Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 09:11:32 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913  (Đọc 74829 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #40 vào lúc: 21 Tháng Ba, 2016, 08:29:15 am »


Lòng yêu nước của ông lớn quá nên mặc dầu là người giàu tình cảm, chí hiếu1 trong lúc phải gánh vác việc quốc gia ông đã gác tình nhà ra một bên. Ông hối hả lo đưa vua đi2 đến nỗi để cha sa vào tay giặc. Ông để mẹ lại dọc đường bôn ba để xuất ngoại. Ông vui lòng để hai con vào sinh ra tử vì mục đích đánh Pháp cứu nước. Yêu nước và quên tình nhà, người ta đã cường điệu điểm đó của ông trong câu chuyện “giết đứa con trai chủ hoà” mà Bửu Tiến đã ghi lại. Và cũng dễ hiểu vì sao ông rất dễ thông cảm với những người đứng trước cảnh tình nhà, nợ nước không thể đi đôi với nhau: ông vô cùng “bồi hồi” khi nghe câu chuyện người võ sinh vừa là “tôi trung”, lại vừa là “con hiếu”. Trong một số tập san Văn Sử Địa trước đây, bạn Lương An cũng đã có viết về Tôn Thất Thuyết ít nhiều, qua đoạn này ta thấy được điểm thể tất lòng người đó của Tôn Thất Thuyết: “Thuyết đã tỏ ra cương quyết với những kẻ đầu hàng, nhưng Thuyết lại mềm mỏng với những ai chống Pháp. Khi bắt đầu lên sơn phòng, Thuyết đã nói với binh lính:

          Chú nào con, vợ chưa thành,
          Cho về sở định sở sinh việc nhà.
          Chú nào lưa mẹ còn cha,
          Cho về bảo dưỡng vậy mà đừng đi.
          ... Không đi thì nói cho xong
          Đi thì bạc lượng tiền đồng ngài ban.
          Phen này bỏ họ bỏ làng,
          Bỏ con bỏ vợ băng ngàn phò vua.

Qua những cử chỉ trên, ai còn có thể tin rằng Thuyết chỉ là một tên độc tài khát máu thiếu nhân tính?

Ngoài căn bản yêu nước, chắc chắn Tôn Thất Thuyết đã có nhiều đức tính khác khiến người chung quanh phải cảm phục. Hồi sang Trung Quốc rồi, năm 1889 Tôn Thất Thuyết có gửi thư về cho Phan Đình Phùng kèm cả 4 chữ Liêm chính công bình. Ông Đình nguyên mà gươm sắc súng lớn không làm khuất phục được này, trước đã từng mắng Tôn Thất Thuyết giữa triều, nay ghi lời ông khuyên bảo một cách hết sức trân trọng:

          Liêm bình khâm tướng huấn
          Ưu nhục lẩm thần tâm.
                                   (Theo Đào Trinh Nhất)
________________________________________
1. Người ta kể chuyện Tôn Thất Thuyết thờ mẹ rất có hiếu. Một lần nghe ông ở Thanh Hoá chém ngưòi thẳng tay quá, bà mẹ tức tốc ra với con. Đến cửa dinh, bà nhất định không chịu vào, chỉ hỏi ông: “Má nghe con giết người nhiều quá nên chỉ muốn ra xin con một môi canh thịt người cho đỡ thèm”. Ông biết mẹ giận, sợ quá quỳ xuống sân năn nỉ nửa ngày ròng, xin mẹ tha tội. Nếu câu chuyện có thật thì một bà mẹ nhân từ như thế, lẽ nào không ảnh hưởng tốt chút gì tới tính tình của đứa con?
2. Theo tài liệu của Pháp, khi tấn công Mang Cá thất bại, Tường tính chuyện đưa Hàm Nghi qua hàng Pháp, nhưng Tôn Thất Thuyết đã vội vã đến bắt vua đi.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #41 vào lúc: 21 Tháng Ba, 2016, 08:37:19 am »


Một lần khác nghe tin một đồng chí cũ, Hoàng giáp Nguyễn Quang Bích, hút thuốc phiện, Tôn Thất Thuyết làm thơ khuyên răn. Nguyễn Quang Bích không những không mếch lòng mà còn vui vẻ tiếp thu ý kiến. Trong một bài thơ của họ Nguyễn làm khi được tin Tôn Thất Thuyết, người ta thấy rõ nỗi mến phục của nhà nho yêu nước và có khí tiết này đối với Tôn Thất Thuyết. Họ Nguyễn đã xem Tôn Thất Thuyết như Phạm Trọng Yêm, một trung thần đời Tống, ví Tôn Thất Thuyết với thứ quả to giống tốt làm vững lòng mọi người1. Sự thực, Tôn Thất Thuyết được đề cao như vậy cũng không có gì quá đáng. Trong khi đưa vua Hàm Nghi bôn ba trên đường phục quốc, ông đã nêu cao phẩm chất của một người lãnh đạo phong trào. Nằm rừng lội suối, làm bạn với sơn lam chướng khí, làm bạn với cả cái chết luôn luôn rình chờ mình2 ông không chút sờn lòng: “Việc nước ở mình, dám đâu mệt nghỉ” (Văn tế Tôn Thất Thuyết). Chính trong khi đó lời thơ cũng như thư từ mệnh lệnh của ông tuyệt không có gì yếu đuối, khiếp nhược, mà đầy tin tưởng, kiên quyết cương nghị. Cũng trong khi đó, doạ dẫm không được, giặc Pháp và bè lũ tay sai của chúng lại quay ra dụ dỗ, thuyết phục. Đáp lại giọng “thống thiết” của Nguyễn Hữu Độ3 và Tam Cung, ông chỉ có những lời “bốc lửa” (incendiaire - chữ dùng của đối phương)4. Cuối cùng bọn bù nhìn cũng như quan thày chúng đã rõ: Tôn Thất Thuyết là người không thể mua chuộc được. Cứ xem chỉ dụ của Đồng Khánh hồi tháng 10.1885, cũng đủ thấy bọn chúng cho ông là ghê gớm nhất trong số các lãnh tụ Cần Vương và sợ ông nhất:

