Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 12:01:02 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913  (Đọc 74988 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #20 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2016, 12:16:48 pm »


Sau thắng thế tại kinh thành Huế, quân Pháp quay ra Bắc lần lượt đánh chiếm nhiều nơi, hết Sơn Tây (16-12-1883), Bắc Ninh (13-5-1884), Hưng Hoá (12-4-1884) đến Thái Nguyên (19-3-1884), Tuyên Quang (31-5-1884). Đó không chỉ là thất bại của quân đội triều đình Huế, mà còn là thất bại của quân Thanh trước đó đã vượt biên giới sang ta với chiêu bài “cứu tệ phò nguy”. Trước tình hình đó, triều đình Mãn Thanh chuyển từ thái độ giằng co tranh chấp sang thái độ thoả hiệp với Pháp về vấn đề Việt Nam. Quy ước Thiên Tân được ký kết (11-5-1884), theo đó mà Thanh cam kết tôn trọng những điều ước đã ký kết giữa Việt Nam với Pháp, rút toàn bộ quân Thanh về nước, người Pháp được tự do buôn bán ở các tỉnh Vân Nam và Lưỡng Quảng, còn phía Pháp hứa giữ nguyên biên giới phía Nam của nhà Thanh, không đòi chiến phí, không xúc phạm danh dự nhà Thanh trong các điều ước sẽ ký kết với Việt Nam.

Rõ ràng đến lúc này Pháp đã có ưu thế gần như quyết định trong quan hệ đối với triều đình Huế, cũng như với Thanh triều. Vì vậy, chỉ một tuần sau khi thành Tuyên Quang bị Pháp chiếm, và chỉ 26 ngày sau khi quy ước Thiên Tân được ký, triều đình Huế đã phải ký bản điều ước mới ngày 6- 6-1884, phía Pháp gọi là Điều ước Patenôtre (tên của Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Pháp tại Bắc Kinh), còn phía Việt Nam gọi theo âm lịch là điều ước Giáp Thân. Đại diện cho triều đình Huế trong việc ký kết lần này là Thượng thư bộ Hộ kiêm Tham tri bộ Công Phạm Thận Duật sung chức chánh sứ, có Thượng thư bộ Công Tôn Thất Phan sung chức phó sứ. Với 19 điều khoản nặng nề của Điều ước Patenôtre so với 27 điều khoản của điều ước Harmand ký kết gần 10 tháng trước, về cơ bản nội dung của hai văn kiện giống nhau, phản ánh cụ thể tình hình Việt Nam và thân phận nhân dân ta lúc đó, thật đúng như nhận định của Nguyễn Duy Cung - thủ lĩnh phong trào chống Pháp hai tỉnh Nam-Ngãi (Quảng Nam - Quảng Ngãi):

         “Chiến cuộc biến thành hoà cuộc,
         Nam nhân hoán tác Tây nhân.”

Dịch:   
         Cuộc chiến phút chốc biến thành cuộc hoà,
         Người Việt Nam trở thành người Tây.


Vì vậy có thể khẳng định Điều ước Patenôtre đã đánh dấu sự đầu hàng của giai cấp phong kiến Việt Nam trước sự tấn công hung bạo của chủ nghĩa đế quốc Pháp, từ nay giai cấp phong kiến trở thành chỗ dựa của thực dân Pháp và đã mất vai trò trong công cuộc giải phóng dân tộc. Nhà nước phong kiến Việt Nam đã sụp đổ, toàn bộ đất nước Việt Nam đã trở thành đất của chủ nghĩa đế quốc Pháp, dù tên gọi có khác nhau giữa miền này với miền nọ.

Khẳng định như vậy là hoàn toàn đúng, nhưng không phải vì vậy mà phủ nhận công sức các phái viên triều đình có trách nhiệm thương thuyết với Pháp. Chánh sứ Phạm Thận Duật và phó sứ Tôn Thất Phan, trong hoàn cảnh ngàn vạn khó khăn, ván cờ thua được đã định như vậy mà vẫn cố giành giật với đối phương một số quyền lợi về cho nhân dân, cho Tổ quốc, đó là điều đáng và cần được làm rõ trên cơ sở phân tích đánh giá các sự kiện lịch sử một cách khách quan, hợp tình, đúng lý. Trước hết là vấn đề đòi lại đất đai, nới rộng phạm vi quản lý cho triều đình. Hai điều khoản 2 và 6 của Điều ước Harmand xác định triều đình Huế chỉ quản lý khu vực từ giáp giới tỉnh Bình Thuận đến Đèo Ngang, tỉnh Bình Thuận phía Nam bị sát nhập vào Nam Kỳ và ba tỉnh Thanh-Nghệ-Tĩnh phía Bắc bị sát nhập vào Bắc Kỳ. Ngay sau khi điều ước này được ký kết, triều đình Huế đã nhận thấy là quá nặng,vì vậy nhân khi phái viên Pháp là Tricou ghé vào Huế hỗ giao bản điều ước (5-1-1884), triều đình đã có thư nhờ chuyển sang Giám quốc nước Pháp xin sửa đổi một số điều khoản, trong đó có các điều khoản 2 và 6 nói trên, yêu cầu trả lại các tỉnh Bình Thuận và Thanh-Nghệ-Tĩnh. Đề nghị đó đã được thủ tướng Pháp là Jules Ferry chấp nhận, tất nhiên vì xét có lợi cho Pháp. Trong tờ trình lên Thượng và Hạ viện, Ferry nói rõ lý do như sau: “...Việc sát nhập Bình Thuận vào Nam Kỳ chỉ có những lợi ích bấp bênh cho xứ thuộc địa này mà thôi..., mà cũng không cần thiết gì về các mặt kinh tế và quân sự. Khôn ngoan hơn là chỉ nghĩ tới lợi ích của một cuộc bảo hộ... Muốn cho công cuộc kinh doanh của nước Pháp ở Nam kỳ có kết quả thì nước Nam không thể bị xoá bỏ..., ba tỉnh Thanh-Nghệ-Tĩnh nên giao lại cho nước Nam, ba tỉnh này về địa lý và lịch sử liên quan với Huế chớ không liên quan với Hà Nội, mỗi tỉnh lại là nơi phát tích của dòng họ vua trị vì, cắt đứt các dây ràng buộc cổ truyền đó sẽ làm cho việc thừa nhận các việc đã xẩy ra trở nên khó khăn thêm”. Nhân Patenôtre trên đường sang Trung Quốc nhận chức Đại sứ có ghé lại Sài Gòn, Thủ tướng Ferry đã chỉ thị cho y phải ra Huế để bàn bạc việc sửa đổi điều khoản đó. Như vậy là về phía Pháp đã có chủ định từ trước, nhưng đến khi bàn cãi, thương lượng tại chỗ, nếu về phía triều đình không kiên trì đấu tranh với mọi lý lẽ cần thiết thì chắc gì phái viên của Pháp đã dễ dàng chấp nhận, trong lịch sử bang giao giữa hai nước không hiếm các trường hợp thay đổi chủ trương quyết định tại bàn họp, cũng không phải không có khả năng phái viên Pháp với toàn quyền hành động của mình sẽ đặt Chính phủ Pháp trước một sự yiệc đã rồi, vì nhận thấy về lâu dài việc sát nhập 4 tỉnh là có lợi, rồi sẽ báo cáo tranh thủ sự đồng ý của Chính phủ sau. Rõ ràng phái đoàn ngoại giao do Phạm Thận Duật đứng đầu lúc đó đã thành công trong việc điều đình thương lượng để điều khoản đó được sửa đổi có lợi cho triều đình Huế. Chúng ta đều biết khi phong trào Cần Vương bùng nổ (7-1885) thì các tỉnh Bình Thuận và Thanh-Nghệ-Tĩnh đã hưởng ứng mạnh mẽ nhất, riêng phong trào ba tỉnh Thanh-Nghệ-Tĩnh đã phát triển sôi động suốt trong một thời kỳ dài với những cuộc khởi nghĩa và chỉ huy tiêu biểu như Ba Đình với Đinh Công Tráng, Tống Duy Tân, Vụ Quang với Phan Đình Phùng, Cao Thắng...

