới lãnh đạo của Xy-ri nhằm mục đích cung cấp những tin tức tối đa về hai lĩnh vực quan trọng nhất: Quân đội Xy-ri, thành phần, quân số, những cuộc hành quân trong nước và ở biên giới với I-xra-en, cùng mọi chi tiết về các sĩ quan chỉ huy quân đội”. “ Bất kể những gì sẽ xảy ra ở Đa-mát và tình hình chính trị ra sao nữa, quân đội Xy-ri vẫn là nhân tố quan trọng và quyết định cho tương lai của đất nước đó” – Cô-hen đã nhiều lần khẳng định như thế. Về lĩnh vực thứ hai y sẽ phải cung cấp tin tức là tình hình kinh tế của Xy-ri. Người ta dặn y không nên để mất thì giờ và sức lực vì những vấn đề không quan trọng cho lắm. Sau này ta sẽ thấy nhiều lần chính cấp trên của y đã làm trái lại với những lời khuyên đó.
Những tin tức có tầm quan trọng bậc nhất, có tác dụng giúp cho I-xra-en có thể đối phó ngay lập tức về quân sự hay chiến lược trong khoảng thời gian ngắn nhất, điệp viên Ca-man Ta-áp phải chuyển đi bằng một máy phát nhỏ xíu, không to hơn bao thuốc lá, cái đài phát này là một kiệt tác kỹ thuật, sẽ trở thành một kỳ công thực thụ của Ten A-víp, và là một nguồn cung cấp tin tức tình báo vô tận thuộc loại nhất về những biến cố ở Xy-ri. Các đài phát nhỏ xíu này, ngay các cơ quan gián điệp của các nước lớn cũng còn hiếm và thực tế còn xa lạ đối với các cơ quan gián điệp các nước khác, nay mai sẽ được trao cho Ta-áp ở châu Âu. Ở Ten A-víp, người ta tạm thời trang bị cho y một dao cạo râu điện cấu tạo đặc biệt. Dây điện của máy cạo râu là một dây trời của cái máy phát sau này.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Mười Một, 2014, 08:53:47 pm gửi bởi huytop »
|
Logged
|
|
|
|
huytop
Thành viên

Bài viết: 919
|
 |
« Trả lời #35 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2014, 09:57:57 pm » |
|
Ta-áp phải sử dụng máy phát này để phát tin thật nhanh cốt giảm bớt sự rủi ro bị Cơ quan phản giám của Xy-ri phát hiện. Người ta định giờ cho những buổi phát tin và cả ngày phát tin đầu tiên. Một con số qui định trước để báo cho Ten A-víp biết nếu y đã thuê được nhà ở và ở hẳn đấy. Trước khi thuê được nhà, ngay cả trường hợp thật khẩn cấp, y cũng không được phép liên lạc với Ten A-víp. Một con số khác định trước để báo cho y biết phải lợi dụng thời cơ tốt nhất đi châu Âu và bắt liên lạc với “liên lạc viên” của y ở đây.
Ngày lên đường đã tới gần, đã cuối tháng 12 năm 1961 rồi. Lại một lần nữa, Ê-li nói với vợ rằng: “Công việc buôn bán” buộc y phải đi châu Âu và vắng nhà vài tháng, và Na-đi-a đề nghị với chồng nên rút ngắn thời gian ở nước ngoài đến mức thấp nhất.
Lại cái xe tải không số và vẫn người lái xe ấy đốn Ê-li Cô-hen để đưa y sang sân bay Ly-da. Khi tới Muy-ních, y gặp lại Xa-linh-gơ, thay quần áo, trao cho Xa-linh-gơ bọc quần áo I-xra-en và nhận lại số quần áo mà y đã mặc ở Ác-hen-ti-na. Xa-linh-gơ còn đưa cho y quyển hộ chiếu Ác-hen-ti-na trong đã có sẵn thị thực Ai Cập và Li-băng. Chỉ còn thiếu thị thực quan trọng nhất là thị thực của lãnh sự quán Xy-ri, Ta-áp phải xin cấp ở Duy-rích.
Xa-linh-gơ ra lệnh cho y phải mua vé tàu thủy đi Li-băng. Việc lựa chọn đã nhằm vào tàu A-xtô-ri-a, khoảng tuần lễ đầu của tháng giêng năm 1962 sẽ chạy tới Bây-rút. Trước ngày lên đường, một cuộc thẩm tra chớp nhoáng và bí mật do các điệp viên châu Âu của Cục tình báo I-xra-en đã cung cấp cho Ê-li bản danh sách đi chuyến tàu A-xtô-ri-a đó.