“Vua Hàm Nghi là em Trẫm... nếu như trở về triều thời Trẫm sẽ phong cho làm Thanh - Nghệ - Tĩnh tam tỉnh tổng trấn (trước đây đã hứa tập phong công tước và làm tổng trấn Bắc Kỳ - TD), hậu cấp bổng lộc cung cấp cho ẩm thực khí dụng, được ưu đãi như bậc vương không có biếm truất gì cả. Hiện chuẩn cựu thần Hoàng Kế Viêm khai phục nguyên hàm là cũng muốn cho yên chớ không phải cần được... Chỉ trừ tên Lê Thuyết5 thề không khai phục thu dụng được, nhưng biết giác ngộ trở về thời cho lui về nơi nhàn tản (không được làm quan mà bị an trí - TD). Còn dư ra nữa, những người làm đầu trong đảng loạn hễ ai nguyên là người lúc trước có quan chức (Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhạ, Lê Trực...) đều cho theo nguyên hàm mà bổ dụng... Trần Xuân Soạn, Nguyễn Phạm Tuân, Phan Đình Phùng trước đây có chỉ dụ chuẩn cho phóng xá, nhưng mà biết giác ngộ quay về cũng khoan giảm tội trước cho và thưởng cho chức hàm để yên lòng phản trắc... Khoản này, nhân dịp Đại Pháp toàn quyền đại thần Pôn Be đến Kinh cận yết, Trẫm đã tận mặt thương thuyết với quý đại thần, ý hợp, quyết không nuốt lời...” (Quốc triều chính biên toát yếu).
___________________________________
1. Tài liệu của Trần Huy Liệu (Phong trào cách mạng Việt Nam qua thơ văn.)
2. Sau khi Tôn Thất Thuyết rời Tân Sở, chính Tường đã mua chuộc một võ quan ám sát ông, nhưng không thành. Đồng thời toà Khâm gửi điện mật cho các tỉnh đặt ông ra ngoài vòng pháp luật (forclos et hors la loi). Mặt khác những sự phản bội thỉnh thoảng vẫn xảy ra.
3. Trong thư gửi Tôn Thất Thuyết tháng 7.1885, Độ có những câu: "Thánh thượng đương độ thiếu thời, thể chất yếu đuối, nếu Ngài vì ông mà gặp sự không may thì ông sẽ chịu trách nhiệm thế nào trước nhà nước, hậu thế sẽ dị nghị ông ra sao… Ông là người của hoàng gia, Tiên đế đã ủy thác cho ông làm phụ chính… Ông còn có thể chuộc một phần lỗi lầm nếu ông chịu rước thánh thượng hồi loan… Như vậy ông sẽ làm vừa lòng Tam Cung (mẹ Tự Đức, mẹ Dục Đức, mẹ Kiến Phúc) và toại nguyện thần dân trong nước…".
4. Trong lời cáo thị của Hàm Nghi, thực chất là của Tôn Thất Thuyết, khi Đồng Khánh mới lên ngôi (cuối tháng 9.1885) có đoạn: "Ta truyền lệnh cho mọi người chuẩn bị sẵn sàng để tiêu diệt hết loài bạch quỷ… Một khi ta đã cầm tù và lấy đầu hết bọn phản quốc ta sẽ thắng được người Tây. Đức Cao hoàng ngày xưa trong cơn quẫn bách như thế mà chỉ một trận cũng đã lấy lại được cả non sông…".
5. Bọn Đồng Khánh đã làm một việc rất có "ý nghĩa" là tước tên của Tôn Thất Thuyết và gia đình ông trong sổ Tôn nhân, đổi ông qua họ mẹ. Sự thực thì chúng cũng không đáng để cho ông nhận là họ hàng. Khi còn tại triều, ông đã chém đến 40 tên trong hoàng phái phạm tội thân Pháp, điều đó nói rõ thái độ của ông đối với bọn Tôn Thất phản quốc.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #42 vào lúc: 21 Tháng Ba, 2016, 10:49:15 pm »


Con người ghê gớm đối với giặc nên giặc sợ. Con người đó được sự ái mộ của mọi người yêu nước chân chính cũng là dễ hiểu. Chính vì yêu nước mà sau khi sang Trung Quốc, Tôn Thất Thuyết mong đợi có ngày được trở về giúp nước. Người nào tặng ông câu thơ “Tấc lòng như ngựa muốn truy phong” thực đã nhìn thấu gan ruột của ông. Sau này, khi đã tuyệt vọng về sự giúp đỡ của triều Thanh rồi, phần tiêu cực của ông đã chớm sẵn trong hồi dưỡng bệnh ở Thanh Hoá1 nay lại bộc lộ, ông quay ra mộ đạo Phật. Nhưng tinh thần yêu nước của ông vẫn không kém phần sôi nổi. Ngọn lửa nhiệt tình vì quốc gia, dân tộc đốt cháy trong lòng ông đến nỗi đêm đêm ông phải xách kiếm chém đá hàng giờ cho vơi tâm sự “cứu chữa không tài, đầy lòng nóng riết” (Văn tế Tôn Thất Thuyết). Ồng già đập đá (Đả thạch lão) là hình ảnh cuối cùng về ông còn ghi lại trong người dân Quảng Tây hồi bấy giờ. Để rồi những khi mỏi mệt ngừng tay, nỗi ưu hoài sầu xứ của ông lại tăng lên hơn bao giờ hết. Một đêm vào lúc đập đá xong, ông vẳng nghe bên hàng xóm có người ngâm mấy câu ca dao:

          Nửa đêm thức dậy trông trời,
          Ông sao bên Bắc lại dời sang Đông.
          Bể hồ lai láng mênh mông...

Đồng thanh tương ứng, ông không nén đợi được đến rạng ngày, bẻ rào nhảy sang gặp người đồng bang mà cũng đồng bệnh đó nói chuyên suốt sáng2. Mấy câu ca dao trên đây cũng là những nỗi niềm nung nấu tâm hồn ông cho đến khi chết.

Ngày nay điểm lại hành trạng cũng như tâm sự ý chí của Tôn Thất Thuyết, dĩ nhiên ta có thể vạch ra một số sai lầm trong hành động, nhận thức của ông. Những tính nết của ông, những quan niệm về trung hiếu của ông không phải cái gì cũng đáng đề cao cả. Ta cũng không quên rằng con người cương quyết chủ chiến đối với Pháp ấy đã có lần trấn áp một vài cuộc nổi dậy của nông dân. Nhưng một con người thuỷ chung không thoả hiệp với giặc suốt đời và toàn gia đều hy sinh hoặc đóng góp ít nhiều cho kháng chiến, con người ấy trước hết đáng trọng là ở điểm đó. Càng đáng trọng nếu ta đặt ông vào hoàn cảnh lúc bấy giờ: “Nó (giặc) đủ, ta kiệt, viện tuyệt thế cùng. Võ biền thì sợ giặc mà chạy hàng đàn, văn thân thì ngóng chừng mà tan cả lũ”3.

