Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:56:05 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913  (Đọc 74936 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #30 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2016, 03:53:11 pm »


Cái trách nhiệm họ đổ cho Tôn Thất Thuyết không phải là sự tính toán mưu lợi cho riêng mình mà là việc quốc gia: “một sông hai nước". Thế nghĩa là: dầu chê bai đúng đi nữa, họ cũng không thể nói gì tới lòng trung thực rõ rệt của ông, điều mà ngay bọn thực dân cũng phải thừa nhận. Huống chi có, thật ông ngu không? Ngu ở chỗ nào? Một số người thường cho Tôn Thất Thuyết bị Tường giật dây, Tường bảo gì ông làm nấy, "thường việc gì cũng do ông Tường xui khiến cả" (Việt nam sử lược, Trần Trọng Kim). Sự thực không phải như vậy. Nhiều điều trù tính của ông, chẳng hạn việc đánh Pháp một đòn quyết liệt vào đêm 4-7-1885, căn bản do một đường lối sắp sẵn từ trước, không đợi khi làm Phụ chính với Tường mới có. Ông có nghe Tường cũng chỉ tuỳ từng việc, cái gì thấy có lợi cho nước mới theo. Chứng cớ là nhiều khi Tường ngăn ông không nổi, phải nhờ đến Từ Dũ (mẹ Tự Đức) can thiệp. Chứng cớ là trong giờ phút cuối cùng, biết Tường biến tâm qua thái độ trù trừ, qua những lời gàn trở của y, ông tự ý xử lý hành động một mình trong cuộc tấn công vào Mang Cá. Khi biết Tường hàng Pháp, việc đầu tiên của ông là cho người đốt ngay nhà tư của Tường.

Về chuyện "nhất giang lưỡng quốc”, lỗi không phải ở Tôn Thất Thuyết. Ta biết rằng mãi tới 1883, năm cuối triều Tự Đức, lúc tình thế đã khó có cơ cứu vãn rồi, ông mới tham gia Cơ mật viện và chỉ thực sự có quyền sau khi Tự Đức mất. Sự kiện "một sông hai nước" đã không do ông, mà trong thực tế thì hơn ai hết, ông lại muốn thanh toán nó sớm ngày nào hay ngày ấy nữa kia!

Mặt khác, ta cần thấy rõ kẻ chỉ trích Tôn Thất Thuyết trên đây thuộc vào phe nào? Cái người "minh triết" mà họ "thương thay” vì phải "bỏ nước" là ai? Là Tuy Lý Vương, khi chống Tôn Thất Thuyết không xong đã trốn vào đồn giặc, ôm chân viên Khâm sứ De Champeaux. Ba "vua" mà họ than tiếc là ai? 1. Trừ Kiến Phúc do Nguyễn Văn Tường đầu độc, chủ yếu với động cơ cá nhân, còn Dục Đức với Hiệp Hoà đều thân Pháp. Dục Đức - kẻ mà ngay Tự Đức cũng phải cho là "đại bất thiện" - đã liên lac với linh mục Thơ, một tên gián điệp đội lốt tu hành. Còn Hiệp Hoà thì chính là kẻ chủ mưu câu kết với giặc ám hại Tôn Thất Thuyết để nhận sự "bảo hộ" của giặc. Trần Tiễn Thành mà Trương Quang Đễ hạ sát chính là tay đầu sỏ chủ hoà, thân danh đệ nhất Phụ chính đại thần mà lại luôn luôn công khai tuyên truyền tinh thần thất bại, đã có lần bị Tôn Thất Thuyết mắng mất mặt là "đồ mặt chuột" giữa triều. Thế thì quan điểm của những kẻ bênh vực cho bọn Dục Đức, Hiệp Hoà, Tuy Lý, thành ra chỉ là quan điểm phản kháng chiến, phản dân tộc, không có gì là chân chính. Họ hằn học với Tôn Thất Thuyết không phải là điều đáng lạ và nếu họ chỉ chửi Tôn Thất Thuyết được có như thế - như chúng tôi đã phân tích - là vì đức độ tiết tháo của ông đã đến một mức không dễ cho họ xuyên tạc, bóp méo quá đáng.
_______________________________________
1. Có người hiểu "sáu tháng ba vua" tức là trong khoảng 6 tháng có 3 vua nối nhau: Kiến Phúc, Hiệp Hòa, Hàm Nghi.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #31 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2016, 03:54:17 pm »


Trần Trọng Kim trước kia cho rằng "Thuyết tài năng thì kém mà lại nhát gan cho nên đa nghi và hay chém giết". Tôn Thất Thuyết mà tài năng kém ư? Một đời "oai danh sấm sét, dẹp bắc đánh đông"1 giới thiệu nhiều về tài năng của ông mà ngay địch cũng phải gờm. "Các sỹ quan Pháp hạ thành Huế hầu hết đều nhận rằng quân An Nam thua là vì khí giới kém chứ không phải xếp đặt vụng" (Phan Trần Chúc). Còn nhát gan? Dưới ngòi bút của Trần Trọng Kim hình ảnh Tôn Thất Thuyết hiện ra đến thảm hại: "Xưa nay chỉ lấy quyền thế mà đè nén người ta, hơi một tý thì gây lấy sự chém giết làm oai. Đến khi phải ra theo lễ bang giao mà đối với một người tướng ngoại quốc là ông De Courcy thì trong bụng khiếp sợ không biết ra thế nào!”. Khiếp sợ mà vẫn chống địch đến cùng, nhát gan mà là lãnh tụ kiên quyết của phe chủ chiến thật là lạ! Không những Tôn Thất Thuyết có những chủ trương kiên quyết và mạnh dạn đối với giặc mà tính ông cũng rất can đảm. Chính theo tài liệu của Pháp, của linh mục Delvaux, hồi vượt biên giới Lào - Việt, qua làng thiểu số Bạng Câu, khi toán quân của Tôn Thất Thuyết đi hộ tống Hàm Nghi bị quân triều đình Đồng Khánh chặn đường đổ xô vào nhằm bắn, Tôn Thất Thuyết đã nhảy ngay lên ngựa chắn ngang võng vua và thét lớn: "Chúng mày có giỏi thì bắn vào tao đây!" Trong khi ông trấn áp tinh thần đối phương, Trần Xuân Soạn kịp thời tập hợp lực lượng đánh lui chúng.

Mặt khác cần vạch rõ chỗ xuyên tạc tài liệu của Trần Trọng Kim. Có thể nói nhiều đoạn Trần Trọng Kim gần như chép lại "Hạnh Thục ca", một tác phẩm đã viết theo quan điểm đầu hàng, mà chép cũng không đúng nữa, vì đã thêm thắt, cắt xén, biến chế nhiều chỗ theo quan niệm riêng. Ví dụ trong "Hạnh Thục ca", Nguyễn Nhược Thị chỉ phê phán những kẻ "quyền thần" nói chung (có thể là Tôn Thất Thuyết, cũng có thể là Nguyễn Văn Tường) thì Trần Trọng Kim gắn riêng cho Tôn Thất Thuyết. Ông ta cố trình bày cho người đọc thấy rằng Tôn Thất Thuyết bị De Courcy bức bách mới liều đánh đồn Mang Cá, trong khi chính Nguyễn Nhược Thị cũng nói là ông có ý định khởi sự trước đó hàng ba bốn tháng.

Một số người khác tuy có thừa nhận một số điểm khả thủ của Tôn Thất Thuyết, nhưng nhận xét về ông vẫn rất lệch lạc. Phan Trần Chúc cho người đọc thấy tính tình Tôn Thất Thuyết hết sức tàn bạo, trình bày Tôn Thất Thuyết như một người mất hết nhân tính. Trong "Vua Hàm Nghi" có ghi lại mấy mẩu chuyện làm dẫn chứng:

"Một hôm Thuyết ra chơi ngoài phố chợt thấy một đứa bé đang chửi mẹ. Thuyết đứng lại xem và hỏi tuổi đứa bé. Mẹ nó thưa là nó lên sáu tuổi. Ngồi vào mâm ăn, đứa bé vừa trở đầu đũa thì bị Thuyết sai lính mang ra chém, cho rằng đứa bé đã khôn (biết trở đầu đũa) mà còn chửi mẹ là bất hiếu... Tại Huế, Thuyết giết không biết bao nhiêu mạng người. Người ta nghiệm rằng sáng nào Thuyết vui vẻ ra hầu thì không xảy ra sự gì. Nhưng sáng nào Thuyết ra ngồi công đường mà mặt đã cằm cặm, ngồi khom khom có vẻ tức giận thì hôm ấy ít nhất có một người bị Thuyết chém... Một viên hành tẩu bộ Binh tên là Chuyên tình cờ bị Thuyết bắt được đang đọc một câu phong dao nói xấu Thuyết, lập tức bị Thuyết sai đao phủ mang ra chém, không ai dám xin, mà dù ai xin cũng không được. Không những Thuyết không để cho phái phản đối mang cái tư tưởng hoà bình (ý nói chủ hoà - T.D.) ra thực hành mà lại còn lấy uy vũ bưng miệng mọi người, cấm không ai được phát biểu tư tưởng ấy. Thuật việc thời bấy giờ một bạn đồng liêu với Tôn Thất Thuyết là Huỳnh Côn nói: "Chúng tôi sợ lối xử trí ấy không biết ngần nào nên trăm miệng đều kín như bưng. Các quan nếu có bàn tán điều gì thì phải đóng kín cổng và giữ cực kỳ bí mật"... Tôn Thất Bá ở Bắc Kỳ vô Kinh chỉ nói có một câu: "Sức người Pháp mười phần, ta chỉ có hai phần". Đến tai Tôn Thất Thuyết, cách mấy giờ sau Tôn Thất Bá bị bắt trói và giam tại ngục Phủ Thừa, mãi đến khi Pháp hạ thành Huế, mở cửa ngục, Bá mới được ra khỏi...".

Nhưng dầu việc Tôn Thất Bá và tình trạng của bọn Huỳnh Côn có đúng đi nữa thì cũng hợp lý thôi, không oan uổng gì! Một tên đào ngũ trong hồi mất Hà Nội lần thứ hai, một tên sau này cam tâm làm tôi mọi cho giặc mà bấy giờ lại còn bàn bạc hay tung ra những chuyện làm nản lòng mọi người, bị trấn áp là phải và là cần thiết nữa!
___________________________________
1. Văn tế Tôn Thất Thuyết của Nguyễn Thượng Hiền (xem Phong trào cách mạng Việt Nam qua thơ văn của Trần Huy Liệu).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #32 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2016, 03:56:52 pm »


"Mấy năm sau cùng, vua Tự Đức đã mất hết nghị lực phấn đấu. Triều thần thì kẻ chủ chiến người chủ hoà, nhưng dù chiến hay hoà, hai phái cũng chỉ vật nhau bằng lưỡi chứ không ai chịu hành động gì cả. Mấy ông vua kế vị Tự Đức thì đối với triều đình chưa có oai quyền, với thần dân không đủ tín nhiệm. Vậy trong triều tất phải có một người có định kiến. Người ấy là Tôn Thất Thuyết. Mà muốn cho cái định kiến kia có thể thực hành được thì thế tất phải trừ những người không đồng ý với Thuyết. Triều thần người nào chủ hoà đều bị coi là thù chung của nước Nam và thù riêng của Thuyết". Lý lẽ của Phan Trần Chúc chưa thật đủ song cũng đã chỉ ra điểm đáng bênh vực trong hành động của Tôn Thất Thuyết. Cần nói rõ thêm rằng: chủ hoà lúc ấy chính chỉ là đầu hàng; rằng phe chủ hoà không những có vua, lại có cả Từ Dũ và Thọ Xuân, Gia Hưng, Hoài Đức... mẹ và chú của Tự Đức; rằng phái chủ chiến của Tôn Thất Thuyết lại đứng vào thiểu số, ông sở dĩ có thế mạnh chỉ nhờ vì nắm binh quyền trong tay. Mặt khác, cũng nên biết sự hoang mang trong quần chúng lúc ấy không phải nhỏ. Ở Huế bấy giờ người ta đồn đại nhiều về những triệu chứng "trời xui mất nước", nào là mặt trời mọc tự nhiên úa thành sắc xanh lá cây suốt một tháng ròng (tài liệu của Delvaux), nào là sao chổi, nào là tiết trời tự nhiên đổi ra rất độc, bệnh tật lan tràn... "Giữa ban ngày mà người ta tưởng chừng như có hàng trăm vạn âm binh kéo qua phố phường để tróc nã con người. Dân kinh thành rất khiếp sợ, không mấy người dám ló ra khỏi cửa" (tài liệu của Nam tử). Đến nỗi hôm Hàm Nghi tức vị, chỉ có một con dê đi qua cửa Tây hoàng thành, người ta cũng cho là điềm không lành: Tây dương (!) phạm khuyết. Trong tình thế quần chúng cực kỳ hoang mang như vậy, ở vào địa vị Tôn Thất Thuyết không thể không thi hành những biện pháp gắt gao đối với những kẻ đưa ra những luận điệu có hại cho kháng chiến.

Trở lại cái bệnh "ham giết người” của Tôn Thất Thuyết mà Phan Trần Chúc chê trách. Người ta nói có lần, hồi Tôn Thất Thuyết ở Thanh Hoá, hai cô đào hát nọ đi qua dinh ông vì đội nón quai thao bỏ quai ra sau gáy mà bị ông sai lính vặn cổ từ đằng trước ra đằng sau. Và câu chuyện phổ biến là nơi nào ông đóng quân (Thanh Hoá hay Bắc Ninh cũng vậy) người chung quanh phải đập chết gà chó, đào hết dun dế là những thứ ông không thích nghe tiếng, ai trái lệnh là chém. Gần đây ông Bửu Tiến (trên tạp chí Văn nghệ) còn kể chuyện Tôn Thất Thuyết đã giết cả con trai cả của mình vì anh chàng này chủ hoà, và trước mặt người con dâu chết ngất khi thấy thủ cấp chồng đặt trong chiếc khay, Tôn Thất Thuyết "sang sảng" nhắc lại ý chí cương quyết kháng chiến của mình.

Có hay không? Theo chúng tôi người ta đã quá tin vào những lời phản tuyên truyền của bọn chủ hoà, bọn đầu hàng. Tuy vậy, cứ giả thiết rằng mấy chuyện trên đây ít nhiều cũng có cái gì thực, thì chí ít hành động của Tôn Thất Thuyết cũng bảo vệ một quan niệm, một nguyên tắc nào đó chứ không phải giết để mà giết, cho thoả lòng khát máu. Do đó, luận điệu nói rằng "hôm nào Thuyết không vui, ít nhất lại có một người bị chém", cũng như kiểu Trần Trọng Kim bảo Tôn Thất Thuyết "hơi một tý lấy sự chém giết làm oai" rõ ràng chỉ là xuyên tạc trắng trợn. Vả lại giả thiết thế thôi, chứ những chuyện trên đây hoàn toàn không có gì đảm bảo. Đừng nói Bắc Ninh hay Thanh Hoá là nơi Tôn Thất Thuyết ở không bao lâu, ngay cả câu chuyện giết con trai cả mà Bửu Tiến nghe ở Huế, nơi sát Tôn Thất Thuyết nhất đấy, đã hoàn toàn sai. Sự thực Tôn Thất Thuyết chỉ có ba người con trai, hai người đầu đã tuẫn tiết vì nước (Đàm và Thiệp), người con thứ ba (Tôn Thất Trọng), ông gửi Nguyễn Phạm Tuân thủ lĩnh Cần Vương ở Quảng Bình từ lúc còn bé, sau lọt vào tay Pháp, nay nghe nói vẫn còn sống ở Hà Nội, người ta hay gọi là ông Ba Tướng1 (theo tài liệu của Pháp, sau này Tôn Thất Thuyết sang Trung Quốc có lấy vợ kế, nhưng không sinh thêm được người con nào). Làm gì có chuyện người con trai cả nào của Tôn Thất Thuyết bị ông giết? Người ta nhầm với người con rể hư hỏng của ông ở Thanh Hoá là cả Tốn chăng? Nhưng chính Cả Tốn cũng chỉ chết đường vì đói rét, không phải chết chém. Tuy vậy người ta có thể đặt câu hỏi: Thế thì sao lại có những truyền thuyết quá đáng như thế về Tôn Thất Thuyết? Không có lửa sao có khói? Theo ý chúng tôi, có phần chắc sự khủng bố thẳng tay của ông đối với phe chống đối, nhất là trong thời loạn ly đã gây cho người ta những ấn tượng ghê gớm rồi cường điệu thêm, dĩ hư truyền hư, bên cạnh đó không khỏi có sự xuyên tạc của bọn căm ghét ông nữa, rút cục ông mới bị hiểu sai đến thế.

Vả chăng, cứ lý mà suy, một người như ông, đến địch còn phải nhận rằng "những việc bạo động nhiều khi bị thúc giục bởi tấm lòng chân thành yêu nước", một con người như thế có thể nào coi rẻ mạng đồng bào được hay không?
____________________________________
1. Đúng ra Tôn Thất Thuyết có 9 con trai, Tôn Thất Trọng được cha gửi cho thủ lĩnh Cần Vương ở Quảng Bình là Nguyễn Phạm Tuân; sau có tham gia Đông du, rồi mất tích.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #33 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2016, 04:08:16 pm »


Phân tích văn thơ của Tôn Thất Thuyết, ta càng thấy những truyền thuyết kể trên là hoàn toàn nghịch với bản chất của ông. Một con người ngắm cảnh mà tâm hồn muốn theo mây nước phơi phới ra ngoài cõi trần, lấy trăng làm đèn, nhận gió làm quạt1, một con người yêu thiên nhiên đến mức hoà vào thiên nhiên:

          Non xanh nước biếc cùng đưa đón.
          Bể rộng sông dài ít dặm khơi
2.

Một con người thấy chim én bay trong mưa gió mà bỗng động lòng thương xót ngậm ngùi hỏi chim:

          Sao chẳng nương thân chốn cửa nhà.
          Bên đèo mưa gió rộn bay ra?


Một con người trước ngôi miếu cổ chỉ nghe chuyện người xưa mà đã thấy lòng “bồi hồi” giữa một trời trăng nước3 một con người giàu tình cảm, hơn nữa một con người tự cho mình là có "thiền tâm"4, một con người như thế có thể cho là một con người ham giết, giết để mà giết được không? Con người đã biết yêu những kẻ có tài mặc dầu ngạo ngược, đã thấy rung động được vì cảnh mẹ già con dại của người khác (xem phần dưới), nhất là con người đã từng khuyên người khác phải "công bình liêm chính", con người đó có thể khát máu, lấy việc chém giết làm trò tiêu khiển hay không? Nếu không sợ là suy diễn, chúng tôi cũng có thể viện dẫn chứng cớ cụ thể khác. Tự Đức là người rất xét nét về từng hành vi nhỏ nhất của các quan, thế mà khi Tôn Thất Thuyết vào Kinh chiêm cận, Tự Đức đang giận cũng phải mắng Thuyết "tính kiêu, lượng hẹp" (theo Quốc triều chính biên toát yếu), chớ không thấy đả động đến cái gì là giết người quá mức. Chứng cớ rõ rệt nhất là vụ Phan Đình Phùng. Khi Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường phế Dục Đức lập Hiệp Hoà, Phan Đình Phùng phản đối ngay tại triều, và trước đông đủ bá quan, họ Phan lên tiếng mắng Tôn Thất Thuyết. Nhưng ông chỉ bắt Phan Đình Phùng giam vào ngục, sau đó cho về nguyên quán, không những không giết lại còn bí mật cử họ Phan làm Tham biện sơn phòng Hà Tĩnh nữa. Chỉ vì một lý do là: tuy Phan Đình Phùng làm mất mặt ông trước trăm quan nhưng là người yêu nước; chống ông rõ ràng, nhưng lại cũng cương quyết chống Pháp. Điều đó chứng tỏ một cách hùng hồn rằng: cái nóng của Tôn Thất Thuyết không đến mức mù quáng, đường lối khủng bố của ông không phải bừa bãi và hoàn toàn không phại vì động cơ cá nhân, càng không phải "hơi một tý lấy sự chém giết làm oai" như Trần Trọng Kim nói. Đến ngay điểm "tính kiêu, lượng hẹp" mà Tự Đức phê bình Tôn Thất Thuyết cũng nên xem xét lại cho kỹ. Cần phải nói rằng có đi nữa cũng là sự thường thôi, một ông tướng phong kiến làm sao khỏi vết này tật kia? Nhưng có thực là Tôn Thất Thuyết kiêu và hẹp không? Người ta thường dẫn chứng bằng câu chuyện ông đối xử với Ông Ích Khiêm: Tôn Thất Thuyết trước đây làm quan dưới quyền Ông Ích Khiêm, sau Khiêm bị biếm về Kinh, lúc trở ra lại ở dưới quyền ông. Ban đầu ông vẫn cư xử như anh em, nhưng Khiêm thường tỏ ý xấc xược, không phục. Ông tức mình kiếm cớ giam Khiêm lại. Nhưng nếu chỉ có vậy thì cũng chưa có gì để quyết đoán rằng Tôn Thất Thuyết kiêu và hẹp. Một người ngang ngạnh như Khiêm, trên dưới không từ một ai, Tôn Thất Thuyết có khó chịu cũng chẳng có gì đáng lạ và đáng trách. Sau này Khiêm bị giết ở Khánh Hoà là do Tường, mà cũng do những lời thơ có tính chất đe doạ triều đình của Khiêm nữa5. Huống chi theo một tài liệu khác (Nhật Nham, tạp chí Tri Tân), việc bắt giam Khiêm lại là do Vũ Trọng Bình, tổng đốc Hà Ninh muốn tranh công. Mặt khác, đối chiếu hành trạng hai người thì khi Khiêm làm Tiểu phủ sứ, Tôn Thất Thuyết đã làm Tán tương, không bao giờ ở dưới quyền Khiêm cả. Do đó câu chuyện trên cũng không có gì đảm bảo, và một lần nữa ta lại càng thấy phải dè dặt khi nghiên cứu những truyền thuyết cũ.

Vả chăng nếu Tôn Thất Thuyết hẹp hòi thì xin nhắc lại - đầu Phan Đình Phùng đã không còn. Không những không hẹp hòi, ông còn mạnh dạn đề bạt cấp dưới nữa. Trường hợp Trần Xuân Soạn là một trường hợp điển hình: họ Trần nguyên là lính chân trắng, chỉ vì trong một trận đánh ở Bắc Ninh tỏ ra gan dạ mà được Tôn Thất Thuyết một ngày thăng luôn ba trật: xuất đội - phó quản - chánh quản và cứ thế lên vùn vụt. Trong khi đó, dưới triều Nguyễn, đặc biệt là khi trận mạc, số người có khả năng bị chèn ép, bị dìm đi không phải là ít.
_______________________________________
1. Câu đối của Tôn Thất Thuyết ở đền Sòng, đền thờ bà Liễu Hạnh ở Thanh Hóa (do ông Chu Thiên đọc cho nghe):
   "Cổ bất sơn, sơn như bích, tuyền như trì, vân thủy siêu nhiên trần cảnh ngoại; Hoặc thứ cơ, nguyệt khả đăng, phong khả phiến, trúc tùng tự tại cổ chu trung".
   Nghĩa là: Cố nhiên không hẳn như thế (song cũng có thể nói là): núi dựng như vách, mặt suối phẳng như mặt ao, mây nước mơ hồ như ở ngoài cõi đời này; Và cũng có thể nói được rằng trăng làm đèn, gió làm quạt, trúc tùng vẫn đứng yên trong cái vòng cũ của chúng.

2. Tài liệu của ông Trần Huy Liệu (Phong trào cách mạng Việt Nam qua thơ văn).
3. Khi ở Long Châu, Tôn Thất Thuyết buồn vì việc nước, khóc ra huyết lệ. Những người tùy tùng thường đưa ông đi ngoạn cảnh cho khuây khỏa. Một hôm thuyền ra giữa sông, ông nhìn lên bờ thấy có một ngôi miếu cổ. Hỏi thì được biết đó là miếu thờ một võ sinh đang ở nhà thờ mẹ, vì việc nước phải đi dẹp giặc, sau thành bị vây chết luôn với thành. Ông đọc ngay câu đối này:
          "Văn quân tử thủ cô thành, khảng khái, quốc trung thần, gia hiếu tử;
          Kim ngã tài lâm thử thổ, bồi hồi, giang bán độ, nguyệt tam canh"
   Nghĩa là:
          Nghe người giữ cô thành cho đến chết, tỏ rõ tinh thần khảng khái của bề tôi trung với nước, con hiếu nhà;
          Nay tôi đến đất này, lòng bồi hồi giữa lúc đò mới sang được nửa vời và trăng mới vào khoảng canh ba.

4. Theo ông Doãn Kế Thiện, trong những ngày ở Long Châu, có lần người ta khuyên Tôn Thất Thuyết cạo đầu (vì ông quay ra mộ đạo Phật nhưng không vào chùa, chỉ tu tại gia), lại cạo cả râu. Ông không nghe và có ngâm hai câu:
          “Thiền tâm ninh ái phát, Nam diện yếu lưu tu”
   Nghĩa là:
          Lòng thiền đâu có tiếc gì tóc, nhưng mặt nam nhi cần phải để râu lại.

5. Chúng tôi sẽ có dịp nói kỹ về Ông Ích Khiêm.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #34 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2016, 04:13:28 pm »


Ở phần trên đã nhắc đến những luận điệu của bọn chỉ trích Tôn Thất Thuyết. Ngược lại phần khen ông cũng không phải là ít. Trong một số Tập san Văn sử Địa trước đây, bạn Lương An có nhắc đến bài vè "Thất thủ kinh đô" của nhân dân "đã đưa ra cho chúng ta cái hình ảnh của Tôn Thất Thuyết, một người không chịu khuất phục làm nô lệ kẻ khác, một người độ lượng, vì nước hy sinh, nói tóm lại một người yêu nước chân chính". Hình ảnh Tôn Thất Thuyết sau khi võ trang chống Pháp ở Huế bị thất bại trong bài vè là hình ảnh một trung thần đau đớn vì cảnh quốc phá quân vong mà người ta thường thấy ở những truyện cổ:

          Quan Tướng nước mắt ròng ròng
          "Tưởng là hiệp chiến giao công,
          Khôi phục Trấn Bình, nhà nước thung dung.
          Tôi xin thọ tội cửu trùng..."


Có một bài thơ thời thế hồi ấy trong đó tác giả đã ca ngợi việc Tôn Thất Thuyết kiên quyết đưa Hàm Nghi đi:

          Cam Lộ dời ra nhờ có Thuyết
          Nhà Chung ở lại giận cho Tường.


Người trong nước kính phục ông đã đành (xem phần dưới), người nước ngoài cũng thừa nhận ông có nhiều ưu điểm. Ngay đối phương cũng vậy: "Là một tử thù của nước Pháp, nhưng người Pháp đối với Tôn Thất Thuyết chỉ có oán với trọng, chứ không có khinh" (PTC). Đến như người Trung Quốc đối với ông thì lại càng có cảm tình. Một tác giả đã ví Tôn Thất Thuyết với Thân Bao Tư, Liêm Pha đời Chiến quốc trong bài thơ dưới đây1:

          Thế lộ mang mang kỷ vạn trùng,
          Thốn tâm như mã dục truy phong.
          Bôn Ngô đãi triển cô thần chí,
          Tồn Triệu tiên tư lão tướng công.
          Kiếm ngoại hoành quan tân vũ trụ,
          Đăng tiền tung luận cổ anh hùng,
          Nhất bôi dự đính quy lai nhật,
          Vân tể Nam thiên húc ánh hồng.

