Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:31:19 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913  (Đọc 74880 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #80 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2016, 10:50:05 pm »


Ngày 6-7-1885, vua Hàm Nghi tới tỉnh thành Quảng Trị. Chiều mồng 8-7, theo lệnh Từ Dũ Thái hậu, các quan văn võ họp cả ở Hành Cung.

Thái hậu ngỏ ý muốn về Huế. Nhưng Tôn Thất Thuyết không thuận và nói: “Về Huế là bước chân vào nhà ngục mà người cầm chìa khoá là quân Pháp. Là người, đành rằng ai cũng muốn an hưởng thái bình, nhưng nếu không lo khôi phục chuyến này thì không những Thuyết sẽ mang tiếng là bỏ mối giang sơn của Tiên triều gây dựng mà lại còn đắc tội với hậu thế”. Thuyết quả quyết rằng còn một hơi thở là còn đánh. Các quan có một số người tán thành với Thuyết. Cuối cùng đạo Ngự được chia làm hai phái: một phái là Thái hậu, các quan lại già yếu, một số người trong hoàng phái quay về Huế; phái còn lại có nhà vua cùng Tôn Thất Thuyết, một số võ tướng văn quan có khí phách cùng lên Tân Sở.

Ngày 9-7-1885, Hàm Nghi rời tỉnh thành Quảng Trị; ngày 12-7-1887 thì tới Sơn phòng Quảng Trị.

Trong năm 1885, Hàm Nghi và Tôn Thất thuyết có hai lần ra chiếu Cần Vương, lần thứ nhất tại Sơn phòng Quảng Trị ngày 13-7, và lần thứ hai tại Ấu Sơn (Hà Tĩnh) ngày 19-9-1885.

Chiếu Cần Vương lần thứ nhất rất quan trọng, nhưng chúng tôi nhận thấy lại ít được dẫn ra tương đối đầy đủ trong sử sách.

Bản chiếu Cần Vương này, in bằng chữ Hán trong quyển “Trung- Pháp chiến tranh tư liệu”, tập 7 và đã được dịch ra tiếng Việt. Sau đây là một số đoạn trích trong chiếu Cần Vương này:

... “Từ xưa, kế sách chống giặc không ngoài ba điều: đánh giữ, hòa. Đánh thì chưa có cơ hội, giữ thì khó định hạn được sức, hoà thì họ đòi hỏi không biết chán.

...Nước ta gần đây ngẫu nhiên gặp nhiều việc. Trẫm tuổi trẻ nối ngôi, không lúc nào không nghĩ đến tự cường tự trị. Kẻ phái của Tây ngang bức, hiện tình mỗi ngày một quá thêm... Hôm trước chúng tăng thêm binh thuyền đến, buộc theo những điều mình không thể làm được...Trong triều đình, đắn đo về hai điều: cúi đầu tuân mệnh, ngồi để mất cơ hội, sao bằng nhìn thấy chỗ âm mưu biến động của địch mà đối phó trước?

...Trẫm đức mỏng, gặp biến cố này không thể hết sức giữ được, để đô thành bị hãm, xa giá phải dời xa, tội ở mình Trẫm cả, thật xấu hổ vô cùng. Nhưng chỉ có luân thường quan hệ với nhau, bách quan khanh sĩ, không kể lớn nhỏ, tất không bỏ Trẫm: kẻ trí hiến mưu, người dũng hiến sức, giàu có bỏ của ra giúp quân nhu, đồng bào đồng trạch chẳng từ gian hiểm, như thế là phải. Cứu nguy chống đổ, mở chỗ truân chuyên, giúp nơi kiển bách, đều không tiếc gì tâm lực, ngõ hầu lòng người giúp thuận, chuyển loạn thành trị, chuyển nguy thành an, thu lại bờ cõi. Ấy cái cơ hội này, phúc của xã tắc tức là phúc của thần dân, cùng lo với nhau thì cùng nghĩ với nhau, há chẳng tốt lắm ư...?”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #81 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2016, 10:53:21 pm »