Kinh đô thất thủ ngày 5.7 thì 15.7 (mười hôm sau) De Courcy đã triệu tập được đông đủ hoàng gia tại “toà Khâm” để lập một lão già chẳng trót đời làm Nhiếp quốc chính, đúng như câu chửi của nhân dân: “Càng hay Tôn Thất, Tây càng dụng”. Chính trong khi đó Tôn Thất Thuyết giương cao ngọn cờ Cần Vương yêu nước vào những giờ phút đen tối của lịch sử nước nhà. Không phải nói dài, điều ấy đủ để ta dành cho ông một địa vị xứng đáng trong cuốn sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam hồi thực dân Pháp mới sang xâm lược nước ta.
____________________________________
1. Xem tập san Văn Sử Địa số 45, tr. 23, chú thích I.
2. Cụ Doãn Kế Thiện, người kể cho chúng tôi nghe câu chuyện này cũng không nhớ rõ tên nhà chí sĩ ấy.
3. Di biểu của Hoàng Diệu năm 1882; tình hình hồi này còn bi đát hơn thế nhiều.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #43 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2016, 07:37:31 am »


TÔN THẤT THUYẾT, ANH HÀO LẮM NỖI NHIÊU KHÊ

NGUYỀN QUANG TRUNG TIẾN1

Nhắc đến những khuôn mặt lớn trong lịch sử Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX, không ai lại không đề cập đến tên tuổi của Tôn Thất Thuyết. Song xác định đó là một nhân vật anh hùng lớn của dân tộc thì chẳng có mấy ai lại biểu tỏ một thái độ không chút e dè!

I. Từ cuộc đời và sự nghiệp

Tôn Thất Thuyết xuất thân từ một gia đình hoàng tộc, là cháu 5 đời của Chúa Nguyễn Phúc Tần (1620-1687), hay còn gọi là Chúa Hiền (hệ tổ Hệ thứ năm của họ Nguyễn Phúc); là cháu 4 đời của thế tử Nguyễn Phúc Hiệp, tước Quốc Oai Công (người mở đầu cho sự tồn tại của Phòng thứ tư thuộc Hệ năm họ Nguyễn Phúc). Ông sinh ngày 29 tháng 3 năm Kỷ Hợi(1839) tại làng Phú Mộng, bên bờ sông Bạch Yến cạnh kinh thành Thuận Hoá - nay thuộc thôn Phú Mộng, phường Kim Long, thành phố Huế. Tôn Thất Thuyết vốn người vạm vỡ, khuôn mặt đầy đặn, nước da hơi ngăm đen thích cắt tóc ngắn, không chuộng lối trang sức bề ngoài, ít nói nhưng nóng nảy và cương quyết, ham luyện võ nghệ và thích các hoạt động mạnh mẽ. Con người đầy “võ tính” ấy lại khởi đầu bước công danh của mình bằng con đường văn quan.

Năm 30 tuổi (1869) Tôn Thất Thuyết giữ chức án sát tỉnh Hải Dương. Đến tháng 7 năm 1870 được sung làm Biện lý bộ Hộ, rồi sau đó (11.1870) chuyển sang chức Tán tương (một chức quan văn giúp thêm việc quân sự ở các tỉnh, các quân thứ) giúp Tổng thống quân vụ đại thần Lạng-Bằng-Ninh-Thái là Hoàng Kế Viêm “dẹp loạn” ở các tỉnh phía Bắc. Sau chiến dịch này, Tôn Thất Thuyết được thăng thụ “Quang Lộc Tự Khanh” và làm Tán lý quân thứ Thái Nguyên. Kể từ đây, ông chuyên hoạt động về quân sự và nổi tiếng dần qua các cuộc giao tranh với những cánh quân chống lại triều đình Huế. Tháng 12 năm 1870, Tôn Thất Thuyết chỉ huy cuộc đánh dẹp, phá tan sào huyệt của nhóm Đặng Chí Hùng ở Thái Nguyên; tháng 3 năm 1872 ông cùng Trương Văn Để đánh tan quân Tàu Ô ở Hải Dương, giết chết Hoàng Tề; tháng 8 năm 1872 lại đánh thắng toán giặc Khách ở Quảng Yên; tháng 12 năm 1873 ông cùng Hoàng Tá Viêm phối hợp với quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc phục binh tại Cầu Giấy (Hà Nội) giết chết viên chỉ huy quân sự trong đợt Pháp đánh miền Bắc lần thứ I là Francis Garnier; tháng 7 năm 1874 ông cùng Hoàng Kế Viêm tự động đem quân từ Sơn Tây vào Nghệ An đàn áp được cuộc nổi dậy của hai sĩ phu Trần Tấn và Đặng Như Mai2; tháng 3 năm 1875 ông dập tắt cuộc khởi nghĩa ở Cổ Loa (Bắc Ninh), bắt chém thủ lĩnh tại trận; tháng 6/1875 lại bức hàng nhóm của Dương Đình Tín ở Thái Nguyên; đến tháng 9 năm 1875 lại bắt sống được tướng Cờ Vàng là Hoàng Sùng Anh ở Thái Nguyên... Với hàng loạt quân công, Tôn Thất Thuyết được vua Tự Đức thăng thưởng rất nhanh: từ chức Tán lý quân thứ Thái Nguyên vào cuối năm 1870, đến tháng 3 năm 1872 ông được bổ làm Bố chính tỉnh Hải Dương; sang năm 1873 là Tham tán đại thần hàm Thị lang bộ Binh, rồi lên Thự Tham tri bộ Binh; tháng 3 năm 1874 vẫn là Tham tán đại thần nhưng được thăng Hữu Tham tri bộ Binh; tước Vệ Chính Nam; tháng 4 năm 1874 lại giữ chức Tuần vũ tỉnh Sơn Tây kiêm Tham tán đại thần; tháng 3 năm 1875 ông là Thự Tổng đốc Ninh-Thái kiêm Tổng đốc các việc quân Ninh-Thái-Lạng-Bằng; đến tháng 10 năm 1875 lại được bổ làm Hiệp đốc quân vụ đại thần, chức tước gần ngang với Tổng thống quân vụ đại thần Hoàng Tá Viêm.

Từ cuối năm 1875 cho đến khi về Huế (1881) Tôn Thất Thuyết bịnh hoạn liên tục, có khi phải đem thầy thuốc đi theo để vừa làm việc vừa điều trị, nên việc quân nhiều lúc chậm trễ. Vả lại đất Bắc lúc này quá sức hỗn loạn, Tôn Thất Thuyết khó lòng ổn định tình thế theo ý muốn của vua Tự Đức, nên ông liên tục bị nhà vua quở trách và phạt nặng: tháng 12 năm 1874 bị giáng 2 cấp, tháng 5 năm 1876 giáng xuống Tham tri cách bớt tước Nam, tháng 10 năm 1876 giáng 2 cấp lưu, tháng 12 năm 1876 giáng 4 cấp lưu, tháng 6 năm 1877 lại bị giáng 4 cấp. Tuy nhiên, vua Tự Đức vẫn coi trọng tài năng và chí khí của Tôn Thất Thuyết nên đến tháng 12 năm 1881 ông lại được nhà vua gọi vào triều giữ chức Thượng thư bộ Binh và sang tháng 2 năm 1882 lại kiêm thêm chức Hải phòng sứ Kinh thành Huế. Năm 1883, Tôn Thất Thuyết chính thức lãnh chức Thượng thư bộ Binh và sau đó được cử vào Cơ Mật Viện (6.1883). Trước lúc qua đời, vua Tự Đức đã chọn Tôn Thất Thuyết làm đệ tam phụ chính sau Trần Tiễn Thành và Nguyễn Văn Tường để giúp cho Dục Đức kế vị (7.1883) nhưng Tôn Thất Thuyết đã cùng với Nguyễn Văn Tường lật đổ Dục Đức để đưa Hiệp Hoà lên ngôi. Tháng 8 năm 1883 Tôn ThấtThuyết được thăng Điện tiền tướng quân, Hiệp biện Đại học sĩ, tước Vệ Chính Bá; nhưng vì phản đối hoà ước Harmand (25-08-1883) nên bị Hiệp Hoà đổi sang làm Thượng thư bộ Lễ, rồi Thượng thư bộ Lại. Không chấp nhận chủ trương đầu hàng của Hiệp Hoà, Tôn Thất Thuyết lại làm cuộc đảo chính vào cuối tháng 11 năm 1883, phế bỏ Hiệp Hoà để đưa Kiến Phúc lên thay, và về giữ lại chức Thượng thư bộ Binh. Dựa vào binh quyền, Tôn Thất Thuyết loại bỏ dần các phần tử thân Pháp trong nội bộ triều Nguyễn, thu tóm quyền lực trong tay để chuẩn bị cho công cuộc chống Pháp sắp tới. Việc đưa Hàm Nghi lên ngôi vào đầu tháng 8 năm 1884, sau cái chết của vua Kiến Phúc, cũng xuất phát từ ý đồ của Tôn Thất Thuyết nhằm bảo đảm cho cán cân lực lượng trong nội bộ triều đình Huế nghiêng hẳn về phía những người chủ trương chống Pháp. Dưới thời Hàm Nghi, triều đình Huế tuột dần khỏi tay người Pháp, hoà ước Patenôtre (6.6.1884) cũng chưa được công nhận, và Tôn Thất Thuyết thực sự trở thành cái gai mà người Pháp muốn nhổ ngay lập tức. Trong tình thế đó, Tôn Thất Thuyết đã ra tay trước để giành thế chủ động bằng cuộc tấn công quân Pháp tại Huế vào đêm 4 rạng sáng 5.7.1885. Mặc dù thất bại, vua Hàm Nghi phải rời bỏ kinh thành, song hành động của Tôn Thất Thuyết đã có tác dụng nâng tinh thần chống Pháp của nhân dân lên cao; và sau hai lần xuống chiếu Cần Vương, một phong trào đấu tranh vũ trang thực sự bùng nổ ở khắp hai miền Trung-Bắc Việt Nam ủng hộ những nhà yêu nước.

Sau những ngày gian lao đưa vua Hàm Nghi vượt qua đất Lào để ra sơn phòng Hà Tĩnh xây dựng căn cứ lãnh đạo phong trào kháng Pháp, vào tháng 2 năm 1886, Tôn Thất Thuyết để hai con trai là Đàm và Thiệp tiếp tục duy trì “triều đình Hàm Nghi” chống Pháp, còn mình cùng với Trần Xuân Soạn, Nguỵ Khắc Kiều lên đường sang Trung Hoa cầu viện. Cuộc ngoại viện bất thành, Tôn Thất Thuyết ở lại và mất tại Trung Quốc vào ngày 22.9.1913.
____________________________________
1. Đại học KHXH-NV Huế.
2. Cần tìm hiểu thêm về mục đích cuộc đưa quân vào Nghệ An lần này của Tôn Thất Thuyết.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #44 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2016, 10:22:10 pm »


II. Đến những nỗi nhiêu khê

Cuộc đời của Tôn Thất Thuyết quả thật đã một lòng vì nước quên mình, xả thân hy sinh tất cả để mưu cầu giành độc lập cho dân tộc. Thế nhưng, từ những góc độ chủ quan phiến diện, hẹp hòi và thiếu sự đồng cảm, người ta thường có những đánh giá không xác đáng công lao to lớn của ông trong lịch sử dân tộc.

Những người mang nặng đạo lý phong kiến một cách mù quáng như Nguyễn Nhược Thị thì xem việc bỏ Dục Đức, phế Hiệp Hoà, lập Kiến Phúc, tôn Hàm Nghi của Tôn Thất Thuyết là hành động của kẻ “quên lời sách xưa”, “vì thân”, “chẳng giữ đạo trung”, “bạo tàn”, “đa nghi”, “quyền thần sâu hiểm”... 1. Những người một thời từng cộng tác với ngoại bang như Trần Trọng Kim thì xem thái độ tránh né cuộc diện kiến tướng De Courcy ở Toà Khâm sứ của Tôn Thất Thuyết là nhát gan2, và cuộc tấn công quân Pháp sáng 5.7.1885 ở Kinh thành Huế là làm “loạn”. Những người có tinh thần dân tộc, nhưng cả tin vào những giai thoại và thiếu sự xét đoán kiểm chứng tư liệu như Phan Trần Chúc thì xem Tôn Thất Thuyết là người độc đoán, hiếu sát, tàn bạo gần như mất nhân tính3. Người Pháp thì đương nhiên xếp ông vào loại thù địch, ương ngạnh, kém thức thời; song đau khổ nhất là xem việc sang Trung Quốc cầu viện của ông như một hành động đào ngũ4. Còn đối với những nhà nghiên cứu lịch sử sau năm 1954, phần lớn đều đánh giá cao nhân cách Tôn Thất Thuyết, trân trọng tấm lòng yêu nước nhiệt thành của ông; song vẫn chê trách ông không biết dựa vào dân trong cuộc tấn công quân Pháp ở Huế ngày 5.7.1885, chỉ trích sai lầm của ông về ảo tưởng cầu viện nhà Thanh chống Pháp, và xem hoạt động đàn áp khởi nghĩa nông dân của ông trong khoảng 10 năm trước khi về Huế là lỗi lầm khá nghiêm trọng...
________________________________
1. Nguyễn Nhược Thị - Hạnh thục ca, (Trần Trọng Kim phiên dịch), Sài Gòn, Tân Việt, 1950, tr. 20-33.
2. Trần Trọng Kim – Việt Nam sử lược, Sài Gòn, Tân Việt, In lần thứ 7, 1986, tr. 550.
3. Phan Trần Chúc – Vua Hàm Nghi, Hà Nội, Chính Ký, 1952.
4. Gosselin (Ch.) - L’Empire d’Annam, Paris, Perrin et Cie, 1904.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #45 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2016, 10:27:38 pm »


Cho đến ngày nay, ở Huế vẫn còn truyền tụng những câu ca dao liên quan đến Tôn Thất Thuyết như:

“Nước Nam có bốn anh hùng
Tường gian, Viêm láo, Khiêm khùng, Thuyết ngu”

Hoặc những câu thơ:
          “An Nam vận nước gặp tai ương
          Mấy đứa gian hung kết loạn trường
          Cái mặt bè bè Tôn Thất Thuyết
          Con ngươi trắng dã Nguyễn Văn Tường”...

(Nguyên văn:
          An Nam quốc vận ngẫu tai ưong
          Kỷ cá gian hung cấu loạn trường
          Diện mục hoành sinh Tôn Thất Thuyết
          Nhãn sinh đa bạch Nguyễn Văn Tường...)

Hay là:
          “Một sông hai nước khôn đường nói
          Bốn tháng ba vua điềm chẳng lành”

(Nguyên văn:
          Nhất giang lưỡng quốc nan phân thuyết
          Tứ nguyệt tam vương triệu bất tường).

Những lời chỉ trích trên luôn gắn liền với tên tuổi của Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường, bởi vì thực tế trước ngày Hàm Nghi xuất bôn, cả hai ông cũng có sự gắn kết mật thiết về việc nước. Song phần Nguyễn Văn Tường đã được lịch sử kiểm chứng, riêng Tôn Thất Thuyết đã bị xuyên tạc bởi giọng lưỡi của những phần tử cam tâm làm nô lệ, không có tinh thần bảo vệ và giành lại nền độc lập cho Tổ Quốc. Cái gọi là “quyền thần”, là “bạo tàn” mà người ta gán ghép cho ông Thuyết thực chất là những hành vi phát xuất từ động cơ vì nước, vì dân của ông. Một Dục Đức bất tài, hiếu dâm lại thích quan hệ với người của Pháp1; một Hiệp Hoà chủ trương thoả hiệp với giặc, muốn cắt bỏ quyền lực của phái chủ chiến; một Trần Tiễn Thành chỉ biết nói đến chữ “hoà”, chữ “bại” và muốn dẹp những gì chống lại Pháp; một Tuy Lý Vương Miên Trinh thích chuyện câu kết với kẻ thù; một Gia Hưng quận vương Hồng Hưu tính lập ngai vàng dựa vào bàn tay của địch..., tất cả những người đó đều đi ngược lại ý chí, nguyện vọng của cả dân tộc, nhưng lại có thế lực lớn trong triều và được người Pháp hậu thuẫn. Nếu Tôn Thất Thuyết ra tay thiếu cương quyết, phái chủ chiến chắc chắn sẽ lâm vào thế nguy, và triều đình Huế có thể đã nằm gọn trong tay người Pháp từ sau ngày Tự Đức mất. Hơn nữa, con người của Tôn Thất Thuyết luôn lấy Tổ quốc làm trọng, xem Tổ quốc còn lớn hơn cả cái nghĩa quân thần, nên hành động của ông càng đáng được người đời sau khen ngợi. Ngay cả dưới thời vua Tự Đức, sau trận phục kích giết chết Francis Garnier (12.1873), Hoàng Tá Viêm, Tôn Thất Thuyết bị vua Tự Đức sai Trần Đình Túc ra bảo phái rút quân để người Pháp khỏi phản ứng trong việc thương thuyết. Bất mãn vì sự bạc nhược của triều đình, Viêm và Thuyết đồng trả lời: “Tướng ở ngoài chỉ biết lo việc đánh giặc”2, và vẫn đóng quân tại chỗ, không chịu tuân theo lệnh của nhà vua. Rõ ràng con người của Tôn Thất Thuyết vốn xem chữ “nước” là trên hết, cho nên trách cứ những hành động vì nước của ông thì chỉ có loại người thiếu tinh thần ái quốc mà thôi. Chính vì lẽ đó người Huế đương thời đã ca ngợi:

          “Quan Tướng khí khái anh hùng
          Gian đồ phỉ lệ giết cùng chẳng tha”3.
___________________________________
1. Vua Tự Đức nhận xét về Dục Đức rằng: "Mắt hơi có tật, giấu kín không rõ ràng, sợ sau không sáng, tính lại hiếu dâm, cũng rất là không nên, chưa chắc đương nổi việc lớn". ĐNTL, tập 35, H., KHXH, 1976, tr. 199.
2. ĐNTL, tập 32, 1975, tr. 349-351.
3. Vè chống Pháp - Thất thủ kinh đô - Thất thủ Thuận An (Lương An sưu tầm, chỉnh lý), Huế, Thuận Hoá, 1983, tr. 66.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #46 vào lúc: 23 Tháng Ba, 2016, 11:36:50 am »


Đối với hoạt động đàn áp các cuộc nổi đậy chống lại triều Nguyễn, quả thật Tôn Thất Thuyết là người tham gia tích cực và là “hung thần” của những nghĩa quân. Có lần ở Cổ Loa - Bắc Ninh (3.1875), sau khi bắt sống được thủ lĩnh Trận, Tôn Thất Thuyết đã cho quân sĩ tiêu diệt toàn bộ nghĩa quân trong làng, không chừa một ai được sống sót, và cho treo câu đối ở trước đền Cổ Loa rằng:

          “Giặc mà đến Loa thành thì lập tức bị tiêu diệt
          Đền không có nỏ rùa thần nhưng vẫn đủ oai linh”

(Nguyên văn:   
          Tặc đáo Loa thành tuỳ diệt một
          Điện vô quy nỗ dữ oai linh)

Hoặc vào tháng 7 năm 1874, các sĩ phu ở Nghệ - Tĩnh là Trần Tấn, Đặng Như Mai phất cờ khởi nghĩa chống lại chính sách đầu hàng của Tự Đức, phản đối hoà ước Giáp Tuất (15.3.1874). Phương châm của cuộc khởi nghĩa này là “quyết đánh cả Triều lẫn Tây”. Tôn Thất Thuyết hay tin đã không cần đợi lệnh của Tự Đức, mà tự động cùng Hoàng Kế Viêm kéo 2000 quân từ Sơn Tây vào Nghệ An để đánh dẹp. Cuộc khởi nghĩa cuối cùng bị dập tắt dưới bàn tay của Tôn Thất Thuyết!1

Trong cách nhìn nhận của nhiều người hiện tại, các cuộc đàn áp do Tôn Thất Thuyết chỉ huy đã làm giảm bớt chất anh hùng, và ông không còn xứng đáng được quần chúng mến mộ, khâm phục một cách tuyệt đối nữa. Đàn áp khởi nghĩa nông dân đồng nghĩa với từ “gây tội ác”, và tiêu diệt phong trào chống sự thỏa hiệp của triều đình Tự Đức là thể hiện sự mù quáng của ý thức trung quân. Lối suy diễn kiểu như thế này kể ra thật hơi quá đáng, bởi vì chúng ta đã đem thước đo đạo đức hiện đại để quy cho một người sống cách đây hơn cả thế kỷ. Thêm vào đó, thực tế lịch sử ở miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1870-1880 đã chi phối mạnh mẽ hướng hành động của Tôn Thất Thuyết. Đây là thời kỳ hỗn loạn và cực kỳ phức tạp, với sự hiện diện của nhiều thế lực khác nhau, liên tục tranh giành, thanh toán lẫn nhau: quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc, phỉ Cờ Trắng của Lương Văn Lợi - Bàn Văn Nhị, phỉ Cờ Vàng của Hoàng Sùng Anh - Lương Tích Thiên, rồi bọn cướp biển, giặc Tàu Ô, các đám thổ phỉ, các toán nông dân khởi nghĩa, rồi quân Pháp và cả quân đội Mãn Thanh cũng có mặt. Sự hỗn loạn đó đã được Giám mục giáo phận miền Đông Bắ kỳ là Colomer miêu tả: “Tình trạng xã hội và chính trị này thiết tưởng đừng nghĩ đến là hơn. Tất cả như chìm lỉm sụp đổ, đó là khung cảnh chung. Những trận lụt lội, những cuộc nổi loạn của các đám giặc cướp, những lần xâm nhập của bọn trộm cắp, bọn hải tặc và bọn cướp sông, những vụ bắt bớ trẻ em và đàn bà của những đám du thủ du thực Trung Hoa… Trong khi đó, đám dân An Nam khốn khổ không ngớt bị sỉ nhục: đối với người Pháp họ chỉ thấy toàn khiển trách và đe dọa, quân đội chính quy của Trung Hoa thì đối xử với họ còn hơn một kẻ nô lệ, kéo lê họ đi như những kẻ cu li trong những lần chinh phạt các đám giặc ở những tỉnh phía Bắc, còn đối với bọn giặc cướp, những đám quân ô hợp của người Tàu và người Thượng ở vùng núi, bọn này tàn phá, đốt nhà và chém giết tùy ý…”2.
_________________________________
1. Cần nhìn nhận, đánh giá lại hành động này của Tôn Thất Thuyết qua các ghi chép của người Pháp có mặt ở nước ta thời đó.
2. Romanet du Caillaud - Histoire de l'intervention francaise au Tonkin de 1872 à 1874, Paris, Challamel ainé, 1880, tr. 410-412.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #47 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2016, 09:30:53 am »


Trong bối cảnh như vậy, sự nổi dậy của những toán nông dân chỉ góp thêm phần rối loạn trật tự xã hội, theo cách nhìn nhận của chính quyền triều Nguyễn. Tôn Thất Thuyết là người chịu trách nhiệm về việc quân trên một khu vực rộng lớn ở miền Bắc, lẽ dĩ nhiên ông phải thi hành nhiệm vụ của mình. Nếu phân loại các trận giao chiến của Tôn Thất Thuyết thời kỳ này, chúng ta mới thấy rõ tấm lòng của một vị võ tướng tuy là phong kiến nhưng lại có quan niệm đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Không chỉ những toán nông dân, những cuộc khởi nghĩa do sĩ phu lãnh đạo, Tôn Thất Thuyết còn tiến hành trấn áp các toán giặc “Khách”, các toán “Tàu Ô”, bọn phỉ Cờ Vàng, phỉ Cờ Trắng, các toán thảo khấu ở vùng rừng núi. Và đặc biệt Tôn Thất Thuyết đã chiêu phục được tướng Cờ Đen là Lưu Vĩnh Phúc để sử dụng vào việc đánh dẹp các toán giặc cướp người Hoa lẫn thực dân Pháp trên đất Bắc. Không chỉ tích cực trong việc ổn định tình hình xã hội, Tôn Thất Thuyết còn tỏ ra có quyết tâm cao trong việc bảo vệ nền độc lập của đất nước. Ông đã góp phần chặn đứng mũi tiến quân của Pháp từ Hà Nội ra Sơn Tây, bao vây uy hiếp quân Pháp và bất chấp lệnh rút quân của vua Tự Đức. Đó là một hành động mà chỉ có những người nhiệt thành yêu nước và tâm trí sáng suốt, vì dân tộc sẵn sàng bỏ qua những ràng buộc của các giềng mối phong kiến như Tôn Thất Thuyết mới có1. Và nếu như vua Tự Đức quan tâm nhiều đến chuyện “dẹp loạn” hơn là chống Pháp, thì đối với Tôn Thất Thuyết chống xâm lược là nhiệm vụ thiêng liêng mà ngay cả nhà vua cũng không thể cấm đoán ông được. Tinh thần chống Pháp của Tôn Thất Thuyết bộc lộ mạnh mẽ đến nỗi vào tháng 10 năm 1875, khi ông đang làm Tổng đốc Ninh - Thái, phái viên Pháp ở Hà Nội vô cùng bực tức đề nghị triều đình Huế phải thay người, vua Tự Đức đã bổ ông đi chỗ khác2. Chắc hẳn do chán chường thái độ bạc nhược của triều đình trước sự lấn tới ngày càng trắng trợn của thực dân Pháp, từ năm 1876 Tôn Thất Thuyết thường lâm bệnh, muốn thôi đảm đương việc quân và dâng sớ lên vua Tự Đức bày tỏ ý muốn đi tu3. Một con người có tâm huyết lớn lao như Tôn Thất Thuyết lại mang ý tưởng thoát tục như thế, nếu không vì chán cảnh “nồi da xáo thịt”, chắc cũng vì cảm thấy bất lực trước nguy cơ mất nước đang dần đến!

Từ lúc về Huế tham dự triều chính, đặc biệt là sau ngày vua Tự Đức mất, Tôn Thất Thuyết đã làm hết sức mình để biến triều đình Huế thành trung tâm đầu não của cuộc kháng Pháp. Song lực yếu thế cô, Tôn Thất Thuyết phải chịu cảnh đắng cay khi Hiệp Hoà ký hàng ước Quý Mùi (25.8.1883), phải chấp nhận xuôi tay khi Kiến Phúc cho ký hàng ước Giáp Thân (6.6.1884). Đến lúc đưa Hàm Nghi lên ngôi (2.8.1884), Tôn Thất Thuyết mới thực sự nắm được cái triều đình đã mất hết quyền lực, và ông cố chèo lái để đưa nó thoát ra khỏi những ràng buộc mà người Pháp đang thiết lập.

Người Pháp phải công nhận “triều đình An Nam đã biểu thị một thái độ không hèn" song họ nhanh chóng xác định đươc “thái độ ấy do Hội đồng Phụ chính đề ra”4, và dĩ nhiên Tôn Thất Thuyết trở thành đối tượng cần thanh toán hàng đầu của người Pháp.
__________________________________
. Về sau Nguyễn Trọng Hợp và Trương Gia Hội đến quân thứ bàn bạc mãi nên Tôn Thất Thuyết và Hoàng Tá Viêm mới án binh bất động.
. ĐNTL, tập 33, tr. 235-236.
. Như trên, tr. 358.
. Marcel Gauthier - Le roi proscit. Hanoi, Impr. d’Extrême-orient, 1940, tr 41.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #48 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2016, 09:33:38 am »


Không chỉ bảo vệ thể diện của quốc gia, Tôn Thất Thuyết còn trực tiếp gởi công hàm cho chính phủ Pháp yêu cầu rút quân đội của họ ra khỏi Mang Cá, phản đối việc bắt bớ quan lại Việt Nam ở Bắc Kỳ, phản đối việc khám xét tàu thuyền của người Việt ở Trung Kỳ, và nhân danh Viện Cơ Mật yêu cầu chính phủ Pháp trả lại những khoản thâu tiền thuế thuốc phiện, khai mỏ và các thuế khác. Trong thư gởi Khâm sứ Lemaire, Tôn Thất Thuyết cho rằng quân Pháp đã không thể nào bình định được Bắc Kỳ thì nên triệt hết quân đội viễn xâm về nước1. Vào tháng 5 năm 1885, người Pháp ở Bắc Kỳ tuyển mộ hai đại đội pháo thủ người Việt, Tôn Thất Thuyết viết cho Lemaire rằng: “Ý định của ngài Tổng tư lệnh là thế nào và ý nghĩa hai chữ bảo hộ là thế nào? Việc lập các toán pháo thủ là trái ngược với các điều khoản của hiệp ước”. Thư của Tôn Thất Thuyết được sao gởi đến các tỉnh Bắc Kỳ, kèm theo chỉ thị của triều đình Huế là không được nghe theo mệnh lệnh của người Pháp2.

Những phản ứng trì hoãn việc thi hành hoà ước, tăng cường chuẩn bị chiến đấu và kích động các cuộc nổi dậy chống Pháp ở Cămpuchia của Tôn Thất Thuyết đã khiến thực dân Pháp quyết tâm loại bỏ ông ra khỏi triều đình Huế. Ngày 21.5.1885, Bộ trưởng ngoại giao Pháp Freycinet lệnh cho Khâm sứ Huế “phải cương quyết trừng phạt hành vi của viên Thượng thư bộ Binh nước Nam”, “không thể để Thuyết ở chức Phụ chính lâu hơn", phải “bãi chức của Thuyết và đày đi xa”3. Ngày 1 tháng 7 năm 1885, trên đường vào Huế để giải quyết vấn đề triều đình An Nam không muốn lệ thuộc vào người Pháp, tướng Roussel de Courcy viết: “Trễ còn hơn không, ta sẽ bắt Tường và Thuyết hoặc ta sẽ làm cho chúng hết phương phá hoại ta”4.

Thấy rõ dã tâm của De Courcy, Tôn Thất Thuyết chủ động đi trước một bước, tổ chức cuộc tấn công quân Pháp vào đêm 4 rạng sáng 5.7.1885. Kết quả là vua Hàm Nghi phải rời bỏ kinh thành Huế ra Tân Sở, sang Lào rồi ra Sơn phòng Hà Tĩnh, và Tôn Thất Thuyết dưới danh nghĩa nhà vua đã phát động một cuộc đấu tranh vũ trang thực sự ở hai miền Trung - Bắc chống lại người Pháp. Mặc cho ba bà thái hậu và nhiều quan lại nhủn chí chấp nhận quay về làm tay sai cho giặc, Tôn Thất Thuyết vẫn khẳng khái tuyên bố: “Về Huế là tự mình đưa chân vào ngục thất, mà người cầm chìa khoá là quân Pháp. Thừa nhận hiệp ước 1884 là dâng nước Nam cho kẻ địch. Đành rằng hoà bình là quí, nhưng không lo khôi phục sẽ mang tiếng là đã bỏ giang sơn của tiền triều dày công gầy dựng, và còn có tội với hậu thế"5. Đại uý Ch. Gosselin cay đắng viết: “Quan lại, đặc biệt là các quan lại cao cấp hầu hết đều bỏ đi, nhập bọn với Tôn Thất Thuyết. Ảnh hưởng của Tôn Thất Thuyết như là tăng lên hàng ngày, sĩ phu nổi lên vũ trang tranh đấu khắp nơi, không còn ai để cắt lúa chín ngoài đồng…"6.
___________________________________
1. Phạm Văn Sơn – Việt Nam Cách mạng cận sử. Sài Gòn, Khai Trí phát hành, 1963, tr 23.
2, 3. A. Delvaux- "La prise de Huế par les Francais", B.A.V.H, tháng 4-6 năm 1920, tr 7.
4. Ch. Gosselin - L'Empire d'Annam. Sđd, tr. 197.
5. Phạm Văn Sơn – Việt Nam Cách mạng cận sử. Sđd, tr. 44.
6. Ch. Gosselin - L’Empire d'Annam. Sđd, tr. 247
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #49 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2016, 08:55:03 am »