Một vấn đề nữa rất gây cấn lúc đó là việc ghi hai chữ “bảo hộ” vào điều ước. Về phía triều đình, ý kiến là không muốn dùng từ “bảo hộ” mà dùng từ “bảo trợ”. Đại diện Pháp tại Huế là Rheinart biết rõ qua báo cáo mật của các giáo sĩ Pháp rằng Phụ chánh đại thần Nguyễn Văn Tường, kiêm Thượng thư Bộ Lại, người trực tiếp theo dõi và chỉ đạo việc thương lượng với Pháp, cương quyết không chịu để trong điều ước hai chữ “bảo hộ”, theo ông thà nhường hẳn tỉnh Bình Thuận cho Pháp chớ không công nhận đưa hai chữ “bảo hộ” vào nội dung điểu ước. Patenôtre phải điện về Paris xin ý kiến, Chính phủ Pháp vẫn giữ hai từ “bảo hộ”, nhưng phải tu chỉnh lời văn trong điều ước cho mềm dẻo, lịch sự hơn, bỏ bớt những từ và ý xúc phạm triều đình Huế. Như điều khoản 11 Điều ước Harmand ghi: “Trú sứ Pháp tại Huế sẽ có quyền được một mình vào yết kiến riêng Hoàng đế nước Nam, Hoàng đế nước Nam sẽ không được từ chối nếu không có lý do thoả đáng“, câu này đã được sửa đổi rút gọn trong điều khoản 5 điều ước Patenôtre như sau: “Tổng trú sứ sẽ có quyền một mình vào yết kiến Hoàng đế nước Nam”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #21 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2016, 12:18:48 pm »


Xin nhắc thêm là phía Pháp trước đó đã muốn đưa hai chữ “bảo hộ” vào Điều ước Philastre (Hiệp ước Giáp Tuất) ngày 15-3-1874, nhưng bàn đi bàn lại trong chính giới Pháp cuối cùng thấy chưa thể đưa hai từ đó vào được, chúng tránh dồn triều đình Huế vào thế buộc phải ra lời kêu gọi nhân dân đứng dậy kháng chiến, như vậy sẽ là một nguy cơ lớn cho ý đồ bành trướng lâu dài của chúng. Cuối cùng chúng đành gọi Điều ước năm 1874 bằng cái tên mị dân, bịp bợm là “Hiệp ước hoà bình và liên minh” (Traité de paix et d’alliance), chúng lùi một bước để rồi sẽ lấn tới nhiều bước về sau.

Một vấn đề khác cũng gây cấn trong quá trình thương lượng là vấn đề quân sự, quy định quyền đóng quân của Pháp. Điều khoản 2 cho phép quân Pháp được thường xuyên chiếm đóng Thuận An, triều đình phải triệt bãi tất cả các đồn luỹ trên hai bờ sông Hương dẫn lên kinh thành Huế. Điều khoản 5 ghi rõ đại diện Pháp tại Huế được có một toán lính hộ vệ. Điều khoản 15 nhấn mạnh nước Pháp tự nguyện bảo đảm sự toàn vẹn đất đai của nước Nam, trong thì dẹp yên loạn lạc, ngoài thì chống đánh giặc giã, vì vậy, nếu nước Pháp xét thấy trong đất nước Nam và trên địa hạt Bắc kỳ nơi nào cần đóng quân thì được quyền đưa quân tới đóng để thực hiện việc bảo hộ. Rõ ràng các điều khoản được quy định rất chặt chẽ, và với các quy định trên thì triều đình Huế đã bị đặt trong vòng vây o ép, một mạng lưới kiểm soát dày đặc ngay tại kinh thành Huế. Thế nhưng nội dung điều ước hoàn toàn không có điều khoản nào nói tới quân đội triều đình, và như vậy là triều đình Huế mặc nhiên vẫn còn có quân đội riêng ở kinh thành cũng như ở các tỉnh. Chính nhờ vậy mà phái kháng chiến trong triều do Tôn Thất Thuyết đứng đầu mới có thể tuyển mộ và luyện tập quân lính (các đội quân Phấn nghĩa, các Đoàn kiệt) ngay trong thành Huế, chuẩn bị cho những cuộc đấu tranh mà mọi người đều biết nhất định sẽ xảy ra. Cũng nói thêm là trước áp lực của bọn Pháp, cuối cùng phái đoàn ngoại giao cũng chỉ cho quân Pháp đóng ở Trấn Bình đài (đồn Mang Cá) ở góc đông-bắc kinh thành Huế, từ đó bọn Pháp có thể theo dõi mọi hoạt động của quân đội triều đình, nhưng không được phép đặt chân vào trong thành. Đối chiếu với tình hình triều đình và uy thế áp đảo của Pháp, lúc đó thương lượng đi tới một số quy định về quân sự như vậy, phải công nhận đó là một thắng lợi đáng kể. Một vấn đề nữa tuy không ghi thành điều khoản trong điều ước, nhưng cũng rất quan trọng vì có quan hệ tới thể diện quốc gia, kể cả thể diện Trung Quốc. Đó là số phận chiếc ấn bạc nhà Thanh ban cho Gia Long năm 1803 có ghi mấy chữ “Việt Nam quốc vương chi bảo”. Thâm ý của Patenôtre là muốn hạ nhục cả triều đình Huế lẫn triều đình Mãn Thanh nên đòi thu ấn đó để giao cho Rheinart triển lãm tại toà Khâm sứ ở Huế. Nhưng Chánh sứ Phạm Thận Duật không chịu, chỉ đồng ý cho nấu chảy chiếc ấn. Đến cuộc lễ nấu ấn, Patenôtre lại đổi ý, muốn thu chiếc ấn để gửi sang Paris khoa trương thanh thế, khoe “chiến công xâm lược” của Pháp với thế giới. Chánh sứ Phạm Thận Duật, sau khi trao đổi với Phó sứ Tôn Thất Phan, vẫn lắc đầu từ chối. Và chiếc ấn biểu tượng cho vương quyền Nguyễn và quyền tôn chủ của nhà Thanh đối với Việt Nam đã bị nấu chảy trước khi tiến hành buổi lễ ký kết Điều ước Giáp Thân (6-6-1884).

Nêu lên và so sánh một vài điều khoản trong hai điều ước 1883 và 1884 như vậy để đi đến một điều khẳng định như sau: Trong mối tương quan lực lượng giữa Việt Nam và Pháp bấy giờ, phái đoàn ngoại giao của triều đình Huế đã phải tiến hành thương thuyết với Pháp trong một thế bất lợi, hoàn toàn không hề có một sự hỗ trợ tinh thần và vật chất nào đáng kể, có chăng thì đó chỉ là một truyền thống đấu tranh yêu nước chống ngoại xâm hào hùng của dân tộc, nhưng do chính sách sai lầm, phản động của triều Nguyễn đến lúc này phong trào chống Pháp cũng đang trên con đường tan rã, phải gần một năm sau mới được phát động trở lại trong phong trào Cần Vương với lời Chiếu thống thiết của vua Hàm Nghi (13-7-1885). Thế mà, vượt qua muôn vàn gian khó và áp lực từ nhiều phía, phái đoàn ngoại giao do Phạm Thận Duật cầm đầu đã đạt được một số kết quả không nhỏ và có ý nghĩa. Qua cuộc thương lượng với địch, dù cho bị đặt trong thế yếu, các thành viên phái đoàn đã tỏ ra có bản lĩnh, khi phải nhượng bộ thì đành nhượng bộ, nhưng khi cần đấu tranh thì tỏ ra kiên nghị đến cùng. Đặt vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể lúc đó, thiết tưởng cũng khó có thể làm hơn được phái đoàn Phạm Thận Duật.