Dịch: (nguyên văn)

          Dằng dặc đường đời mấy vạn trùng,
          Tấc lòng như ngựa muốn truy phong.
          Qua Ngô tôi độc chờ phô chí,
          Gìn Triệu quan già trước nhớ công.
          Hoành kiếm xem ngang tân vũ trụ,
          Trước đèn bàn rộng cổ anh hùng.
          Ngày về thầm định trong chung rượu,
          Mây sớm trời Nam rẽ ánh hồng.

________________________________
1. Có người cho bài này là thơ tặng Trần Xuân Soạn. Chúng tôi thấy nội dung hợp với Tôn Thất Thuyết hơn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #35 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2016, 06:58:34 am »


Lòng ái mộ ông đã khiến người ta không để yên mà tìm cách đính chính ngay lại chỗ thiếu nghiêm túc trong thái độ của kẻ khác đối với ông. Khi ông mất, có người viếng ông bằng đôi câu đối:

         Quý bất khả ngôn, vạn cổ phương danh lun Tượng quận;
         Tôn vô dĩ thượng, bách niên tàn cốt ký Long Châu.

Nghĩa là:

          Cao quý không kể xiết, muôn thuở tiếng thơm còn lưu nơi Tượng quận1.
          Đáng trọng đến mức không còn ai ở trên, trăm năm xương tàn gửi lại chốn Long Châu.

Tuy là lời khen, nhưng mấy chữ "quý bất khả ngôn", "tôn vô dĩ thượng" có hàm ý riêng sâu xa, nên có người đã chữa lại là:

          Thù Nhung bất cộng đái thiên2, vạn cổ phương danh lưu Tượng quận;
          Hộ giá biệt tầm tĩnh địa3, thiên niên tàn cốt ký Long Châu.

Gần đây sự hiểu lầm về Tôn Thất Thuyết ngày càng bớt đi. Ông Trần Văn Giàu, nếu chúng tôi không nhầm, là người đầu tiên đã trả lại cho Tôn Thất Thuyết cái địa vị xứng đáng của ông trong lịch sử. Tuy vậy có một số điểm khen chê của ông Giàu, chúng tôi thấy cũng cần được thảo luận kỹ. Ông Giàu đồng ý với cuộc kháng cự bằng vũ lực của Tôn Thất Thuyết đêm 4-7-1885 ở Kinh thành, đề cao: “Công lao của cha con Tôn Thất Thuyết nằm rừng lội suối, hy sinh cả ba cho chủ quyền quốc gia". Nhưng ông vẫn tỏ dấu nghi ngờ: "Ta không thể tự hỏi tại sao chính Thuyết và Viện Cơ mật ra lệnh triệt quân rút tướng ở Bắc về Kinh từ sau Thuận An thất thủ? Tại sao lúc quân Pháp khốn đốn ở Bắc Ninh, Tuyên Quang, đại bại ở Lạng Sơn, Đài Loan mà Thuyết vẫn án binh bất động, không thừa cơ hội cuối cùng của triều đình Huế để giành lại quyền bính cho mình mà lại đợi cho đến khi Trung - Pháp chiến tranh đã xong rồi, Courcy đem thêm quân vào Huế, đợi đến lúc ấy ông mới khởi đại sự một cách trễ tràng và tuyệt vọng? (Tập san Đại học Sư phạm). Sau này, trong cuốn "Chống xâm lăng", ông lại phê phán một lần nữa "thái độ rút quân ngồi xem” của Tôn Thất Thuyết: "Ngày nay ta ngó lại lịch sử trước mà xét thì hẳn là ngay Thuyết cũng không phải lúc nào cũng quyết tâm chống Pháp để khôi phục giang sơn. Nắm binh quyền trong tay, Thuyết không sớm thừa những thời cơ hầu như cuối cùng khi Pháp thua trận ở cầu Quan Âm hay Lạng Sơn mà cổ vũ đồng bào cả nước nổi lên đánh Pháp". Ông Giàu nhìn vấn đề khá sâu, nhưng tôi sợ ông chưa nắm hết sử liệu vốn quá tản mạn của ta. Sự thực không phải mãi đến khi De Courcy hống hách áp bức triều đình Huế quá độ, Tôn Thất Thuyết mới tìm cách chống lại. Chủ trương đánh Pháp một trận quyết liệt, Tôn Thất Thuyết có từ hồi nghỉ dưỡng bệnh ở Thanh Hoá. Người ta kể lại một giai thoại4: Hồi này trong dinh Tôn Thất Thuyết có một nơi để tập hợp các nhà văn thân với ông, nơi ấy gọi là Bác Anh Viện (nơi họp của những người học rộng tài giỏi). Chính ở đây, ông đã làm nhiều thơ xướng hoạ với một danh sĩ Thanh Hoá là Đông Cao (cũng là một chứng cớ nữa để bác bỏ luận điệu cho rằng Tôn Thất Thuyết võ biền, vô học). Một hôm Xiển Ngộ thấy hai chiếc biển treo trên Viện mới chỉ có một biển ghi ba chữ nói trên, mới xin Tôn Thất Thuyết đối lại cho đủ. Ông đồng ý, Xiển Ngộ nói rằng: Bác tôi xin đối với cô, anh xin đối với chú, viện xin đối với phường. Bác Anh Viện thì phải sánh với Cô Chú Phường mới chỉnh". Vế đối trào lộng nhưng ngụ ý khuyên Thuyết sâu xa vì "cô chú" vốn có nghĩa là tiếng bạc cuối cùng, còn bao nhiêu tiền dốc ra mà đánh, tức là dùng một đòn tối hậu quyết định. Tôn Thất Thuyết cười xoà, kéo Xiển Ngộ vào uống rượu. Qua tinh thần câu chuyện, ta thấy chủ trương "cô chú" chẳng riêng gì của Tôn Thất Thuyết mà là của cả giới sĩ phu yêu nước ôm ấp từ lâu, không đợi những can thiệp thô bạo của De Courcy mới có. Cho nên khi còn ở Ngũ quân đô thống phủ, được tin Henri Rivière chiếm Hòn Gay và Nam Định, ông đã yêu cầu tăng cường phòng thủ Thuận An gấp rút và ra lệnh cho văn thân các nơi chuẩn bị chiến đấu. Khi Pháp đánh Thuận An (18-8-1883), mới nắm binh quyền hơn một tháng, ông cương quyết ra lệnh chống lại, trước giờ nổ súng người Pháp đã thấy quân ta đổ đá xây kè, cản đường tấn công của giặc. Sau khi Thuận An thất thủ, được tin quân Pháp sắp tăng viện, ông ra lệnh cho Hoàng Kế Viêm phải đánh mạnh ở Bắc Bộ. Quân Việt - Trung phối hợp đánh thành Hải Dương, thắng nhỏ, nhưng 5 ngày sau đối phương phản công ác liệt, ta thất bại. Trận đánh vào Hải Phòng cũng thất bại. Hơn nửa năm sau, khi Bắc Ninh, Lạng Sơn, Hưng Hoá theo nhau thất thủ, Hoàng Tá Viêm cùng Trương Quang Đản (Bắc Ninh) mới bị triệt về Huế. Ta cũng nhớ rằng, chính theo tài liệu của ông Giàu thì tháng 4-1884, trước khi bị triệt về, Trương Quang Đản đã "không chịu cùng Thanh chống Pháp... trở mặt đi đánh dẹp nhân dân". Còn Hoàng Tá Viêm cũng không đánh, rút lui để sau này về Huế cấu kết với cánh đầu hàng. Việc triệt Viêm và Đản về rõ ràng là bất đắc dĩ, tự bọn này hơn là tự Tôn Thất Thuyết. Cũng cần phải nói thêm rằng: lệnh của triều đình Huế bấy giờ ra Bắc không phải bao giờ cũng được chấp hành một cách nghiêm chỉnh, nghe hay không là tuỳ sự tính toán của tướng lĩnh địa phương. Trường hợp Nguyễn Hữu Độ, triều đình gọi về không về, cách chức không chịu, bị giáng xuống đến tòng cửu phẩm (thơ lại) mà vẫn giữ chức Hà Ninh tổng đốc một cách rất chướng, cho ta thấy rõ không phải triều đình muốn gì là được ngay.
________________________________________
1. Tên nước ta thời Bắc thuộc.
2. Thù giặc không đội trời chung.
3. Giúp chúa riêng tìm cõi thác.
4. Ông giáo Lê Văn Uông ở Thanh Hoá kể cho nghe.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #36 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2016, 06:59:44 am »


Còn về sự kiện cầu Quan Âm và Lạng Sơn? Ông Giàu tiếc rẻ rằng "nếu lúc ấy mà quân đội của Tôn Thất Thuyết ở triều đình lại nổi lên đánh Pháp, Hàm Nghi còn ra lệnh Cần Vương thì cơ thắng lợi không phải là không còn nữa". Chiến thắng cầu Quan Âm vào tháng 6-1884 là lúc bọn Viêm, Đản bị triệt về rồi, Lưu Vĩnh Phúc về nước làm quan rồi, lực lương kháng chiến chính quy của triều đình ở Bắc Bộ hầu như không còn gì đáng kể. Căn cứ vào sự kiện cầu Quan Âm, ông Giàu có phần nào quên tình hình chung lúc bấy giờ chăng? Nhất là tình hình chung trong con mắt của các tướng lĩnh phong kiến chưa thể có quan điểm chiến tranh nhân dân như chúng ta ngày nay? Đến như trận quân Thanh thắng Pháp ở Lạng Sơn thì nói gì đến triều đình Huế, bản thân quân Thanh ngay khi thắng rồi cũng không chịu nhúc nhích (chữ dùng của ông Giàu) nữa là! Và không biết ông Giàu có nhớ tới tình trạng giao thông liên lạc, lối đưa tin "hòn than lông gà" hồi đó chăng? Sau chiến thắng Lạng Sơn chỉ có một tuần, Hoà ước Trung-Pháp đã ra đời, có lẽ khi "cơ thắng lợi" đưa về đến Huế thì giấy tờ rút quân của hai bên Mãn Thanh và Pháp đã làm xong từ lâu! Đến như cho rằng Tôn Thất Thuyết "rút quân ngồi xem", "án binh bất động" thì thật quá đáng. Ông lo phòng thủ kinh thành ráo riết, đồng thời "vừa bí mật liên kết với các quan văn võ ở các tỉnh ngoài Bắc, vừa chuẩn bị ở miền Trung: từ Ninh Bình trở vào Nghệ An đến Quảng Trị, nơi nơi đều có tổ chức và củng cố sơn phòng" (Trần Văn Giàu). Những sơn phòng sứ này được tu bổ ngay từ đầu năm 1884, đặc biệt là Tân Sở làm nơi rút lui nếu cần. Mặt khác ông lo tiêu diệt những lực lượng hậu bị của Pháp trong toàn quốc cũng như ủng hộ phong trào kháng chiến ở Khơ me để chia xẻ lực lượng của Pháp (3-1885, tài liệu của Delvaux). Công cuộc chuẩn bị chống Pháp một cách quyết liệt của ông hồi ấy quá rõ rệt và được nhân dân toàn quốc nhiệt liệt ủng hộ đến nỗi bọn tay sai của Pháp ở khắp nơi đều nhận thấy và đều hết sức hoang mang qua những bức thư tới tấp gửi về toà Khâm lúc bấy giờ. Ông cũng không quên việc chuẩn bị tinh thần, chính theo tài liệu của Trần Văn Giàu: "Tại Huế, Thuyết thừa cơ hội để kích thích lòng trung nghĩa. Ví như truy tặng những quan võ trận vong ở thành Hải An, chiểu theo hàm tước mà tuất ấm, sai các lính tế lễ một lượt, liệt thờ vào đền Trung Nghĩa. Những người bị can vào tội thất thủ Hà Nội, Nam Định, Thuận An mà sống thì khoan giảm, liệt Hoàng Diệu vào đền Trung Nghĩa và nêu cao sĩ khí. Bộ Binh làm danh sách 216 người lính chết trong cuộc phòng thủ Thuận An, từ quản xuất trở xuống, chuẩn tặng tuất ấm, nhiêu có thứ bậc để khuyến khích binh sĩ". Tôn Thất Thuyết càng không ngồi yên để chúng lấn dần. Chính hồi này ông đã gửi thư cho Lemaire một bức thư dài với những lời lẽ mạnh dạn mà đối phương cho là "ngạo mạn và khiêu khích" (insolent et provoquant) đòi quân Pháp rút ra khỏi Bắc Bộ, lấy cớ là các tướng Pháp bất lực trong việc trị an. Ngay ở Huế, tháng 8-1884, Pháp đòi giải tán quân đội, ông cương quyết bác đi. Trong khi Hàm Nghi tiếp Khâm sứ Pháp, Tôn Thất Thuyết không chịu lép vế từng nghi tiết ngoại giao để bảo toàn quốc thể làm chúng tức lồng lộn.

Nói tóm lại, hoàn toàn không phải ông "án binh bất động”, “rút quân ngồi xem" mà chỉ là ngấm ngầm chuẩn bị cho chu đáo để nổi dậy. Công cuộc đánh Mang Cá là một tính toán từ rất lâu, rất kỹ (xem thêm: Vè "Thất thủ kinh đô”), không phải nước đến chân mới "khởi đại sự một cách trễ tràng và tuyệt vọng". (Càng không phải "dấy liều", "may rủi thừ xem" như lời nói của Nguyễn Nhược Thị trong Hạnh Thục ca; hay như Trần Trọng Kim cho rằng Tôn Thất Thuyết "thấy có điểm động đất mới nghĩ bụng rằng đây là điềm trời xui khiến bèn quyết ý sửa soạn đánh nhau... hoạ may trời có giúp kẻ yếu hèn gì chăng"... ). Người ta có thể trách Tôn Thất Thuyết tại sao tập trung phòng thủ kinh thành mà xem nhẹ các nơi. Nhưng cũng nên nhớ rằng tình hình Huế sau thất thủ Thuận An "nóng" như thế nào mà trong quan niệm của các tướng lĩnh phong kiến thì kinh thành là tất cả, cũng như ở mỗi địa phương thì tỉnh thành là tất cả. Cắt nghĩa điều đó bằng tâm lý và quan niệm chiến tranh của Tôn Thất Thuyết thì đúng hơn là nghi ngờ ông rút quân về Huế vì "không phải lúc nào cũng quyết tâm chống Pháp".
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #37 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2016, 07:01:34 am »


Nói cho cùng, có lẽ chính ông Giàu cũng cảm thấy lập luận như thế không ổn, nên ông đã tìm một lối giải thích khác về điểm "mâu thuẫn" mà ông thấy ở Tôn Thất Thuyết, về điều mắc mớ vừa rồi của ông: "... Cũng có thể cắt nghĩa được bằng sự có mặt trong cánh đề kháng một số người chỉ dám đề kháng bằng mồm như Nguyễn Văn Tường”. Chúng tôi thấy nhận xét này có lý do tồn tại hơn. Sự thực, không những chỉ kháng chiến bằng mồm, Tường vì sẵn hai lòng, đã hoạt động chống kháng chiến một cách ngấm ngầm, ngăn trở công việc của Tôn Thất Thuyết một cách tinh vi. Ngày nay xem lại Hạnh Thục ca, chúng ta biết rằng chính Tôn Thất Thuyết định khởi sự ngay từ tháng 4-1885, trước hồi tấn công Mang Cá 3 tháng, ngay khi Pháp đánh lấy thành Bình Định, bắt triều đình khoá các đại bác trong thành Huế, mà ông Giàu nói là "Thuyết vẫn phải hóp bụng chịu không dám sớm cử sự". Không, Tôn Thất Thuyết đâu có chịu! Chính ông Giàu ở đoạn khác cũng có nói rằng: "Đại bác bị khoá thì Tôn Thất Thuyết lại đem nhiều bộ binh về Huế, đóng chặt thành". Và theo Hạnh Thục ca, bấy giờ:

          Hiếp lần Tây đã chẳng vì,
          Chọc gan Tôn Thuyết chiến ky phen này...
          Phen này Phấn lực dương uy,
          Truyền quân cơm gạo sắp đi sẵn sàng.


Tường can không được phải vào lấy lời    Từ Dụ "ân cần phân phổ” ngăn Tôn Thất Thuyết lại. Cử sự mà bên trong trống đánh xuôi    kèn thổi ngược, từ ông bạn Phụ chính đến Thái hậu đều gàn trở, làm sao được? Tôn Thất Thuyết đành ngầm chuyển vận súng ống, vàng bạc ra Tân Sở. Tường lại bàn ra tán vào, cố giữ lại một số vàng bạc cho bằng được. Cũng vì vậy mà trong trận Mang Cá, Tôn Thất Thuyết "cũng chẳng đâu đạt một tay hiện hành", không cho cả Từ Dụ, Hàm Nghi và về sau cả Tường được biết. Ngày nay điểm lại những công việc của Tôn Thất Thuyết trong một hoàn cảnh đầy rẫy khó khăn như thế, trong một môi trường với bao nhiêu kẻ chống mình lộ liễu và tinh vi như thế, ta có nhiều lý do để tin vào lòng yêu nước chân thành của ông. Mặc dầu ta vẫn có thể vạch ra ít nhiều cái sai của ông về đường lối chính trị, ngoại giao, quân sự cũng như về tác phong của ông.

Ngược lại ông Giàu cũng có chỗ khen Tôn Thất Thuyết mà theo ý chúng tôi là chưa được đúng. Như về việc Tôn Thất Thuyết qua Trung Quốc cầu viện. Ông biện hộ cho Tôn Thất Thuyết: "Thuyết đi qua sứ Thanh là có lợi; qua sứ Thanh, Thuyết nhân danh nghĩa là Phụ chánh có thể và đã vận động quan quân nhà Thanh ở miền Nam giúp súng, giúp người, dễ dàng cho nghĩa quân qua lại biên giới, do đó một phần mà kháng chiến kéo dài làm cho Pháp thất điên bát đảo, mãi đến 1894 Thuyết hãy còn được viện trợ. Vả lại, ra ở trên biên giới Viêt - Trung Thuyết trực tiếp với các nhà lãnh tụ Cần Vương đất Bắc, liên lạc với Lưu Vĩnh Phúc và quân Thanh giúp đỡ các đạo Cần Vương về súng ống, đạn được...".

Cần phải nói ngay rằng từ 1889, Tôn Thất Thuyết đã bị quan lại nhà Thanh làm khó dễ rồi. Nhưng cho dù hoạt động được mãi đến 1894 thì việc Tôn Thất Thuyết qua Trung Quốc là đúng chăng? Đúng thế nào khi không nhằm chủ yếu vào thực lực của toàn dân mà lại trông vào nước ngoài? Nhất là khi nước ngoài ấy lại là triều đình Mãn Thanh đương sống dở chết dờ? Điều ước Trung - Pháp tháng 4-1885 không làm cho Tôn Thất Thuyết “sáng mắt” ra về sự "giúp đỡ" của Mãn Thanh hay sao? Và cứ gì phải Phụ chính đại thần mới sang cầu viện được trong khi ở nước nhà đang cần người cầm đầu phong trào, không thống nhất được chỉ huy thì chí ít cũng đề ra được một đường lối hành động, một huớng chiến đấu tập trung hơn. Chính Tôn Thất Đàm trong bức thư gửi cho tướng Pháp trước khi tuẫn tiết cũng nói: “Nếu cha tôi ở nhà thì sự thể đã khác hẳn". Đủ tỏ Tôn Thất Thuyết không xuất ngoại sẽ gây thêm được ảnh hưởng trong quần chúng tới một mức nhất định nào đó. Những vận chuyển nhỏ giọt súng ống về nước tuy chứng tỏ sự cố gắng của ông, song hỏi được bao nhiêu? Vả chăng cái kết quả đau đớn là cuối cùng "bệnh bởi lòng buồn, chết vì thế tuyệt; ôm hận suối vàng, nghìn thu uất kết " (Văn tế Tôn Thất Thuyết), điều đó nói nhiều về đường lối cầu viện sai lầm của ông. Điềm khả thủ là: mặc dầu sai lầm, hành động ấy vẫn xuất phát từ một động cơ yêu nước chân thành không phải "đào ngũ” như bọn bồi bút hồi Pháp thuộc đã vu cáo. Cũng cần nói rằng sai lầm trên đây không riêng gì của ông mà là của hầu hết giới sĩ phu yêu nước hồi ấy. Trước đó, triều đình Huế cũng đã trông mãi vào viện trợ của "Thiên triều". Trên đường bôn ba, những người theo ông cũng ôm ấp nhiều cái mộng "Giản thư nước bạn xưa từng ước”, nghĩa là muốn nhờ cậy vào Mãn Thanh. Một bài thơ thời sự rất phổ biến khi đó, đến nỗi người ta gọi là "thơ sấm", càng nói lên tư tưởng ỷ lại của nhiều ông nhà nho ưu thời mẫn thế bấy giờ:

          “...Hô phong hoán vũ dân do thiểu
          Xuất quỷ nhập thần tướng vị sinh.
          Hà nhật Bắc quân lai hữu ý
          Thử thời Tây quỷ một vô hình...”

"Kêu gió gọi mưa, dân còn ít người có tài đến thế. Xuất quỷ nhập thần, tướng làm được như vậy cũng chưa ra đời. Ngày nào quân Bắc tới với ý định cứu giúp, lúc bấy giờ quỷ Tây mới vắng bóng". Dĩ nhiên so với giọng bi quan, hoàn toàn thiếu tự tin này, Tôn Thất Thuyết còn khả thủ hơn nhiều.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #38 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2016, 08:25:06 am »


3. Thêm một vài nhận xét

Sinh thời, Tôn Thất Thuyết sáng tác rất nhiều, song phần lớn thơ xướng hoạ và câu đối ông làm trong khi trấn nhậm các địa phương đã tán lạc gần hết. Mặc dầu vậy, con người của ông cũng khá rõ nét qua một số giai thoại và những bài thơ hiện còn truyền tụng.

Lòng yêu nước sôi nổi của ông vẫn là điểm nổi bật nhất. Yêu nước, ông có một tinh thần tự hào dân tộc rất lớn. Không ai còn lạ câu chuyện ông mắng Trần Tiễn Thành giữa triều: hồi đó Thành còn làm Phụ chánh, trong khi tranh luận Thành có ý khiếp phục quân Pháp và chê bai lực lượng quân Thanh. Tôn Thất Thuyết nổi nóng: "Ông là khách (Thành dòng dõi Minh Hương) mà ông khinh đồng bào của ông, rõ là đồ vô sỉ”. Yêu nước sôi nổi, do đó ông căm ghét giặc đến triệt để:

          “Há dung rắn lợn quấy thần châu?”1

Yêu nước và tự hào về quá khứ của nước nhà:
          “Trần, Lý dòng xưa có kém đâu!”

Yêu nước cho nên luôn luôn tin tưởng vào tiền đồ của dân tộc, mặc dầu đang gặp nhiều trở lực:
          “Hăng hái thơ ngâm phù vận bí
          Cõi Nam bền vững tự nghìn thu”2

Càng yêu nước ông càng hoạt động không ngừng:
          “Nhắn với những ai đồng chí biết
          Thân này dẫu mỏi dám thờ ơ”

Chính vì yêu nước mà ông dễ dàng thông cảm với những người đồng điệu. Hồi Hà Nội thất thủ lần thứ hai, Hoàng Diệu tự vẫn. Cái chết của Hoàng Diệu được nhiều người kính phục, song cũng có những người như Ông Ích Khiêm chê bai, phản đối việc truy tặng Hoàng Diệu: “Khi khởi hành ra Hà Nội, Hoàng Diệu đã đem theo một chiếc dây thắt cổ rồi, tài giỏi trung liệt gì mà truy tặng!”. Bản thân Hoàng Diệu trước đó cũng dâng biểu trần tình trong có câu: “Thành mất dù có chết cũng có tội, đâu dám nói chết là trung nghĩa”. Triều đình sau đó cũng nghe lời Khiêm, không truy tặng gì nữa. Nhưng Tôn Thất Thuyết thì rất dứt khoát trong câu đối viếng:

          “Nhất tử thành danh, tự cổ anh hùng phi sở nguyện;
          Bình sinh trung nghĩa, đương niên thời cục3 khả vô tâm”.

Dịch:
          Một chết mà nổi tiếng, (dầu) từ xưa đó chẳng phải là điều người anh hùng mong muốn;
          Khi còn sống đã là trung nghĩa, cho nên bàn đến thời cuộc lúc bấy giờ cũng không đáng thẹn.

Chính trên tinh thần ấy, khi về triều nắm binh quyền, ông liệt ngay Hoàng Diệu vào đền Trung Nghĩa. Và cũng trên tinh thần ấy, ông sẽ tỏ lòng khâm phục vô hạn người võ sinh Long Châu “khảng khái giữ cô thành cho đến chết” 4
___________________________________
1, 2. Tài liệu của Trần Huy Liệu (Phong trào cách mạng Việt Nam qua thơ văn).
3. Có bản chép là “đại cục”.
4. Xem tập san Văn Sử Địa số 45, trang 23, chú thích 3.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #39 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2016, 08:30:54 am »


Lòng yêu nước của Tôn Thất Thuyết đã giúp ông thoát ra khỏi những câu nệ thường tình. Ông không trung quân một cách mù quáng. Ông là người hoàng phái, Gia Long là vua khai sáng nhà Nguyễn, nhưng ông không ngần ngại nói tới “cái tội của Gia Long rước Tây vào nhà”:

          Đức Gia Long trước có phục tình,
          Viện Tây khôi phục nước mình thành đô.
          Mênh mông thế giới hải hồ,
          Nợ cha con trả biết đời mô cho rồi
                                             (Vè Thất thủ kinh đô)

Vua nào đi ngược lại quyền lợi của Tổ quốc, ông phế đi. Chính ông đã kề gươm vào cổ Hàm Nghi bắt ra khỏi hoàng thành, nhưng cũng sẽ hết lòng bảo vệ Hàm Nghi một khi nhà vua đã là linh hồn của phong trào Cần Vương.

Lòng yêu nước của con người gần trọn đời chiến đấu ấy cũng khác xa thứ yêu nước tiêu cực nhiều chất yếu đuối, than thở. Đôi câu đối của ông ở Cổ Loa thể hiện một cách nhìn nhận, một lối cảm nghĩ đặc biệt. Trong khi người ta đến đền An Dương Vương với tiếng thở dài:

          Cung móng rùa đâu nước đã tan.
(Quy trào vô cơ quốc dĩ không - Tùng Thiện Vương) thì khẩu khí của ông rất hùng:
         
          Tặc đáo Loa thành tuỳ diệt một
          Điện vô cung nỗ dũ oai linh1

Dịch:
          Giặc đến Loa thành đều chết tiệt
          Điện không cung nỏ lại càng thiêng.

Không cứ gì hồi ấy là hồi tư tưởng ông có trận thắng Cổ Loa làm bối cảnh, lòng tin tưởng của ông còn biểu lộ trong nhiều dịp khác mà căn bản cũng vì yêu nước. Ngay trong những lúc gian nan nhất, ông vẫn ví mình như cột đá đứng trơ giữa dòng sâu, lạc quan:

          Trăm họ vì vua người vẫn gắng2

Và ước ao hy vọng:
          Phen này ví được lòng trời giúp
          Lối cũ xe về lắm thú vui.
_______________________________________
1. Cạnh câu đối có dòng lạc khoản: Ninh Thái Hộ đốc Tôn Thất Thuyết.
2. Tài liệu của Trần Huy Liệu (Phong trào cách mạng Việt Nam qua thơ văn)
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM