ngthi96
Thành viên

Bài viết: 498
|
 |
« Trả lời #40 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2014, 09:37:04 am » |
|
Đại úy Severson, cùng 3 trung đội dưới quyền và thiếu tá Williams ko phải di chuyển nhiều trước khi thực hiện cuộc tấn công. Họ lọt vào 1 yên ngựa thoai thoải cách vị trí của Okendo khoảng 100m.
Đằng trước là sườn cao điểm 830 dốc đứng mọc chen chúc các loại tre gai, cây cối và bụi rậm.
Severson dừng lại 1 lát để các trung đội chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Trung úy Ligon đi bên phải, cạnh điện đài viên của mình là Specialist Owens. Lính dù bắt đầu leo lên dốc, sườn cao điểm dốc đến độ họ phải dùng tay đu bám trèo lên.
Lên được nửa chừng, Severson lệnh cho Ligon dàn quân theo đội hình bậc thang lệch qua trái. Trong khi anh đang thực hiện và trung đội dẫn đầu đi ở giữa chỉ còn cách khoảng 30 mét nữa là lên tới đỉnh thì bộ đội Bắc Việt khai hỏa.
Hỏa lực tấn công bất ngờ của súng cá nhân và súng máy làm quân đại đội Bravo choáng váng. Họ nằm sát mặt đất và ko sao bắn trả lại được. Binh nhất Jerald Lytle, 1 người Mỹ bản địa (da đỏ.ND) quê ở nam Dakota, quá hốt hoảng nên đã vứt cả súng tháo chạy. Trong khi bò lê bò toài xuống chân cao điểm anh đã làm rơi mất gói thư tình quý giá của người yêu. Khi xuống gần đến chân cao điểm anh mới có thể kìm được cơn hốt hoảng rồi bắt đầu trèo lên cao điểm lại.
Chỉ có vài lính dù của đại đội Bravo là còn bắn trả lại địch. Severson phải quát bảo những người khác nổ súng. Bỗng 1 trung sĩ bên cạnh anh gục xuống, đạn ghim đầy mình. Severson vẫn tiếp tục quát lác thúc lính mình khai hỏa. Từ từ, những người lính mới đụng trận lần đầu mới nhớ lại những gì đã được huấn luyện, cùng với bản năng sinh tồn trỗi dậy và bắt đầu đáp trả hỏa lực đối phương.
Từ chỗ mình, Severson có thể nhận thấy lính Bắc Việt đang nấp trong những căn hầm có vị trí đắc địa gần đỉnh cao điểm. Anh ước đoán lực lượng của đối phương có từ 2 trung đội cho tới 1 đại đội đầy đủ. Địch bắn dữ dội xuống sườn cao điểm, ghìm đầu lính dù xuống đất.
Trung úy Ligon bò tới sau 1 gốc cây. 1 loạt đạn bắn tới khiến anh bất ngờ. Do lóng ngóng mở khóa an toàn nên anh làm tuột cả hộp tiếp đạn. Anh vội vàng lắp hộp đạn khác vào rồi bắn lên trên cao điểm. Xung quanh có rất nhiều binh sĩ bị sốc đến độ tê liệt. Anh cũng phải quát um lên bắt họ khai hỏa. Anh chỉ mục tiêu cho lính ưới quyền bằng cách bắn vào mấy cái hầm. Trung đội của anh bắt đầu phát dương hỏa lực.
Binh nhất Lytle, lúc này đã nhặt được 1 khẩu súng của những binh sĩ bị thương vong và trèo lên cao điểm lại. Anh cảm thấy mình ko thể nào sống sót nổi nên đã chuẩn bị tinh thần đón nhận viên đạn sẽ bắn trúng anh. Vừa di chuyển từ chỗ nấp này qua chỗ nấp khác, anh vừa bắn những loạt ngắn M16. Lytle ko nhìn thấy rõ mục tiêu nào cả, anh chỉ bắn lên mỗi khi nhìn thấy chớp lửa súng của quân Bắc Việt. Anh phục xuống sau 1 gốc cây to, cứ bắn liên hồi cho đến khi hết thì lại nạp băng đạn mới vào bắn tiếp.
Trung úy Ligon, với sự theo sát của Specialist Owens, vẫn di chuyển bất chấp cơn mưa đạn thù, đôn đốc trung đội mình tiến lên. Đó là 1 việc rất khó khăn. Bất cứ cái gì nhúc nhích là đạn bắn tới rào rào ngay. Thương vong tăng cao. Owens nhìn thấy 1 cậu bạn là binh nhất Frazier D. Huggins bị thương nặng, phải chạy lui xuống cao điểm. Anh này đến đêm thì chết. Owens còn chứng kiến 1 người bạn khác là lính cứu thương Sp4 Joel Sabel, bị bắn hạ khi đang tiến về phía 1 thương binh.
Đại úy Severson đã bị thương nhẹ vào cánh tay trái. Vết thương làm anh bực mình còn hơn là đau. “Có vẻ sẽ lại được 1 quả tim tím nữa đây” anh nói với điện đài viên của mình.
Sau khi được 1 lính cứu thương băng bó, anh bắt đầu di chuyển sang trái, đến chỗ trung úy Ligon. Phải đưa các trung đội tiến lên nếu ko họ sẽ chết hết. Anh ko thể rút lui vì làm vậy chỉ tổ khiến binh lính bị bắn nhiều hơn. Nỗi điên tiết cộng với những gì đã được huấn luyện hối thúc anh phải tấn công.
Severson mới di chuyển được chưa đầy 10m thì có 1 tiếng nổ lớn phát ra ngay bên cạnh. Súng cối! Đạn cối 60 và 82 ly Bắc Việt bắt đầu vọt lên rồi rót xuống dốc. Lính dù kêu gào đau đớn khi những mảnh cối nóng bỏng xé toạc da thịt họ. Severson vẫn tiếp tục tiến. Anh mới vận động qua chỗ thiếu tá Williams được 5m thì 1 viên đạn cối nổ ngay giữa bọn họ.
Mảnh đạn nổ ghim vào bên phải Severson làm anh bị thương nặng. Sau khi hoàn hồn anh gào lên: “Cứu thương! Cứu thương!”. Anh cuống cuồng tìm người lính cứu thương rồi nhìn thấy anh này đang ngồi chết lặng, tay ôm cái chân cụt của mình. Phía sau người lính, Severson có thể thấy thân hình nát bấy của thiếu tá Williams cùng mấy người nữa. Severson lại bò tiếp về hướng trung úy Ligon.
Những tiếng đạn cối nổ ban đầu khiến Ligon giật mình hoảng hốt. Anh cứ nghĩ đó là đạn hụt tầm của pháo binh nhà. Ligon chộp lấy ống nói chiếc điện đài PRC-25 của Specialist Owens gào lên gọi trung tâm chỉ huy hỏa lực (FDC): “Check fire! Check fire!” (kiểm tra lại mục tiêu đang bắn.ND), mấy giây sau anh mới nhận ra đó là đạn cối của địch.
Trong lúc những trái đạn cối dập xuống đội hình những lính dù đang co rúm lại, Ligon tìm thấy Severson, người đầy máu. Severson, thở khó nhọc vì đau đớn, bảo Ligon gom lính lại tổ chức 1 chu vi phòng thủ và gọi trung đội dự bị lên.
Trong khi Owens dùng 1 tấm bản đồ bọc plastic để lên vết thương nơi bụng của Severson rồi băng lại, Ligon gọi điện đài về trung đội dự bị.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngthi96
Thành viên

Bài viết: 498
|
 |
« Trả lời #41 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2014, 09:45:10 am » |
|
Thượng sĩ Okendo đã nghe được những cuộc điện đàm từ trước và định cho binh lính tiến lên thì trung đội trưởng của anh gọi lại: “Thượng sĩ, anh đi đâu đó?”
“Tới giúp trung úy Ligon ạ, anh ta đang ‘bị’ nặng.”
Tay trung úy đang chen chúc trong hố cá nhân cùng viên thượng sĩ nhất quát lên “Quay về chỗ, ko được đi đâu hết trừ khi tôi ra lệnh!”
Okendo điên tiết kéo lính lui về chu vi phòng thủ.
Lát sau Ligon gọi lại cho tay trung ý cứng đầu kia. “Tôi đang chỉ huy các đơn vị phía trước và cần anh lên đây giúp.”
“Tôi là trung úy có thâm niên hơn nên tôi sẽ nắm quyền chỉ huy.” Gã kia đáp.
Ligon vặn lại “Nghe này, thằng chó, nếu mày muốn chỉ huy thì lên đây mà làm!”
Nhưng gã trung úy và thượng sĩ nhất kia vẫn ko chịu rời hố cá nhân của chúng.
Trung úy Ligon là sĩ quan duy nhất của đại đội Bravo vẫn còn đảm đương nhiệm vụ. 1 trung đội trưởng khác đã bị giết trong khi người còn lại đã nhảy vào trong rừng, la hét điên loạn sau khi bị dính 1 phát đạn vào lưng.
Trong khi Ligon bận cãi vã với tay trung úy lì lợm kia, thì Severson cố gọi điện đài cho trung tá Jackley. Anh giải thích ngắn gọn tình thế của đại đội Bravo và xin cho trực thăng tản thương ngay lập tức. Jackley nói anh ko được phép gọi máy bay tải thương đến khi mà khu vực vẫn chưa an toàn.
Ngồi trên chiếc trực thăng chỉ huy bay lòng vòng trên những tán cây rừng kín mít, Jackley giận sôi sùng sục khi bất lực chẳng thể làm gì giúp đỡ cho mấy đại đội đang bị giết dần của mình. Vì ko biết được đích xác vị trí của họ nên ông ko dám điều phối không kích và pháo kích.
Liên lạc vô tuyến không được thông suốt, nên Jackley thậm chí ko thể biết rằng có bao nhiêu chỉ huy dưới quyền mình còn sống. Tuy nhiên ông biết rằng sẽ ko có quân tăng viện nào có thể đến khi trời tối, ko còn nhiều lựa chọn nữa. Jackley bắt đầu gọi cho đại úy Phillips.
Trên sườn cao điểm 830, đại úy Phillips cũng đang bị mắc kẹt. Súng cối của bộ đội Bắc Việt cũng đang rót xuống đại đội Alpha và gây ra nhiều thương vong. Trung úy Jordan đã chết, anh bị đạn súng máy địch bắn thủng lỗ chỗ khắp người khi đang thúc trung đội mình tiến lên. Phillips biết đại đội Bravo đang bị băm nhỏ và bóng đêm sẽ ngăn cản bất kỳ lực lượng tăng viện tới được chỗ anh.
Rốt cục thì tới lúc này thì trung tá Jackley cũng đã liên lạc được với Phillips. Ông lệnh cho Phillips ko đánh nữa mà tìm về với đại đội Bravo, cùng thiết lập chu vi phòng ngự để cố thủ khi đêm xuống. Pháo binh sẽ lập hàng rào bắn chặn bảo vệ cho họ suốt đêm.
Sau đó Jackley gọi trung úy Deems, bảo anh quay về chỗ đại đội Bravo. Deems lập tức thi hành và cùng trung đội của trung úy Allen quay về trong khi 1 trung đội khác dưới quyền vẫn đang ở chung với đại đội Alpha.
Vào lúc Allen cho trung đội lên đường thì cơn mưa dai dẳng bắt đầu tạnh. Những người lính đi lom khom, tiến chậm nhưng đều đặn. Đi đầu là Specialist 4 Morrell J. Woods, 19 tuổi. Woods sinh trưởng ở 1 thị trấn nhỏ phía bắc Arkansas, nơi thời thơ ấu anh thường hay vào rừng sâu ở đó để đi săn, câu cá và cắm trại. Anh cảm thấy trong rừng cũng như ở nhà và nhiều lính dù đánh giá Woods là tay xích hầu giỏi nhất trong tiểu đoàn.
Với việc đại đội Dog tiến về chỗ Bravo, và đại đội Alpha ngưng chiến. Trung úy Ligon nhận thấy hỏa lực địch trong khu vực của mình cũng đã giảm rõ rệt. Anh đoán quân Bắc Việt đã dùng súng cối bắn chặn để có thể rút lui. Hay có thể địch quân nghĩ lực lượng Mỹ mạnh hơn thực tế, hoặc đang tìm cách hoãn binh. Dù thế nào đi nữa, Ligon cũng cảm thấy dễ chịu khi được ‘giải lao’ tí chút.
Cái điện đài PRC-25 của Owens bỗng vang lên tiếng trung tá Jackley gọi đến: “Bravo Six. Bravo Six.”
Severson đã bị ngất do mất nhiều máu, nên Ligon trả lời: “Bravo Six mới đây ạ.”
Khi Ligon báo cho trung tá Jackley biết tình hình đã ổn định, Jackley bảo anh cứ giữ vị trí, đại đội Dog đang về. Dù gì thì Ligon cũng chẳng thể đi đâu được, những người chết và bị thương đang là gánh nặng đối với anh.
Tại vị trí của mình, thượng sĩ Okendo lắng nghe các cuộc trao đổi vô tuyến, theo sát tình hình. Trung đội trưởng cùng viên thượng sĩ nhất của đại đội vẫn còn co rúm trong hố các nhân, ko cho Okendo đến chỗ Ligon. Thế nên Okendo đành tập trung vào việc chặt, phát cây cối tạo 1 bãi đáp trong rừng. Nhưng họ đã lực bất tòng tâm.
Việc hỏa lực của quân Bắc Việt giảm đi cho phép Ligon sơ tán 1 số thương binh của mình về vị trí Okendo vì nghĩ rằng ông này đã làm xong bãi đáp. Binh nhất Lytle, cõng trên lưng 1 thương binh bị thương nặng vào bụng cùng với 1 số người khác chuyển các nạn nhân về chỗ Okendo.
Trong khi ấy, những lính đi đầu trong trung đội của trung úy Allen đã tới những vị trí gần nhất của đại đội Bravo. Điều đầu tiên mà Specialist Woods nhìn thấy khi tới là hình hài đen đen ướt sũng nước mưa của những lính dù tử trận. Chúng nhiều đến nỗi anh đã nghĩ rằng đại đội Bravo ko còn ai sống sót. Sau đó anh nhìn thấy 1 số lính đang co cụm lại phía sau những gì còn lại của 1 bụi tre dày. Hỏa lực quân Bắc Việt đã tiện đứt các cây tre khiến chúng chỉ còn cao cách mặt đất có 1 mét.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngthi96
Thành viên

Bài viết: 498
|
 |
« Trả lời #42 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2014, 09:22:19 am » |
|
Tiếng súng trường địch nổ lác đác lẫn với những tràng súng máy vẫn thỉnh thoảng bắn tới khiến hầu hết binh lính đều phải ẩn nấp. Woods nhìn thấy thiếu tá Williams ở gần đó và bò tới cạnh ông này. Anh nói “Chắc đó là 1 thằng khốn.” Ko thấy Williams trả lời. Sau đó Woods nhìn kỹ hơn mới thấy rằng nửa bên phải của thiếu tá đã biến mất. Woods bò đi và tới núp sau bộ rễ của 1 cái cây đổ.
Tàn tích đầu tiên mà trung úy Allen thấy trong khu vực chiến đấu của đại đội Bravo là xác 1 trung sĩ bị bắn đổ ruột nằm chắn ngang đường. Máu của người lính hòa lẫn với nước mưa chảy tràn xuống bùn. Allen đẩy cái xác qua bên rồi lại tiếp tục bò dích dắc về phía trước.
Sau đó Allen tới chỗ 2 lính dù đang thủ 1 khẩu M60. Cả 2 đều òa khóc. “Ơn Chúa là anh đã tới.” Họ nức nở. Allen an ủi họ rồi lại tiếp tục. Chẳng mấy chốc anh đã tới chỗ trung úy Ligon, trao đổi ngắn gọn với anh này, sau đó tới nhập bọn với trung úy Deems rồi gom các “thiên binh” vào 1 chu vi phòng thủ hình bán nguyệt quay mặt lên trên cao điểm.
Allen nghe thấy tiếng trực thăng của trung tá Jackley bay trên đầu. 1 số lính của anh tỏ vẻ tức giận khi Jackley ko xuống dưới đất với bọn họ. Một người bảo Allen: “Nếu tôi có tầm nhìn thoáng đãng như cái gã khốn đó thì tôi đã cho hắn lộn cổ rồi.” Allen chẳng nói gì hết. Vào lúc đó, khoảng 17g30, trung úy Deems gọi điện đài cho đại úy Phillips. Deems bày tỏ quan ngại về vị trí của Phillips do địa thế trắc chở mà trời thì đang tối rất nhanh. Trung tá Jackley cũng nghe được cuộc điện đàm này và đồng tình với Deems. Ông lệnh cho Phillips di chuyển tới thay vào vị trí của Okendo.
Vẫn đang theo dõi trên điện đài, thượng sĩ Okendo nhận ra đại úy Phillips hình như ko biết đích xác vị trí của ông. Okendo, đã chủ động cùng với Specialist Jackson nhờ thương binh của Phillips chỉ giúp, tiến ra tìm đại đội Alpha để hướng dẫn họ vào chu vi phòng thủ của mình an toàn.
Okendo và Jackson đi xuống cao điểm, chỉ trong chốc lát, họ đã gặp được Phillips. Okendo nhận ra viên đại úy cao ráo, khoác tấm poncho che mưa, tay cầm gậy tre đang đi trên lối mòn. Hai người nói với nhau vài câu rồi Okendo dẫn họ quay về vị trí của mình.
Bãi đáp do Okendo tạo ra quá nhỏ nên trực thăng ko thể đáp xuống đất. Thay vì vậy, trực thăng tải thương phải dùng dây cáp thả cáng xuống. Chỉ có mỗi viên trung úy bị bắn vào lưng được bốc lên trước khi các chuyến bay phải hủy bỏ do thời tiết xấu. Từ lúc tìm đường tới được vị trí của Okendo, viên sĩ quan cứ hoảng loạn nói năng lảm nhảm, làm những người khác sợ hãi. Nên Okendo phải cho viên trung úy di tản bằng được.
Khi việc tản thương bị ngưng, Okendo nói với đại úy Phillips về hành vi đáng xấu hổ của tay trung đội trưởng và thượng sĩ nhất đại đội. Phillips bước đến cái hố cá nhân, nơi 2 người kia vẫn chen chúc bên dưới.
“Đi kiểm tra chu vi phòng thủ chưa?” Phillips hỏi tay trung úy.
“Chưa ạ, thưa sếp.”
“Ra khỏi cái lỗ đó ngay và làm việc đi. Đừng có trở lại đây nữa. Tôi muốn anh lên tuyến đầu.” Phillips ra lệnh.
Gã trung úy ko chịu nhúc nhích, viên thượng sĩ nhất cũng thế. Phillips bỏ đi, để chúng ở lại đó. Anh có quá nhiều việc quan trọng phải lo thay vì kỷ luật chúng ngay lúc này.
Trung úy Deems và Ligon đang đối mặt với các vấn đề của riêng họ. Mặc dù hỏa lực địch hầu như đã lắng xuống, 1 vài phát đạn bắn tỉa vẫn khiến các “thiên binh” phải lo lắng. Họ cũng có nhiều thương binh. Một số người, kể cả đại úy Severson đang cần phải di tản ngay lập tức nếu ko họ sẽ chết trước khi trời sáng. Thương binh nhiều quá khiến cho lính cứu thương của Ligon ko thể xử lý hết, anh gọi thượng sĩ Okendo lên để đem 1 số thương binh về vị trí của mình. Rồi Ligon chỉ dẫn cho trực thăng tải thương tới bốc đi những thương binh nguy kịch nhất.
Vì ở đó ko có bãi đáp cho trực thăng, nên họ cũng phải thả cáng từ trên ngọn cây xuống. Severson, trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê, thấy mình được bó chặt vào cái cáng làm bằng lưới. Anh được kéo lên trong lúc mưa rơi đầy mặt. Khi được ròng rọc kéo lên, cành cây quẹt hết vào ngưởi, anh cố gạt chúng ra nhưng cũng phải bỏ cuộc. Lát sau Severson đã nằm trên sàn chiếc trực thăng. 1 bác sĩ của tiểu đoàn bắt đầu cứu chữa cho anh ngay lập tức.
Cũng chỉ có 2 hay 3 lính từ chỗ của Ligon được bốc ra trước khi thời tiết xấu khiến hoạt động đó phải chấm dứt.
Binh nhất Lytle thực hiện 1 trong những chuyến cuối cùng mang thương binh từ vị trí của Ligon về chu vi phòng thủ của Okendo. Lúc đó anh đang dìu 1 lính bị mù quay về thì trời đã tối. Chuyến đi bình thường trong rừng chỉ mất 15 phút đã kéo dài tới 1 giờ do Lytle cứ vấp ngã liên tục. Anh cố chống lại nỗi sợ hãi, ko muốn rũ bỏ trách nhiệm đang gánh. Cuối cùng anh cũng nghe thấy những tiếng nói. Tiếng lính Mỹ. Anh loạng choạng bước vào nơi trú quân với tâm trạng nhẹ nhõm.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngthi96
Thành viên

Bài viết: 498
|
 |
« Trả lời #43 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2014, 09:31:21 am » |
|
Tối hôm ấy, trong khi đang giúp chăm sóc thương binh, Lytle vui mừng gặp lại 1 người bạn từ hồi ở căn cứ Fort Benning là trung sĩ Orville Smith. Smith là 1 fan cuồng nhiệt của loạt phim truyền hình Combat nói về thế chiến II, giờ đang nằm lặng lẽ hút thuốc dưới nền đất rừng ẩm ướt với 2 chân dập nát. Lytle nhắc: “Smitty, đừng hút thuốc.”
“Tớ biết làm gì bây giờ?” anh bạn trả lời.
Sau đó Lytle ngồi chăm chú nghe người bạn tả lại cảnh đường đạn súng máy của quân Bắc Việt cày xuống mặt đất trước mặt rồi trước khi đạn xé nát 2 chân.
“Bây ạ” trung sĩ Smith nói: “cứ y như trong phim Combat vậy.”
Lytle ko thể tin nổi điều cậu ta nói.
Trung úy Allen lập vị trí chỉ huy phía sau 1 bụi tre lớn khoảng 10m. Anh bố trí tiểu đội của trung sĩ William Dunston phía trước bụi tre làm chốt cảnh giới tiền tiêu. Allen chắc mẩm đêm đó đối phương sẽ tấn công. May thay, điều đó đã ko chở thành hiện thực.
Những người còn lại trong cái tiểu đoàn 4/503 bị đánh tả tơi đã trải qua 1 đêm thống khổ. Hầu hết lính tráng đều đã vứt ba lô lại chỗ mà họ chạm địch đầu tiên, chỉ 1 số ít là còn giữ được poncho hay quần áo ấm thì họ cũng đã đem nhường chúng cho thương binh rồi.
Đêm đó người bị thương chính là những người cực khổ nhất. Thuốc men, dụng cụ y tế thì có hạn, lính cứu thương cũng ko thể làm gì nhiều giúp giảm bớt sự đau đớn của bọn họ. Những tiếng la hét, rên rỉ của họ vang lên trong đêm, khiến những người lành lặn bị ám ảnh. Một cậu lính gào lên: “Tôi muốn gặp mẹ. Mẹ ơi! Mẹ đâu rồi! Tôi muốn gặp mẹ.”
Những người khác thì vật nài xin morphine, gọi tên vợ hay khóc lóc.
Sáng sớm ngày 11 tháng 7, trung úy Deems gọi điện bảo trung úy Allen: “Tổ chức tuần tiễu bên ngoài và trinh sát ngọn cao điểm.”
Allen truyền lệnh lại cho trung sĩ Dunston. Dunston trả lời ngay tức thì: “Six, trinh sát ngọn cao điểm mà làm gì? Mình đang ở giữa vị trí của bọn khốn mà.”
Điều này là đúng sự thật. Chỉ cách chỗ tiểu đội của Dunston canh gác suốt đêm vài mét là những cái hầm mà lính Bắc Việt bỏ lại. Allen cho trung đội mình lên lục soát ngay phía trước mặt và mau chóng thấy ngay rằng chỗ đóng quân của 2 đại đội mới bị đập tơi tả kia nằm ngay cạnh 1 khu trú quân của bộ đội Bắc Việt. Lính dù đã đếm được gần 60 hầm chiến đấu và hố cá nhân quanh bao quanh nơi đó. Nhiều cái có nóc làm bằng các súc gỗ và đắp đất dày tới 2m bảo vệ.
Khi trung đội của Allen tiến sâu hơn vào trại địch, họ tìm thấy 1 số dấu vết chứng tỏ sự hiện diện của quân Bắc Việt ở đây là khá lớn.
Specialist Duffy tới 1 khu vực có nhiều bếp nấu ăn, 1 khu nhỏ có các căn hầm chỉ huy nằm ngay trung tâm khu trại. Đó đây là những đồ trang bị, đạn dược bị bỏ lại. Nhưng ko tìm thấy 1 lính Bắc Việt nào cả.
Trung úy Allen báo cáo những điều phát hiện về Deems, anh này chuyển báo cáo tới đại úy Phillips. Deems gọi lại bảo Allen tiếp tục lục soát khu vực và vẽ sơ đồ các vị trí địch trên cao điểm.
Ngay khi sương mù đặc quánh buổi sáng tan đi, máy bay trực thăng đã bay đến thả cưa máy xuống. Mất hơn 2 giờ làm việc vất vả, nhưng cuối cùng thì 1 bãi đáp hoàn chỉnh cũng đã được hoàn thành. Thương binh được đưa lên nững trực thăng tải thương đang treo lơ lửng trên các gốc cây từ 3 đến 4 mét. Thời tiết bất lợi khiến cho những chuyến trực thăng tải thương thường xuyên bị đình trệ. Tới tận 19g00 thì những thương binh cuối cùng mới được đưa lên máy bay.
Đến giữ buổi sáng thì trung tá Jackley đáp xuống bãi đáp của Okendo. Xuống cùng ông có đại úy Grosso; thiếu tá Roy V. Peters – 1 cha tuyên úy và thượng sĩ cố vấn tiểu đoàn Ted G. Arthurs.
Arthurs là 1 hạ sĩ quan cao cấp lo việc giữ gìn kỷ cương trong binh sĩ. Lính lác rất sợ cái cái dáng dấp đường bệ của ông ta. Họ càng khiếp hãi hơn vì ông này cạo đầu nhẵn thín. Arthurs lại khoái cái biệt danh: “đầu c” của mình. Đây là 1 biệt hiệu do 1 tên lính gây rắc rối mà Arthurs đã xử lý kỷ luật hồi ở căn cứ Fort Campbell đặt. Arthurs còn làm tăng thêm dáng vẻ hung bạo của mình bằng cách thỉnh thoảng tru lên như chó sói vào những lúc cần thiết. Các sĩ quan trong tiểu đoàn đặc biệt tôn trọng Arthurs, còn lính tráng thì biết ông tất cả những gì ông làm cũng chỉ để cho bọn họ được tốt hơn.
Đại úy Phillips báo cáo cho trung tá Jackley tình hình của mình mấy bữa qua. Sau đó Jackley và Arthurs đi đến giữa đám lính dù, nghe họ kể chuyện và biểu dương hành động của họ. Jackley đặc biệt khen ngợi trung úy Ligon. Sự can đảm và bình tĩnh của Ligon đã ngăn được thảm họa và giảm thiểu tổn thất đáng ra họ phải gánh chịu.
Khi Jackley và Arthurs đi thăm thú xong. Thượng sĩ Okendo đi đến chỗ ông bạn thượng sĩ cố vấn của mình. Okendo kể cho Arthurs về hành vi hèn nhát của trung đội trưởng và tên thượng sĩ nhất . Arthurs báo lại đầu đuôi sự việc cho trung tá Jackley. Khi đã hiểu vụ việc, Jackley lệnh 2 tên kia lên chuyến trực thăng sau. (Dù các binh sĩ trên cao điểm 830 đều muốn đưa 2 gã đó ra tòa án binh, chúng rốt cuộc chỉ đơn giản là bị thuyên chuyển khỏi lữ đoàn).
Lúc này trung úy Allen đã hoàn tất việc lục soát chiến trường. Anh tìm thấy 3 xác lính Bắc Việt và 3 khẩu AK-47. Khi mang mấy khẩu súng về chu vi phòng thủ thì nhìn thấy trung tá Jackley. Cảm thấy tự hào vì thành tích của mình, Allen sải bước đi thoăn thoắt đến chỗ vị trung tá và nói: “Thưa sếp, tôi là trung úy Allen. Đây là 3 khẩu súng tôi thu được và đây là sơ đồ vị trí quân Bắc Việt.”
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngthi96
Thành viên

Bài viết: 498
|
 |
« Trả lời #44 vào lúc: 13 Tháng Sáu, 2014, 09:16:27 am » |
|
Jackley nhìn anh rồi chỉ tay trả lời: “Tốt hơn cậu hãy đem mấy khẩu súng tới chỗ trực thăng kia, trung úy, nếu ko tôi đá đít cho bây giờ.”
Allen choáng váng trước những lời khiển trách. Anh ko rõ vì sao mà trung tá lại nổi giận nhưng cảm nhận thái độ cay nghiệt đó có lẽ là do ông ta chưa đánh giá đúng những sự việc đã xảy ra trên mặt đất. Sau lần đó anh trở nên ghét Jackley.
Sáng 11 tháng 7, thiếu tá Peters tổ chức thánh lễ. Buổi lễ được rất nhiều người tham dự. Phần còn lại trong ngày và sau đó, 3 đại đội tiến hành lục soát kỹ lưỡng chiến trường tìm kiếm xem có thương vong nào của quân mình còn sót lại, xác quân địch cùng những đồ dùng của bộ đội Bắc Việt có giá trị tình báo. Đại úy Phillips tiến hành 1 chuyến tuần thám tới chỗ anh chạm địch. Những ba lô mà lính của đại đội vứt lại vẫn còn nguyên vẹn.
Gần đỉnh cao điểm 830, trong 1 khu đất trống nhỏ, mà Phillips nghĩ là vị trí chỉ huy của địch, anh đã tìm thấy 1 xác lính quân mình. Thi hài được trân trọng, cẩn thận cuốn vào trong tấm poncho. Phillips dậy lên lòng thương cảm, kính trọng người lính trẻ dũng cảm này.
Trên cao điểm còn tìm thấy thêm 2 khu lán nữa. Tất cả đều được làm rất tốt chứng tỏ địch đã đóng ở đây trong 1 thời gian dài.
Ngày 12 tháng 7, đại đội của trung úy Deems phát hiện 1 lính Bắc Việt bị thương ở sườn tây nam cao điểm 830. Người này rất sợ hãi và nói mình chỉ là quân y sĩ mới ở ngoài Bắc vào. 1 chuyến trực thăng đặc biệt được gọi đến để chở anh ta về Đắk Tô chữa trị và thẩm vấn.
Kết quả cuối cùng của việc lục soát chiến trường là đã tìm thấy 9 xác bộ đội Bắc Việt cùng với 1 lượng nhỏ súng ống, đạn dược và đồ đạc linh tinh khác.
Cùng với thiếu tá Williams và điện đài viên của ông này, tiểu đoàn 4 trung đoàn 503 còn có thêm 22 người chết, 62 người bị thương. (Đại đội Alpha chết 10, bị thương 32; Bravo chết 9, bị thương 24; Dog có 1 chết, 2 bị thương; đại đội chỉ huy có 2 tử trận và 4 bị thương.)
Chiều ngày 12 tháng 7, đại đội Bravo được rút ra thay bằng đại đội Charlie của trung úy Connolly. Để bù đắp cho những tổn thất, thượng sĩ cố vấn Arthurs đã kêu gọi sự tình nguyện của những binh sĩ trợ chiến ở tuyến sau. Kết quả thật là tuyện vời! Lính nấu bếp, quân cảnh, công binh và lính văn phòng đều xung phong ra trợ giúp cho những anh em trên các đại đội ở tiền tuyến.
Dù trung úy Ligon đã chỉ huy xuất sắc đại đội Bravo trên cao điểm 830, anh vẫn chưa đủ thâm niên để có thể chỉ huy tiếp tục. Đại đội phó của đại đội Alpha là trung úy George T. Baldridge đã về nắm Bravo, ít lâu sau Baldridge được thăng lên làm đại úy.
Ngày 13 tháng 7, 3 đại đội tiến về phía nam cao điểm 830, lần theo dấu quân Bắc Việt đang lẩn trốn. Những tiểu đội xích hầu ngay lập tức đi tìm những trang bị địch quân bỏ lại. Họ lần theo những vết máu trên dường mòn. Hầu hết ko có kết quả gì nhưng cũng có một số lần chúng đã dẫn tới nơi chôn những cái xác còn mới.
Hành trình khổ ải xuyên qua những ngọn núi hoang vu lại tiếp diễn ko ngưng nghỉ trong lúc trời mưa như trút. Các “thiên binh” vừa bị ướt, lạnh vừa đói và mệt, lưng còng xuống dưới cái ba lô nặng trĩu vừa phải vật lộn với bùn lầy đặc quánh níu lấy chân. Việc tiến quân diễn ra rất chậm chạp, mỗi ngày chỉ đi được có vài trăm mét.