Ê-li thấy trong va li mà Xa-linh-gơ trao cho có một bộ dụng cụ làm bếp mà một anh chàng chưa vợ có thể mang đi khắp nơi. Trong số dụng cụ này, có một cái “cối xay” chạy điện bằng chất dẻo, trong vừa phải, loại mà người ta thấy ở thị trường, nhưng đặc biệt là có hai đáy. Trong lòng đáy, Xa-linh-gơ xếp một cái đài nhỏ mà y đã nghiên cứu và tập sử dụng ở Ten A-víp. Trong phòng của Ê-li tại khách sạn ở Mu-ních, Xa-linh-gơ chỉ dẫn cho y cách lấy đài nhỏ xíu ở đáy ra, cách đóng cái máy điện lại và sử dụng nó như cái “máy xay và trộn” khi đã nhấc cái đài ra.
Ngày hôm sau, vẫn ở Muy-ních xảy ra một chuyện tình cờ, chứng tỏ những sự hiểu biết kỹ thuật của Ê-li đã đủ để y hoàn thành nhiệm vụ. Buổi sáng sớm , sau khi Xa-linh-gơ đi rồi, y còn tập tháo ra và lắp lại cái “máy xay và trộn” chạy điện. Y phát hiện mỗi khi di chuyển cái máy đã phát ra một tiếng động lạ. Cái đài phát đặt không cẩn thận ở chỗ giấu đã rung chuyển ở trong đáy kép.
“Phải đưa ngay cho tôi cái đáy để đem đi chữa”, Xa-linh-gơ nói, nhưng Ê-li đáp: “Đã chữa xong rồi”. Thật vậy, chính y đã tìm cách tự chữa lấy cái máy. Cái máy xay tròn của y bây giờ chạy rất tốt. Dùng để “nấu nướng” hoặc phát đi những bức điện đều được cả.
Ê-li Cô-hen đã để lại cho Xa-linh-gơ một bức điện ngắn ngủi cho vợ và hôm sau đáp máy bay đi Duy-rích. Tới đây, y đến sứ quán Xy-ri và được viên lãnh sự cấp cho thị thực Xy-ri trên hộ chiếu Ác-hen-ti-na của Ta-áp. Thị thực quá cảnh của y cũng được cấp ngay.
Đêm cuối cùng, Ê-li ở Duy-rích là đêm 31 tháng chạp năm 1961. Hòa mình trong đám đông vui nhộn từ nửa đêm về gần sáng sớm, sau khi đi khắp các phố phường Duy-rích. Ê-li lững thững một mình đi vòng quanh các phố nhưng tâm trí y đã ở cách đấy vài ngàn cây số rồi, ở trên đất địch mà trong vài ngày nữa y sẽ vượt biên giới.
Ngày 1 tháng giêng năm 1962, Ê-li đáp máy bay đi Giê-nơ ở Ý. Cùng ngày , y đi Bi-ê-rút trên chiếc tàu A-xtô-ri-a. Ngồi chưa nóng chỗ trong phòng khách trên tàu, y gặp một người mà y biết tên – do được đọc trong danh sách hành khách đi tàu – và người này sẽ tạo mọi sự dễ dàng cho nhiệm vụ của y với một hiệu quả không ngờ được. Đó là viên tộc trưởng Mác An A.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Mười Một, 2014, 11:28:10 pm gửi bởi huytop »
|
Logged
|
|
|
|
huytop
Thành viên

Bài viết: 919
|
 |
« Trả lời #36 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2014, 09:50:41 pm » |
|
X – ĐI ĐA-MÁT
Buổi tối ngày đầu năm 1962 (1-1-1962), làn gió lạnh thổi mạnh trên vịnh Giê-nơ và quét lên boong tàu A-xtô-ri-a khiến hành khách chạy cả về buồng và phòng ngủ.. Đảo mắt nhìn lần cuối những căn nhà cũ kỹ màu đỏ nhạt vây quanh bến Giê-nơ. Ca-min Ta-áp, khách đi tàu hạng nhất cũng trở về buồng ngủ ở cuối buồng các sĩ quan và thuyền trưởng. Sau khi xếp lại đồ dùng để vào một va-li bằng da và một túi du lịch trong đó có “đồ dùng thiết yếu” cho một điệp viên dưới hình thức “máy xay trộn” chạy bằng điện, y lững thững đi lại quầy rượu dành cho khách hạng nhất để uống rượu khai vị và làm quen với khách đi tàu. Nhờ có Xa-linh-gơ, Ta-áp đã ghi (theo bản danh sách đi tàu mà Xa-linh-gơ trao cho y ở Muy-ních) tên một vài người, gạt đi vài người khác. Nguyên tắc sự lựa chọn này cũng giản dị thôi; Tránh mất thì giờ với những hành khách không lợi lộc gì, Ta-áp quan tâm đến loại người khi cần có thể giúp y một tay để đối phó với những khó khăn có thể chờ y trên đường đi Đa-mát.
Ngày Ta-áp trở lại môi trường A-rập được tiến hành tuần tự. Trước hết, trong sáu tháng ròng, nằm trong đám kiều dân A-rập ở Bu-ê-nốt Ai-rét, y đã tìm cách khai thác thật tốt cho nhiệm vụ tương lai của y ở Xy-ri. Bây giờ ở trên chiếc tàu A-xtô-ri-a, lênh đênh trên Địa Trung Hải, một lần nữa, Ta-áp lại ở với toàn người A-Rập. Khách trên tàu ở phòng khách hạng nhất phần lớn là người Trung Đông. Đám người A-rập đang ngồi cạnh y có nhiều người Li-Băng và một vài người Xy-ri. Có rất ít người Âu. Tháng giêng mưa gió chả hợp lắm với những chuyến đi du lịch và những nhà buôn từ Pa-ri hay từ Duy-rích, nói chung đều dùng đường hàng không để đi Cai-rô hoặc Bi-ê-rút.
Những câu chuyện trao đổi vui vẻ ầm ĩ, đúng như phong tục A-rập, nổ như pháo ran xung quanh y từ bốn phía. Mọi người chuyện trò cùng một lúc với nhau. Mặc dù giọng nói và cách sử dụng ngôn ngữ đôi khi rõ ràng và khác biệt, nhưng người A-Rập ở Li-Băng, ở Xy-ri và ở Ai-Cập đều hoàn toàn hiểu nhau mà không cần phải phiên dịch.
Cũng nhờ có không khí thoải mái và ầm ĩ này, các hành khách đủ mọi quốc tịch, trong thời gian lênh đênh trên biển cả, đã trở thành một tập thể hòa hợp, do đó Ca-man Ta-áp làm quen được với một người ở trong quầy rượu mà y đã đánh dấu trên bản danh sách. Một giờ sau ở trong quán ăn của khách, Ta-áp đã cùng ngồi chung một bàn với người bạn mới này. Tên gián điệp lập tức nhắm “con mồi” và nhanh như chớp anh chàng này đã sa vào bẫy. Chính gã này, không phải ai khác, đã đưa tên gián điệp vào Xy-ri một cách dễ dàng.
Đó là một người A-rập vóc dáng vừa phải, xương xương người và có những nét Do thái cùng màu da cháy nắng. Ông ta mặc âu phục dang trọng, vẻ bề ngoài không có dấu hiệu gì để mọi người có thể nhận ra đấy là một tộc trưởng A-Rập chính cống. Tại quày rượu, hai người cùng nhấm nháp tí rượu; trao đổi với nhau những lễ nghi và tập quán và cùng nhau giới thiệu: Ca-man A-min Ta-áp, nhà buôn,quốc tịch Xy-ri nhưng sống ở Ác-hen-ti-na và trên đường về thăm quê cha đất tổ. Tộc trưởng Mác An A! Chỉ một tước hiệu cũng đủ trình bày nhân vật: Một người A-Rập có phẩm hạnh thuộc giai cấp phong kiến địa chủ cũ. Mác An A trước đây có một tài sản ở gần Đa-mát và tuy những cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đã làm “lung lay cái thời phong kiến đẹp đẽ” cổ điển ở Xy-ri, ông ta vẫn còn những nông nô đang làm việc trên ruộng đất của mình và lương họ lĩnh chỉ là một phần ít ỏi của thu hoạch. Mác An A cũng là nhà buôn nữa. Sau vài tháng ở châu Âu, đã đi qua cả Rôm và Pa-ri, ông ta trở về nước trên tàu A-xtô-ri-a: “Người ta chẳng ai bỏ phí thì giờ ở châu Âu cả. Ở đấy có khối nơi thú vị để sống vài phút êm dịu”. Ông vừa cười vừa nói với Ca-man Ta-áp.
Ta-áp thấy ngay thuận lợi mà y có thể khai thác ở viên tộc trưởng đang về Đa-mát này. Ít nói và còn kém tài khi trao đổi những câu chuyện trai gái ở một vài hộp đêm có tiếng là xấu ở Pa-ri hoặc Rôm, y lái câu chuyện vào vòng đứng đắn nhất. Ta-áp nói viên tộc trưởng rằng, y rời Ác-hen-ti-na vì một ham thích sâu sắc là muốn trở về “Tổ quốc” để tham gia tích cực vào những biến đổi chính trị và kinh tế đang lan rộng ở Xy-ri.
Viên tộc trưởng cảm động trước lòng yêu nước nồng nàn của chàng trai trẻ. Ông ta kể cho y nghe về tình hình ở Xy-ri, nhưng trong bối cảnh rất khác biệt với tình hình mà các bạn bè ở Đảng “BAATH” khác của Ta-áp ở Ác-hen-ti-na nhận xét. Ghé sát vào Ta-áp, ông ta nói thầm để khách ăn ở các bàn bên cạnh không nghe thấy: “Nhờ có Thánh A-la, chủ nghĩa Ai Cập đã chết hẳn. Thế là chúng ta thoát khỏi cái lũ này. Bọn Ai Cập đã ăn cắp của chúng ta, chúng lột tất cả, tịch thu tất cả ruộng đất của chúng ta để chia cho nông dân. Tóm lại, chúng ta dễ thở ở Đa-mát hơn”.
Ông ta hỏi Ta-áp xem có thể làm gì để giúp y trở về Đa-mát dễ dàng. Ngay từ lúc gặp nhau ở quán rượu, Ta-áp chỉ đợi có câu hỏi này. Hiện nay trong tất cả các điều y cần hơn cả, cộng với những giới thiệu của bạn bè ở Bu-ê-nốt Ai-rét là cùng đi với một người như viên tộc trưởng để qua biên giới Xy-ri.. Người ta nhận ra sự phản xạ này một cách rất dễ dàng. Còn gì chắc chắn và dễ chịu bằng khi ở cạnh một viên tộc trưởng để vượt cái biên giới có thể gây ra cho y biết bao phiền phức?.
“Tôi không quen ai cả. Không quen biết một ai ở Đa-mát cả.” Ta-áp thú thật.
Viên tộc trưởng phác một cử chỉ hiếu khách cổ truyền của các nước Ai-Rập. “Nhà tôi là nhà của anh – Ông ta vừa nói vừa cười to và thêm – Tôi vừa tậu một chiếc xe mới ở châu Âu. Một chiếc Pơ-giô 404, hiện gửi theo với tôi trên tàu này. Anh bạn trẻ hãy tin vào tình bạn của tôi. Ngay khi tới Bi-ê-rút, anh hãy xem như anh là khách của tôi. Và đừng có e ngại gì về bước đầu của anh ở Đa-mát cả. Bạn bè của tôi sẽ là bạn bè của anh.”
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Mười Một, 2014, 11:51:26 pm gửi bởi huytop »
|
Logged
|
|
|
|
huytop
Thành viên

Bài viết: 919
|
 |
« Trả lời #37 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2014, 10:11:21 am » |
|
Buổi tối hôm ấy, hai người trò chuyện mãi tới khuya. Khi trở về buồng, điệp viên Ta-áp làm một bản tổng kết thật xúc động về ngày đầu tiên trên tàu A-xtô-ri-a: Một viên tộc trưởng sẽ trở y trên chiếc xe Pơ-giô 404 từ Bi-ê-rút để đặt y trước “hang hùm” ở Đa-mát.
Sau chuyến vượt biển an toàn, tàu A-xtô-ri-a cập bến A-lếc-xăng-đơ-ri. Ở Mu-ních, Xa-linh-gơ đã lệnh cho Ta-áp phải bí mật xuống A-lếc-xăng-đơ-ri để xin đóng dấu thị thực của Ai-Cập vào hộ chiếu, cái này khi cần đến, sẽ bảo đảm với các đồn biên phòng của Xy-ri hơn. Tên gián điệp đội một cái mũ rộng vành, cẩn thận đeo thêm chiếc kính râm để giấu mặt, nhưng không để viên tộc trưởng và các hành khách khác chú ý đến cách ngụy trang quá đáng. Khi kiểm soát hộ chiếu tại trạm biên phòng Ai-Cập, y xin được đóng con dấu mong muốn. Rồi y đi bộ trên các ngõ hẻm của bến tàu nơi y đã sống bao năm lúc còn niên thiếu. Có lẽ đến gần năm năm trôi qua kể từ ngày Ê-li Cô-hen dời thành phố này. Y vẫn còn nhận ra từng đường phố một. Đúng ra y phải vào các cửa hàng và gọi đúng tên các thứ hàng hóa. Đúng ra y phải trở lại xem đường phố cũ, nhìn lại ngôi nhà mà y đã trưởng thành. Y chẳng làm gì cả. Y không được phép chuốc lấy nguy hiểm nếu một người nào đó nhận ra mình. Một em bé Ả-Rập quần áo rách mướp chạy theo y kêu van: “Bắc-sích, Y-a Xi-đi” và chìa tay ra xin, Ê-li Cô-hen nay là Ca-man Ta-áp, “Khách du lịch” người Ác-hen-ti-na tại A-lếc-xăng-đơ-ri cho em bé một đồng bạc. Y còn có dịp nhận xét, so với ngày xưa, số binh lính và xe tải nhà binh ở trong phố xá rõ ràng có tăng lên nhiều. Rồi y lại trở về tàu A-xtô-ri-a để tiếp tục đi Bi-ê-rút. Ta-áp còn đứng tựa vào lan can trên cầu tàu một lúc lâu cho tới khi những ngôi nhà cuối cùng của A-lếc-xăng-đơ-ri khuất vào chân trời.
Bi-ê-rút, nơi mà ngày mai Ta-áp sẽ cùng đặt chân lên với ông bạn người Xy-ri của y là MácAn A, tràn đầy nhựa sống và niềm vui tươi so với A-lếc-xăng-đơ-ri. “Thụy sĩ của Trung đông” như người ta thường gọi thủ đô của Li-băng như thế. Bi-ê-rút đón khách của tàu A-xtô-ri-a với tiếng hò hét và tiếng rao hàng của những người bán hàng rong và những người khuân vác chạy tứ tung trên bến tàu. Sau bến tàu Ai-Cập, ở bến tàu Li-băng này, người ta có cảm giác rõ rệt là đi vào một thế giới khác, tuy rằng bến tàu này cũng A-Rập như bến tàu kia.
Điệp viên Ta-áp có đủ thời gian cần thiết để miệt mài với sự so sánh này và theo dõ mạch đập phi thường của thành phố Bi-ê-rút với sự sôi nổi liên tục. Về phía ông tộc trưởng, ông ta chờ phu khuân vác lấy chiếc ô tô mới ở khoang tàu ra. Người ta chất vô tội vạ hàng đống va-ly và những gói đủ mọi kích thước của viên tộc trưởng vào trong chiếc xe hơi và cả cái gói hàng thật giản dị của Ca-man Ta-áp. Mác An A nói đi nói lại: “Miễn là hải quan Xy-ri miễn cho tôi cái khoản kiểm soát quá ngặt nghèo”. Trong thâm tâm Ta-áp cũng chỉ mong ước đúng như lời cầu của vị bảo trợ. Về phần ông tộc trưởng, ông ta chỉ gờm những viên thanh tra hải quan và những khoản thuế mà ông sẽ phải trả cho chiếc Pơ-giô mới tinh thôi. Ta-áp thì có những lý do xác đáng hơn để lo ngại việc qua lại đồn biên phòng Xy-ri.
Nhưng hai người còn cách biên giới Xy-ri khá xa. “Chúng ta thử ở lại cái thành phố diễm lệ này vài ngày xem sao?”. Viên tộc trưởng Mác An A đề nghị. Tuy vội đến chết và mong mau chóng tới Đa-mát cho xong. Ta-áp vẫn phải nhận lời. Hai người thuê ở khách sạn Pờ-la-ga (Bãi biển) ở Bi-ê-rút. Họ cùng nhau dạo quanh thủ đô Li-băng như những “hoàng tử”. Đêm, họ chui vào nhiều “hộp” nhan nhản ở thủ đô Li-băng và nhận ra rằng ở Bi-ê-rút không có gì, hoặc có ít thứ để ước muốn hơn ở Rôm và Pa-ri, ít ra cũng như thú ăn đêm. Ta-áp có đủ lý lẽ để thỏa mãn, và tỏ lòng sung sướng và biết ơn đối với nhà bảo trợ của y, viên tộc trưởng. Những bước đầu y đặt chân lên xứ sở A-Rập thật giống như một cuộc ngao du nhàn hạ: “Xin mời thăm Li-băng. Hãy tận hưởng ánh nắng, sự kiều diễm và thú vị ở Li-băng”. Những quảng cáo của cơ quan du lịch Li-băng nói đúng, ngay cả với tên gián điệp I-xra-en Ê-li Cô-hen. Y hẹn sẽ trở lại và y sẽ giữ lời.
Bây giờ thì viên tộc trưởng Mác An A lái xe đưa Ca-man Ta-áp về phía biên giới Xy-ri. Chặng đường núi chật hẹp làm cho tên gián điệp nhớ lại quãng đường ở I-xra-en, cách vài chục cây số về phía nam, chạy từ Na-ha-ry-a tới Ga-li-lê. Ta-áp chăm chú nhìn xung quanh. Y đã sử dụng đến trí nhớ rồi đấy. Y ghi nhớ vad sắp xếp trong óc những hình ảnh ở hai bên đường.
Hai người đã tới đèo Xtu-ra, đồn biên phòng Li-băng cuối cùng trước khi tới đồn biên phòng Xy-ri đầu tiên. Kiểm soát hành lý nhanh chóng và qua loa. Kiểm tra hộ chiếu, một thủ tục thuần túy. Những người bán hàng, rao hàng ầm ĩ mời khách du lịch đang chờ cái rào chắn ở trước mặt nhấc lên, mua hàng cho họ; hoa quả, bánh kẹo: “Xin mời mua ở đây đi, rẻ hơn ở Đa-mát, nên mua đi”, mấy người bán hàng rao to.
Ca-man Ta-áp có một phản ứng tự nhiên.
“Chúng tôi không cần gì cả. Các anh hãy giữ hàng hóa cho bà con cực khổ của mình ở Bi-ê-rút”, y vui vẻ nói. Viên tộc trưởng thấy vui vui, vỗ vào vai y một cái, khen ngợi lòng yêu nước của y.
Cái rào chắn nâng lên, chiếc xe Pơ-giô vượt qua “khu vực trắng” kéo dài giữa hai biên giới. Con đường chạy qua một vùng đồi núi gồ ghề, khô cằn và nóng bỏng. Xung quanh vài trăm thước không có lấy một bóng cây. Ở biên giới Xy-ri, tên gián điệp Ta-áp ghi nhớ những dấu hiệu không thể nhận được của những đồn binh, mà ở phía biên giới Li-băng không thấy có.
Sau sự yên tĩnh hoàn toàn trên đất Li-băng, đã thấy xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên của sự căng thẳng ở phía bên trong biên giới Xy-ri, những dấu hiệu ấy cứ lan rộng ra tùy theo chiếc Pơ-giô của viên tộc trưởng đi sâu vào xứ này.
Một tấm biển đầu tiên đặt ở phía bên phải đường núi chỉ cho khách du lịch biết hiện họ ở ngọn đồi cao 1910 mét so với mặt biển, xa xa một chút, thấy dựng lên một tấm biển nữa quảng cáo, “muốn đi Mát-xcơ-va xin đáp máy bay của A-e-rô-phơ-lốt” bằng tiếng A-Rập và tiếng Nga. Ở trên bảng ghi giờ những chuyến bay Đa-mát - Mát-xcơ-va hai tuần lễ một lần.
Chiếc xe Pơ-giô dừng lại ở trước hàng rào biên giới, đúng là một cái cửa sắt thực sự, cao hai thước và nằm ngang đường từ góc này đến góc kia. Ở hai bên sườn xe thấy xuất hiện những hiến binh Xy-ri và ba quân nhân vác tiểu liên tự động.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Mười Một, 2014, 08:55:06 pm gửi bởi huytop »
|
Logged
|
|
|
|
huytop
Thành viên

Bài viết: 919
|
 |
« Trả lời #38 vào lúc: 28 Tháng Mười Một, 2014, 08:55:53 pm » |
|
Ca-man Ta-áp có một cái cười khó mà có thể không răn rúm được. “Những người anh em Xy-ri đây rồi”, y nói với viên tộc trưởng. Ông này thì không thấy thoải mái như người bạn đồng hành của mình. Mác An A nóng tính, nếu những nhân viên hải quan mà tỏ ra không sẵn sàng giúp đỡ ông, ông sẽ phải trả thuế cao bằng giá mua chiếc xe mới của ông.
“Tôi thử xoay xở xem sao nhé, anh chờ tôi ở trong xe”. Vieev tộc trưởng nói với Ta-áp và bước từ trong xe ra.
Ta-áp không rời khỏi ghế ngồi, y thấy viên tộc trưởng tiến lại gần viên sĩ quan, y yên lặng ngăm một cái biển lớn dặt ở ven đường ngay cạnh trạm hải quan, một tấm bản đồ các nước A-rập ở giữa có một chấm đỏ, nước Xy-ri.
Từ xa, viên tộc trưởng cao tay vẫy vẫy ra hiệu. Ta-áp không hiểu gì cả vẫn ngồi yên trên ghế.Viên tộc trưởng chạy vội lại , phấn khởi vui cười, sau ông ta là một người Xy-ri mặc thường phục
“Tôi đã gặp một người bạn, một người bạn rất tốt. Chính anh ta phụ trách trạm biên phòng. Ra đây nhanh lên anh. Anh ta đây này”.
Thế là Ca-man Ta-áp dặt chân lên đất Xy-ri. Cảm giác lạ lùng nhưng thật khôi hài.
“Đây là anh bạn Ca-man Ta-áp của tôi. Một thanh niên cừ đấy. Anh ta đã bỏ cả công việc kinh doanh vận tải đường biển hiếm có ở Ác-hen-ti-na để về nước”.
Viên tộc trưởng reo lên xoay xoay vai Ta-áp và giới thiệu y với người bạn biên phòng.
“Đây là người anh em Nát-xe An-đanh Va-la-đi ở Cơ quan An ninh quốc gia, phụ trách đồn biên phòng này đấy. Với các bạn bè, anh ta là Áp-bu An-đanh. Đối với anh, cũng như thế…”.
“Cuộc gặp gỡ đầu tiên của mình với An ninh quốc gia Xy-ri” – ý nghĩ này thoáng qua Ê-li như một ánh chớp, nhưng y không đủ thì giờ để tự nghĩ rằng cuộc gặp gỡ này rút cục vẫn diễn ra trong một ngày đầm ấm. Y chia tay, bắt tay Áp-bu An-đanh, nghe thấy anh ta nói “Chúc anh trở về nước may mắn”
Chẳng có một nhân viên nào lại gần xe ô-tô cả, vì chính người phụ trách đã đích thân săn sóc mấy vị khách du lịch rồi. Trong lúc ấy, nhiều xe khác cũng tới đồn biên phòng.Có tiếng còi rúc, nhưng chẳng ai buồn động đậy. Ở phương Đông chẳng có ai vội vã làm gì.
Nát-xe Va-la-đi ra hiệu cho mấy nhân viên mở cái hòm sau của xe Pơ-giô và bảo làm nhanh lên. Ta-áp cũng không buồn quay lại nữa. Chiếc va-li của y đựng cái “máy xay trộn” trong đó giấu cái đài phát nhỏ xíu, nằm đúng trong hòm xe nhưng ở mãi phía trong, dưới đống va-li của viên tộc trưởng. Thế là xong xuôi, các nhân viên hải quan đã làm xong nhiệm vụ của họ rồi. Họ đóng cải hòm xe lại. Đường mở rồi. Viên trưởng đồn Áp-bu An-đanh với các bạn của anh ta, không những ôm hôn ông tộc trưởng, mà ôm hôn cả người được ông này bảo trợ. Ca-man Ta-áp, lại còn gửi theo y những lời chúc tốt đẹp nhất lúc trở về Đa-mát.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Mười Một, 2014, 09:16:38 pm gửi bởi huytop »
|
Logged
|
|
|
|
huytop
Thành viên

Bài viết: 919
|
 |
« Trả lời #39 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2014, 11:35:40 pm » |
|
Viên tộc trưởng và Ta-áp lại lên xe. Cánh cửa sắt mở rộng trước họ. Xy-ri đã mở rộng cửa ngõ của mình cho tên gián điệp từ I-xra-en tới. Viên tộc trưởng mở rộng nụ cười, kể với y:
“Tôi mất một trăm rưởi tiền Xy-ri về việc này đấy, một gã cừ thật, cái anh chàng Áp-bu An-đanh này, hắn chịu nhận món tiền ít ỏi vì có lẽ An ninh Quốc gia đã trả lương cho y quá thấp…”
Nhờ có viên tộc trưởng Mác An A tạo điều kiện đặc biệt giúp Ta-áp dễ dàng vượt qua biên giới Xy-ri, điều đó đã khuyến khích y tính đến chuyện tương lai một cách lạc quan. Có nhiều lúc y có cảm giác như mình là Ca-man Ta-áp thật và đang trở về gia đình, trở về quê hương đất nước của mình.
Chiếc xe hơi chạy từ từ xuống dốc núi đi từ biên giới Li-băng đến Đa-mát. Viên tộc trưởng khẩn khoản nhiều lần mời Ta-áp đến nghỉ vài đêm trong trang trại của ông ta ở gần Đa-mát. Nhưng Ta-áp lễ phép từ chối: “Tôi muốn ở lại Đa-mát. Tôi sẽ thuê một buổng ở khách sạn”.
“Vậy thì ít ra cũng phải là một khách sạn của bạn tôi”. Viên tộc trưởng đề nghị và Ta-áp vui vẻ nhận lời. Thế là hai người dừng lại ở trước một khách sạn nổi tiếng ở Đa-mát, khách sạn “Xê-mi-ra-mi” “Anh ở đấy rất tốt”. Viên tộc trưởng hẹn với y.
“ Đối đãi với ông khách đây như với tôi nhé!”. Viên tộc trưởng nói với người chủ khách sạn đang chạy ra để mang va-li của Ta-áp vào.
Hôm ấy là ngày mồng 10 tháng giêng năm 1962, ngày đầu tiên Ê-li sống ở Đa-mát.
Khách sạn Xê-mi-ra-mi mà điệp viên Ca-man Ta-áp vừa đến ở, trông bề ngoài không được tươm tất cho lắm. Xây dựng từ đầu thế kỷ, từ ngày ấy đến nay vẫn chẳng có sửa sang gì thêm. Tường quét vôi trắng, có nơi thì xanh, bị bóc ra từng mảng.
“Căn buồng đẹp nhất” mà người chủ khách sạn lấy làm kiêu hãnh dành cho Ta-áp, nhờ sự giới thiệu của viên tộc trưởng. trông rộng rãi nhưng đồ đạc thì cũ kỹ và ăn thông sang một buồng tắm mà vấn đề sạch sẽ thì có điều đáng ngờ.
Ca-man A-min Ta-áp đưa cho nhân viên đón khách hộ chiếu Ác-hen-ti-na của y để làm phiếu đăng ký với cảnh sát. Trong lúc ấy, Ta-áp đọc một cách vui đùa hai bản hướng dẫn của chính quyền Xy-ri treo trên tường, sau nơi tiếp khách. Một bản mang tiêu đề “Chương 25 về những qui định của Bộ Kinh tế quốc gia” buộc các chủ khách sạn phải tiếp đón kính cẩn và lễ phép với những khách du lịch vãng lai và yêu cầu cảnh sát Xy-ri bảo đảm cho khách du lịch, không để mất mát và không phải trả lại gì cả. Bản kia thì thông báo cho khách du lịch giá cả của khách sạn và chỉ dẫn rằng trẻ em dưới 16 tuổi được giảm 50%, những người phục vụ của khách du lịch được giảm 30%.
Ở trong buồng, Ta-áp chỉ mở có một va-li để lấy ra thứ gì thật cần thiết. Y quyết định phải thật nhanh chóng kiếm một căn nhà.
Tuy mệt nhọc sau cuộc hành trình, nhưng quá xúc động vì đã tới Đa-mát, đêm ấy mãi khuya, Ca-man Ta-áp mới ngủ. Sáng hôm sau, việc trước tiên của y là gọi điện thoại như đã hẹn trước với viên tộc trưởng Mác An A “ Nơi ở tại khách sạn rất tốt” – Ta-áp nói dối như thế - Nhưng tôi muốn mau chóng thuê được một ngôi nhà riêng”. Viên tộc trưởng hẹn sẽ đến gặp y ngay chiều hôm ấy. Trong khi chờ đợi, Ta-áp dạo bước đi chơi chuyến đầu tiên trên đường phố Đa-mát.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|