Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 07:29:26 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Huyền thoại Trường Sơn  (Đọc 116976 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #60 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2015, 07:40:48 am »

        Những tấm bia ấy là do thân nhân các liệt sĩ dựng. Đằng đẩng mấy chục năm trời, khoảng thời gian đủ cho cây cối, lau lách Trường Sơn mọc lấn, che lấp những con đường vận tải, những lối mòn giao liên, những bãi khách binh trạm, nhiều gia đình liệt sĩ vẫn chưa biết được hài cốt của các anh chị đặt ở đâu. Mà số người đã ngã xuống trên tuyến đường mòn chằng chịt giữa rừng già này có ít đâu. Con số chính xác ta tổng kết sau chiến tranh là 19.387 người.

        Còn bao nhiêu hài cốt liệt sĩ nữa đang nằm đâu đó trong những cánh rừng già thâm u của Trường Sơn? - Trong bối cảnh đó, trên khắp ba miền đất nước xuất hiện một số nhà ngoại cảm, cùng với một số “thầy, cô bói mộ”. Nơi họ ở trở thành địa chỉ cho một số thân nhân các liệt sĩ tìm đến sau khi đã nhắn tin trên đài, báo Trung ương và địa phương mà không có hồi âm. Những tấm bia khắc tên tuổi liệt sĩ gắn trên 12 nấm mộ vô danh ở nghĩa trang Trường Sơn là kết quả những cuộc kiếm tìm như thế. Đúng sai thế nào chưa rõ nhưng phải nói rằng cái khát vọng tìm gặp lại người thân yêu, dù họ chỉ còn là một nắm tro bụi, của các gia đình liệt sĩ thật mãnh liệt, bền bỉ. Còn nấm mộ có hai tấm bia liệt sĩ kia làm cho chúng tôi băn khoăn, thắc mắc hơn cả... Thân nhân của hai liệt sĩ có tên trên đã tìm đến đây. Họ thắp hương và khấn đủ tên hai người. Vợ liệt sĩ Lê Minh Cống sau khi khấn tên chồng mình, nước mắt giàn giụa lại khấn tiếp tên anh Ngô Trọng Định. Chẳng hề nói trước với nhau, vợ liệt sĩ Ngô Trọng Định cũng làm như thế trong một lần viếng khác; chị nức nở gọi anh và liệt sĩ Lê Minh Cống. Trời ơi, một người sinh ra ở Quảng Trị, một người sinh ra ở Thái Bình, ai ngờ sau cuộc chiến tranh cùng khắc tên tuổi trên một nấm mộ xi măng đã xạm màu. Khi kể lại những điều ấy với tôi; chị Đoàn Thị Hồng mắt hoe hoe đỏ. Nỗi xúc động lại thêm một lần nữa dâng trào trong tôi; Sau khi ở Nghĩa trang Trường Sơn về tôi đã viết bài thơ “Nấm mộ hai bia” in Văn nghệ Quân đội: “Người Quảng Trị. Người Thái Bình/ Dưới ba tấc đất cốt hình của ai/ Vô danh ba chục năm dài/ Giờ chung một mộ khắc hai tên người/ Đúng? Sai? cỏ chẳng trả lờil Hỏi thông, thông đứng dưới trời vi vul Đành lòng mượn khói mùa thui Một người ngả nón ngồi ru hai người... " Tôi làm sao quên được giọng chị Hồng nghẹn lại khi kể với tôi: - Làm việc ở đây đã trên 10 năm, em thường gặp những cảnh cảm động như thế. Có người em vào tìm mộ anh trai, gặp được cứ ôm mộ anh khóc hu hu giữa trưa mùa hạ, chúng em dỗ mãi cũng không chịu về. Có người mẹ đến viếng con gái, gặp cơn mưa bóng mây, mẹ lấy iuôn chiếc nón đang đội trên đầu che lên mộ con... Nhiều lắm, kể chẳng biết khi mô cho hết được. Chúng em yên tâm, gắn bó với công việc nhờ một phần được tận mắt thấy những cảnh xúc động đó. Chứ anh xem, ở đây công việc tuy không nặng nhọc, nhưng cũng dễ buồn nản lắm. Điều bọn em lo nhất là con cái không có điều kiện học hành đến nơi đến chốn. Em có ba cháu, một đứa học lớp 10, đứa lớp 7, đứa lớp 4, cả ba, em đều gửi về học dưới thị xã Đông Hà. Tiền con ăn học, tốn kém lắm nhưng vì nghĩ đến tương lai của chúng, vợ chồng em phải tính toán xoay xở. Tuy vậy, tất thảy mọi công việc của tập thể giao từ chăm sóc, quét dọn phần mộ, đón tiếp các đoàn, thân nhân liệt sĩ chúng em đều làm tròn. Mỗi năm, có hàfig trăm đoàn, hàng vạn người đến viếng thăm nghĩa trang. Các anh có nghe người ta nói: đến Quảng Trị mà chưa lên viếng thăm nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn coi như là chưa đến không?

        -  Điều đó thì rõ quá rồi, nhưng chị Hồng này - tôi dè dặt - Hỏi thật chị nhé, nghĩa trang có đủ hương thắp và thắp hết 10.327 phần mộ cho đồng chí chúng ta không?

        -  Răng không đủ anh! Mồng một, ngày rằm, lễ Tết chúng em đều thắp hương cho các anh các chị. Đủ cả, không dám sót một ai. Phân công ra, mấy người một khu mộ. Em chịu trách nhiệm ở khu mộ 4. Khoảng ba giờ đồng hồ là chúng em thắp hương xong toàn bộ nghĩa trang. Mỗi lần thắp hương cho các anh các chị, lòng em thấy thanh thản hơn. Em nghĩ: công việc mình làm không chỉ vì những người nằm dưới mộ mà còn vì cha mẹ, anh chị em, vợ con, cháu chắt các liệt sĩ, những người đang sống ở xa.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #61 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2015, 04:36:29 am »

  
*        *

*

        Có một đơn vị quân đội làm nhiệm vụ kinh tế - quốc phòng đóng trên mảnh đất Quảng Trị đã ba lần được nhận công việc tu bổ, tôn tạo nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn. Đó là Đoàn 384 (thuộc Binh đoàn 12 - Tổng Công ty Xây dựng Trường Sơn) Hai lần trước Xí nghiệp 334 (thuộc công ty) đảm nhận thi công hồ cảnh, hồ môi trường, rải nhựa mặt đường, dụng hệ thống đèn điện chiếu sáng, xây tường rào bao quanh nghĩa trang và tô lại chữ của hơn một vạn ngôi mộ. Lần này, đội 24 được nhận nhiệm vụ xây lại theo thiết kế mới toàn bộ số mộ trong nghĩa trang. Trong những ngày này, những người lính xây dựng của đoàn 384 anh hùng đang có mặt trên công trường cải tạo nâng cấp đường quốc lộ 1A (đoạn Quảng Bình - Quảng Trị) đường 49 ở Ả Lưới (miền tây Thừa Thiên Huế), đường Sen Bụt - Cù Bai (biên giới phía tây Quảng Trị), cảng Chân Mây... và nhiều công trình lớn nhỏ khác nữa ở trên ba miền đất nước. Cũng là những người lính đó, đã đặt chân lên dãy núi U Bò (Quảng Bình) để mở mới 18 cây số đường Hồ Chí Minh. Thế mà, các anh vẫn nhận, thanh thản nhận không một chút tính toán, cân nhắc thiệt hơn việc xây mới 10.327 ngôi mộ ở nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn. Trước khi chúng tôi lên nghĩa trang, kỹ sư giám đốc công ty Ngô Thành Nam đã bộc bạch: “Chúng tôi xác định đây là việc làm tình nghĩa, chứ hạch toán đằng thẳng theo kiểu kinh tế thì không nói ra chắc anh cũng biết”. Giờ đây, khi tận mắt thấy những người lính Trường Sơn thời hòa bình cần mẫn, lặng lẽ làm việc trong cái nắng gay gắt của mùa hè vùng cửa gió khô rát, giữa bạt ngàn ngôi mộ, chúng tôi thấm thìa hơn lời thổ lộ của Ngô Thành Nam. Cứ hình dung thế này: số tiền để xây mới một ngôi mộ là 350 ngàn đồng, trong khi quy trình thi công lại hết sức nghiêm ngặt cẩn trọng. Thiếu úy Nguyễn Xuân Chiến quê Diễn Cát, Diễn Châu, Nghệ An, chưa vợ, mặt tròn, da sạm nắng, đội phó kỹ thuật, trực tiếp chỉ huy anh em ở đây, sơ bộ giảng giải cho tôi rõ về các bước công việc. Đầu tiên, phải cân chỉnh lại các hàng mộ cho thẳng thắn, ngay ngắn cả chiều dọc lẫn chiều ngang trong khi vẫn giữ nguyên vị trí các cốt mộ liệt sĩ. Sau đó, nhẹ nhàng tháo các vỏ mộ cũ ra, chuyển đến một chỗ khác cao ráo và sạch sẽ. Lại lấy dây và ống tuy ô cân chỉnh lại cho thẳng tắp, bằng phẳng trước khi đổ lớp móng mộ rộng 10cm, dày 10cm trên cốt mộ. Xây lớp gạch cấp thứ nhất bằng gạch đặc của Xí nghiệp gạch ngói Quảng Trị, sau đó đưa đất vào mộ, đầm lèn chặt lại. Đất đưa vào mộ, phải được chọn lựa kỹ càng từ nơi khác, chuyển đến. Tiếp tục xây lớp gạch cấp thứ hai, cấp thứ ba, đặt tấm đan bằng bê tông cốt thép... rồi dựng bia, làm phần áo mộ. Vỏ mộ được ốp đá ganitô dày 1,5 cm. Sau khi ốp đá phải đủ 30 tiếng đồng hồ mới được mài. Mài thô rồi đến mài mịn, đều chỉ được làm bằng tay, hết sức thận trọng, tỉ mỉ để tránh cho vỏ mộ khỏi bị sứt sẹo. So với mộ cũ, mộ mới bây giờ đàng hoàng và to đẹp hơn, đặc biệt có những chi tiết mới hoàn toàn như trên mộ có lỗ thông âm dương, thông suốt từ trên mặt mộ xuống tiểu sành đựng hài cốt liệt sĩ, kích thước 15xl5cm và bia liệt sĩ được đặt trên đầu, bát hương đặt dưới chân (ngược lại trước đây)...



        Ngày này qua ngày khác, 30 cán bộ, chiến sĩ đội 24 - Những Nguyễn Xuân Chiến, Hoàng Trọng Lượng, Nguyễn Thế Khánh, Nguyễn Văn Thắng, Phan Xuân Quang, Lê Công Bình... phần lớn còn rất trẻ, thuộc thế hệ con cháu của những người nằm dưới mộ, cứ âm thầm, lặng lẽ, chăm chút, tỉ mẩn làm côngviệc tình nghĩa. Cái công trường này thoang thoảng mùi hương (do anh em thắp trước khi bắt tay vào làm việc và khi ra về) và ít có tiếng cười đùa ồn ã.

        Ngay cái việc đi lại đứng ngồi cũng phải giữ gìn ý tứ. Chẳng phải đợi cán bộ nhắc nhở, anh em tự nghĩ mình cần phải làm như thế vì đây là nơi yên giấc ngàn thu của những con người đã sống và hy sinh vì Tổ quốc.

        Bến Tắt - Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, ngày càng sống động hơn với con đường Hồ Chí Minh chạy qua. Lễ khởi công xây dựng đường Hồ Chí Minh đoạn Bến Tắt - Cam Lộ đã được tổ chức trang nghiêm ở nơi này và công ty liên doanh Xây dựng Việt Nam - Cu ba (VIC) cùng với Công ty 6 (Tổng Công ty Xây dựng Thăng Long), những đơn vị thi công đã đưa quân vào vùng thượng nguồn sông Bến Hải và ngày đêm làm việc để hôm nay, con đường đã trở thành vẻ đẹp và niềm tự hào mới trên mảnh đất này. Còn nhớ, hôm lên viếng nghĩa trang, tình cờ chúng tôi gặp được hai người lính Trường Sơn thời chống Mỹ, anh Trần Văn Tăng và Nguyễn Ngọc Pha, quê Nam Định nay là thợ lái máy ủi TI 220 của Công ty VIC. Cùng lên thắp hương với hai anh ở nghĩa trang còn có một người bạn Cu Ba, hiện đang làm việc tại Công ty VIC. Hỏi chuyện biết được đồng chí kỹ sư đó, năm 1973 đã có mặt ở Bến Tắt để thi công 5 km đường nhựa, đoạn qua trước mặt nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, là món quà hữu nghị của đất nước Cu Ba tươi đẹp và quật khởi tặng nhân dân Việt Nam. Anh tên là Hoan Cát Lốt. Sau hai mươi bảy năm xa cách, khi nghe tin Việt Nam xây dựng đường Hồ Chí Minh công nghiệp hóa, hiện đại hóa anh tìm mọi cách xin được qua làm việc ở nước ta và theo như lời Hoan Cát Lốt nói: “Tôi là người hạnh phúc, là người được Đức Phật phù hộ khi được về Bến Tắt, làm lại con đường mà năm 1973 tôi và bạn bè tôi đã từng làm tặng đất nước Việt Nam anh em”.

        Chợt lặng đi khi nghe người bạn Cu Ba nhắc đến Đức Phật, tôi sững sờ nhớ lại mấy câu viết: “Điều đáng buồn phiền là đường mòn Hồ Chí Minh không thể phá hủy được” - Người Mỹ đã thú nhận điều đó. Một người Mỹ đã nói: “Trên đường mòn, cộng sản đã được Đức Phật phù hộ” (sau về xem lại tư liệu thì đấy là câu viết của Giắccơ Rơna in trên báo Lơphigarô nước Pháp ngày 31 tháng 12 năm 1971).

        Đức Phật, nếu có phù hộ thì chỉ phù hộ sự chính nghĩa. Con đường Trường Sơn thời đánh Mỹ, con đường Hồ Chí Minh thời công nghiệp hóa - hiện đại hóa tỏa sáng chính nghĩa. Trên con đường ấy, lấp lánh muôn vì sao, mỗi vì sao ứng với một con người đã ngã xuống vì Tổ quốc. Tôi nói điều ấy với Hoan Cát Lốt, nói bằng ánh mắt của những người đồng chí anh em và đưa anh đến dưới gốc cây bồ đề vững chãi, vươn cao như một tượng đài huyền diệu.

Nhà thơ NGUYỄN HỮU QUÝ        
(Tạp chí Văn nghệ Quân đội)        
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Chín, 2015, 04:56:24 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #62 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2015, 04:17:09 am »

 
LINH THIÊNG NGHĨA TRANG LIỆT SỸ TRƯỜNG SƠN

        Đi dưới những vòm cây xanh tỏa bóng mát sườn đồi, Trưởng ban quản lý Nghĩa trang liệt sỹ quốc gia Trường Sơn, anh Hồ Tất Ái kể: “Hàng đêm chúng tôi tuần tra canh giấc ngủ cho các liệt sỹ, thường nghe tiếng chào hỏi rất rõ: “Chào đồng chí. Đi tuần đấy hả!”. “Tiếng của ai vậy?” - Tôi hỏi. Giọng anh Ái hạ xuống như thì thầm: “Của các liệt sĩ”.

        Anh Hồ Tất Ái kể: Lúc khánh thành, tháng 4/1977, Nghĩa trang có 10.327 ngôi mộ. Mấy năm sau đó, thân nhân các liệt sỹ xin đưa về quê nhà một số, khi còn 10.263 ngôi mộ thì ổn định đến nay. Thân nhân liệt sỹ đến viếng thấy mộ phần được chăm sóc chu đáo đều hài lòng, không xin đưa về quê nữa.

        Mộ liệt sỹ được xếp từng khu vực theo tỉnh, thành phố, trải trên năm quả đồi. Xen kẽ các khu mộ là những cánh rừng. Lối đi được lát đá, gạch hoặc tráng xi măng, hoa nở bốn mùa hai bên. Mỗi khu có nhà tưởng niệm kiến trúc phảng phất hình ảnh các vùng quê đất nước. Đứng ngoài nhìn vào, Nghĩa trang như một lâm viên. Vô bên trong, Nghĩa trang tĩnh lặng, thâm nghiêm, mát dịu. Nơi gần nhất của Nghĩa trang cách đường Hồ Chí Minh khoảng 400 mét, cuộc sống ồn ào bên ngoài không động tới đây! Đi trong Nghĩa trang, bất giác nhẹ bàn chân, tâm tưởng lắng lại để chuyện trò với các liệt sỹ hoặc với bản thân mình.

        Khu trung tâm Nghĩa trang nằm trên một ngọn đồi cao 32,4 mét, Đài tưởng niệm (Đài Tổ quốc ghi công) bằng đá trắng cao vút uy nghiêm, rỗng ruột và khuyết ba mặt, thể hiện nỗi mất mát vô cùng. Sát sau Đài tưởng niệm, cân đối hài hòa như có bàn tay nghệ nhân sắp đặt là một cây bồ đề. Đây là cây bồ đề tự mọc. Nghĩa trang khánh thành được 6 tháng, vào tháng 10/1977 đột nhiên mọc lên cây bồ đề này. Và dường như sợ có người nhầm lẫn mà nhổ đi, cây bồ đề lớn rất nhanh, chẳng mấy đã vươn cành lá um tùm, che mát Đài tưởng niệm. Anh Ái dừng chân dưới gốc bồ đề nói: “Chúng tôi đã tìm hiểu trong vòng bán kính khoảng 10 cây số xung quanh đây không hề có bồ đề”. Cây bồ đề trở thành cây thiêng của Nghĩa trang Liệt sỹ Trường Sơn.

        Trên đồi có cây xanh bóng mát. Dưới chân đồi có một hồ nước trong vắt. Đây là hồ nhân tạo. Hồi xây dựng Nghĩa trang, nơi đó là bãi đất thấp trũng, bộ đội đào đất để đắp đường thì bên dưới phụt lên một mạch nước ngầm. Tướng Đồng Sỹ Nguyên, Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn khi đó lệnh sửa thành cái hồ, còn tạo gò đất ở giữa và bắc cầu đi ra. Những năm đại hạn, khe suối, ao hồ xung quanh cạn nước nhưng hồ này vẫn long lanh nước mát. Ban quản lý Nghĩa trang có 20 người. Nghe sơ qua về công việc của họ đã thấy không hề nhẹ nhàng. Mỗi ngày đón khoảng 20 đoàn khách, từ trong nước đến ngoài nước. Đón tiếp nghĩa là mời trà, mời xem phim, phục vụ làm lễ viếng ở Nhà khánh tiết, dẫn đường vào Đài tưởng niệm cách hơn 200 mét và đi xuống các khu mộ. Ban đêm, thay nhau tuần tra. Phải thường xuyên chăm sóc bồn hoa, cây cảnh, rừng xanh, làm vệ sinh toàn bộ 39,8 ha. Mỗi năm một lần cọ sạch rong rêu trên 10.263 bia mộ, thay cát trong 10.263 bát hương. Nhiều người ở xa không đến được thường điện thoại nhờ Ban quản trang thay mặt viếng liệt sỹ thân nhân. Giữa tháng 5 rồi, một chị ở Hải Phòng vào viếng mộ liệt sỹ, khi về nằm mộng mới tá hỏa nhớ lại là lễ vật dâng cúng do xúc động, lúng túng mà chưa tròn như lời hứa. Chị điện thoại khẩn khoản nhờ Ban quản trang mua sắm, tổ chức cúng giúp chị. Ban quản trang không bao giờ từ chối, luôn luôn đáp ứng mọi nguyện vọng đến từng chi tiết.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #63 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2015, 03:05:31 am »

        Tôi hỏi anh Ái:

        -   Ban đêm, các anh đi tuần một mình hay phải nhiều người?

        Anh Ái trả lời:

        -   Đi một mình thôi. Chúng tôi quen rồi - Trầm ngâm một lúc, anh nói tiếp - Tuy vậy, có một lần tôi cũng hoảng hồn, phải bỏ chạy. Hôm ấy, mới hơn 7 giờ tối, còn nhìn rõ mặt người, tôi lên Đài tưởng niệm thắp hương, chợt thấy một người đàn ông ngồi gần đó, hỏi thì ông ta trả lời là liệt sỹ đi thăm liệt sỹ. Tôi hơi bực mình là vào Nghĩa trang mà còn trả lời ỡm ờ nên vừa đốt hương vừa để ý liếc nhìn ông ta. cắm hương xong, tôi định bước tới để xem cho rõ mặt thì không thấy ông ta đâu nữa, lúc đó chúng tôi cách nhau chỉ dăm mét. Tôi hoảng quá, quay đầu chạy xuống chân đồi.

        Câu chuyện của anh Ái làm cho không khí Nghĩa trang thêm linh thiêng, chính xác hơn, cho tôi hiểu thêm sự linh thiêng của một Nghĩa trang liệt sỹ Quốc gia. 10.263 liệt sỹ, trong đó anh Ái cho biết khoảng 80% hy sinh ở lứa tuổi 18-22. Sự linh thiêng của núi sông, trong tâm tưởng, trong cõi sâu thẳm tâm hồn mỗi người đang được sống trên đất nước thanh bình hôm nay luôn luôn tưởng nhớ công ơn các liệt sỹ. Các liệt sỹ không chết trong lòng người đang sống, trong lòng quê hương đất nước. Anh Ái và các anh các chị trong Ban quản trang, hàng ngày chăm sóc từng phần mộ, hàng ngày đón tiếp tấm lòng tưởng nhớ liệt sỹ ở mọi miền gần xa, hơn ai hết luôn thấy các liệt sỹ vẫn sống bên mình. Những mẩu chuyện của anh Ái về các liệt sỹ mà anh “thấy” thường xuyên, là ảo ảnh với cuộc sống thực song dứt khoát là hình ảnh thực trong tình cảm, trong suy tưởng, trong niềm kính trọng vô bờ bến những linh hồn vì nước vì dân. Như bao Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, hằng đêm vẫn thường thấy con của mình trở về, đi lại trên đường quê yêu dấu. Bao cựu chiến binh, thỉnh thoảng lại gặp đồng đội cũ đã hy sinh, sống dậy vui đùa, gọi nhau đi chiến đấu. Nhà thơ Nguyễn Đình Thi từng viết: “Đất nước của những người không bao giờ khuất, đêm đêm rì rầm trong tiếng đất, những buổi ngày xưa vọng nói về”. Theo thống kê của Ban quản trang, mỗi năm có gần 100.000 lượt người đến viếng các liệt sỹ ở đây, không ngày nào vắng người đến viếng, không ngày nào tắt khói hương. Lúc bước đi dưới mái nhà tưởng niệm cong vút như mái chùa cổ kính, trong hương hoa đại tinh khiết, tôi hỏi nhỏ anh Ái:

        -   Anh hết lòng vì các liệt sỹ ở đây thì vợ con sống như thế nào?

        Anh tâm sự về gia cảnh: Vợ làm nông nghiệp ở xã Đông Thanh (thị xã Đông Hà, Quảng Trị), hai con, trai học lớp 12, gái học lớp 10. Anh vào làm việc ở Ban quản trang từ năm 1998. Cũng từ ngày đó, lương của anh hàng tháng vẫn 1,7 triệu đồng, trừ các khoản đóng nợ kia còn 1,2 triệu đồng, tuy nhiên kinh tế gia đình có phần khá lên sau mỗi năm nhờ vợ trồng trọt, chăn nuôi luôn gặp may, được mùa được giá. “Cũng nhờ biết ứng dụng khoa học kỹ thuật” - Anh nói thêm. Anh sinh năm 1960, trước khi làm quản trang từng là bộ đội, phục viên, trải nhiều chức vụ, được điều về Nghĩa trang cũng tưởng nhất thời song như câu thơ anh đọc: “Cứ ngỡ xuống trần chơi một giấc, nào ngờ ở mãi đến hôm nay”. Anh hạ giọng tâm tình:

        Trong Ban quản trang, người lương thấp nhất mỗi tháng chỉ có hơn 400.000 đồng, thêm 40.000 đồng trị giá 20 ký gạo. Song mọi người đều yên tâm, gắng sức lo toan cho phần mộ liệt sỹ.

        Tôi đứng trước Đài tưởng niệm, ngước nhìn ngọn bồ đề xanh biếc giữa bầu trời xanh vĩnh cửu. Cầu Hiền Lương cách đây chừng 30 cây số, Thành cổ Quảng Trị cách hơn 40 cây. Thành cổ Quảng Trị, nơi ngã xuống của hơn 10.000 chiến sỹ, hầu hết còn trẻ. Sông Thạch Hãn chạy qua đâu đây, vẳng bên tai tôi câu thơ của một cựu chiến binh khi viếng thăm đồng đội đã hy sinh:

                                             Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ
                                             Đáy sông còn đó bạn nằm
                                             Có tuổi đôi mươi thành sóng nước
                                             Vổ yên bờ bãi mãi nghìn năm.
1

        Một làn gió vụt qua. Nén hương tôi vừa dâng lên Đài tưởng niệm lóe sáng như những đốm sao đỏ rực.

SÁU NGHỆ                      
(Bài đà đâng báo Tiền Phong)        

-----------------
1. Nguyên văn theo sách. Bài thơ gốc không phải như vậy - Giangtvx
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #64 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2015, 07:18:04 am »


 CẢM XÚC TRƯỜNG SƠN


Đêm Trường Sơn huyền thoại

Trường Sơn Đông nắng, Tây mưa
Ai chưa đến đó như chưa rõ mình.


        Câu thơ mộc mạc ấy của nhà thơ Tố Hữu có từ thời Trường Sơn gồng mình đánh Mỹ, đã từng thôi thúc bao chàng trai, cô gái tuổi thanh xuân đến với Trường Sơn đại ngàn, bất chấp mưa bom bão đạn, không nề gian khổ hy sinh vì độc lập tự do của Tổ Quốc. Và, câu ca dung dị ấy còn như một minh chứng bằng lời về tính khốc liệt, về sự gian nan ít nơi nào sánh nổi của Trường Sơn trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt... Phải chăng, vì thế mà Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, với chiến thắng vĩ đại của dân tộc sau hai chục năm chiến đấu giải phóng miền Nam, đã trở thành Huyền Thoại? Chính sự hy sinh của hàng vạn người con ưu tú trên những cánh rừng Trường Sơn suốt 16 năm ròng đã góp phần làm nên Huyền thoại ấy mà mãi mãi lịch sử dân tộc sẽ ghi tên tuổi họ, mãi mãi các thế hệ người Việt Nam sẽ ghi nhớ công ơn họ. Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn là một biểu hiện thiêng liêng và rung động nhất của sự ghi công ngàn đời ấy đối với các anh hùng liệt sĩ Trường Sơn.

        Trên những vạt đồi Bến Tắt (Gio Linh, Quảng Trị), nơi yên nghỉ của 10.263 liệt sĩ, không chỉ hôm qua, mà hôm nay và mãi về sau nữa luôn là một chốn linh thiêng, là điểm đến của hàng triệu triệu con người đang sống với mong muốn được một lần tự tay thắp nén hương thơm tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với các liệt sĩ đã không tiếc thân mình, mang lại cuộc sống thanh bình cho đất nước hôm nay.

        Ba chục năm rồi, các anh, các chị tụ về yên nghỉ giữa lòng đất mẹ nơi đây trong tiếng rì rào, vi vút của thông reo, dưới sắc đỏ lưu luyến của hoa phượng mỗi độ hè về.Và cả những đoàn người không kể ngày tháng nối nhau đi trong trầm mặc, xúc động, nghẹn ngào bởi trong lòng chất chứa không chỉ niềm thương nỗi nhớ mà cả sự khâm phục, ngưỡng mộ và lòng biết ơn. Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn - ai đã một lần đến thăm viếng, hẳn sẽ đọng mãi những xúc cảm thiêng liêng, tha thiết trước hàng vạn mộ chí trắng xóa, mênh mang trải dài bên những vạt đồi tĩnh lặng đến nao lòng.

        Nhưng không chỉ có vậy! Hơn ở đâu hết, mỗi lần tới đây để tưởng nhớ, trong tâm trí mỗi người chúng ta, hình ảnh sống động, hồn nhiên, trong trắng mà cũng rất hào hùng, trung dũng của những người lính, những cô gái TNXP tuổi đời còn rất trẻ giữa bom đạn chiến tranh ác liệt ở Trường Sơn thời đánh Mỹ, lại hiện về, khiến ta thêm tự hào, thêm khâm phục những con người của một thời oanh liệt, thấm đẫm hào khí truyền thống của dân tộc mấy nghìn năm . Họ đáng yêu, đáng quý làm sao! Chủ nghĩa anh hùng cách mạng ở họ đâu có gì xa lạ, cao siêu mà chính là cuộc đời chiến đấu hy sinh hết sức bình dị, mà lớn lao vô cùng.

        Năm tháng qua đi, bao đổi thay của tự nhiên, của xã hội và cho dù nhận thức của con người có khác đi, tri thức cùng phát triển và đổi thay theo thời gian đi nữa, nhưng sự ngưỡng mộ và lòng biết ơn các anh hùng liệt sĩ thì không bao giờ thay đổi. Bởi đó là ý thức cội nguồn, là truyền thống đạo lý uống nước, nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam ta.

        Đến Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, không nói nhiều mà ai cũng hiểu, cũng cùng một tâm trạng, cùng một ước nguyện về nghĩa tình, về tâm tưởng sâu sa!

        Trên diện tích 39,8 hécta của những ngọn đồi Bến Tắt ven đường Hồ Chí Minh lịch sử, hình như cái tĩnh lặng của núi rừng, cái màu trắng tưởng như bất tận của 10.263 ngôi mộ, hoà với những chiến công bất tử của những người lính Trường Sơn năm xưa và cả mùi hương trầm phảng phất của hiện thực, như tôn thêm sự huyền thoại của Trường Sơn và hiện hình rõ rệt hơn những ký ức, những dấu ấn hào hùng của những năm tháng cả nước ra trận mà chính họ - Những người lính Trường Sơn ấy - là đội quân tiên phong gánh vác sứ mệnh nặng nề và vẻ vang.

        Có ai không nghĩ dấu thiêng là điều có thực! Hương hồn các anh, các chị hoà vào khí thiêng của núi non sông nước, của hồn thiêng dân tộc được bồi tụ từ ngàn đời; để rồi giữa nơi núi rừng vốn heo hắt xưa kia, khi các anh các chị được qui tập, lại bỗng mọc lên một cây bồ đề xanh mướt ngay cạnh đài tưởng niệm uy nghi, như một phúc âm nơi yên nghỉ vĩnh hằng của bao liệt sĩ anh linh, một sự hài hoà giữa người mất- người còn. Lại nữa, đất Gio Linh - những ngọn đồi Bến Tắt vốn khô hạn, hết mưa là hết nước từ bao đời nay, vậy mà lại xuất hiện một mạch nước ngầm để có thể tạo hồ, tạo suối làm mát cho vùng đất của những vạt đồi các anh, các chị nằm yên nghỉ? Và còn bao nhiêu chuyện “lạ” khác nữa - như thực như hư - khiến cho ta thêm nặng lòng với người đã khuất.

        Con đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh không chỉ làm nên huyền thoại của những năm tháng chiến tranh, mà huyền thoại ấy còn sống mãi với các thế hệ người Việt Nam, với dân tộc. Bởi nó được xây bằng xương máu, bằng cả mạng sống của vạn vạn con người. Các chị, các anh chính là hồn cốt, là sắc màu không bao giờ phai của huyền thoại Trường Sơn kỳ diệu.

        Tôi không được là một người lính trực tiếp cầm súng ngoài mặt trận, cũng chưa một lần đến với Trường Sơn lúc chiến tranh. Nhưng ngày ấy - Cái thời cả nước cùng ra trận ấy - tôi may mắn đã bắt đầu lớn khôn, đã bắt đầu trưởng thành, để hiểu được và chứng kiến hơi thở nóng bỏng của cuộc sống thời chiến. Người anh trai yêu quí của tôi cũng đã hi sinh ngay trên mảnh đất Quảng Trị, trong đội ngũ của những người lính chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc. Cho nên khi đến thăm viếng tại Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn, không chỉ là niềm xúc động của người đang sống đối với các anh hùng, liệt sĩ, mà trong tôi còn là nỗi niềm thương nhớ cháy lòng, là những khát vọng thẳm sâu của một người em sau hơn ba mươi năm trời vẫn không biết hồn cốt của anh mình nằm ở nơi nao trên những cánh rừng bạt ngàn miền Tây Quảng Trị? Nỗi lòng ấy chẳng phải tôi đã gửi gắm nơi các anh, các chị - Những người đồng đội một thời với anh tôi!
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #65 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2015, 06:13:12 am »

        Nén hương thơm bay đến “Cửu Trùng”, những mong các anh, các chị chứng cho lòng thành của bao người đang sống và làm việc vì quê hương đất nước, vì nghĩ về các anh, các chị mà sự hy sinh không gì sánh được.

        Các anh, các chị đâu phải là những “thánh nhân”. Đó là những người con trai, con gái trẻ trung ra đi từ phố phường Hà Nội, nay nằm lại mảnh đất này, dưới bóng cờ Tổ quốc, để lại đâu chỉ nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi của người thân, gia đình, mà còn là lòng khâm phục, là xúc cảm thiêng liêng toả sáng từ bóng hình của đất “ Rồng bay” ngàn năm văn hiến.

        Các anh, các chị từ miền đất khu Năm trung dũng kiên cường; Từ khúc ruột miền Trung là Bình-Trị- Thiên khói lửa, là Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá; từ các làng quê thuộc châu thổ sông Hồng - Những miền đất thăng trầm cùng đất nước trong lịch sử mấy ngàn năm như Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hà Tây, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Hoà Bình..Rồi từ miền Trung du phía Bắc là Bắc Ninh, Bắc Giang, Bắc Cạn, Hà Giang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Sơn La, Thái Nguyên; Và cả từ những miền đất biên cương Tổ quốc là Lạng Sơn, là Cao Bằng, Lào Cai, Điện Biên, Lai Châu, Tuyên Quang, Yên Bái, Quảng Ninh.. .Tất cả cùng trong một mái nhà ấy và tô thắm thêm truyền thống hào hùng của dân tộc.

        Quả thật, Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh huyền thoại đã đi vào hàng triệu trang sách, hàng ngàn bài thơ, biết bao ca khúc rung động lòng người và trở thành những “Bài ca không quên”, những khúc hát đi cùng năm tháng. Nhưng đến thăm viếng tại Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, tận mắt, tận lòng hòa vào không gian tĩnh lặng, mênh mang và linh thiêng ấy, ta mới thực sự thấm thìa cái tình cái nghĩa giữa kẻ còn - người khuất, giữa sự sống và sự hy sinh, giữa những toan tính thiệt - hơn của người đời mà trước hương hồn các anh, các chị, nhiều khi trở nên vô nghĩa. Đâu đó như văng vẳng tiếng thì thầm của các anh, các chị - Những kỷ niệm về niềm vui, nỗi buồn; những câu nói ngắn gọn về trăn trở, băn khoăn; Cả sự hài hả bởi người đời đã không bao giờ quên công lao của các anh, các chị...Dẫu biết rằng các anh các chị không bao giờ kể công với Tổ quốc; sự hy sinh ấy thật trong sáng, vô tư và lớn lao cao cả vô cùng, nhưng Tổ quốc và nhân dân thì không quên và mãi mãi ghi nhớ công ơn các anh, các chị. Đạo lý truyền thống của dân tộc là thế. Đạo lý ấy cũng tự nhiên, cũng cần thiết như hơi thở của sự sống vậy.

Trường Sơn Đông nắng, Tây mưa
Ai chưa đến đó như chưa rõ mình.

        Lời ca ấy thật dễ nhớ mà cũng lại khó quên. Nó canh cánh trong lòng ta những điều còn chưa biết về Trường Sơn. Phải chăng bây giờ vẫn vậy? Có phải Trường Sơn huyền thoại vẫn ẩn giấu bao điều bí mật của một vùng đất “địa linh”,?. Bởi trong lịch sử mấy nghìn năm của dân tộc, Trường Sơn là thế tựa muôn đời. Điều đó là một nhẽ. Nhưng trước hết, chất huyền thoại của Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh lại do chính con người bằng xương bằng thịt tạo ra, là do chính các anh, các chị nằm yên nghỉ ở Nghĩa trang này góp phần tạo nên trong suốt 6000 ngày đêm chiến đấu dưới bom đạn đủ loại của kẻ thù.

        Trong cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt vì độc lập tự do và sự trường tồn của dân tộc, chúng ta phải làm tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng. Ngày ấy, Bác Hồ đã từng nói, đại ý rằng: Dù phải đốt cháy dãy Trường Sơn, chúng ta cũng phải giành cho được tự do độc lập... Đại ngàn Trường Sơn chính là con đường hiện hữu mà nếu giữ được, tận dụng được, xuyên suốt được, chúng ta sẽ chiến thắng! Cho nên cuộc đọ sức ở Trường Sơn, trên mỗi ngọn đồi, mỗi thước đất nơi đây, hơn ở đâu hết vô cùng khốc liệt, giữa sức mạnh tàn phá, hủy diệt của đủ loại vũ khí tối tân mà kẻ thù không tiếc tay sử dụng, với sức người và ý chí sắt đá, lòng dũng cảm, sự mưu trí của các chiến sĩ Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh. Kẻ thù đã ném xuống Trường Sơn 7.526.700 quả bom các loại với khoảng 4 triệu tấn, cùng hàng triệu lít chất độc hóa học mang tính hủy diệt. Không mét đất nào ở Trường Sơn là không bị cày xới bởi bom đạn Mỹ. Đêm cũng như ngày, mưa cũng như nắng, tiếng nổ của bom đạn, của phi pháo, tiếng gầm rú của máy bay phản lực Mỹ làm rung chuyển núi rừng. Sự khốc liệt của cuộc chiến trên Trường Sơn không bút mực nào có thể diễn tả cho đầy đủ được. Nhưng các chiến sĩ Trường Sơn, những TNXP, những người dân công hỏa tuyến, hay những bác sĩ, những nghệ sĩ chiến đấu và phục vụ chiến đấu ở Trường Sơn ngày ấy, đã không nề hy sinh gian khổ - quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, bất chấp đạn bom, tất cả vì sự thông suốt của những con đường, vì tiền tuyến lớn miền Nam. Biết bao địa danh đã đi vào lịch sử của đường Trường Sơn huyền thoại mà mỗi khi nhắc tới, lòng ta không khỏi xúc động - Những cái tên thật thân thương như Mụ Dạ, Cua Chữ A, ngầm TaLê, Đèo Phu La Nhích, Ngã ba Chà Là, cổng Trời... khồng chỉ là dấu ấn về sự ác liệt của chiến tranh mà còn là niềm tự hào của các chiến sĩ Trường Sơn. “Sống bám đường, chết kiên cường dũng cảm” - Đấy không chỉ đơn thuần là một khẩu hiệu mà chính là mệnh lệnh từ trái tim những người lính Trường Sơn thời đánh Mỹ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #66 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2015, 06:30:51 am »

 



        Lòng dũng cảm, sự mưu trí của các anh các chị đã làm nên chiến thắng vẻ vang, cũng khiến kẻ thù không thể hiểu nổi và phải nể phục. Nguyên Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, tướng MAXWELD TAYLO đã từng phải thừa nhận: “Chúng tôi đã không đánh giá đúng tinh thần cực kỳ kiên quyết và đức tính hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của người Việt Nam. Những cố gắng chống lại đường mòn Hồ Chí Minh đã thất bại”. Hàng vạn kilômét đường, hàng trăm trạm giao liên hàng vạn tấn hàng cùng hàng triệu con người đã bất chấp đạn bom để hiện hữu và lớn mạnh ở Trường Sơn, mang đến cho tiền tuyến lớn miền Nam sức mạnh vô cùng to lớn của dòng thác cách mạng đè bẹp kẻ thù. Nhưng, có cuộc chiến nào lại không có hy sinh, mất mát? Nhất là cuộc chiến - cuộc đọ sức lịch sử này. Hơn hai vạn chiến sĩ, TNXP, dân công hỏa tuyến...đã ngã xuống; máu các anh các chị thấm đẫm đất rừng Trường Sơn... Không có phim ảnh nào nói hết được sự hy sinh, những cống hiến ấy của các anh, các chị. Chỉ có lòng người với sự biết ơn, với những việc làm “đền ơn đáp nghĩa” trong sáng, thủy chung mới có thể nói được phần nào, đền đáp được phần nào công lao của các anh hùng liệt sĩ Trường Sơn cũng như của các anh hùng liệt sĩ trên mọi miền Tổ quốc.

        ...Chiến tranh đã lùi xa hơn ba mươi năm. Trường Sơn đã xanh lại những cánh rừng. Nơi trận địa năm xưa nay đã là những làng bản đầm ấm yên vui, là những công trình to đẹp của đất nước trên đường CNH - HĐH. Con đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh bây giờ đường đã rộng dài, hiện đại, mượt mà như một dải lụa đào trải dọc theo chiều dài đất nước qua những cánh rừng Trường Sơn lịch sử. ở đó, trên mỗi chuyến xe lướt nhanh, trên mỗi cung đường cao tốc đẹp đến mê hồn, lòng ta xao động, dâng trào cảm xúc nhớ về một thời Trường Sơn gồng mình đánh giặc, một thời máu lửa mà ngọn núi nào, đoạn đường nào, cây cầu nào... cũng thành huyền thoại, rực rỡ chiến công.

        Thời gian trôi đi không trở lại. Nhưng đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh thì mãi mãi bất diệt, mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc như một trong những chiến công, một kỳ tích oanh liệt trong cuộc chiến chống ngoại xâm. Và, nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn - Nơi yên nghỉ của 10.263 liệt sĩ Trường Sơn, mãi mãi là một tượng đài thiêng liêng, bất tử, ở đó tâm hồn và đạo lý truyền thống Việt Nam luôn sưởi ấm cho hương hồn các anh hùng, liệt sĩ cũng là gìn giữ cho sự trường tồn của non sông đất nước trong hạnh phúc thanh bình.
ĐẶNG ĐÌNH CHẤN                    
Phó Giám đốc Công ty Vân hóa Trí tuệ        
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Chín, 2015, 07:11:42 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #67 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2015, 07:21:10 am »


ĐÔI KHUYÊN VÀNG VÀ CHIẾC ĐỒNG HỒ - KỶ VẬT THIÊNG LIÊNG CỦA NỮ LIỆT SĨ ANH HÙNG NGUYỄN THỊ NHẠ

       Thượng sỹ Nguyễn Thị Nhạ - Trung đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 33 Công binh, Binh trạm 14, quê ở huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, đã chiến đấu và anh dũng hy sinh trên đường Hồ Chí Minh, ngày 30/10/1978 được Đảng, Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Điều đó thì mọi người đều biết. Nhưng sự tích về kỷ vật đôi khuyên tai vàng và chiếc đồng hồ của chị có lẽ chưa mấy ai biết đến.

        Dạo đó, giữa mùa khô 1967-1968, trên cửa khẩu đường 20 Quyết thắng, không quân địch đánh phá hết sức khốc liệt. Suốt ngày đêm hầu như không lúc nào ngớt tiếng bom đạn trên trọng điểm, A.T.P (cua chữ A, ngầm Tà lê, đèo Phu La Nhích), Nguyễn Thị Nhạ cùng đơn vị kiên cường bám trụ giữa trọng điểm nhiều năm liền đảm bảo thông xe suốt ngày đêm. Trong một trận đang chỉ huy tiểu đội san lấp hố bom giữa trọng điểm, Nguyễn Thị Nhạ đã anh dũng hy sinh tại mặt đường. Thi hài của chị được đồng đội an táng tại một địa điểm trên đất bạn Lào. Trên đôi tai của chị vẫn còn đeo đôi khuyên vàng và trên cổ tay vẫn còn đeo chiếc đồng hồ, vật kỷ niệm của gia đình khi chị nhập ngũ. Khi an táng, có người bảo nên gửi về gia đình; nhưng nhiều người cho rằng nên để cho chị mang theo nằm yên dưới lòng đất. Một thời gian sau bom đạn địch đã lấn sát đến ngôi mộ của chị. Đồng đội đã chuyển mộ chị đến một vị trí khác. Đôi khuyên vàng và chiếc đồng hồ đó vẫn được giữ nguyên nơi hài cốt của nữ liệt sỹ.

        Khi chiến tranh gần kết thúc, thực hiện chủ trương của Bộ Tư lệnh Trường Sơn: cất bốc, quy tập những phần mộ liệt sỹ đã hy sinh trên tuyến đường Hồ Chí Minh về an táng tại Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn (xã Vĩnh Trường - huyện Gio Linh - tỉnh Quảng Trị). Qua nhiều lần tìm kiếm, đối chiếu sơ đồ các lần di chuyển và mộ chí các chiến sỹ làm nhiệm vụ cất bốc, quy tập đã tìm được mộ liệt sỹ Nguyễn Thị Nhạ. Lúc gạt đất đưa hài cốt lên họ rất ngạc nhiên thấy một gói nhỏ được gói rất kỹ trong giấy poliêtylen, để cạnh thi hài. Trong gói đó là đôi khuyên vàng và chiếc đồng hồ của chị Nhạ. Sau nhiều tuần đi bộ vất vả giữa đường rừng, các chiến sỹ đã mang đầy đủ hài cốt đi vật của liệt sỹ Nguyễn Thị Nhạ về bàn giao cho Ban quản lý xây dựng nghĩa trang.

        Sau khi đất nước thống nhất, ông thân sinh của liệt sỹ Nguyễn Thị Nhạ vào thăm mộ con gái tại nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn. ông được Ban quản trang đón tiếp chu đáo, được nghe chi tiết về sự hy sinh oanh liệt của Nhạ và quá trình bảo quản hài cốt của người nữ liệt sỹ. Trước lúc ra về ông rất ngạc nhiên và cảm động được Ban quản trang giao lại nguyên vẹn đôi khuyên vàng và chiếc đồng hồ - kỷ vật của bố mẹ tặng cho con gái lúc vào Trường Sơn. ông xúc động, nước mắt chảy trên gò má nhăn nheo nói:

        Được vào thăm, được thấy mộ con gái tôi hôm nay là điều mong mỏi bao năm của gia đình. Tôi không ngờ còn nhận được nguyên vẹn kỷ vật thiêng liêng của con gái lúc ra đi chiến đấu, cái đó làm vơi đi nỗi đau của gia đình và làm yên lòng người đã khuất. Con gái tôi đã hy sinh cho dân, cho nước. Mất mát đó không sao bù lại được nhưng tôi rất cảm kích và rất mừng vì trên đường Hồ Chí Minh này, con tôi đã có những người đồng chí, đồng đội lúc còn sống cũng như khi đã khuất hết mực thuỷ chung, trọn tình vẹn nghĩa. Chúng tôi chỉ mong sao những phẩm chất cao quý đó được gìn giữ mãi, sống mãi trong lòng “Bộ đội Cụ Hồ” hôm nay. Chắc rằng các liệt sỹ đã nằm xuống nơi đây cũng thấy yên lòng... Từ chuyện kỷ vật này, tôi càng hiểu thêm vì sao quân đội ta đã chiến đấu và chiến thắng suốt mấy cuộc kháng chiến trường kỳ.

LÊ ĐÌNH HY                                    
(Bài đã đãng Tạp chí Lịch sử quân sự số tháng 5/1984)        
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #68 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2015, 04:39:07 am »

 

 CÁN BỘ, CHIẾN SĨ TRƯÒNG SƠN ĐẦU TIÊN HY SINH TRÊN TUYÊN VẬN TẢI QUÂN SỰ

        Những tháng cuối năm 1959, địch tăng cường củng cố “phòng tuyến chống thâm nhập” từ miền Bắc vào miền Nam. Dọc đường 9 - chỉ riêng đoạn từ Gam Lộ đi Lao Bảo (Quảng Trị), địch đóng tới 7 đồn (Tân Lâm, Ba Trang, Mai Lãnh, Rào Quán, Khe Sanh, Làng Vây, Lao Bảo) và nhiều đồn nằm sâu trong các bản làng hai bên đường 9. Bọn bảo an, mật thám, dân vệ... lùng sục suốt ngày đêm. Thâm độc và xảo quyệt hơn, chúng còn giả dạng người tìm trầm, phu đồn điền cao su, cà phê, lần mò phát hiện tuyến chi viện Trường Sơn của ta, tìm bắt cán bộ, chiến sĩ vận tải giao liên.

        Vào một đêm cuối tháng 10/1959, trong khi bảo vệ cho Đội 6 và Đội 7 (Đoàn 559) giao hàng quân sự ở phía Nam đường số 9, tổ trinh sát do thiếu uý Nguyễn Minh Thông phụ trách đã rơi vào ổ phục kích của thám báo địch tại bờ sông Dakrông. Tổ trinh sát đã anh dũng chiến đấu chặn địch tạo điều kiện để lực lượng vận tải rút lui, bảo toàn lực lượng. Thiếu uý Nguyễn Minh Thông (quê Nghi Lộc - Nghệ An) đã hy sinh sau khi đã cùng đồng đội tiêu diệt được 4 tên địch. Thượng sĩ Trần Tương (quê Đại Lộc - Quảng Nam) bị địch bắt đưa về căn cứ của chúng. Trước mọi đòn tra tấn dã man của quân thù, Trần Tương vẫn một mực trả lời là “cán bộ nằm vùng” và đanh thép tuyên bố với kẻ thù rằng: Đồng chí, đồng đội của anh sẽ bắt chúng đền tội... Không khai thác được nguồn tin gì ở Trần Tương, kẻ thù đã thủ tiêu anh.

        Thiếu uý Nguyễn Minh Thông và thượng sĩ Trần Tương là những cán bộ, chiến sĩ kiên trung, bất khuất, chiến đấu dũng cảm và hy sinh đầu tiên trên tuyến vận tải quân sự chiến lược 559, để lại trong lòng đồng đội, nhân dân địa phương niềm cảm phục và tiếc thương vô hạn.
Đại tá HOÀNG PHAN TÁM                        
Phó Chủ nhiệm Chính trị - TCT xây dựng Trường Sơn        
                          (Sưu tầm)                                  
 
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #69 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2015, 03:16:01 am »


 NHỮNG NĂM THÁNG TRƯỜNG SƠN BÊN CHÍNH ỦY ĐẶNG TÍNH



Chính ủy Động Tính chụp ởnh lưu niệm với các đổng chí trong đoàn công tác tại sân bay Vinh (12-1972)

        Trường Sơn trong những năm đánh Mỹ, thật không bút mực nào diễn tả đầy đủ được những cam go, sự khốc liệt của bom đạn và lòng quả cảm của lớp lớp những con người từ khắp mọi miền đất nước đã không sợ hy sinh, không nề gian khổ “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Từ người lính bình thường đến những vị tướng chỉ huy, tất cả đều chung một vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam: Sẩn sàng hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc.

        Với riêng tôi, dù rằng sự cống hiến là rất nhỏ bé, nhưng cũng tự hào được là người lính Trường Sơn trong những năm tháng đầy gian nan thử thách ấy. Và, tôi muốn được kể một chút về anh - Người chính uỷ đáng kính của Bộ tư ỉệnh 559 - Bộ đội Trường Sơn - Đại tá Đặng Tính, với lòng kính trọng, sự khâm phục và tình cảm yêu mến vô cùng.

        Đầu tháng 7 năm 1971, anh Đặng Tính (trước đó là chính uỷ Bộ tư lệnh quân chủng phòng không, không quân) được Quân uỷ trung ương điều vào làm chính uỷ Bộ tư lệnh 559 Trường Sơn. Khi ấy tôi được Ban chỉ huy văn phòng Bộ tư lệnh giao nhiệm vụ lái xe riêng cho anh Đặng Tính. Trong tổ công tác được phân công thường xuyên đi phục vụ chính uỷ, có anh Phách (trung tá) là thứ ký riêng, anh Cầm y sĩ, anh Mấn trung cấp nấu ăn, anh Chỉnh cần vụ, anh Bắc lái xe hậu cần và tôi lái xe riêng cho anh Đặng Tính.

        Tháng 10 - 1971, bắt đầu bước vào mùa khô, toàn tuyến Trường Sơn khẩn trương sôi động chuẩn bị cho chiến dịch vận chuyển hàng hóa, vũ khí, lương thực, thực phẩm... chi viện cho các chiến trường toàn miền Nam. Và anh Đặng Tính cũng chuẩn bị thực hiện chuyến công tác dài ngày đến các đơn vị dọc tuyến đường Trường Sơn. Triệu tập tổ công tác chúng tôi vào văn phòng Bộ tư lệnh giao nhiệm vụ cho từng người xong, anh nói: “Đợt này chúng ta đi dọc tuyến Trường Sơn, toàn đường dã chiến, qua nhiều trọng điểm địch thường xuyên đánh phá ác liệt, vượt qua nhiều sông suối, đèo cao, vực sâu..., các đồng chí phải chuẩn bị tinh thần vượt gian khó, chuẩn bị xe thật tốt, thật chu đáo để vượt Trường Sơn. Nhiệm vụ có hoàn thành hay không một phần quan trọng ỉà ở các đồng chí”. Chúng tôi hứa với chính uỷ chuẩn bị thật tốt cả về tinh thần và phương tiện, sẩn sàng hoàn thành mọi nhiệm được giao.

        Biết là gian khổ hy sinh, nhưng ai trong chúng tôi cũng đều sẩn sàng lên đường và chuyến đi được thực hiện từ khu vực km36 đường 10 (miền Tây huyện Lệ Thuỷ - Quảng Bình).

        Đoàn công tác của Bộ tư lệnh đi cùng chính uỷ Đặng Tính gồm có 5 chiếc xe GAT 69 chở chính uỷ và các đồng chí cán bộ các ban trong Bộ tư lệnh.

        Đoạn đường Kín được các đơn vị công binh mói mở dài hơn 50km nối từ đông Trường Sơn sang tây Trường Sơn, đoạn cuối gặp và nối với con đường trên đất bạn Lào thuộc tỉnh Khăn Muộn. Thỉnh thoảng đoàn xe gặp đoạn dốc, đường trơn lại có các đồng chí công binh trực sẵn để đẩy xe qua dốc. Dọc đường đi, máy bay trinh sát của địch thường xuyên quần đảo, từng tốp 3 chiếc máy bay phản lực thay nhau lao qua lao lại, tiếng kêu xé tan bầu không khí im lặng, tiếng bom đạn nổ gần nghe ầm ầm.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM