Suốt ngày nay tôi nghĩ về cuộc gặp mặt của tướng Khuất Duy Tiến dẫn đầu đoàn chúng tôi với gia đình liệt sĩ Doanh. Tôi nhớ trên khuôn mặt sạm sụa già nua đau khổ của người đàn bà vợ liệt sĩ gần nửa thế kỉ nuôi con dựng vợ cho con vắng mặt anh. Ba đứa con trai anh Doanh nay đều ở tuổi ngoài bốn mươi đã vững vàng cơ ngơi dù là cơ ngơi chỉ những ao và rừng. Họ không có xe hơi hay những tiện nghi đắt tiền. Nắm tay các con anh toàn những nốt chai sần, nhìn các con anh khóc nức nở khi gặp lại đồng đội của cha mình khiến chũng tôi cũng rơi nước mắt. Lúc ra về đứa út sinh năm 70 cứ ôm chặt lấy tôi, chú ơi thấy được các chú về với mẹ cháu và gia đình cháu là chúng cháu và mẹ mãn nguyện rồi. Gia đình cháu biết ơn các chú lắm. Trời ơi, chúng tôi đang làm cái việc ban ơn cho người mà mình phải mang ơn đó hay sao? Cuộc đời sao cứ trớ trêu như thế với những người dân lành?
Thế là tôi viết bài thơ này
TRƯỚC DI ẢNH NGỪOI CHỈ HUY TRẬN ĐÁNH CĂN CỨ 31
Anh ngồi trên ấy
Quanh anh là những giấy khen của cháu
Là giấy chứng nhận gia đình văn hóa cho vợ con anh
Có một bà già tuổi tám mươi
nửa thế kỉ qua đêm đêm nói chuyện với người lính không về
Gần nửa thế kỉ qua người lính vẫn trẻ
Gần nửa thế kỉ qua người phụ nữ đã già
Cụ già tám mươi gọi chồng là anh
Chị với anh luôn là người còn trẻ
Tiếng chim hót ngoài vườn trẻ thế
Nước mắt trong nhà thì già nua
Anh làm nông dân ra lính
Ngày anh hi sinh lúa rét trên đồng
Ngày báo tử anh đồng sâu chìm lúa
Vợ con cúng anh chỉ sắn với rau rừng
Chẳng ai biết sự tích anh hùng
Của người nông dân ấy
Chúng tôi những người vay mượn máu và chiến công anh
Bỗng trở về ban ơn cho vợ con anh được không?
7/6/2014