Sau   khi ra chiếu Cần Vương,   Tôn Thất Thuyết muốn đưa Hàm Nghi ra Bắc. Ở Bảng Sơn hơn 10 ngày, xa giá lại đến Cam Lộ, Bảo Đài (giáp Quảng Bình) để ra Bắc với số lính, dân phu độ 700 người, rất nhiều người trong số này sinh ra và lớn lên ở Quảng Trị (ngày 20-7-1885). Nhưng rồi ngày 22-7-1885, Hàm Nghi phải trở về phủ thành Cam Lộ (Quảng Trị), vì thấy chiến thuyền Pháp phong toả ở Nhật Lệ. Ngày 26-7-1885, Hàm Nghi ngược thượng đạo, vượt qua đèo Mai Lĩnh (Quảng Trị) đến đồn Chấn Lào. Nhân dân các địa phương có vua đi qua đã cương quyết ngăn chặn không cho quân địch đuổi theo nhà vua, giúp vua có thì giờ chạy thoát, mặc dù các địa phương đó đã bị giặc đốt trụi. Đồng bào dân tộc thiểu số tận tuỵ nuôi nấng nhà vua, nhiệt tình dẫn đường và bảo vệ nhà vua. Cuối cùng nhà vua cũng sang được đất Lào để ra Hà Tĩnh.

Tại Ấu Sơn, Tôn Thất Thuyết lại thảo chiếu Cần Vương thứ hai, lấy chữ vua Hàm Nghi phê chuẩn gửi đi các tỉnh. Trong chiếu Cần Vương lần này, có viết: “Núi non cách trở, Trẫm đã hai tháng mới tới miền này. Sự chậm trễ đó đã giúp cho quân địch có đủ thì giờ để bịa ra những chuyện làm cho lòng dân chán nản.

Hiện Trẫm cùng với Tôn Thất Thyết đã tới Ấu Sơn thuộc huyện Hương Khê. Các quan trong ngoài đều tề tựu cả ở miền này”1.

Từ Sơn phòng Quảng Trị và từ Ấu Sơn Hà Tĩnh, chiếu Cần Vương của Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết đã phát động, làm sôi động trở lại cuộc chiến đấu chống Pháp của cả nước.

Việc vua Hàm Nghi cùng Tôn Thất Thuyết dời kinh thành ra Quảng Trị, không chịu về Huế, đã gây nhiều trở ngại cho âm mưu của thực dân Pháp. Trung tướng Đờ Cuôc-xi tuy đã làm chủ được kinh đô, nhưng rất bối rối. Vua đã chạy rồi thì còn biết “bảo hộ” ai? Đổi “bảo hộ” ra “thuộc địa” thì sẽ gặp sự phản ứng quyết liệt từ nhiều phía; lập vua khác thì cũng là chuyện không hay ho gì với cả người Pháp.

Hưởng ứng chiếu Cần Vương, nhiều sĩ phu đứng lên khởi nghĩa. Dựa vào sự ủng hộ của nhân dân, họ tổ chức cuộc kháng chiến chính nghĩa dưới danh nghĩa phò vị minh quân yêu nước, vì sự nghiệp chính nghĩa của dân tộc.
________________________________
1. Bản Chiếu Cần Vương này sau được in bằng chữ Pháp trong cuốn “Le Laos et le protectorat Français” (Nước Lào và nền bảo hộ của Pháp) của Gôtxơlanh (Ch. Gosselin), Paris, 1890.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #82 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2016, 10:54:59 pm »


Ca dao thời ấy có câu: “Đồng Khánh ở giữa, Hàm Nghi hai đầu”.

Đồng Khánh thực ra đã là công cụ của thực dân, hoàn toàn là bù nhìn. Còn cả phía Nam, phía Bắc của kinh thành Huế (thực ra là trên hầu khắp cả nước), đâu đâu cũng có phong trào Cần Vương. Ở Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận, Bình Định có Mai Xuân Thưởng, Nguyễn Duy Cung Bùi Điền, Nguyễn Đức Nhuận, Phạm Toản; ở Quảng Ngãi và Quảng Nam có Lê Trung Đình, Nguyễn Tự Tân, Nguyễn Bá Loan, Trần Văn Dự, Nguyễn Duy Hiệu, Nguyễn Hàm; ở Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thiên có Nguyễn Phạm Tuân, Lê Trực, Nguyễn Tự Như, Trương Đình Hội, Đặng Hữu Phổ, Hoàng Văn Phúc; ở Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá có Lê Ninh, Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhạ, Phan Cát Xu, Nguyễn Đôn Tiết, Nguyễn Hanh, Đinh Nhạ Hành, Nguyễn Phương, Phan Đình Phùng, Cao Thắng, Trần Xuân Soạn, Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Tống Duy Tân, Cao Điền; ở Thái Bình, Nam Định có Tạ Hiện, Lã Xuân Oai, Đỗ Huy Liệu, Vũ Hữu Lợi, Nguyễn Đức Huy; ở Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương có Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Cao; ở Phú Thọ có Nguyễn Văn Giáp; ở miền Tây Bắc có Nguyễn Quang Bích...