Thế nhưng trước đây và cho tới nay không phải không có ý kiến lên án Phạm Thận Duật đã ký vào điều ước Patenôtre, cho rằng như vậy là khuất phục đầu hàng kẻ thù. Nói như vậy là cố chấp, là phi lịch sử. Huống chi những năm tháng cuối đời của Phạm Thận Duật đã chẳng chứng minh cho tấm lòng yêu nước chống giặc đến cùng của ông hay sao? Nếu là khuất phục đầu hàng Pháp thì sao ông đã cương quyết đứng về phe chủ chiến trong triều đình do Tôn Thất Thuyết cầm đầu, hăng hái ủng hộ vua Hàm Nghi trẻ tuổi lên đường chiến đấu. Ngày nay tuy không có tư liệu nào ghi lại, nhưng có đầy đủ cơ sở để khẳng định rằng Phạm Thận Duật có vai trò quan trọng trong việc ra đời bài Chiếu Cần Vương. Với tư cách là đại thần Viện Cơ mật, Cố mệnh đại thần khi vua Kiến Phúc mất và vua Hàm Nghi lên thay, lại có mặt trong nhóm trung kiên nhất bên cạnh vua Hàm Nghi và là người có văn tài hơn cả trong số những người đó, Phạm Thận Duật nếu không phải là người trực tiếp chấp bút thì cũng là người góp ý, góp lời cho văn kiện lịch sử đó. Chính vì thái độ ông dứt khoát, vị trí ông trong phong trào minh bạch như vậy nên tướng giặc De Courcy đã cay cú cho tịch thu gia sản và bắt giam cả gia thuộc ông chờ ngày xét xử. Được cử làm Khâm sai, trên đường ra lãnh đạo toàn bộ phong trào kháng chiến ngoài Bắc, ông chẳng may bị tay sai của Pháp bắt sống giải nộp cho Pháp, nhưng trước sau ông một mực cự tuyệt không chịu khai báo điều gì, bất chấp mọi thủ đoạn mua chuộc, mọi đề nghị xảo trá của giặc, để cuối cùng bị giặc Pháp đày ra hải đảo cùng với Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Đính là thân sinh Tôn Thất Thuyết, kẻ thù không đội trời chung của thực dân Pháp. Trên đường tàu chạy ra đảo Tahiti1, đã đau buồn vì cảnh nước mất nhà tan, tuổi già sức yếu, bệnh cũ lại tái phát, ông mất ngày 29-11-1885. Theo tục lệ, xác bị ném xuống biển, và từ ngày đó sóng gió đại dương mãi mãi vang vọng tâm sự bi phẫn chống giặc giữ nước không thành, cũng như biểu dương chí khí yêu nước bất khuất của nhà văn thân họ Phạm, một trong số những nhân cách cao đẹp của nước ta vào nửa sau thế kỷ XIX.
____________________________________
1. Đảo chính cùa vùng quần đảo Polinésie thuộc Pháp trong Thái Bình Dương. Từ 1842 đã là đất bảo hộ, đến 1880 thì trở thành thuộc địa của Pháp. Thủ đô Papeeti là nơi giam giữ tù đày các tù nhân chính trị của đế quốc Pháp.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #22 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2016, 03:35:10 pm »


CẢM NGHĨ VỀ MỘT HỒN THƠ BÁO QUỐC
VŨ NGỌC KHÁNH1

Mấy chữ “Hồn thơ báo quốc” có thể gây đôi chút ngỡ ngàng cho người nghe. Chí nguyện hay tinh thần báo quốc thì còn dễ hiểu, chứ gọi một hồn thơ mà định tính cho nó bằng hai chữ “báo quốc” thì hình như có điều gì không ổn. Song chúng ta hãy cứ bình tĩnh cân nhắc trên thực tế để xem đúng hay sai. Thực tế, đây lại là thực tế về một nhà thơ, nhà thơ Tôn Thất Thuyết!

Lại thêm một sự ngỡ ngàng nữa. Gọi Tôn Thất Thuyết là một nhà thơ, chắc khó được đồng tình. Lâu nay, ta vẫn xem ông là một vị tướng, là con người chủ chiến trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc chống cuộc xâm lược của người Pháp. Vấn đề đã khá rõ ràng trong lịch sử. Những tìm hiểu lầm về ông đã dần dần được chỉnh đốn lại, để chúng ta kính trọng và quý mến ông hơn. Nhưng bảo ông là một nhà thơ, chắc rằng người nào rộng rãi nhất cũng phải có phần dè dặt.

Có lẽ một phần vì người ta đã quen với nhận định của vua Tự Đức, cho Tôn Thất Thuyết ít học, chỉ giỏi về quân sự mà thôi. Đúng là Tôn Thất Thuyết không đỗ đạt gì. Chúng ta cũng không biết thuở thiếu thời ông học tập ra sao. Thân sinh ông là một vị Đề đốc, các con của ông cũng đều là võ tướng, nghĩa là gia đình của ông không thiên về văn chương. Trong cuộc đời của ông, trải nhiều năm trong quân ngũ hoặc trong vị trí cầm quyền chính sự, ông cũng không có dịp nào gắn bó với sinh hoạt văn chương cả. Ông có những người bạn thân nào? Không rõ, nhưng chắc chắn là không có bạn thân nào là nhà văn, nhà thơ.

Nhưng con người có tâm hồn thơ, không nhất thiết phải là con người tài cao học rộng, càng không phải là những người đỗ đạt hay có học vị. Thiếu gì những ông nghè, ông trạng mà thơ văn chẳng có gì hay. Trở thành một thi sĩ, cũng không nhất thiết phải làm được nhiều thơ. Có người chỉ cần vài bài, thậm chí vài câu, cũng có thể có chỗ ngồi xứng đáng trên chốn thi đàn. Với Tôn Thất Thuyết, chúng tôi cho rằng cần phải tiếp cận hẳn với thơ ông, thì mới thấy rằng để những tác phẩm của ông ra ngoài các tuyển tập thơ là điều không thoả đáng.


*


Ý nghĩ cho rằng Tôn Thất Thuyết không quen với văn chương, hình như không đúng lắm. Đúng là ông viết không nhiều, ông không để lại một thi tập nào cả (hay ta chưa sưu tầm được thì cũng thế). Nhưng có điều rõ ràng là ông cũng hay làm thơ, nhất là những khi cần phải diễn đạt lòng mình bằng hồn thơ và nhịp điệu. Hình như ở một số vị lãnh tụ khởi nghĩa hồi cuối thế kỷ 19 ở nước ta, thường có tình hình này. Chẳng hạn như trường hợp Phan Đình Phùng, Tống Duy Tân đều là tiến sĩ, đều thích làm thơ, nhưng hình như những bài thơ của các vị ấy mà ta sưu tầm được không nhiều bằng của Tôn Thất Thuyết. Thơ của tất cả các vị đều có chung một lòng yêu nước, nhưng ở Tôn Thất Thuyết thì bộc lộ rõ ràng hơn chữ nghĩa đàng hoàng và thẳng thắn hơn. Khá nhiều anh hùng thời đại, có tiết tháo, có hành trạng trong sự nghiệp cứu nước lúc bấy giờ đều được Tôn Thất Thuyết dành cho lời ca ngợi: Hoàng Diệu, Nguyễn Cao, Trần Bích San (những người mất); Nguyễn Quang Bích, Cầm Bá Thước (những người còn). Đây cũng là điều ít gặp ở các cụ Phan, cụ Tống vừa kể trên, và còn ở nhiều nhà khoa bảng khác nữa. Rồi khi ta đọc ngay vào tác phẩm, ta luôn luôn thấy Tôn Thất Thuyết nhắc đến hai chữ “báo quốc”. Gửi cho Cầm Bá Thước ông khẳng định: “Nhất ngu báo quốc khách do hành”. Nói với Nguyễn Quang Bích, ông bảo: “Báo quốc đan tâm hà nhạc tại”. Viếng Nguyễn Cao ông viết: “Thâm kỳ báo quốc thụ kỳ huân”. Chỉ làm có mấy bài thơ, mà không bài thơ nào ông quên chữ “báo quốc” cả. Kể cả khi ông làm thơ chừa thuốc phiện, chữ “quốc” thiêng liêng này vẫn theo sát bên ông: “Chỉ nhật quốc thù kỳ khả phục”. Tôi dám chắc đó là điều chỉ thấy ở Tôn Thất Thuyết, chớ không thường trực ở các nhà thơ quốc sự khác, mặc dầu ai cũng cùng chung một tấm lòng vì dân vì nước như ông.

Và quả thực, chữ “quốc” thiêng liêng này, với ông là vô cùng gắn bó. Không chỉ bằng tiếng “báo quốc” thốt ra thành lời, mà tất cả các bài thơ của ông, không bài nào là không nhắc đến tên quê hương đất nước, ở bài này, nhắc đến Nam Giao, Tây Châu, thì bài kia lại có Đức Giang (sông Thiên Đức), Thao Đà (Thao Giang, Đà Giang). Rổi bài kia nữa, những Cách Bi (miền xuôi), Mục Mã (miền núi) lại hiện ra trên những câu thơ đầy tráng khí. Không tha thiết với quê hương thì không bao giờ lại có ý thức thường trực như vậy cả.

Một nhận xét khác có thể nêu lên là đọc thơ ông, ta thấy Tôn Thất Thuyết có một tâm hồn rộng mở. Luôn luôn trở đi trở lại hình ảnh của trời cao biển rộng, của non nước, gió mây. Nơi đây là “thanh sơn lục thuỷ”, nơi kia là “bắc địa nam phong”, rồi những “đại hải trường giang”, những “sơn biên phong vũ”. Đừng tưởng đây là những chữ sáo mà các nhà nho quen dùng. Vì hầu hết những từ ấy đều được Tôn Thất Thuyết đặt vào những ngữ cảnh thích hợp, chứng minh cho cách nhìn, cách nghĩ của ông. Tâm hồn của ông bao giờ cũng muốn hướng tới những không gian bát ngát, cái nhìn của ông là nhìn ra tận cõi bao la, tất nhiên là ở đất nước Việt Nam thôi. Hãy đọc những câu gửi cho Cầm Bá Thước:

     Thanh sơn lục thuỷ tương nghinh xứ,
     Đại hải trường giang vọng viễn tình.
     (Non xanh nước biếc nơi hò hẹn,
     Bể rộng sông dài nỗi ước mong.
)

Và bài thơ khi sang Trung Quốc với hai câu đầu:
     
     Thao giang nhất trạo nhập vân biên,
     Viêm cảnh tòng lai bất viễn thiên.
     (Sông Thao chèo thẳng chân mây
     Viêm bang đất vẫn kề ngay bên trời.
)

Thì phải nói là ý thơ rất hùng mà tứ đi rất xa. Dù biết là không hợp lắm, nhưng khi đọc câu này tôi cứ nhớ đến một tứ thơ của Lý Bạch khi làm thơ chia tay với Mạnh Hạo Nhiên: “Cánh buồm mờ tít tầng không” của Lý2 có lẽ cũng có thể so sánh được với mái chèo của Tôn Thất Thuyết lẫn vào đám mây biên giới ngoài biển khơi nối với chân trời. Ai bảo cái nhìn như thế không phải là cái nhìn của một nhà thơ phóng tầm mắt rộng?
______________________________
1. Viện Văn học dân gian.
2. Thơ Lý Bạch:
     "Cô phàm viễn ảnh bích không tận
     Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu"
     (Cánh buồm mờ tít tầng không
     Trường Giang nước chảy mênh mông chân trời
).

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #23 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2016, 03:38:13 pm »


Và quả thực là Tôn Thất Thuyết có nhiều tứ lạ. Ông ít làm thơ, nhưng hễ làm là có những ý tân kỳ, mà chỉ tân kỳ trong niềm ưu ái với quốc gia. Ông ngắm nhìn chim én bay trong mưa, nghĩ ngay cho con chim ấy mang một tấm lòng son vương vấn (Trà mâu nhất phiến đan tâm tại). Nhìn con ngựa thồ, ông lại nghĩ đến con long mã mang trên mình bức hoạ đồ tiêu biểu cho của quý muôn đời của quốc gia1. Tất nhiên ông cũng chỉ muốn nói về ông thôi, nói về bản thân mình, cũng như con ngựa đang mang trách nhiệm nặng nề là đi cầu viện. Nhưng sao lại có thể liên hệ đến con long mã và bức hoạ đồ? Tầm khái quát của ông về văn hoá nước nhà đã sâu sắc đến mức ấy sao?

Tôn Thất Thuyết còn làm một số câu đối. Và cũng phải nói rằng đó là những câu đối rất đậm chất thơ, và cũng chỉ một nội dung trước sau đậm nét trong ông: tinh thần báo quốc. Câu đối về cái chết của Hoàng Diệu:

          Nhất tử thành danh, tự cổ anh hùng phi sở nguyện;
          Bình sinh trung nghĩa, đương niên đại cuộc khả vô tâm.

Ý tứ của tác giả câu đối thật là mạnh mẽ, khảng khái, nhìn thẳng vào cái chết, nhìn thẳng vào tình hình và làm sáng lên được cái bản chất của con người anh hùng hy sinh vì nước. Chất thơ trong câu đối nằm ngay trong cái nghĩa khí của Hoàng Diệu: cái xưa, cái nay, cuộc đời bình sinh, cái chết vì bổn phận..., tất cả đều được hoà quyện tôn vinh gợi ra một dáng vẻ đường hoàng lẫm liệt. Ta không quên cái chết của Hoàng Diệu đã thành một biểu tượng cho đề tài “chính khí” được cả nước hoan nghênh, với nhiều bài chính khí ca hùng tráng. Câu đối của Tôn Thất Thuyết có lẽ làm nổi bật được chính khí này hơn cả.

Còn có câu đối viết về Trần Bích San nữa! Phải nói có ít câu đối sắc sảo, ý tứ mạnh mẽ, cao cả, khái quát mà lại đậm đà chất thơ như câu đối này: Con người Trần Bích San hiện ra với bản chất trung thần, hiếu tử thật là toàn vẹn. Cả người khuất, người còn đều cùng tồn tại trong không gian đất trời, mây nước, ánh sáng và bóng tối, lặng lẽ và rộn ràng:

          Lân quân độc thủ cô hành, quốc trung thần, gia hiếu tử
          Sử ngã kinh qua thử địa, giang bán dạ, nguyệt trung thu.
          (Thương ông riêng tấm lòng thành, con hiếu của nhà, tôi trung của nước
          Khiến tôi qua đất cũ, dòng sông đêm vắng, vầng nguyệt giữa thu
)2.
                                                                                            (Bản dịch của Hoàng Tạo)

Thơ văn Tôn Thất Thuyết chưa sưu tầm được nhiều. Tôi tin rằng có thể ông còn viết trong nhiều trường hợp khác, vì rõ ràng ông là người giàu tình cảm. Trước những hiện tượng gây xúc động, ông đã có cách nhìn, cách nghĩ riêng, và biết chọn những hình ảnh đậm đà chất thơ để thể hiện ý nghĩ đó. Không nên làm việc so sánh, nhưng đặt những bài thơ của ông trong kho tàng văn chương yêu nước cuối thế kỷ 19, ta cũng dễ nhận ra chất thơ trong ông hơn là trong nhiều nhà khoa bảng. Cái chung của cả tầng lớp, cả thế hệ này là tình yêu nước, là sự căm thù địch, là ý thức xả thân vì nghĩa. Nhưng ở Tôn Thất Thuyết, sự thể hiện trong thơ vẫn thường trực hơn, quyết liệt hơn. Ông không bao giờ coi nhẹ bổn phận phải lãnh đạo công việc cứu nước. Điều ấy thấy rõ trong cuộc đời chiến đấu của ông, và trong cả những ngày tàn, khi ông trở thành một ông già chém đá. Đời ông là như thế, thơ ông cũng như thế, nên nói hồn thơ Tôn Thất Thuyết là một “Hồn thơ báo quốc”, chỉ là một nhận xét công bằng.
________________________________
1. Thơ Tồn Thất Thuyết: Nghĩ về con ngựa thồ
“Hoàn thị Hy đồ vạn cổ di”.
(Vẫn là bức Hà đồ của vua Phục Hy từ xưa để lại).
Theo truyền thuyết, một ngày trên sông Hoàng Hà, có con Long mã hiện ra, trên lưng cõng một bức hoạ đồ. Vua Phục Hy theo hình vẽ đó mà đặt ra bát quái và chữ viết, là những sản phẩm văn hoá đầu tiên của Trung Quốc. Do đó mà có tên gọi Hà đồ. Tôn Thất Thuyết thấy con ngựa thồ mà nghĩ ra con Long mã, đồ đạc chất lên lưng ngựa, ông xem đó là Hà đồ. Sức tưởng tượng quả là độc đáo.

2. Đôi câu đối này, tôi chép theo sách Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ 19 (Văn học, H., 1970), có đối chiếu với sách Trần Bích San (Nguyễn Văn Huyền soạn, Hội Văn học nghệ thuật Nam Hà, 1994). Nhưng tôi lại được nghe nhiều người đọc, văn bản có một số chữ khác:
          … cô thần, khảng khái, quốc trung thần, gia hiếu tử,
          … thử địa, bồi hồi, giang bán độ, nguyệt tam canh.
Có thể không đúng với nguyên văn, nhưng rõ ràng quần chúng khi lưu truyền câu đối đã muốn nhấn mạnh thêm phần tình cảm đậm đà, chất thơ vốn có trong Tôn Thất Thuyết.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #24 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2016, 06:59:11 pm »


HÌNH ẢNH TỐN THẤT THUYẾT
DƯỚI MẮT MỘT TÁC GIẢ DÂN GIAN
QUA BÀI VÈ “THẤT THỦ KINH ĐÔ”
ĐINH XUÂN LÂM - TRIÊU DƯƠNG1


Một nhân vật lịch sử mà bài vè Thất thủ kinh đô đã dựng lại hình ảnh khá trung thực là Tôn Thất Thuyết, ở đây tác giả bài vè đã dành cho Thuyết khá nhiều cảm tình đặc biệt. Không riêng Thuyết, toàn gia của ông được tác giả bài vè mô tả lại là một nhà trung nghĩa, từ hai đấng thân sinh Tôn Thất Thuyết đến cả vợ con ông. Cậu hai (con Thuyết) nghe nói đến nạn nước là “nồng gan”:

          Nguyện xin chiêu mộ một ngàn dân điêu2

Thân phụ Tôn Thất Thuyết (mà trong bài vè gọi là Quan Cụ) ngay từ đầu đã tỏ ra người mưu trí, giúp con những ý kiến hay trong việc đối phó với cánh Hiệp Hoà. Là một người yêu nước, khi nghe con nói về việc đánh Mang Cá, ông cụ sa nước mắt:

          Cha nay yếu ớt tuổi già,
          Không thì cha đi một đạo vậy mà với quân.
          Trận này mà chẳng giao tranh
          Một mai thái bình cự chiến làm chi?


Bị giặc bắt, ông cụ tỏ một thái độ khảng khái không chịu khuất, ngang nhiên nhận mình là “quan cựu trào”:

          Lòng trung phò chúa qua Lào,
          Tôi dây sinh tử lòng nào quản chi.


Bà mẹ Tôn Thất Thuyết (trong bài vè gọi là Lão bà) cũng gần được như chồng. Theo con nằm rừng lội suối, lúc sắp chết bà cụ vẫn còn chỉ trích bọn Trương Văn Để, Đinh Tử Lượng “phản lòng lúc nguy”3, thoá mạ chúng:

          Gian tà trời để làm chi,
          Cái quân phản tặc lúc ni khác loài.
          Ăn cơm ai, mặc áo ai,
          Trở lòng phản chúa, ra loài khi quân.


Tới khi “gần đất xa trời” bà cụ vẫn còn nuôi hy vọng:

          Thành đô khôi phục còn chờ ngày sau.

Đến vợ Tôn Thất Thuyết (trong bài vè gọi là bà Tướng) thì lúc “phát bệnh thũng, chân tay nặng nề”, phải nằm “li bì” một nơi cũng vẫn còn băn khoăn:

          Quân gia binh mã đã đến Lào hay chưa?
          Trận này ai chết, ai lưa?
4

Cho đến khi chết, bà vẫn mang một niềm căm giận không nguôi đối với giặc.
__________________________________
1. Đinh Xuân Lâm - Đại học KHXH và NV, Triêu Dương - Giảng viên trường CĐSP Hà Nội (đã mất).
2. Dân nghèo khổ phải lưu tán đi các nơi xa quê hương để tìm cách sinh sống.
3. Trương Văn Để giữ chức Tham tri, Đinh Tử Lượng làm Thự Tả quân Đô thống theo phò Hàm Nghi, khi Tam cung về Huế thì cũng về theo.
4. Lưa: còn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #25 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2016, 07:08:07 pm »

Hình ảnh Tôn Thất Thuyết (trong bài vè gọi là Quan Tướng) dĩ nhiên càng nổi bật hơn. Tác giả bài vè không ngần ngại liệt Thuyết vào bậc “trung thần” ngay từ đầu. Hình ảnh Thuyết khi biết tin thất bại trong trận đánh vào Mang Cá qua bài vè có giống với hình ảnh một trung thần đau lòng trước cảnh “quốc phá quân vong” thường thấy trong truyện cổ:

          Quan Tướng nước mắt ròng ròng,
          “Tưởng là hiệp chiến giao công,
          Khôi phục Trấn Bình
1 nhà nước thung dung.
          Tôi xin thọ tội cửu trùng...
          ... Tôn miếu xã tắc tan hoang
          Tội tôi đã đáng tan xương bêu đầu...”


Trái với vè xuyên tạc “Nước Nam có bốn anh hùng, Tường gian, Viêm láo, Khiêm khùng, Thuyết ngu” của bọn đầu hàng, bài vè Thất thủ kinh đô đã liệt Thuyết vào bốn vị anh hùng thực sự bấy giờ:

          Đề Ngô2 khí khái anh hùng,
          Đã từng cự chiến giao công Bắc kỳ.
          Đề Soạn
3 vũ nghệ xảo tri,
          Đã từng cự chiến Bắc kỳ mà vô.
          Quan Tiểu
4 ở tại kinh đô,
          Tài hay nhâm độn hà đồ rất thông.
          Quan Tướng cũng đấng anh hùng,
          Hải đồ gian phỉ giết cùng chẳng tha
5

Đặc biệt Tôn Thất Thuyết rất được đề cao, tới mức như anh hùng trong thần thoại:

          Nước ta Quan tướng anh hùng,
          Bách quan văn vũ cũng không ai tày.
          Người có ngọc vẹt
6 cầm tay,
          Đạn vàng Tây bắn ba ngày không nao.
          Tài hay văn vũ lược thao,
          Khí khái nhâm độn ra vào rất thông.
          Bốn bề cự chiến giao công,
          Tây phiên nói thực anh hùng nước Nam.

__________________________________
1. Trấn Bình đài tức Mang Cá ở góc đông bắc thành Huế.
2. Đề đốc Ngô Tất Ninh sau bị giặc bắt.
3. Đề đốc Trần Xuân Soạn sau theo Tôn Thất Thuyết sang Trung Quốc cầu viện.
4. Tiểu phủ sứ Ông Ích Khiêm.
5. Nên nhớ trong bài vè không có một dòng nói đến cái gọi là bệnh “ham giết người” của Tôn Thất Thuyết, mà trái lại ở đây tác giả còn khen Tôn Thất Thuyết đã cương quyết tiêu diệt bọn “hải đồ, gian phỉ”.
6. Ngọc của con vẹt sống lâu năm cũng như ngọc cá, ngọc rết... mà nhân dân hay nói đến trong truyền thuyết.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #26 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2016, 11:13:32 pm »


Điều đáng trọng nhất ở Tôn Thất Thuyết là tinh thần cương quyết chủ chiến. Ông khảng khái nhận lấy trách nhiệm nặng nề trong khi bàn bạc về việc nước với Nguyễn Văn Tường:
          Tây phiên đáo đến Nam đình,
          Nội triều lớn nhỏ hai mình sở đương.
          Triều trung mắc phải tai ương,
          Cũng hai ta xử trí, dễ nhường cho ai!


Ông không chịu để Pháp chiếm đóng Mang Cá:
          Ở đời mình dại nó khôn,
          Nó qua hãm đồn như cá trong âu.
          Ở đời chịu chữ thụ đầu,
          Vô trong lầu sứ khổ lâu nhiều ngày.


Ông chuẩn bị đánh Pháp một đòn quyết định để bảo toàn “tôn miếu xã tắc ông cha lưu truyền”:
          Quân nha binh mã dự phòng,
          Tây phiên dẹp giặc ở trong chương toà.


Vì:
          Kinh thành tổ nghiệp mình đây,
          Nay mình thúc thủ phen này sao yên.


Trước áp lực của giặc, ông không run sợ mảy may:
          Quan Tướng nghe nói một khi,
          Giận thay Phiên tặc gan thì xung gan.
          Quan nha binh mã sẵn sàng,
          Quyết đi giáp chiến kẻo Tây phiên hại mình.


Mặc dầu phái chủ hoà chiếm đa số:
          Triều đình văn vũ chư nha,
          Họ ưng bụng hoà với nó mà thôi.


Ông cương quyết nói với cha:
          Họ hoà mặc họ, con nay không hoà.

Con người cương quyết chống Pháp ấy có nhiều nét đáng trọng khác. Là người trọng nghĩa khinh tài, khi Nguyễn Văn Tường nói đến chuyên “dân đạo” đút lót, hòng đem tiền bạc ra nhử ông để ông nới tay trấn áp:
          Nó sợ mình nó đã có lòng,
          Vàng kia trăm lượng lo trong với mình.


thì ông thẳng thắn gạt đi:
          Làm tôi thì hưởng lộc trời,
          Mình mà thuận thính vậy thời nó khinh.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #27 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2016, 11:23:20 pm »


Tài đức của Tôn Thất Thuyết còn thể hiện ngay cả trong việc dùng binh. Ông không muốn bỏ sót một lực lượng kháng chiến nào. Ông mạnh dạn sử dụng, động viên cả những người bị tù tội tham gia công cuộc chống Pháp; những lời ông nói với họ không thiếu phần thấm thía:
          Quan Tướng khi ấy dạy rằng:
          “Thương kẻ hào hiệp mà sa phận tù.
          Thương người lý sự văn nho,
          Sa cơ nên nỗi cầm tù một khi.
          Thương người hào hiệp ăn chơi,
          Sa cơ nên phải chịu thời tài hoa.
          Nên chi chịu tội nước nhà,
          Tội thì đáng chết, khó tha muôn phần.
          Nay tôi trộm lĩnh thiên ân,
          Cho ra khỏi ngục chịu phần thân chinh".


Cho nên ta không lấy làm lạ khi thấy chủ trương kháng chiến của cánh ông rất được quần chúng hưởng ứng. Phe chủ chiến của Tôn Thất Thuyết tuy bị thiểu số trong triều, song không cô độc như nhiều người tưởng. Binh sĩ ủng hộ ông nhiệt liệt:
          Quân gia lớn nhỏ triều đình,
          Xin đi tiền đạo tới thành giao chinh.


Rồi người giàu có thì “tiền quyên gạo góp”, đám dân nghèo khổ lưu tán cũng thấy “báo cừu phải đi”, bao nhiêu kẻ tù tội được động viên đều nhất tề “xin đi tiền đạo tới thành giao chinh”. Có “phân vân” chăng chỉ là “bách quan văn vũ đình thần”!

Cương quyết, không thoả hiệp với địch, nhưng Tôn Thất Thuyết lại rất giàu tình cảm đối với những người thân. Thuyết rất có hiếu với cha mẹ1 nhưng đồng thời cũng không vì hiếu mà quên nhiệm vụ. Ông thương thân phụ:
          Cha già đầu bạc như tơ,
          Má nhăn răng rụng chưa nhờ đặng chi.


Nhưng gặp lúc nước đương lắm việc, ông sẵn sàng ra đi làm nhiệm vụ:
          Đành lòng phụ tử một khi,
          Lẹ làng binh mã hồi quy bộ đường.


Trên đường bôn ba, thân mẫu bị ốm, Tôn Thất Thuyết “bối rối lắm thay” vì:   '
          Phần thì mẹ yếu, phần lo Tây hậu đoàn.
          Hai bên tấn thối
2 lưỡng nan,
          Đặng trung mất hiếu khôn toan nửa chừng.


Nhưng cuối cùng sau “mấy lời dặn lại Đội Sừng” (là cháu) săn sóc cho mẹ, ông vẫn dứt áo lên đường:
          Tôi xin cùng Thánh chúa băng ngàn qua Xiêm.

Tôn Thất Thuyết lại còn là con người rất thể tất nhân tình. Trên đường rời bỏ kinh thành, ông rất thông cảm với những người đi theo chưa quen gian khổ, đặc biệt là nữ giới:
          Tâu qua Thánh thượng một khi,
          Tam cung thị nữ vậy thì cho lui.
          Kẻo đường lên núi xuống đèo,
          Khúc quanh, khúc vạy tới lui khó dò.
          ... Mình đi không kể đêm ngày,
          Sợ hổ lang đón nẻo, thương thay phận đàn bà.


Ông cũng đã nói thẳng với quân sĩ:
          Ra đi không kể đêm ngày,
          Lên ghềnh, xuống hố khổ thay những là.
          Chú nào lưa mẹ còn cha,
          Thương con nhớ vợ vậy mà cho lui.
          Ra đi không khóc sụt sùi,
          Lên ghềnh xuống hố tới lui khó lòng.
          Không đi thì nói cho xong,
          Đi thì bạc lượng tiền đồng ngài ban.
          Phen này bỏ họ, bỏ làng,
          Bỏ con, bỏ vợ băng ngàn phò vua...


Những nhận xét trên đây, nhất là ở phần vừa nói đến của bài vè, có một giá trị đặc biệt. Nó cải chính một cách hùng hồn bao nhiêu lời xuyên tạc từ trước đến nay của bọn thực dân và bọn phong kiến đầu hàng vu cáoThuyết là kẻ ngu độn, khát máu, không biết gì hơn là giết người không gớm tay. Những nhận xét ấy dĩ nhiên không phải ngẫu nhiên, nó xuất phát từ quan điểm chống xâm lược của nhân dân trong bài vè mà chúng tôi mong sẽ có dịp nhắc đến kỹ càng hơn.
____________________________________
1. Những giai thoại về chuyện Tôn Thất Thuyết có hĩếu rât nhiều. Chúng tôi sẽ trình bày trong một dịp khác.
2. Tiến thoái, tới lui.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #28 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2016, 06:12:49 pm »


MỘT SỐ TÀI LIỆU VÀ NHẬN ĐỊNH
VỀ TÔN THẤT THUYẾT
TRIÊU DƯƠNG1

Sinh thời Tôn Thất Thuyết, dư luận về ông rất phức tạp. Nhiều kẻ chê, chê hết sức; nhiều người khen, khen cũng không tiếc lời; có người khen ông điểm này, song lại chê ông điểm khác. Nghĩ rằng vai trò của Tôn Thất Thuyết là quan trọng trong giai đoạn lịch sử hồi thực dân Pháp mới sang xâm chiếm nước ta, hành động thái độ của ông tiêu biểu cho khuynh hướng tích cực của một tầng lớp trong thời kỳ ấy, phán đoán đúng về ông cũng giúp gỡ mối cho nhiều mắc mớ khác, nên chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số tài liệu và nhận định về Tôn Thất Thuyết, góp phần vào việc trả lại cho ông những cái xứng đáng của ông. Về Tôn Thất Thuyết hồi mười năm trước đây chúng tôi có gom góp được một số tài liệu định rồi viết thành sách, nhưng không may thất lạc mất cả. Chúng tôi cố gắng ghi lấy một số điểm còn lại trong trí nhớ kém cỏi, kết hợp với một số sách báo gần đây, được chừng nào xin hãy cứ trình bày chừng ấy.

1. Sơ lược về thân thế

Tôn Thất Thuyết là một hoàng thân triều Nguyễn nhưng thuộc vào một chi xa dòng chính của nhà vua2. Gia đình ông cũng không phải là một gia đình bề thế ở kinh đô: ông thân sinh là Tôn Thất Đính chỉ giữ một chức vụ tầm thường; các em Tôn Thất Thuyết người làm tri huyện, người làm quan hộ vệ nhỏ, người chỉ đỗ tú tài ngay cả lúc ông đã là cực phẩm triều đình. Tôn Thất Thuyết sở dĩ bước nhanh trên hoạn lộ, chủ yếu là vì khả năng của mình.

Theo lời truyền lại, Tôn Thất Thuyết người vạm vỡ khoẻ mạnh, giỏi võ nghệ, thích cắt tóc ngắn cho gọn, không ưa trang sức bề ngoài. Bằng vào câu vè chửi Tôn Thất Thuyết là "ngu" (xem phần dưới) và vào chức tước của Thuyết sau này (đương thời xưng Tôn Thất Thuyết là “Quan Tướng” khác với Nguyễn Văn Tường là Quan Quận) người ta thường cho ông là võ biền vô học. Sự thực, ông xuất thân là quan văn, năm 1869 còn làm án sát Hải Dương, năm 1870 mới chuyển qua tham gia việc binh làm chức Tán tương (cũng chỉ là chức của quan văn giúp thêm về quân sự) dưới quyền Hoàng Kế Viêm bấy giờ phụ trách quân thứ bốn tỉnh Lạng- Bình-Ninh-Thái3. Ông nổi tiếng trong những trận đàn áp nhiều vụ biến động ở miền Bắc, đặc biệt là lần bắn chết Hoàng Sùng Anh phá tan giặc Cờ Vàng ở Sơn Tây năm 1875, phá tan "giặc lá tre" của thủ lĩnh Trận ở Cổ Loa năm 1876, đánh Lý Dương Tài (Bắc Ninh) năm 1878, do đó được thăng chức rất nhanh: Hộ đốc Ninh-Thái, rồi Hiệp đốc Lạng-Bình-Ninh-Thái gần ngang với Hoàng Tá Viêm. Năm 1879, bất đồng ý với triều đình về một việc nào đó mà đến nay chưa biết, ông cáo bệnh xin về nghỉ ở Thanh Hoá. Chính vì vậy mà năm 1881 giả hạn về Kinh xin chiêm cận (gặp mặt vua), Tự Đức làm mặt giận không cho vào hầu, ông phải dâng biểu tạ tội. Sau đó ông lĩnh chức trong Ngũ quân đô thống phủ. Tháng 6-1883, ông được sung vào Cơ mật viện và khi Tự Đức mất, ông làm Đệ tam Phụ chính đại thần, sau Trần Tiễn Thành và Nguyễn Văn Tường, bắt đầu giữ cương vị hết sức trọng yếu trong triều: ông làm Binh bộ Thượng thư, được toàn quyền hành động về quân sự. Nắm binh quyền trong tay, ông là lãnh tụ cương cường nhất của phe kháng chiến trong triều. Ồng phế truất, đàn áp, tiêu diệt những phần tử thân Pháp, đầu hàng... từ vua chí quan, lo tập hợp củng cố lực lượng để chống giặc, giằng co với địch từng bước một để bảo vệ chủ quyền về mặt nội trị và quân sự. Ông là kẻ tử thù của thực dân Pháp lúc bấy giờ và đã làm cho chúng thấy rõ rằng: còn ông không phải chúng muốn gì cũng được. Cuối cùng, việc thế tất phải nổ ra đã nổ ra: đêm 4-7-1885, Tôn Thất Thuyết lãnh đạo cuộc vũ trang chống Pháp, đánh một đòn quyết liệt vào sào huyệt của giặc ở Mang Cá. Thất bại, ông đưa vua Hàm Nghi bỏ kinh thành chạy ra Quảng Trị và xuống chiếu phát động Cần Vương, kêu gọi sĩ phu và nhân đân toàn quốc nổi dậy đánh Pháp. Sau khi đưa vua Hàm Nhi lên Tân Sở, vượt biên giới Lào - Việt đi đường núi ra Hà Tĩnh, vào tháng 2-1886 ông để vua và con mình ở lại, rồi cùng Trần Xuân Soạn và một số tuỳ tùng qua Trung Quốc cầu viện nhà Mãn Thanh. Trên đường xuất ngoại, qua Thanh-Nghệ-Tĩnh, Tôn Thất Thuyết đã liên lạc với những người cầm đầu phong trào Cần Vương ở địa phương như Phan Đình Phùng, Cầm Bá Thước, Hà Văn Mao, các tướng lĩnh chiến khu Ba Đình. Cũng trong hồi này, ông tìm cách xen vào mâu thuẫn Pháp - Xiêm trong vấn đề Lào để bẫy cho chúng mở rộng xung đột hòng làm lợi cho phong trào cứu nước của ta, song không thành. Giặc Pháp và bè lũ tay sai hết sức tìm cách dụ dỗ, mua chuộc ông không được, lại lùng đuổi rất ráo riết, treo thưởng hàng nghìn lạng bạc cho ai bắt được ông. Ông vẫn tiếp tục hành trình của mình, ra Hưng Hoá, theo đường sông Đà tới Lai Châu, tiếp xúc với hầu hết những người cầm đầu quan trọng của phong trào trong vùng mình đi qua, đóng góp nhiều với họ về kế hoạch và đường lối đánh giặc. Năm 1887, ông vượt biên giới Việt - Trung đến Vân Nam, rồi Quảng Tây. Ở đây ông đã liên lạc với Lưu Vĩnh Phúc. Bấy giờ (1888), liên tiếp nghe tin vua bị bắt, con chết, ông vẫn không nản lòng, tìm hết cách cầu viện Mãn Thanh, lo vận chuyển súng ống về nước và luôn luôn giữ vai trò động viên anh em đồng chí. Năm 1889, ông còn gửi thư cho Phan Đình Phùng bàn việc nước và trực tiếp thảo luận kế hoạch với Tống Duy Tân ở Thanh Hoá qua Ttrung Quốc gặp ông xin ý kiến. Nhưng rồi bọn quan lại nhà Thanh trước sự phản kháng của lãnh sự Pháp, bắt đầu lạnh nhạt ra mặt với ông và làm chuyện khó dễ. Ông bị an trí ở Thiều Châu và Long Châu, về sau, từ 1891 triều đình Mãn Thanh trợ cấp cho ông mỗi tháng 60 lạng bạc (món tiền này đến sau Cách mạng Tân Hợi vẫn còn duy trì), nhưng không cho ông ra khỏi địa giới của tỉnh. Dĩ nhiên ông không thể sống một cuộc đời bó buộc như vậy. Mối ưu uất của ông về việc nước do đó mỗi ngày một tăng. Tháng 3-1913 ông lâm bệnh nặng và ngày 21-6 năm ấy ông từ trần.

Gia đình Tôn Thất Thuyết cũng đóng góp nhiều cho kháng chiến. Ông thân Thuyết bị Pháp đày đi Côn Đảo. Ba anh em trai ông (Lệ, Hàm, Phong) đều tham gia phong trào Cần Vương. Chính Tú tài Tôn Thất Phong là người cầm đầu cuộc đánh thành Thanh Hoá đêm 14 và sáng 15-3-1836. Hai con trai ông (Đàm và Thiệp) đều hy sinh anh dũng cho công cuộc cứu nước.
________________________________
1. Giảng viên Cao đẳng Sư phạm Hà Nội (Đã mất)
2. Vua Minh Mạng có làm 11 bài thơ tứ tuyệt, một bài về Đế hệ cho con cháu và 10 bài về Phiên hệcho anh em mình (con Gia Long), lần lượt mỗi đời lấy một chữ trong bài đặt làm họ riêng để định thứ bậc thân sơ. Về Đế hệ theo thứ tự Miên, Hồng, Ưng, Bửu, Vĩnh, Bảo. Thí dụ Miên Tông (Thiệu Trị) rồi đến Hồng Nhậm (Tự Đức), Ưng Xuy (Đồng Khánh), Bửu Bảo (Khải Định), Vĩnh Thụy, Bảo Long… Ngoài ra, những chi xa từ trước Gia Long đều gọi là Tôn Thất.
3. Lạng Sơn - Cao Bằng - Bắc Ninh - Thái Nguyên.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #29 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2016, 06:24:17 pm »


2. Điểm lại một số ý kiến khen chê Tôn Thất Thuyết1.

Những lời chê Tôn Thất Thuyết không ít. Một bài vè hồi 1885 liệt ông vào số những nhân vật phản diện đương thời:

          Nước Nam có bốn "anh hùng"
          Tường gian, Viêm láo, Khiêm khùng, Thuyết ngu.
          Lại thêm hai đứa vũ phu,
          Đề Đức, Đề Soạn cong khu chịu đòn
2.

Một bài thơ khác đả kích ông là một trong "mấy đứa gian hùng loạn mối giường", lời lẽ còn thậm tệ hơn:

          An Nam quốc vận ngẫu tai ương
          Kỷ cá gian hùng cấu loạn trường
          Diện nhục hoành sinh Tôn Thất Thuyết
          Nhãn tinh đa bạch Nguyễn Văn Tường
          Chẩm quân thủ tước tân danh Nghĩa
          Sát tướng cầu quan bản tính Trương
          Khứ quốc khả tân minh triết giả
          Hà thời chiêu tuyết định cương thường.

Dịch:
          An Nam vận nước gặp tai ương
          Mấy đứa gian hung loạn mối giường
          Khuôn mặt đầy phè Tôn Thất Thuyết
          Con ngươi trắng rã Nguyễn Văn Tường
          Hại vua lấy tước nay tên Nghĩa
          Giết tướng cầu quan vốn họ Trương
          Bỏ nước thương thay người triết giả
3
          Bao giờ định lại được cương thường4.   

Một tác giả khắc hoạ lại bài trên đây, vừa than thở vừa chơi chữ (Còn truyền có hai câu)5:

          Nhất giang lưỡng quốc nan phân thuyết6
          Lục nguyệt tam vương triệu bất tường7.

Dịch:
          Một sông hai nước khôn đường nói
          Sấu tháng ba vua triệu chẳng lành.


Xét cho cùng, qua những lời chỉ trích nặng nề trên đây, Tôn Thất Thuyết dù có "tội" cũng là nhẹ nhất. Những hành vi mà bọn đối lập bất bình nhất như "hại vua lấy nước”, "giết tướng cầu quan", "sáu tháng ba vua"... họ đều không ghép cho ông. So sánh với hình ảnh ông với hình ảnh Tường "con ngươi trắng rã" trong thơ họ, cũng đủ thấy họ căm ghét ai hơn. Cái "ngu" mà họ chửi Thuyết cũng chỉ là về nhận thức, về hành động, không phải về tâm địa như "gian" hay "láo".
____________________________________
1. Những ý kiến khen, chê Tôn Thất Thuyết, nhất là về những lời chỉ trích, chính Phan Khôi cũng có lần mạt sát Tôn THất Thuyết rất thậm tệ. Ở đây, chúng tôi chỉ mới có thể đề cập đến những ý kiến mà chúng tôi có tài liệu kê cứu.
2. Sáu người kể đây là Nguyễn Văn Tường, Hoàng Tá Viêm, Ông Ích Khiêm, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Đức, Trần Xuân Soạn.
3. Nghĩa tức là Ông Ích Khiêm, giết vua Hiệp Hoà; Trương là Trương Quang Để, người giết Trần Tiễn Thành; “Người triết giả” là Tuy Lý Vương Miên Trinh, chú của Tự Đức.
4. Có sách chỉ chép 6 câu: 4 câu cuối bài này và 2 câu bài sau cho làm một bài. Nhưng như vậy bài thơ hoá ra thất niêm và ý thơ không thống nhất; bài này lời nào cũng kêu đích danh ra chửi, hai câu dưới lại chửi theo lối chơi chữ và lời cũng nhẹ nhàng hơn.
5. Có người cho là của Ông Ích Khiêm nhưng không phải vì chính Khiêm cũng nhúng tay vào vụ “sáu tháng ba vua”. Theo Delvaux, đây là của một viên Tá lý bộ Binh làm dán ở cửa nhà Tường, sau đó viên này từ chức.
6. Có sách chép là "thùy vô thuyết" (ai không nói); hai chữ tường, thuyết còn là tên người.
7. Tình thế lúc bấy giờ: hai bên sông Hương, một bên là đồn luỹ Pháp, một bên là triều đình Huế. Còn ba vị vua bị giết sau khi Tự Đức chết là: Dục Đức, Hiệp Hoà, Kiến Phúc.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM