Tiểu đoàn chúng tôi theo bạn chỉ dẫn đã nhanh chóng phân tán vào các ngóc ngách trận địa. Cơm ủ nóng ăn vào đến đâu khỏe ra đến đó. Căn hầm vẫn hầm hập hơi ấm của bạn vừa dọn đi nhường chỗ cho chúng tôi. Đặt súng đạn xuống nền đất cao làm sàn ngủ, thay quần áo ướt, vươn vai choàng tấm chăn ấm lên người, thế là tổ tôi lại chuyện trò nở như ngô rang. Tuấn "vẩu" thụt hố bom khai cuộc:
- Bạn tốt quá, quá chu đáo. Chiến sĩ bạn vừa rỉ tao cho biết quân số còn lại chuyển gộp sang các đơn vị của binh đoàn. Thú thật tuy đã được đả thông tớ vẫn không thích phối thuộc kiểu này. Còn mầu cờ sắc áo truyền thống. Không gì bằng chiến đấu trong đội hình của sư đoàn mình. Các cậu thấy thế nào?
Lý tiếp luôn:
- Ai chả muốn thế. Đã quân lệnh rồi bàn làm gì? Thôi, cất chuyện đó đi!
- Này, đêm nay là đêm gì các cậu?
- Dớ dẩn. Đêm lội mưa lõm bõm, anh Tuấn "vẩu" vồ ếch suýt nữa bị lột da - Út Hồng chen ngang.
Hồng trẻ tuổi nhất hội. Tính chi ly ngày tháng em mới mười bẩy tuổi rưỡi. Anh em âu yếm gọi là Út.
- Đúng đấy Út. Nhưng chưa phải. Đêm nay trùng dịp rằm tháng Bẩy mới lắm nước thế này chứ. Ở quê tớ cúng ông bà ông vải trên bàn thờ tổ tiên, cúng thập loại chúng sinh ở ngoài sân. Cúng xong đốt vàng mã. Các cụ bảo mưa nước lên, mưa chở mã cho người âm. Sự tích mưa rằm tháng Bẩy các cậu biết quá rồi còn gì nữa. Này, tớ hỏi nhé, mình hy sinh có nhập vào thập loại chúng sinh không nhỉ?
Mây đốp ngay:
- Là liệt sĩ, không nằm trong thập loại ấy!
Tuấn "vẩu" lý sự:
- Nằm trong ấy thì đã sao? Đều là người cùng khổ cả. Đốt mã có cả quần áo, giày dép, tiền, vàng lá. Có khi cả xe đạp, cả ngựa cưỡi nhong nhong... Tớ hy sinh là tớ chịu nằm trong thập loại ấy. Công thần làm quái gì!
Tất cả cười hồ hởi. Hợi đi kiểm tra góp ý:
- Đó là phong tục đẹp. Thương người như thể thương thân. Với người chết nhưng để nói với người đang sống đấy. Thôi ngủ đi!
Cán bộ đơn vị bạn đi cùng Hợi tiếp lời:
- Mọi việc chiến đấu đêm nay bọn tôi lo. Trụ ở đây đã hơn năm mươi ngày, bọn tôi quen rồi. Còn khối việc không thể quên, các bạn rồi chả tha hồ mà tranh luận.
Quen rồi ư? Chúng tôi nhắm mắt để đấy chứ làm sao mà ngủ nổi. Chớt chát chân ướt chân ráo đã biết ở đây thế nào. Chắc là thương vong cao mới đem nhau đi chôn hàng dài như vậy. Sợ chết ư? Chết sao cho xứng đáng mới là điều đáng nói. Chà, họ ăn nói bình thản cứ như tường thành không sụt, lũy thành không lở. Quen thật rồi ư? Ngủ đi, việc chiến đấu để bọn tôi lo. Cứ xem một cái hầm ngủ này thôi đã thấy bạn bỏ bao công sức xây đắp, đào khoét cả một chiến tuyến. Gian nan đã đành, xương máu giằng co với địch từng thước đất đâu phải ít. Mình được thừa hưởng tất cả. Phục bạn quá!
Mấy chúng tôi thì thầm với nhau. Thì ra đều chung một ý nghĩ: thương bạn mười, mình phối thuộc đã có gì để thương. Một đêm nằm bằng một năm ở. Ở đây sẽ bao lâu nữa?
Mưa vẫn ra rích. Ào ạt từng cơn tạnh lại mưa. Nước sông Thạch Hãn chắc đang lên to. Nằm trên nền đất một lúc mới thấy thấm lạnh. Lý có thân hình vạm vỡ, mình cá trắm tròn lẳn, cơ bắp rắn như đanh, cũng suýt xoa: "Giá như ở Mẫu Sơn quê mình đã lấy củi gộc đốt lom nhom sưởi ấm đôi bàn chân.". Hành quân sáu tiếng đồng hồ dầm trong nước, hai bàn chân tê cóng. Cái lưng cũng lạnh thấu xương sống. Út Hồng run bần bật, hai hàm răng đánh vào nhau, nhát gừng: "Hạt mưa ở đây to hơn quê em. Quất vào mặt rát ràn rạt". Tuấn "vẩu" ôm lấy Út: "Được nằm thế này cũng là ơn Thành Cổ, ơn bạn. Ngoài trời bạn đang canh gác, cảnh giới sẵn sàng chiến đấu trong mưa. Đỡ rét chưa Út? Chắc bom đánh cũng không sập được hầm này đâu em ạ!".
Hồng cùng một số tân binh bổ sung quân số trên đương hành quân vào chiến trường. Em được huấn luyện hai tháng ở vùng đồi Nho Quan. Đeo lon binh nhì còn mới toanh, em mắc mớ hoài về lệnh trên tạm cất quân hàm, quân hiệu:
- Đeo có sao đâu? Nước mình, mình có quyền đi khắp đó đây, việc quái gì phải cất. Có quân hàm coi bộ chững chạc hơn. Oách hơn. Ra anh bộ đội hơn!
Nghĩ lại cũng hay. Đúng là đời lính như chim bay, vừa mới tuần trước trên đường hành quân vào chiến trường qua Nam Đàn, đơn vị dừng chân thăm quê Bác. Cô gái giọng xứ Nghệ nhẹ êm nghe xa mà gần, lúc trong cao, lúc trầm đục giới thiệu các vật dụng trong nhà Bác. Nghèo quá chẳng có gì đáng giá. Chiếc võng đan thô. Đôi guốc gỗ đẽo theo võng kẽo kẹt. Mẹ ngồi bên khung cửi dệt đung đưa cho Bác ngủ vẫn còn đây. Mới mười tuổi đầu, Bác đã tha hương vào Huế bồng em bé một tuổi chống gậy chịu tang mẹ. Mắt trông về phương bắc chẳng thấy cha đâu. Cha đi coi thi mãi xứ Thanh xa vắng. Chân trời góc biển ngày ấy tàu xe chưa có, chẳng cách nào tìm gọi cha về. Trăm sự nhờ bà con xóm giềng giúp đỡ. Bác đội mũ mấn, quàng mảnh vải xô, đưa mẹ ra bãi tha ma Nam Giao. Mọi người tiễn đưa lần lượt ra về ngoảnh lại vẫn thấy Bác phủ phục lậy tạ mẹ. Trời chạng vạng tối mới cõng em về nhà trọ. Ôi chao, chúng cháu nghe không ai cầm nổi nước mắt, Bác ơi!
Mệ ốm chờ chết chẳng có sữa, Bác xin cơm hàng xóm bón cho em, ru em ngủ:
"À ơi...
Bống bồng bế bế bồng bồng
Con cò theo mẹ sang sông đắm đò
Đắm đò ướt hết thân cò
Cò con cò mẹ lò dò sang sông..."
Cô giới thiệu kể chuyện Bác hỏi mẹ: "Mệ ơi, vua mặt mũi như mọi người sao sung sướng gấp mớ vạn lần dân? Răng mà người Tây dương đến đây bắn giết dân ta qua cả mặt vua? Dân cực khổ trăm chiều bởi tại đâu?". Mẹ đang ốm vội nhỏm dậy bịt miệng con: "Tai vách mạch rừng, chết cả lút đó con!".
Bây giờ chúng cháu đã vào tới Thành Cổ Quảng Trị vươn tay là tới Huế chẳng còn bao xa. Bác đã ở Huế nay lại cùng chúng cháu hành quân. Cho chúng cháu sâu nặng nghĩa cả tình đời: Sống cho ra sống, không thể sống quỳ! Cực đến mấy cũng phải bền gan chắc dạ.
*
* *