Rõ ràng lời kêu gọi từ Sơn phòng Quảng Trị đã dấy lên một phong trào rộng lớn. Điều đáng tiếc là bấy giờ thiếu một sự liên kết tốt, một cách tổ chức tốt, một đường lối tốt, điều mà giai cấp phong kiến bấy giờ đã không thể đáp ứng được.

Đêm 1-11-1888, tại một vùng rừng núi Quảng Bình, do sự phản bội của Trương Quang Ngọc, vua Hàm Nghi đã bị bắt. Nhà vua nói với Ngọc: “Mày giết ta đi còn hơn là mày đem ta nộp cho Tây”.

Khi bọn Ngọc đọc lá thư của đại uý Boulanger gửi cho vua Hàm Nghi, nhà vua lắc đầu: “Thư ấy gửi cho các ngươi đấy, chứ có gửi cho ta đâu”. Bị bắt rồi, nhà vua vẫn rất điềm tĩnh. Vua tự giải thích thất bại của mình: “Mệnh trời ta tránh sao được!”. Thực dân Pháp đưa vua về Huế rồi đày sang Châu Phi (An-giê-ri). Tại đây nhà vua sống cuộc đời lưu đầy biệt xứ, nhưng vẫn hằng ngóng trông về quê hương đất nước, vẫn giữ vững khí tiết của một ông vua yêu nước chống Pháp cho đến khi mất (1943).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #83 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2016, 10:55:23 pm »


Việc vua Hàm Nghi xuất bôn làm cho lòng dân thêm phấn khởi. Cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp của nhân dân ta càng có danh chính ngôn thuận. Những hoạt động yêu nước của Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết cùng nhiều nhà yêu nước khác trong thời gian từ 1885-1888 (khi vua bị bắt) có nhiều hy sinh và tổn thất, nhưng đã làm cho thực dân Pháp lúc ấy lao đao, đã góp phần xây dựng ý chí giải phóng đất nước của dân tộc.

Trong Hồi ức của toàn quyền Pháp Catơru (Catroux) có đoạn viết: “Vua Hàm Nghi là tượng trưng cho phẩm chất cao quý. Sống trong cảnh đi đày, nhà vua luôn luôn nhớ đến quê hương và lo lắng cho số phận của đất nước..."1

So với Đồng Khánh, Hàm Nghi cao hơn, đẹp hơn rất nhiều về bản chất. Đó là lý do để dân gian nhận định:

“Hàm Nghi chính thực vua trung.
Còn như Đồng Khánh là ông vua xằng”.


Năm 1922, khi viết bài “Lời than vãn của Bà Trưng Trắc” đăng trên báo L’humanité (Nhân đạo), Nguyễn Ái Quốc đã phê phán Khải Định thật không xứng đáng với Hàm Nghi và đã chỉ trích thái độ của thực dân Pháp đối với nhà vua yêu nước này: “Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân - những người ở ngôi ngay trước mi (mi = chỉ Khải Định). Chính những kẻ xưng xưng là tôn trọng phong tục, luật lệ nước ta đã đày ải ba vị.”

“Những kẻ xưng xưng là tôn trọng phong tục luật lệ nước ta” ở đây chính là thực dân Pháp.

Trong nhận thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hàm Nghi trước sau vẫn là biểu tượng của một ông vua yêu nước.