Cha Peters đã tình nguyện ở lại hành quân với những đại đội chiến đấu. Sinh trưởng ở Sacramento, California; Peters làm linh mục từ năm 1948 và là sĩ quan chính quy lục quân vào năm 1960. Ở tuổi 42 trông ông vẫn rất vạm vỡ. Là cha tuyên úy nhưng điều này ko có nghĩa là ko phải làm việc, thật vậy, ông cũng tham gia vác mìn Claymore. Sức nặng của chúng khiến cho ông khó nhọc hơn khi lội bùn trong rừng, nhưng cha Peters biết rằng việc ông hiện diện đã giúp động viên những lính dù trẻ tuổi. Chừng nào vị linh mục còn nêu gương, thì các lính dù sẽ ko phàn nàn về những nhọc nhằn họ đang phải chịu đựng.
Các đại đội lại phải chịu thêm tổn thất, tiếc thay đây lại ko phải là vì giao chiến với đối phương. Vừa qua buổi trưa ngày 15 tháng 7, thì 1 quả đạn pháo Mỹ rơi xuống ngay giữa tiểu đội đi đầu của đại đội Dog khiến 2 lính chết và 4 lính bị thương nặng.
Cũng hôm đó, tiểu đoàn 4/503 đã bắt tay với 2 đại đội thuộc tiểu đoàn 1/503 ở phía nam cao điểm 830 chừng 2,5km. Các đơn vị tổ chức cuộc tuần tiễu và họ nhanh chóng báo về tin đã tìm thấy thêm nhiều khu đóng quân của địch. Tất cả đều trống không. Có 1 chỗ rất lớn, đủ để chứa cả 1 tiểu đoàn.
Ngày 17 tháng 7, trung tá lệnh cho các đại đội di chuyển đến 1 bãi bốc quân (PZ) để về Đắk Tô. Địa hình khó khăn phức tạp khiến cho đoàn quân ko thể đến PZ kịp giờ được. Cho tới tận 9g45 ngày 18 tháng 7, thì 3 đại đội mới đến PZ và tới chiều thì tất cả được không vận về Đắk Tô.
Tiểu đoàn 4/503 ở lại Đắk Tô vài tuần rồi sẽ lại đi hành quân. Bên cạnh việc ko còn phải mang vác gần 40kg trang bị, những tuần đó có nghĩa là họ sẽ được bơi lội tắm mát trên sông Pô Kô ở phía nam căn cứ, được ăn nóng, uống bia và mua vui vài giờ với đám gái điếm trong cái nhà thổ được lờ đi cho mọc lên trong căn cứ lữ đoàn. Nhưng với 2 tiểu đoàn khác của lữ 173, thì cuộc chiến trên Cao nguyên trung phần vẫn đang tiếp diễn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngthi96
Thành viên

Bài viết: 498
|
 |
« Trả lời #45 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2014, 09:16:26 am » |
|
Chương 6 Tuy Hòa
Trong khi tiểu đoàn 4/503 nhận quân bổ sung và huấn luyện bắn đạn thật cho họ, các tiểu đoàn 1 và 2 trung đoàn 503 vẫn tiếp tục truy tìm cá đơn vị đang lảng tránh của Bắc Việt. Người tù binh mà đại đội Dog, tiểu đoàn 4/503 bắt được đã khai với những thẩm vấn viên rằng anh ta là thành viên của tiểu đoàn K-101D, trung đoàn Độc Lập. Dựa trên thông tin của hắn và từ nhiều nguồn khác, tình báo Mỹ tin rằng các đơn vị đối phương, như trung đoàn 24, trung đoàn 174 bộ đội Bắc Việt cùng nhiều đơn vị nhỏ VC vẫn đang hoạt động trong khu vựa ngã ba biên giới với mục tiêu tiêu diệt các trại biệt kích. Tướng Deane quyết tâm săn đuổi bộ đội Bắc Việt, những kẻ đã đánh bầm dập các đơn vị của ông ta, nên đã tung các đại đội đi hành quân dã ngoại để tiến hành các chiến dịch tìm diệt. Deane hy vọng sẽ giao chiến 1 trận quyết định với đối phương và sẽ khiến cho địch phải từ bỏ nỗ lực kiểm soát vùng tam biên.
Kế hoạch lớn lao của tướng Deane cũng chẳng làm các “thiên binh” quèn quan tâm lắm. Tất cả những gì anh ta biết là cứ phải hành quân nhọc nhằn qua những ngọn núi, những thung lũng tẻ ngắt của Tây Nguyên hết ngày này qua ngày khác. Những người lính còn chịu thêm nỗi khổ cực vì những cơn mưa dầm dề bất tận suốt mùa mưa. Ngày nào cũng mưa suốt với lượng mưa từ 50 đến 80mm, ngâm nước cả ngày khiến những lính dù đang mệt mỏi cùng cực cảm thấy thân thể như bị mục nát. Rừng biến thành vũng lầy làm cho họ phải rất cố gắng mới cất được 1 bước. Có những hôm các “thiên binh” trượt ngã toành toạch nhiều đến nỗi dường như họ mình đang dậm chân tại chỗ.
Binh nhất Michael Nale gia nhập đại đội Bravo, tiểu đoàn 2/503 ngay sau khi nó thất bại trong nỗ lực cứu đơn vị anh em của nó là đại đội Alpha hôm 22 tháng 6. Là 1 anh chàng dễ mến quê Florence, Alabama. Nale đã được huấn luyện làm cả lính cứu thương lẫn lính bộ binh. Trong mấy tháng đầu tiên với đại đội Bravo, Nale khám phá ra rằng mình sử dụng kỹ năng cứu thương tốt hơn là chiến đấu. Do có quá nhiều người bị trượt ngã trong quá trình hành quân vất vả, nên hầu như ko ngày nào ko có những người bị thương.
Có hôm, khi đại đội Bravo đang chật vật cố leo lên sườn 1 cao điểm dốc thì 1 lính dù bị trượt chân ngã sấp. Không kịp hãm lại anh này trượt luôn xuống chân cao điểm và chỉ dừng lại khi mắc vào 1 bụi tre. Cú va chạm quá mạnh 1 khiến đoạn tre dài đâm xuyên qua cánh tay rồi thọc vào nách người lính. Nale đã rút gióng tre ra, khâu và băng bó sơ cho tay “thiên binh” trong lúc chờ máy bay tản thương đến.
Thứ mà lính dù ghét nhất chính là vắt. Chúng là những sinh vật sống đầy trong rừng rậm. Các “thiên binh” phải kiểm tra kỹ càng trong người nhiều lần trong ngày vì cái loại sinh vật ghê tởm này. Hiếm có “thiên binh” nào may mắn thoát khỏi việc bị chúng hút máu. Khi bị phát hiện, người ta phải dùng đầu thuốc lá đang hút hay thuốc chống côn trùng để buộc chúng nhả ra. Nhưng cũng có lúc việc này cũng không thể làm được. Có lính dù trong đại đội của Nale đã phải lên trực thăng đi tản thương sau khi bị 1 con vắt chui vào dương vật. Những “thiên binh” khác thì bị vắt chui vào tai và lỗ mũi trong khi họ đang ngủ. Loại sinh vật này có lẽ là loài kinh tởm nhất sống trong rừng.
Khi tiếp tục truy đuổi quân Bắc Việt, lính dù đã di chuyển xa nữa về phía tây, gần biên giới Campuchia. Vào cuối tháng 7, đại đội Bravo, vẫn do đại úy Willoughby chỉ huy đã tiến hành đi tuần tiễu cách biên giới 7km về phía đông. Trong gần 1 tuần, họ sục sạo ở sườn bắc 1 ngọn cao điểm lớn nằm ở rìa tây thung lũng sông Đắk Krông. Khu vực đồi núi trùng điệp này, với cao điểm 875 là cao nhất, có rất nhiều dấu hiệu cho thấy sự hiện diện của bộ đội Bắc Việt. Họ đã nhiều lần bắt gặp các lán trại bị đối phương bỏ lại. Nale đã thấy những mũi tên chỉ hướng được khắc vào vỏ cây, và đôi khi thấy quân Bắc Việt dùng cả các mũi tên của người Thượng để chỉ lối đi trong khu rừng rậm rạp.
Vào đêm 20 tháng 7, 1 cơn bão rất mạnh đã đổ bộ xuống khu vực này. Suốt đêm trên các mỏm núi sấm sét nổ vang trời. Sau 1 ánh chớp nhoáng nhoàng, Nale nghĩ mình đã nhìn thấy 1 lính Bắc Việt đang đứng ngoài chu vi phòng thủ. Anh la lên cảnh báo cho người đồng đội cùng hầm chiến đấu của mình. Nhưng khi có ánh chớp tiếp theo đánh xuống thì ko nhìn thấy gì nữa. Với Nale cùng các chiến hữu khác thì đêm đó là 1 đêm đầy ma quái.
Bình minh hôm sau đại đội Bravo trở dậy và lên đường. Trung úy McDevitt ngày càng thêm kính trọng đại úy Willoughby sau 1 tháng đến đại đội Bravo. Với McDevitt, Willoughby là 1 chỉ huy xông xáo ko hề ngại giáp chiến với kẻ thù.
Khi đại đội Bravo hướng tới phía bắc cách cao điểm 875 khoảng 500m. Đại úy Willoughby đã chào mừng khu rừng đằng trước bằng cách cho dựng lên 1 bức tường lửa pháo binh dập xuống vài trăm mét phía trước đường hành quân. Như vẫn thường hay xảy ra trong chiến tranh, 1 quả đạn hụt tầm đã rơi xuống rất gần đại đội Bravo.
Trung úy McDevitt cùng lính điện đài của mình vừa đi qua chỗ thượng sĩ nhất của trung đội, 1 tay gầy nhẳng người gốc Tây Ban Nha tên là Gonzales thì nghe thấy tiếng rít ko thể lẫn được quả đạn pháo rơi gần. “Pháo kích!” McDevitt gào lên và cùng với cậu lính điện đài nhào tới 1 hõm đất phía trước mặt. Thượng sĩ nhất Gonzales đã phi tới trước bọn họ. Anh ta lao xuống cái hố. McDevitt cùng điện đài viên chen chúc trên người anh này. Ít giây sau trái đạn ‘thân thiện’ phát nổ nghe lộng óc chỉ cách chỗ đó có mấy mét. McDevitt cố rúc xuống chỗ sâu nhất có thể để đợi quả đạn kế tiếp.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
linh_8_78_88_68
Thành viên

Bài viết: 793
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa....
|
 |
« Trả lời #46 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2014, 10:04:56 am » |
|
Đây là Clip về trãn đánh trên Đồi 875 của Lử đoàn Dù 173: lính Mỹ đã bị phục kích và bị bọc hậu, chẳng những thế còn bị bom của đồng đội họ dội nhầm, mất thêm hơn 40 tay súng vào hôm sau: https://www.youtube.com/watch?v=XJhyMs9b-zU
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngthi96
Thành viên

Bài viết: 498
|
 |
« Trả lời #47 vào lúc: 17 Tháng Sáu, 2014, 09:27:28 am » |
|
Willoughby nhảy vào tần số pháo binh và gào lên với trung tâm chỉ huy hỏa lực (FDC): ““Check fire! Check fire! Con mẹ nó! check fire!”
Khi người trong trung tâm chỉ huy hỏa lực hỏi Willoughby cự ly để hiệu chỉnh thì Willoughby bừng bừng nổi giận hét vào ống nói: “Hiệu chỉnh cái con c..!, thằng chó nào còn bắn 1 quả kiểu thế này nữa là tao giết đấy!”
Sau đó Willoughby chỉnh đốn lại đội hình đại đội đang tản mát rồi lại tiến lên.
Vừa qua buổi trưa thì tiểu đội của Nale lên đi dẫn đầu. Lúc này ko có pháo binh yểm trợ nên cứ được vài mét họ lại trinh sát bằng hỏa lực bằng cách bắn phứa vào cây rừng phía trước mặt. Nale được trang bị 1 khẩu súng phóng lựu M79, trong khi những người khác nã hàng tràng đạn M16 thì Nale câu tới vài viên đạn nổ. Họ làm cái ‘bài’ này được vài lần cho đến lúc tiến đến 1 cái gì nhỏ đầy cây cối thì bất ngờ Nale thấy có luồng đạn vạch đường xanh lét bay vụt qua đầu. Chỉ có bộ đội Bắc Việt mới dùng đạn vạch đường màu xanh lá cây.
“Nằm xuống!” có ai đó hét lên.
Trước đó Nale chưa bao giờ phải nằm dưới hỏa lực địch nên anh cứ phục xuống tại chỗ chờ xem mọi người làm gì.
Và người mà anh đang chờ chính là Willoughby. Nale kinh ngạc nhìn đại đội trưởng xông lên phía trước, gào tướng lên trong khi miệng vẫn ngậm mẩu xì gà “Lên chiếm mỏm cao điểm chó chết này đi! Tụi bây.”
McDevitt cũng nghe thấy Willoughby ra lệnh. Anh rất ngạc nhiên “Chó thật!” anh chửi đổng “Nếu anh muốn lấy mỏm cao điểm khốn kiếp ấy đến thế thì tự lấy đi mà lấy.” Nhưng rồi anh cũng đứng dậy và bắt đầu dẫn trung đội tiến lên.
Willoughby dẫn đầu, xả đạn bằng khẩu súng cắp ngang hông trong khi đại đội tản rộng ra xông đến.
Nale và cậu bạn thân là binh nhất Doug Roth tiến lên phía trước. Những trái đạn B-40 lao đến nổ tung xung quanh, ko đếm xỉa tới sự nguy hiểm, cả 2 xông đến gần 1 cái hầm chiến đấu. Trong khi Roth bắn M16 kìm ko cho lính phòng thủ trong đó ngóc đầu lên thì Nale ném lựu đạn. Súng trong hầm liền câm bặt.
Xung quanh họ các lính dù khác cũng đều đều tiến tới, khiến cho kẻ địch phải kinh ngạc trước cuộc tấn công táo bạo. 1 người bạn của Nale là binh nhất Varoli, sử dụng khẩu M60. Anh này nâng khẩu súng nặng nề trên cánh tay trái, kéo theo 1 dây đạn dài phía sau trong khi khoan thai tiến lên trước. Khẩu súng rung lên bần bật khi anh nã đạn, mặc kệ những đường đạn đang nhắm vào mình cùng những trái đạn B-40 nổ gần đó.
Varoli tiêu diệt được mấy căn hầm của quân Bắc Việt thì vận may kết thúc. 1 trái B-40 bắn trúng đám cây rừng ngay trước mặt anh. Sức nổ khiến anh ngã sóng xoài, khẩu M60 văng khỏi tay. Mảnh đạn găm chi chít vào tay, chân. Varoli đã đến nam VN từ tháng 4 và là 1 lính cũ đã trải qua hàng chục trận đụng độ. Anh đã vượt qua hết ko hề bị xây xát gì nên bắt đầu cảm thấy mình là 1 kẻ bất khả chiến bại. Việc bị thương đã làm anh choáng váng. “Xem này, tôi bị rồi!” anh gào lên gọi các bạn. “Lũ khốn đã hạ được tôi,”, sau đó mới đi tìm lính cứu thương.
Cách đó 1 quãng Nale và Roth vẫn đang tiếp tục chiến đấu. Với Nale thì trận đánh có vẻ hỗn loạn, tiếng nổ khắp nơi, những luồng đạn vạch đường xanh lét bay vèo vèo qua đám cây cối và tre trúc, tất cả đều kêu gào bằng đủ thứ tiếng và tuôn ra đủ mọi từ tục tĩu. Anh có thể nghe thấy đằng sau mình tiếng trung sĩ nhất Edward Kitchen chạy đi chạy lại như con thoi, đốc thúc mọi người giữ vững hàng ngũ.
Hầm chiến đấu của bộ đội Bắc Việt được bố trí ở những chỗ khiến rất khó phát hiện ra trong tán lá rậm rịt. Nale và Roth đã nhảy ngay lên 1 cái như thế, ko hề biết đến mối nguy cho đến khi lính dù ở đằng sau hét lên cảnh báo. Chính “thiên binh” này là người đã dùng súng trường diệt 2 hầm Bắc Việt.
Nale và Roth tiếp tục tiến công. Bỗng có 1 thứ gì đó bay vù qua giữ 2 người lính dù. Theo bản năng Nale lăn đi. Mảnh của trái đạn B-40 nổ đã găm vào tay phải, cổ, và hất văng anh xuống 1 cái hố nông. Trong khi rơi xuống 1 phát đạn bắn tỉa của Bắc Việt đã làm xước lưng Nale. Roth nằm ngay cạnh đó, máu chảy ra rất nhiều từ 1 vết thương trên trán.
Nale tìm được khẩu M79 của mình, nhét 1 trái đạn vào và bắn. Anh nghĩ lính bắn tỉa địch núp ở trên đỉnh mấy bụi tre. Những trái đạn của anh đã phá tan chúng ra.
Ít phút sau Nale lại phải sửng sốt khi nhìn thấy 1 lính dù khác. 1 cựu võ sĩ quyền Anh gan lì được mọi người gọi là “Mugsy”, lãnh 1 phát đạn ngay giữa ngực. Nale thấy viên đạn xuyên qua Mugsy, trổ ra sau lưng rồi rớt độp xuống đất. Đây là khoảnh khắc cực kỳ sống động nhưng rất thật khiến cho Nale cứ ngỡ mình đang xem 1 kỹ xảo đặc biệt trên truyền hình.
Khi Mugsy ngã ngửa ra sau, anh ta còn tìm ra tên bắn tỉa, bắn và giết chết hắn trước khi lưng chạm mặt đất. Nale ko thể tin vào mắt mình nữa.
Ít phút sau, trận đánh đột ngột chấm dứt. Hành động táo bạo của đại úy Willoughby đã khiến quân Bắc Việt kho thể chống nổi. Lính dù đại đội Bravo tìm thấy 13 xác lính địch. Có 10 “thiên binh” bị thương, ko ai bị giết.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngthi96
Thành viên

Bài viết: 498
|
 |
« Trả lời #48 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2014, 08:46:15 am » |
|
Căn cứ vào những thứ tìm được, trung úy McDevitt đã kết luận rằng đây là cuộc đụng độ với 1 trung đội Bắc Việt có nhiệm vụ chặn hậu trong khi 1 đơn vị lớn hơn đã đi thoát. Khi tiến hành lúc soát gò đất, anh tìm thấy nhiều vị trí dành cho lính bắn tỉa địch ở trên các ngọn cây và bụi tre, làm theo kiểu tổ chim làm từ những thân cây được buộc túm vào nhau. Tài khéo léo của đối phương làm cho McDevitt rất ấn tượng.
Trong khi lữ đoàn dù 173 rình mò quanh những khu rừng phía nam Đắk Tô, thì bộ đội Bắc Việt bắt đầu gây áp lực với 2 trại biệt kích nằm biệt lập xa về phía bắc. Trong nửa cuối tháng 7, hầu như đêm nào cũng vậy, tại Đắk Siêng và Đắk Pék (Đức Phong. ND), cách Đắk Tô 20 và 45km về phía bắc, đều bị pháo kích bằng súng cối, rocket và súng không giật (DKZ). Sáng ngày 3 tháng 8 năm 1967, 1 đại đội biệt kích CIDG đã chạm súng với 2 đại đội Bắc Việt cách tây Đắk Siêng 1km. Quân cứu viện cho họ cũng bị tiến công. Mãi đến đầu giờ chiều thì trận đánh mới kết thúc.
Vì trại có khả năng bị tiến công, tiểu đoàn 1, trung đoàn 42 bộ binh VNCH gấp rút được đưa tới khu vực. Cùng ngày hôm đó các tiểu đoàn nhảy dù số 5 và 8 VNCH cũng được trực thăng vận lên Đắk Siêng.
Khi tiểu đoàn 8 nhảy dù tiến ra phía tây Đắk Siêng sáng hôm sau họ vấp phải 1 lực lượng mạnh quân Bắc Việt cố thủ trong công sự phía ngoài trại. Trận đánh đã kéo dài mấy giờ đồng hồ trước khi phía Bắc Việt rút lui.
Tiểu đoàn 8 dù VNCH trụ lại đó và đẩy lùi các cuộc tiến công nhưng phải chịu thương vong nặng nề. Nhờ vậy mà tiểu đoàn 5 nhảy dù đã vượt qua họ và chiếm được mỏm cao điểm nằm ở phía tây. Họ tìm thấy 1 nơi đóng quân quy mô cấp trung đoàn của quân Bắc Việt với những căn hầm và 1 hầm chỉ huy bên trong có cả sa bàn mô phỏng chi tiết trại biệt kích Đắk Siêng. Những tài liệu để lại sau khi đối phương vội vã triệt thoái cho thấy, chủ nhân của nơi này là trung đoàn 174 Bắc Việt.
Những cuộc đụng độ dữ dội xảy ra ngay gần Đắk Siêng cùng các trận bắn phá ban đêm vào Đắk Pék khiến cho tướng Peers tin rằng đối phương đang chuẩn bị cho 1 cuộc tiến công vào trại biệt kích này. Do đó ông ta cho rút tiểu đoàn 1, trung đoàn 503 đang ở trong rừng gần cao điểm 830 ra và đưa họ đến Đắk Pék. Họ lên tới nơi chiều ngày 4 tháng 8 và tới mùng 9 thì có thêm tiểu đoàn 4/503 tới gia nhập.
Tiểu đoàn 4/503 đã có chỉ huy mới khi lên đường. Đại tá Jackley được trung tá James H. Johnson tới thay hôm mùng 4 tháng 8. Là người Washington, D.C, 38 tuổi, Johnson vào quân ngũ từ khóa đào tạo sĩ quan dự bị ở trường đại học Maryland và được phong sĩ quan tháng 6 năm 1950. Sau khi phục vụ ở Triều Tiên ông tiếp tục chọn theo sự nghiệp quân sự. Trong thời gian đóng quân ở Berlin đầu thập niên 1960, Johnson đã làm việc cùng tướng Deane. Khi Johnson có lệnh sang nam VN, Deane đã xin điều ông về lữ 173.
Lúc nhận quyền chỉ huy tiểu đoàn mới, Johnson đã vội nhận xét ngay là lính tráng nhếch nhác, chỗ ở thì dơ dáy, kỷ luật lỏng lẻo. Ông cảm thấy 1 số sĩ quan tham mưu trong tiểu đoàn có thái độ tiêu cực nên cần phải loại ra ngay. Ông cho rằng những rắc rối và tinh thần chủ bại lan tràn lúc này là do các tổn thất trong trận đánh ngày 10 tháng 7. Johnson lập tức siết chặt sự kiểm soát, chỉnh đốn quân kỷ để khôi phục lại sự tự tin và nhuệ khí trong binh sĩ.
Không phải tất cả các sĩ quan và binh lính trong tiểu đoàn đều đồng tình với những đánh giá của Johnson. Ví dụ như trung úy Connolly, cảm thấy những qui kết cay nghiệt của vị tiểu đoàn trưởng mới là do ông này có hiểu biết hạn chế về tình cảnh chiến đấu của lính dù ở đây. Rất khó khăn, nếu ko thể nói là không thể, để duy trì điều kiện sống tươm tất, chỉnh chu trong mùa mưa ở Tây Nguyên.
Ngày 10 tháng 8, 2 tiểu đoàn dù bắt đầu tổ chức hành quân tìm – diệt ở vùng phía tây và nam Đắk Pék. Mỗi đại đội đều có biệt kích CIDG đi phối thuộc. Các lực lượng đồng minh đã phát hiện 1 số nơi trú quân của đối phương nhưng ko thấy lính Bắc Việt nào. Họ đã hành quân vất vả suốt 10 ngày nhưng ko hề chạm địch. Tướng Peers kết luận là những phản ứng nhanh chóng của ông khi thấy Đắk Pék bị đe dọa đã làm kế hoạch của quân Bắc Việt bị cản trở. Thông tin tình báo cũng xác nhận rằng bộ đội Bắc Việt đã rút sang Lào.
Hai tiểu đoàn dù được trực thăng vận về Đắk Tô ngày 20 và 21 tháng 8. Các tiểu đoàn dù VNCH cũng đã rời khỏi khu vực và trở về doanh trại của họ gần Sài Gòn.
3 tiểu đoàn của lữ 173 còn đi tuần tiễu trong vùng rừng núi quanh Đắk Tô thêm mấy tuần nữa. Dựa trên tin tức tình báo, các đại đội súng trường tiếp tục tìm kiếm kẻ thù. Tuy nhiên cũng khó khăn như việc tìm kiếm, chẳng thấy gì đáng kể để cho họ diệt cả. Rất nhiều “thiên binh” cho rằng bộ đội Bắc Việt đã hoàn toàn rút bỏ vùng này.
1 thành phần quan trọng trong việc tìm kiếm quân Bắc Việt là những toán viễn thám (LRRP) của lữ đoàn. Đó là những lính tình nguyện gan dạ hoạt động theo từng toán nhỏ, tiến xa phía trước các đại đội súng trường. Nhiệm vụ của họ là luồn sâu bí mật trong rừng để tìm kiếm dấu vết kẻ địch. Vì quân số các toán viễn thám thường chỉ có 5 người, nên họ chủ động tránh đụng độ với đối phương. Việc của họ là tìm ra kẻ thù chứ ko phải là giao chiến với chúng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
ngthi96
Thành viên

Bài viết: 498
|
 |
« Trả lời #49 vào lúc: 19 Tháng Sáu, 2014, 08:18:58 am » |
|
Đại úy Thomas H. Baird chỉ huy các toán viễn thám gần như suốt mùa hè năm 1967. Là 1 quân nhân xuất sắc, tốt nghiệp West Point khóa 1961. Năm 1964 anh đã tình nguyện tham gia khóa huấn luyện biệt kích. Sau khi tốt nghiệp anh mặc sắc áo lính mũ nồi xanh và sang nam VN. Trong 6 tháng từ tháng 11 năm 1964 đến tháng 4 năm 1965, Baird chỉ huy 1 toán A, là đơn vị biệt kích thường phụ trách 1 lực lượng quân CIDG đóng trên các tiền đồn biệt lập như vẫn thấy ở vùng Tây Nguyên này.
Dù đã lập gia đình và có 2 con nhỏ, tháng 3 năm 1967, Baird vẫn quay lại nam VN. Anh đã yêu cầu thuyên chuyển sang lữ 173 vì biết đây là 1 đơn vị danh tiếng lẫy lừng. Anh làm sĩ quan hành quân của tiểu đoàn trợ chiến lữ đoàn trong 3 tháng rồi có cơ hội chỉ huy lực lượng viễn thám khi đại úy Alan Phillips sang nắm đại đội Alpha, tiểu đoàn 4/503.
Gốc biệt kích của Baird khiến anh trở thành 1 chỉ huy viễn thám lý tưởng. Anh biết cách hoạt động lén lút, cách thức sinh tồn, cách theo dõi kẻ thù mà ko để lộ vị trí. Dù việc hành quân của Baird gắn trong phạm vi khu vực tác chiến (AO) và đặt dưới sự chỉ đạo và giám sát của phòng tình báo (S-2), thỉnh thoảng anh vẫn giành quyền tự quyết trên thực địa. Lính dưới quyền yêu quí anh chính vì thế. Baird hết mực bảo vệ lính của mình. Anh ko cho phép họ hành động liều lĩnh hay chiến đấu như bộ binh thường. Để đảm bảo các toán viễn thám được phục vụ bởi những người lính ưu tú nhất, Baird đích thân phỏng vấn những người nộp đơn xin vào đơn vị. Chỉ những ai đáp ứng được hết các tiêu chuẩn anh đưa ra thì mới được chấp nhận.
Có 1 người làm được như vậy đó là Sp4 Irvin Moran. Moran sinh trưởng tại Princeton, New Jersey, là thành viên nổi bật trong đội bóng chày ở đây hồi trung học. Tốt nghiệp tháng 6 năm 1965, anh lập tức nhập ngũ. Moran được huấn luyện làm quân cảnh rồi về sư đoàn dù 82 tại căn cứ Fort Bragg. Sau 1 năm làm nghĩa vụ với các công việc lặt vặt trong các vọng gác ở Mỹ. Moran tình nguyện sang phục vụ ở miền nam VN.
Tháng 2 năm 1967, Moran đặt chân lên vùng đất chiến tranh. Anh nhận nhiệm vụ trong trung đội quân cảnh của lữ 173. Phần lớn thời gian của nhiệm vụ này là hộ tống các đoàn xe và canh gác khiến cho anh cảm thấy mình chỉ đứng ngoài lề cuộc chiến. Khi nghe nói đơn vị viễn thám cần người, anh xin ứng tuyển ngay. Sau khi qua được cuộc phỏng vấn khó khăn của đại úy Baird, Moran chuyển sang viễn thám tháng 7 năm 1967.
Nhiệm vụ cơ bản của Moran và 4 người cùng toán là lên trực thăng chở quân (slick) ở Đắk Tô vào lúc trời chưa sáng. Họ được chở đến khu vực tác chiến cùng với 2 chiếc slick và 2 trực thăng vũ trang nữa đi kèm. Sau nhiều động thái nghi binh đánh lừa đối phương, lính viễn thám sẽ nhảy xuống.
Từ lúc rời khỏi trực thăng, toán quân hoạt động 1 cách thuần thục, nhuần nhuyễn. Họ dùng thủ hiệu để liên lạc với nhau, tránh ko theo các lối mòn mà đi cắt rừng, luôn cảnh giác cao khi thấy dấu vết của quân địch. Họ di chuyển từ từ, tránh gây tiếng động để khỏi bị lộ.
Nếu phát hiện 1 lực lượng quân Bắc Việt, quân viễn thám có thể sẽ gọi máy bay tới không kích hay pháo dập. Vì trận oanh tạc sẽ đánh động kẻ thù nên toán viễn thám sẽ lập tức di chuyển tới khu vực bốc quân để rút về. Sau khi nghỉ ngơi vài hôm, họ sẽ lại lên đường làm nhiệm vụ kế tiếp.
Trong hè và đầu mùa thu năm 1967, mục tiêu là rất hiếm gặp. Moran và toán của mình đã thực hiện hàng chục vụ nhưng cũng chẳng tìm thấy gì đáng kể. Có bữa, 1 toán khác đã phát hiện hàng trăm bộ đội Bắc Việt đang băng rừng gần biên giới Campuchia. Họ gọi máy bay không kích nhưng khi những chiếc phản lực tới nơi thì đoàn quân địch đã vượt qua bên kia biên giới.
Ngày 19 tháng 8, 1 toán viễn thám đã phát hiện 2 chục lính Bắc Việt đang di chuyển trong rừng. Trưởng toán là trung sĩ tiểu đội trưởng (Staff Sergeant) Charles J. Holland đã gọi pháo kích rồi sau đó lệnh cho toán tiến về điểm hẹn. Khi đang di chuyển đến bãi bốc quân thì bị lọt vào lưới lửa của số lính Bắc Việt mà họ ko phát hiện ra lúc trước. 1 cơn mưa đạn đuổi theo toán khi họ tháo chạy đến bãi bốc quân. Tới nơi thì trung sĩ Holland mới phát hiện ra điện đài của toán đã vô ý bị bỏ lại phía sau. Ko muốn điện đài lọt vào tay quân Bắc Việt, Holland đã 1 mình quay lại và ko thấy trở về nữa. Khi trực thăng tới đón, những thành viên còn lại trong toán ko còn cách nào hơn là phải lên máy bay trở về.
Xác của Holland được tìm thấy ngày hôm sau. Anh đã quay lại và lấy được cái điện đài, đeo nó sau lưng. Holland lẩn trốn và chỉ còn 1 quãng ngắn nữa là về đến toán thì bị địch quân bắn hạ.
Ngày 23 tháng 8 năm 1967, tướng Deane chuyển giao quyền tư lệnh lữ đoàn dù 173 cho chuẩn tướng Leo H. Schweiter. Schweiter tới với lữ 173 từ căn cứ Fort Campbell, nơi ông làm tư lệnh phó sư đoàn dù 101. Kinh nghiệm chiến trường đầu tiên của ông với “những đại bàng gầm thét” (Screaming Eagles) là nhảy dù xuống Normandy, nước Pháp trước bình minh ngày D, mùng 6 tháng 6 năm 1944. Hôm đó ông bị địch bắt sống rồi sau đó đã trốn thoát. Tháng 9 ông nhảy dù xuống Hà Lan và đã chiến đấu tại Bastogne, nước Bỉ trong trận Bulge vào tháng 12. Schweiter là 1 người lính rất quả cảm, ông được thưởng huân chương sao bạc vì đã tấn công và diệt 1 chiếc xe tăng của bọn phát xít ở Bastogne.
Trong chiến tranh Triều Tiên, là thành viên của sư đoàn 7 bộ binh, Schweiter đã tham gia cuộc đổ bộ bi tráng lên Inchon tháng 9 năm 1950. Vài tuần sau đó ông đã cùng sư đoàn 7 lại đổ bộ lên bờ biển phía đông của Bắc Triều Tiên. Tháng 11 ông đã tham gia vào cuộc rút lui cuống cuồng khỏi Bắc Triều Tiên và được thưởng huân chương sao bạc vì hành động anh hùng. Sau đó ông lên nắm quyền chỉ huy trung đoàn 32 bộ binh của sư đoàn 7.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|