Cuộc chiến đấu giữa quân kháng chiến và thực dân Pháp ngày càng ác liệt, nhưng do tương quan lực lượng quá chênh lệch, nghĩa quân nhanh chóng bị yếu thế. Là người phát động và lãnh đạo phong trào kháng Pháp, Tôn Thất Thuyết phải có một phương sách để đưa cuộc chiến đấu giành thắng lợi. Vì vậy ông nghĩ đến việc ra Bắc để quấy động sĩ dân ngoài đó vùng dậy, nghĩ đến việc liên minh với những người Hoa có nhiệt tâm cùng ông chống Pháp như Thượng tướng Lưu Vĩnh Phúc trước đây... Do đó vào tháng 2 năm 1886, Tôn Thất Thuyết vượt ngàn Hà Tĩnh rồi Nghệ An, đến tháng 3 năm 1886 ra tới Thanh Hoá. Ông đã dừng chân tại Cẩm Thuỷ một thời gian để thảo luận cùng Trần Xuân Soạn và em ruột là Tôn Thất Hàm kế hoạch khởi nghĩa, rồi cắt Soạn ở lại để lo phát triển phong trào. Sau đó ông Thuyết đến tổng Trịnh Vạn thuộc châu Thường Xuân hội kiến Cầm Bá Thước, ở lại đó cho đến ngày 22 tháng 4 năm 1886. Từ đấy ông băng qua vùng thượng lưu sông Mã, đến châu Quan Hoá để gặp tù trưởng người Mường là Hà Văn Mao. Điểm dừng chân lâu nhất vào tháng 6 năm 1886 là nhà tù trưởng Điêu Văn Trì, bởi lẽ lúc này ông đã mắc bệnh rất nặng, không thể đi được. Phải qua đầu năm 1887, Tôn Thất Thuyết mới tiếp tục lên đường, đi Vân Nam, và đến Quảng Đông vào tháng 2 năm 1887. Tại đây ông gặp lại viên tướng Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc, nhờ vậy cũng được sự giúp đỡ khá nhiều. Lúc này tại Thanh Hoá, cuộc khởi nghĩa Ba Đình đã bị dập tắt, căn cứ Quảng Hoá của Trần Xuân Soạn cũng không tồn tại được, Trần Xuân Soạn vượt biên giới sang Tàu và gặp ông Thuyết tại Quảng Đông. Sự có mặt của ông Thuyết và ông Soạn đã nhanh chóng bị lãnh sự Pháp báo cáo cho Toàn quyền Đông Dương rõ, nên họ liền bị chính quyền Trung Hoa quản thúc. Việc cầu viện dĩ nhiên bất thành, tuy nhiên dựa vào tình cảm cá nhân của một số quan lại Mãn Thanh chống Pháp, khai thác những sơ hở trong việc tranh chấp đường biên giới giữa nhà Thanh và quân Pháp, Tôn Thất Thuyết cùng các đồng sự của ông đã tổ chức liên lạc được với các cuộc chống Pháp bên trong nước, mua sắm vận chuyển vũ khí, đạn dược về cho nghĩa quân. Trâu bò, lúa gạo từ Việt Nam được chuyển sang để đổi lấy vũ khí đưa về. “Tôn Thất Thuyết đã tiếp tế được ngày càng nhiều vũ khí cho nghĩa quân bên trong”, súng đạn không những về đến đồng bằng Bắc Kỳ mà còn tới tận Thanh Hoá1. Việc tiếp tế này được duy trì mãi đến năm 1894, khi biên giới Việt - Trung bị khoá chặt mới kết thúc.

Từ lúc sang Quảng Đông đến sau khi Hàm Nghi bị bắt, Tôn Thất Thuyết vẫn nhân danh Phụ chính đại thần điều hành một số hoạt động chống Pháp ở bên trong nước. Tống Duy Tân sau thất bại ở Thanh Hoá liền sang Quảng Đông gặp Tôn Thất Thuyết, nhưng năm 1888 Tôn Thất Thuyết lại cử ông trở về xây dựng căn cứ chống Pháp ở Hùng Lĩnh. Sang năm 1889, khi hay tin vua Hàm Nghi bị bắt, Tôn Thất Thuyết cử người về núi Vụ Quang ở Hà Tĩnh phong cho Phan Đình Phùng làm Bình Trung Tướng quân. "Hầu hết các tướng lĩnh vùng Đông Bắc và Bắc kỳ đều có sự liên lạc với Tôn Thất Thuyết”2. Từ năm 1890, phong trào chống Pháp bị dập tắt gần hết, Tôn Thất Thuyết cùng Nguyễn Thiện Thuật vẫn hoạt động, cộng tác với nghĩa quân Lưu Kỳ ở vùng Đông Triều liên tục trong những năm 1891-1892. Từ 1892 đến 1895, mặc dù đã bị mất liên lạc trong nước, Tôn Thất Thuyết vẫn tiếp tục vận động, tổ chức lực lượng với sự giúp đỡ của Lưu Vĩnh Phúc và nhiều người khác. Ông đã xây dựng nhiều toán quân có vũ trang (chủ yếu là người Hoa và dân tộc thiểu số) tiến hành việc đánh Pháp. Chẳng hạn tháng 6 năm 1892 đưa cánh quân do Lương Phúc chỉ huy xâm nhập tổng Hoành Mô thuộc Móng Cái, phát tuyên ngôn dưới danh nghĩa Hàm Nghi để đánh Pháp; đầu năm 1893 cho Vũ Thái Hà chỉ huy một đội quân khác dưới danh nghĩa Cần Vương tiến vào Bình Hồ cũng thuộc Móng Cái tấn công quân Pháp. Tháng 3 năm 1895, Tôn Thất Thuyết cho một đạo quân tiến đánh Cao Bằng, chiếm vùng Lục Khu, nhưng nghĩa quân cuối cùng cũng bị Pháp đẩy lui. Từ năm 1895, chiến tranh Trung - Nhật nổ ra, biên thuỳ Việt - Trung bị kiểm soát chặt chẽ, người Pháp lại yêu cầu nhà Mãn Thanh quản thúc Tôn Thất Thuyết theo dõi Lưu Vĩnh Phúc nên các hoạt động chống Pháp của ông chấm dứt. Tôn Thất Thuyết bị cấm túc, không được ra khỏi khuôn viên cư trú.
_________________________________
1. Trần Văn Giàu – Chống xâm lăng, Quyển 3 - "Phong trào Cần Vương". Hà Nội, Xây dựng, 1957, tr. 134, 167.
2. Như trên, tr. 202.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM