Ta cứ hình dung Miến giống như Nam Bộ chỉ khác là sông suối kênh rạch không dày đặc như vậy và hơn hẳn ở khoản rừng núi và khoáng sản. Tại sao? Vì Phật giáo Miến là Nam Tông như ở Nam Bộ vậy. Hiện có khá nhiều cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ Phật giáo Việt sang Miến học ở Răng-gun. Có khác chăng nữa là một bên nghiện miến một bên nghiện lẩu.
Người Miến gặp ta họ chào thế nào? Mingalaba - nghĩa là: Miến gà là tất cả!
Còn tâm trạng một bộ phận người Miến khi đầu tư nước ngoài đổ vào thế nào? Đây là một bài báo cũ từ năm ngoái.
Khoáng sản, phiến quân và hòa bình Myanmarhttps://vietpress2012.wordpress.com/2013/11/03/khoang-san-phien-quan-va-hoa-binh-myanmar/
Hàng loạt vụ đánh bom gần đây tại Myanmar được cảnh sát quy trách nhiệm cho những người kinh doanh mỏ địa phương gây ra, nhằm ngăn chặn đầu tư nước ngoài. Những yếu tố thương mại xấu này dường như đã gây lo ngại về tác động đối với các lợi ích kinh doanh của họ.
Các cuộc tấn công trong bóng tối, bao gồm vụ một quả bom phát nổ trong một căn phòng của một người Mỹ tại khách sạn Traders, cho thấy môi trường phức tạp như thế nào đối với các nhà đầu tư ở Myanmar. Nó cũng cho thấy sự mập mờ trong lợi ích khai thác khoáng sản có thể phá hỏng trình tiến hành hòa bình giữa chính phủ và các phiến quân có vũ trang, đồng thời gây nguy hiểm cho quá trình chuyển tiếp dân chủ của đất nước.
Sự cường điệu về nguồn tài nguyên giàu có của Myanmar vẫn tiếp diễn cùng với việc quốc gia Đông Nam Á này đang tăng cường đón làn sóng đầu tư mới và những luật mới về khai thác mỏ được dự đoán sẽ sớm có hiệu lực. Một nghiên cứu mới đây của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) nhấn mạnh rằng Myanmar có thể trở thành “ngôi sao đang lên” tiếp theo của châu Á, nếu nước này có thể tận dụng tiềm năng tài nguyên phong phú của mình. Tuy nhiên, dù có nhiều lạc quan, song những khó khăn vẫn còn đó và nếu không được giải quyết thì có thể gây bất ổn cho tiến trình hòa bình.
Vấn đề quan trọng nhất đối với các nhà đầu tư và cả những người dân sống gần các nguồn tài nguyên, là việc cải cách khuôn khổ pháp lý và quy định. Sự thiếu chắc chắn của những khuôn khổ hiện nay đã làm xói mòn môi trường đầu tư. Tương tự như vậy, thời hạn sử dụng đất phải được xác định và đạt được một thỏa thuận bền vững với các nhóm sắc tộc có vũ trang để thực hiện tiến trình dân chủ. Tính minh bạch cũng cần thiết để thúc đẩy lòng tin trong các quan chức địa phương vẫn còn dính líu tới những kẻ môi giới chính trị và quân sự. Nếu như cách tiếp cận thận trọng này không thành công thì những nguồn tài nguyên có thể trở thành một gánh nặng thay vì một lợi ích trong quá trình chuyển giao của đất nước Myanmar.
Myanmar là một quốc gia giàu khoáng sản, bao gồm niken, vàng, bauxite, đồng, than đá và đá quý. Sau lĩnh vực năng lượng, khai thác khoáng sản là lĩnh vực lớn thứ hai về mặt tiềm năng đầu tư trực tiếp nước ngoài. Không giống như lĩnh vực năng lượng, phần lớn được giám sát bởi đa số nhóm sắc tộc của Myanmar, khoáng sản có giá trị cao được tìm thấy trên toàn quốc, bao gồm cả trong các khu vực thuộc quyền kiểm soát của các nhóm dân tộc thiểu số khác.
Mặc dù Myanmar có tiềm năng dồi dào khoáng sản, song người dân chủ yếu vẫn làm nông nghiệp. Khoảng 70% lực lượng lao động của nước này tham gia sản xuất nông nghiệp, trong khi chỉ có 7% tham gia sản xuất công nghiệp. Việc chuyển dịch cơ cấu lao động nhằm gia tăng tỷ lệ dân số làm trong ngành khai thác mỏ có thể, ít nhất là trong ngắn hạn, cung cấp nguồn thu nhập có giá trị cho các cộng đồng dân cư ở khu vực nông thôn.
Quan trọng nhất, việc khai thác tại khu vực nông thôn và các khu vực sắc tộc xa xôi có thể góp phần chi trả cho cơ sở hạ tầng cốt yếu – trong đó có điện, giao thông, nước, và các cơ sở xử lý nước thải – đến nay vẫn là những khu vực bị lãng quên của đất nước này. Tuy nhiên, Myanmar, với nhiều cuộc xung đột dữ dội giữa chính quyền trung ương và các nhóm sắc tộc vũ trang phải đi trên một con đường đầy nguy hiểm để tránh rơi sâu hơn vào một “lời nguyền tài nguyên” đã có thể nhìn thấy trước.
Các nguồn tài nguyên của Myanmar phân bổ tại nhiều khu vực dân tộc, rất nhiều trong số đó nằm dưới quyền kiểm soát của chính quyền trung ương. Theo số liệu của Chính phủ Myanmar, đất nước này chia thành 8 chủng tộc lớn trong đó bao gồm 135 dân tộc khác nhau. Theo các bản đồ khảo sát của Bộ Khai thác Khoáng sản Myanmar (MoM), vành đai năng lượng hydrocarbon (dầu mỏ, khí đốt, than đá) tập trung ở các khu vực sắc tộc Miến Điện, một nhóm sắc tộc chiếm đa số và đang cầm quyền ở Myanmar.
Theo bản đồ của Bộ Khai thác Khoáng sản Myanmar chì, kẽm, bạc và các vành đai khoáng sản được tìm thấy tại các trung tâm và khu vực Đông Bắc của đất nước Myanmar – phần nhiều trong số đó thuộc các vùng do người dân tộc kiểm soát, bao gồm dân tộc Shan, Mon, và Wa. Người Kachin kiểm soát phần lớn vành đai khoáng sản Đông Bắc, bao gồm các loại khoáng sản như vàng, sắt, chì, kẽm, bạc và đồng.
Vành đai khoáng sản các loại đá quý cũng có thể được tìm thấy ở phía Đông Bắc khu vực Kachin và vùng Bắc Trung Bộ khu vực Shan. Trong khi đó, các khu vực miền núi Trung – Tây, nơi có cơ sở hạ tầng kém phát triển nhất ở Myanmar và bị chi phối bởi dân tộc Chin, lại sở hữu vành đai hydrocarbon và các khoáng chất như niken, nhôm, đồng, bạch kim và vàng.
Không có gì ngạc nhiên khi các khu vực do chính phủ kiểm soát và thường là khu vực của người Miến Điện tiếp tục nắm giữ phần lớn các khoản đầu tư trong lĩnh vực khai thác mỏ. Những phân khu không thuộc sự kiểm soát của người Miến Điện, nơi các dự án khai thác khoáng sản quan trọng đang được triển khai ít hơn, bao gồm bang Kachin, Kayah, và bang Shan.
Sự thiếu bình đẳng của các hoạt động khai thác thương mại khoáng sản giữa người Miến Điện và những khu vực không thuộc quyền kiểm soát của họ, không có gì đáng ngạc nhiên. Cho đến khi thỏa thuận ngừng bắn gần đây đã được ký kết, Myanmar là một điểm nóng của các cuộc xung đột sắc tộc với hàng chục nhóm sắc tộc có vũ trang hoạt động trên khắp đất nước, khiến cho các khu vực sắc tộc không nhận được nguồn đầu tư.
Ngoài ra, chính sách đồng hóa dân tộc – “một chủng tộc, một ngôn ngữ, một tôn giáo” – được theo đuổi bởi ông U Nu, Thủ tướng đầu tiên của Myanmar sau khi nước này độc lập vào năm 1948 – vẫn được duy trì dưới sự cầm quyền liên tục của Hội đồng Hòa bình và Phát triển Nhà nước Myanmar, những người đã tìm cách khiến cho các dân tộc thiểu số bị gạt ra ngoài lề và nghèo khó, để họ mang lại lợi ích cho chính phủ do người Miến Điện kiểm soát.
Chính sách này làm giảm đáng kể sự phát triển kinh tế của các khu vực sắc tộc. Mặc dù chính sách này hiện nay đã chính thức thay đổi nhưng sự oán giận sâu xa vẫn còn tồn tại. Do đó sự phát triển các nguồn tài nguyên khoáng sản tại các khu vực sắc tộc của Myanmar cũng sẽ được thử thách bằng sự cần thiết phải thay đổi tư duy phân biệt đối xử.
Nền hòa bình thương mại
Trong khi các cuộc đàm phán chính thức với các nhóm sắc tộc vũ trang đang được tiến hành thì các phong trào khác, do các cá nhân trong lĩnh vực sản xuất tư nhân cầm đầu, cũng xảy ra. Tại các khu vực tranh chấp, nơi có nguồn tài nguyên phong phú, đã xuất hiện một nền kinh tế phát triển hòa bình.
Theo một báo cáo của Nhóm khủng hoảng quốc tế năm 2012, Công ty Princess Dawei, doanh nghiệp nắm giữ quyền khai thác mở và sự nhượng quyền đốn gỗ ở các khu do tổ chức Liên minh Dân tộc Karen (KNU) kiểm soát, đã cung cấp tiền cho các cuộc đàm phán hòa bình và tạo điều kiện cho các cuộc tiếp xúc để thảo luận về thỏa thuận ngừng bắn tại bang Karen. Một trường hợp tương tự cũng có thể thấy tại bang Kachin, nơi Yup Zaw Hkawng, một doanh nhân nổi tiếng trong việc buôn bán đá quý đã tạo điều kiện cho cuộc đối thoại giữa Chính phủ Myanmar và Tổ chức Kachin Độc lập. Những ví dụ như vậy về sự xuất hiện của một nền kinh tế hòa bình vẫn còn tiếp diễn.
Các công ty nhìn thấy được lợi ích thương mại trong việc môi giới hòa bình mà từ đó sau này họ có thể đòi hỏi chia phần từ sự liên quan của họ, qua đó thu lợi từ tiến trình hòa bình. Việc tiếp cận với các hoạt động khai thác gỗ cho họ khả năng tiếp cận nhanh nhất với những sự chia phần như vậy, và có tin nói rằng nó đã được sử dụng như một phương tiện mặc cả của các nhóm Karenni trong các cuộc đàm phán ngừng bắn. Một nền kinh tế hòa bình như vậy, nếu cách tiếp cận minh bạch, có thể có một tác động tích cực tới việc thúc đẩy tiến trình hòa bình và đem đến kết quả có lợi cho tất cả các bên xung đột. Tuy nhiên, khi điều này trở nên chắc chắn hơn hơn, sẽ khó khăn hơn để đánh bật những lợi ích kinh doanh ra khỏi các cuộc đàm phán tiếp theo.
Các nhóm sắc tộc thiểu số có vũ trang, chẳng hạn như nhóm Quân đội Kachin Độc lập (KIA), biết rằng họ đang ngồi trên nguồn tài nguyên quý giá có thể củng cố việc tạo ra một lượng của cải đáng kể. Hiện nay, việc khai thác các khoáng sản chủ yếu dựa vào lao động thủ công, vốn rất không kinh tế lại còn bao gồm cả những thực tiễn trái với nguyên tắc, như sử dụng lao động trẻ em.
Việc hiện đại hóa và công nghiệp hóa khu vực khai thác khoáng sản có thể làm tăng lợi nhuận khai thác một cách đáng kể, xóa bỏ các hoạt động bất hợp pháp, cải thiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ cho các vùng sâu vùng xa. Trên thực tế, việc xây dựng cơ sở hạ tầng cho phép sự tương tác lớn hơn với các dân tộc, và cung cấp khả năng tiếp cận nhiều hơn cho nhóm các dân tộc trong việc đưa hàng hóa ra thị trường, sẽ tạo ra một sự toàn diện hơn trong sự phát triển tổng thể của đất nước.
Tuy nhiên, để các nhóm sắc tộc có vũ trang ở Myanmar cho phép những sự phát triển như vậy – do cơ sở hạ tầng gần như chắc chắn sẽ giảm bớt sự kiểm soát của họ bằng cách làm giảm sự độc quyền của họ trong việc tiếp cận và quyền lực trong lãnh thổ riêng của họ – họ phải thấy được một số lợi ích lớn hơn và một mức độ tin cậy đáng kể giữa chính phủ, người dân địa phương và các nhân tố kinh doanh sẽ cần phải được củng cố. Bất chấp những khó khăn này, việc chia sẻ lợi nhuận từ khai thác tài nguyên mang đến một sự lựa chọn cho sự hợp tác và xây dựng lòng tin, nếu được thực hiện đúng.
Tuy nhiên, điều này vẫn ẩn chứa một số vấn đề. Các vấn đề cơ bản trong tiến trình hòa bình vẫn còn và phải được giải quyết trước khi bất kỳ việc chia sẻ lợi nhuận từ khai thác tài nguyên nào có thể diễn ra. Thật vậy, việc giải quyết những vấn đề như vậy trên thực tế có thể là điều kiện thiết yếu để phát triển bền vững tại Myanmar. Các vấn đề cốt lõi, chắc chắn là: Ai là người đại diện hợp pháp trong các cuộc thương lượng và ai là người thu lợi nhuận hợp pháp? Liệu đại diện của các tổ chức sắc tộc có đồng ý với những thỏa thuận hợp tác sẽ khiến cho nguồn thu địa phương bị giảm đi? Hoặc việc gia nhập vào tiến trình chính trị có phải là một điều kiện tiên quyết trước khi thực hiện đầu tư? Những câu hỏi này sẽ cần phải được đưa ra thương lượng với các nhóm lợi ích cá nhân.
Thật sự sẽ không ngạc nhiên khi thấy sự tái xuất hiện một cuộc tranh luận trên một hệ thống liên bang, lần đầu được anh hùng độc lập Aung San đưa ra trong Hiệp định Panglong vào năm 1947, nhằm tạo một khuôn khổ quản trị đối với việc quản lý các nguồn tài nguyên phong phú. Tuy nhiên, vấn đề này vẫn còn nhạy cảm đối với Naypyidaw, đặc biệt đối với những quan chức kỳ cựu của Hội đồng Hòa bình và Phát triển Quốc gia cầm quyền trước đây và đảng Liên minh Đoàn kết và Phát triển – những người xem liên bang như hình thức nhượng lại quyền lực của trung ương và làm tổn hại đến sự đoàn kết trong đảng này.
Mặc dù việc thiết lập một hệ thống liên bang sẽ không thể là liều thuốc chữa bách bệnh cho tất cả các căn bệnh của Myanmar, nhưng nó sẽ cho phép Naypyidaw có quan hệ nhiều hơn với các nhóm sắc tộc ở cấp độ chính trị chứ không phải ở cấp độ quân sự với quân sự. Các bang sau đó có thể phải chịu trách nhiệm cho sự phát triển và quản lý các nguồn tài nguyên của mình. Trong tiến trình hòa bình phức tạp của đất nước, có rất nhiều “câu hỏi hóc búa” mà vẫn chưa được trả lời.
Tuy nhiên, một số cải cách trong lĩnh vực khai thác khoáng sản tương đối có hiệu quả và có thể tạo ra một con đường rộng mở cho các vấn đề khác phức tạp hơn. Trong ngắn hạn, việc cải thiện khuôn khổ pháp lý và quy định cần được ưu tiên, như sự tham gia của tổ chức Sáng kiến Minh bạch Toàn cầu về Công nghiệp Khai khoáng; tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước nên được duy trì một cách từ từ để đảm bảo tăng trưởng ổn định; thỏa thuận chia sẻ tài nguyên giữa các nhóm sắc tộc và chính phủ hoặc các công ty tư nhân cần có sự minh bạch; và các nhà đầu tư nước ngoài nên nhạy cảm với những căng thẳng tiềm ẩn và khả năng bạo lực chính trị.
Mặc dù có thể đạt được những tiến bộ khác, song đầu tư trong lĩnh vực khai thác khoáng sản sẽ vẫn ẩn chứa nhiều vấn đề cho đến khi tiến trình hòa bình được đảm bảo hơn nữa. Tuy nhiên, nếu công cuộc cải cách liên tục và sự kiên nhẫn chiếm ưu thế thì vận may bất ngờ có thể được chia sẻ bởi tất cả các bên.
(Nguồn: Thời báo Châu Á trực tuyến – TTXVN)
Chính quyền giải quyết ra sao?http://www.eiti.vn/vi/2014/11/myanmar-cong-khai-chu-so-huu-cac-cong-ty-khai-mo/
Theo kết quả khảo sát, tất cả các công ty đang đầu tư vào 17 khu vực khai thác dầu mỏ và khí đốt tại Myanmar đều sẵn sàng công khai chủ sở hữu thực sự. Đáng chú ý hơn, 10 công ty tư nhân trong số này còn cung cấp đầy đủ thông tin về các cá nhân đang sở hữu và kiểm soát họ, đồng thời cũng công khai các mối liên hệ với chính quyền cấp cao. Người dân khi được cung cấp những thông tin này sẽ có thể tự kiểm tra danh tính của các ông chủ mỏ, đồng thời có quyền bày tỏ mối quan ngại của họ với vấn đề xung đột lợi ích hoặc các rủi ro về tham nhũng.