Năm 1948, từ Việt Bắc, trong một bức thư gửi cụ Ưng Uý là thành viên trong hoàng tộc và nguyên là Thượng thư Bộ Lễ của triều đình Huế, Người viết: “Xin mời Cụ tham gia kháng chiến để chúng ta tiếp tục sự nghiệp bỏ dở của các vị tiền bối Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân, là đánh đuổi thực dân Pháp để giành độc lập cho dân tộc, cho Tổ quốc”.
____________________________________
1. Xem: V. V. Rênatruc - Người bạn gái của vua Hàm Nghi; Nguyễn Thạch Giang (sưu tầm); Đỗ Thanh (dịch).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #84 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2016, 08:26:15 am »


PHỤ LỤC

PHỦ “ÔNG TƯỚNG” - DI TÍCH LỊCH SỬ VỪA ĐƯỢC NHÀ NƯỚC CÔNG NHẬN

Bên bờ sông Như Ý, làng Văn Thê, xã Thuỷ Thanh, huyện Hương Thuỷ, cách thành phố Huế khoảng 7 km về phía nam, có một ngôi nhà toạ lạc trên một khu đất khá rộng. Chưa có tư liệu nói chính xác về thời gian xây dựng ngôi nhà, chỉ biết ngôi nhà do Vệ Quốc Thượng Tướng quân, chức Phụ Chánh đại thần, tước Chánh Hầu Tôn Thất Thuyết cho xây dựng để thờ phụng các bậc tiền nhân và cũng là nơi ông thường lui tới tĩnh dưỡng những lúc ưu phiền. Nhân dân quanh vùng quen gọi là Phủ Ông Tướng, cái tên Phủ Ông Tướng ra đời từ ấy.

Tôn Thất Thuyết là con thứ hai của cụ Đề đốc Tôn Thất Đính và bà Văn Thị Thu, sinh ngày 29 tháng 3 năm Kỷ Hợi (tức ngày 12-5-1839). Tôn Thất thuyết là cháu 7 đời Đức Thúc Tôn Hiếu Triết Hoàng Đế, tục gọi là Chúa Hiền hay Hiền Vương (1619- 1667). Tính tình cương trực không ưa bề ngoài, ham hoạt động, có trí dũng, giỏi việc binh.

Năm 1870 khi Hoàng Tá Viêm được Tự Đức suy làm Thống Đốc quân vụ đại thần ở các tỉnh phía Bắc, thì Tôn Thất Thuyết được cử sung Tán tương quân vụ dưới quyền Hoàng Tá Viêm. Ngày 21 tháng 12 năm 1873, theo lệnh của Hoàng Tá Viêm, Tôn Thất Thuyết đã đem quân mai phục ở khu vực Cầu Giấy (Hà Nội) và cho một nhóm đến sát thành Hà Nội để khiêu chiến. Lúc bấy giờ Phơ-răng-xi Gác-ni-ê đang hội đàm với Trần Đình Túc trong thành, thấy động Phơ-răng-xi Gác- ni-ê đem quân nghênh chiến và đã bị quân của Tôn Thất Thuyết đánh bại, tướng Pháp bỏ xác trong trận này.

Tháng 3 năm 1874, xét công lao thành tích trong trận đánh trên, triều đình đã phong cho Tôn Thất Thuyết làm Binh bộ Hữu Tham tri, phong cho tước Nam.

Năm 1875 tại Tuyên Quang, quân Cờ Vàng hoạt động trên phạm vi rộng, bấy giờ Tôn Thất Thuyết đang làm quan Tán tương quân vụ tỉnh Sơn Tây đã chỉ huy một trận đánh lớn tại làng Châu Thượng thuộc phủ Vĩnh Tường. Hoàng Sùng Anh chỉ huy quân Cờ Vàng đã bị Tôn Thất Thuyết bắt sống.

Năm 1881 Tôn Thất Thuyết được phong chức Thự Binh bộ Thượng thư. Trong bài dụ của vua Tự Đức nhân việc Tôn Thất Thuyết được phong chức có đoạn rằng: “Nguyên Thự Tổng đốc sung Hiệp đốc Tôn Thất Thuyết bị bệnh đã lâu. Trước đã giải chức để về điều trị bệnh, nhiều lần cấp thuốc thang và cho thăm hỏi, nay đã khoẻ lại biết gắng lên xin lai kinh sung chức để báo đáp ơn sâu. Trẫm khen là người có lỗi mà biết sửa đổi... Vậy nay điều bổ cho chức Thự Binh bộ Thượng thư để cho xứng chức”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #85 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2016, 08:26:51 am »


Ngày 19-7-1883 (tức ngày 16 tháng 5 năm Quý Mùi), sau 35 năm trị vì đất nước, vua Tự Đức qua đời. Dưới thời Tự Đức, triều đình Huế đã ký kết với thực dân Pháp, biến lục tỉnh thành thuộc địa của chúng và chuẩn bị cơ sở cho hiệp ước tiếp theo nhận sự “bảo hộ” của thực dân Pháp. Vua Tự Đức băng hà, nội bộ triều đình Huế bước vào thời kỳ khủng hoảng... Tuy là thiểu số, nhưng nhờ nắm binh quyền (Phụ chính đại thần) nên Tôn Thất Thuyết vẫn giữ được ưu thế, ông vừa bí mật liên kết với các quan văn, võ ở các tỉnh kháng chiến ngoài Bắc, vừa chuẩn bị lực lượng tích cực ở miền Trung từ Ninh Bình đến Nghệ An, Quảng Trị. Ở mọi nơi ông đều tổ chức củng cố sơn phòng, ông đã cho xây dựng căn cứ địa, phòng khi đưa vua lên đó. Tại kinh đô Huế, Tôn Thất Thuyết tìm mọi cách kích thích lòng trung nghĩa, kêu gọi lòng tự hào dân tộc, tinh thần yêu nước trong đội ngũ quan lại trong triều đình.

Trong khi Tôn Thất Thuyết đang tích cực chuẩn bị lực lượng cơ sở vật chất chống Pháp, thì đa số đình thần và cả vua Kiến Phúc lại tư thông với Khâm sứ Pháp. Trước tình hình đó, tháng 1 năm 1884 Tôn Thất Thuyết bí mật lập phái nghĩa quân và giao cho tướng Trần Xuân Soạn chịu trách nhiệm trực tiếp.

Ngày 6-8-1884 tức là sau hai tháng ký hoà ước, hai đội pháo binh và thuyền chiến cùng với 600 quân Pháp do tên đại tá Ghê-ri-ê cầm đầu vào Huế với nhiệm vụ chiếm Hoàng thành nếu Viện Cơ mật không tuân theo tối hậu thư của hắn, và hắn đã bị Tôn Thất Thuyết cự tuyệt. Trong khi đó, nội bộ triều đình phe chủ hoà đã chiếm số đông; mặc dù vậy Tôn Thất Thuyết vẫn kiên quyết bất hợp tác với thực dân Pháp, chủ động theo đuổi mục đích đã lựa chọn, vì nước, vì dân tộc.

Và thế là cuộc chiến đấu không cân sức bắt đầu. Đêm 4-7-1885 (22-5 âm lịch), trong khi quân Pháp mở tiệc chiêu đãi thì Tôn Thất Thuyết cho đánh úp vào toà sứ Pháp và doanh trại của quân Pháp ở Trấn Bình Đài. Mặc dù trận đánh không thành, nhưng một lần nữa khẳng định lòng yêu nước, ý thức dân tộc của tướng quân Tôn Thất Thuyết.

Sau trận đánh này Tôn Thất Thuyết đã đưa vua Hàm Nghi và Tam Cung cùng hơn một trăm quân hộ tống rời thành đi Quảng Trị, và trên đường đi, tờ Hịch kêu gọi mở đầu cho Phong trào Cần Vương đánh Pháp được truyền đi cả nước, nhiều văn sĩ động lòng gác bút giúp vua.

Mặc dù cuộc khởi nghĩa của phong trào Cần Vương do Tôn Thất Thuyết khởi xướng không thành, nhưng một lần nữa khẳng định tư tưởng, con đường ông chọn là đúng đắn, Tôn Thất Thuyết là người tiêu biểu đại diện phái chủ chiến trong triều đình Huế lúc bấy giờ. Những đóng góp của ông trong những năm cuối thế kỷ 19 là bằng chứng hùng hồn chứng minh cho một thời kỳ lịch sử đầy biến động của dân tộc, nó càng khẳng định lý tưởng và con đường mà ông chọn là đúng đắn, phù hợp với quy luật lịch sử, ông là biểu tượng của lòng yêu nước, của ý chí kiên cường độc lập tự chủ, là tấm gương sáng ngời, là bông hoa trong vườn hoa những anh hùng dân tộc, cho đất nước và quê hương, xứng đáng là tấm gương cho thế hệ sau noi theo.

Việc Phủ Tôn Thất Thuyết được Nhà nước công nhận chắc chắn sẽ phát huy có hiệu quả trong công tác giáo dục truyền thống ở địa phương.
TRỊNH NAM HẢI
(Bảo tàng Thừa Thiên - Huế)
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #86 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2016, 08:28:43 am »


VÀI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI
VÀ TỪ ĐƯỜNG CỦA TÔN THẤT THUYẾT

"Tứ nguyệt tam vương" một thời lịch sử.

Vua Tự Đức không có con, nuôi ba người cháu làm con nuôi, cho ở và học hành ở ba nhà riêng biệt, đó là Dục Đức đường (phong làm Thuỵ Quốc Công), Chánh Mông đường (phong làm Kiên Giang Quận Công) và Dưỡng Thiện đường (Kiến Phúc).

Khi Tự Đức mất, nhà vua lập di chiếu cho con nuôi lớn là Thuỵ Quốc Công Dục Đức được kế vị, cử ba ông Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường và Trần Tiễn Thành làm Phụ chánh đại thần để giúp vua mới (1883). Nhưng mới dược ba ngày, ông Thuyết và ông Tường đổi di chiếu, phế bỏ Dục Đức mà lập em vua Tự Đức là Lãng Quốc Công Hồng Dật lên làm vua (Hiệp Hoà). Triều đình có nhiều người bất bình, quan Đình nguyên Phan Đình Phùng lớn tiếng phản đối, bị hai ông Tường và Thuyết bắt giam, sau đó cách chức đuổi về. Dục Đức bị mang về an trí ở Dục Đức đường.

Vua Hiệp Hoà cùng quần thần thấy ông Thuyết và ông Tường ngày càng chuyên quyền, muốn tìm cách để khống chế nên đổi Tường qua làm Thượng thư bộ Binh và Thuyết làm Thượng thư bộ Lại. Thấy thế, hai người vào tâu với bà Từ Dũ và lập ông Dưỡng Thiện làm vua, bắt vua Hiệp Hoà ra an trí tại phủ Dục Đức rồi ép uống thuốc độc chết, Hiệp Hoà chỉ làm vua được bốn tháng. Quan Phụ chánh Trần Tiễn Thành phản đối cũng bị giết chết. Tháng 9 năm Giáp Thân (1884) Tường và Thuyết đem ông Dục Đức giam vào nhà tối, không cho ăn uống cho đến chết. Đó là giai đoạn “Tứ nguyệt tam vương” (bốn tháng có ba vua). Những ngày lao đao của hai ông Tường và Thuyết.

Ngày 7-10 Quý Mùi (1883) ông Dưỡng Thiện lên làm vua, hiệu là Kiến Phúc (15 tuổi). Nhưng Kiến Phúc cũng chỉ làm vua được sáu tháng, đến ngày 6 tháng 4 năm Giáp Thân (1884) thì mất. Ồng Ưng Lịch lên thay, tức là vua Hàm Nghi.

Sau binh biến kinh đô đêm 22 rạng 23 tháng 5 năm Ất Dậu (4-7-1885), Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi lên Tân Sở. Ngày 28-7 năm đó, De Courcy bắt Nguyễn Văn Tường, Phạm Thận Duật và Tôn Thất Đính (cha của Tôn Thất Thuyết) đày ra Côn Lôn. Sau đó Nguyễn Văn Tường bị đày qua Tahiti.

Ở vùng núi Quảng Bình thấy lực lượng quá mỏng, không đủ chống nhau với quân Pháp, Tôn Thất Thuyết đã để vua Hàm Nghi ở lại đồn Ve (huyện Tuyên Hóa, châu Quy Hợp cũ), giao cho 2 con là Tôn Thất Tiệp (sử cũ viết là Tôn Thất Thiệp) và Tôn Thất Đàm cùng Đề đốc Lê Trực và Nguyễn Phạm Tuân ở lại phò vua. Tôn Thất Thuyết cùng Đề đốc Trần Xuân Soạn đi đường bộ qua Trung Hoa cầu cứu nhà Thanh. Đến Trung Hoa, không được nhà Thanh giúp đỡ (Trung Hoa lúc này cũng đang bị các cường quốc Tây phương xâu xé), Ông Thuyết sinh ra thất chí, ngày ngày mang gươm đi chém đá nên người Long Châu gọi ông là Trảm thạch hầu (ông quan chém đá). Được mấy năm thì ông mất ở Thiều Châu (Quảng Đông), nằm úp mặt trên một tảng đá lớn bên đường, thanh gươm cùn trong tay và bộ triều phục Việt Nam tả tơi trên người (theo một bức ảnh cũ).

Ồng Thuyết thuộc dòng dõi chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (hệ 5, phòng 4). Sau vụ binh biến ở kinh đô, dưới áp lực của người Pháp, ông bị gạch tên khỏi Nguyễn Phước tộc, tài sản bị quản lý nên không có từ đường riêng, cho mãi đến khoảng 1930 người ta mới đề tên ông trở lại trong danh sách Nguyễn Phước tộc và con cháu thờ ông tại đình thờ “ông Tướng”. Đây là đình thờ Nguyên soái Nguyễn Phúc Luân (sau đổi là Nguyễn Phúc Hiệp vì trùng tên thân phụ vua Gia Long), một danh tướng dưới thời Trịnh - Nguyễn phân tranh. Đình thờ ở tại thôn Văn Thê, xã Thuỷ Thanh, huyện Hương Thuỷ, cách thành phố Huế khoảng 7 km. Ông Tôn Thất Thuyết được thờ ở một án thờ riêng trong đình thờ “ông Tướng”.
HOÀNG TRIỂU
(Báo Thừa Thiên Huế)
11-10-1994
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #87 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2016, 08:29:32 am »


TƯỞNG NIỆM NHÀ YÊU NƯỚC TÔN THẤT THUYẾT (1839-1913)

Ngày 29-12-1995, tại hội trường Viện Bảo tàng cách mạng Việt Nam, 25 Tôn Đản, Hà Nội, đã diễn ra Lễ tưởng niệm danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết, nhân kỷ niệm 160 năm ngày sinh của ông.

Sống những năm cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, ông là nhân vật ở trong thời điểm khó khăn nhất của lịch sử đất nước trước hoạ xâm lăng của tư bản phương Tây. Đứng về phe chủ chiến, lại là người nắm quyền bính có vị trí quan trọng chỉ sau vua, ông gần như là người đại diện của phe khẳng định quyết tâm đánh Pháp, không cho chúng đặt ách đô hộ lên đất nước ta.

Hành động chống Pháp của ông rất quyết liệt; biểu hiện qua việc với quyền bính trong tay, ông sẵn sàng phế bỏ những ông vua có tư tưởng cầu hòa hoặc đầu hàng giặc. Việc này đã khiến ông bị hiểu lầm như là sự lộng quyền. Một bằng chứng nữa khẳng định lòng yêu nước của Tôn Thất Thuyết, đó là việc khi phò vua Hàm Nghi - một nhà vua yêu nước - ra Hà Tĩnh, chính ông là người thay mặt vua thảo chiếu Cần Vương, kêu gọi toàn dân giúp vua đánh đuổi xâm lược. Từ đấy đã nổ ra nhiều cuộc khởi nghĩa vũ trang ở khắp 3 miền Bắc - Trung - Nam (phong trào Cần Vương), lớn nhất có cuộc khởi nghĩa Hương Khê (Hà Tĩnh) do Phan Đình Phùng lãnh đạo, kéo dài gần 11 năm trường (1885-1896). Tôn Thất Thuyết mất năm 1913 tại Trung Quốc.

QUỐC KHÁNH
(Báo Sài Gòn gỉảỉ phóng)
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #88 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2016, 08:30:47 am »


DI TÍCH PHỦ TÔN THẤT THUYẾT BÂY GIỜ...

“Di tích lịch sử phủ Tôn Thất Thuyết được công nhận ngày 1.11.1994 (cách thành phố Huế 12 km). Tôn Thất Thuyết (1839-1913) Phụ chính đại thần, Thượng thư bộ Binh, đứng đầu phe chủ chiến, phò Hàm Nghi phát động phong trào Cần Vương. Đây nguyên phủ thờ Oai quốc công Nguyễn Phúc Hiệp danh tướng, con trai Chúa Nguyễn Phúc Tần, được Tôn Thất Thuyết xây dựng làm phủ thờ Nguyễn Phúc Hiệp và hệ phái. Hiện nay di tích này đang bị xuống cấp nghiêm trọng.”.

Gọi cửa mãi, rồi phải chờ hơn chục phút tôi mới được một người ra đón vào. Nhìn người đàn ông già nua, gầy đét, dáng vẻ nông phu mộc mạc có thoáng một chút dè dặt, khó ai biết đây là hậu duệ của những danh tướng Nguyễn Phúc Hiệp, Tôn Thất Thuyết, Tôn Thất Thiệp, Tôn Thất Đàm, v.v... Ông tên là Tôn Thất Cử.

Ngôi vườn phủ đệ nay chỉ còn lại những cây chuối tiêu xác xơ héo lá, những vồng sắn cao không quá nửa mét cằn cỗi, và còn lại lẩn khuất giữa um tùm bụi rậm, gai dại... một dãy chuồng heo bỏ hoang của HTX Thuỷ Thanh trót xây vào năm 1988.

Tôi hỏi cậu bé con trai bác Cử sao mười năm rồi người ta không đập bỏ dãy chuồng này, em trả lời: “Chờ hoá giá ai mua thì tự đập lấy vật liệu”.

Đi sâu vào từ đường cùng bác Cử, gian trước chính giữa thờ Tôn Thất Hiệp, gian sau thờ Tôn Thất Thuyết, trong cái ánh sáng mờ nhạt không đèn, không nến vì mất điện, tôi ngước lên ngắm bức chân dung của Tôn Thất Thuyết được gửi tặng trong Ngày thành lập QĐNDVN 22.12 năm ngoái. Vóc người tầm thước, khuôn mặt tướng võ đầy đặn nhưng không dữ, nổi bật vầng trán cao trên đôi mắt kiên định.

Tôn Thất Thuyết sinh ngày 29.3 năm Kỷ Hợi (1839), vào thời điểm binh biến kinh thành ông mới 46 tuổi, sung chức Ngũ quân đô thống, đại thần, kiêm Binh bộ Thượng thư, sung Cơ mật viện. Là Điện tiền đại tướng quân tiền đội hữu quân hữu dực giá thần, ông đem quân đội của nhà vua đánh vào toà Khâm sứ Pháp và đồn binh Pháp. Bị Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Quảng làm phản nên thất bại, Tôn Thất Thuyết đem vua Hàm Nghi rút lên miền núi tỉnh Quảng Trị. Ngày 13.7.1885, từ Sơn phòng Quảng Trị, Hàm Nghi ra chiếu Cần Vương hô hào nhân dân ra sức phò Vua cứu nước. Tôn Thất Thuyết để hai con trai là Thiệp và Đàm bảo vệ Vua, còn ông sang nhà Thanh cầu cứu.

Tôn Thất Thuyết có bốn bà vợ, sinh được 6 con gái và 9 con trai. Cả 9 con trai của ông đều hy sinh vì nước, chẳng biết phần mộ ở chỗ nào. Ở nhà thờ của Tôn Thất Thuyết có treo chân dung nhà ái quốc Nguyễn Thượng Hiền, vì ông là rể của Tôn Thất Thuyết.

Theo gia phả bác Tôn Thất Cử cho xem, từ 1885 Tôn Thất Thuyết bị cô lập ở thị trấn Long Châu, tỉnh Quảng Đông cho đến khi qua đời ngày 22.9 năm Quý Sửu (1913), hưởng thọ 74 tuổi. Bác Tôn Thất Cử than thở: “Con cháu chỉ mong được phép cải táng mộ cố Tôn Thất Thuyết bên Long Châu về nước để ngày đêm hương khói cho Người”.

Ở đây, ngôi nhà cũ mặc dù đã được trùng tu năm 1997 với kinh phí 30 triệu đồng, nhưng chẳng thấm vào đâu vì sự xuống cấp trầm trọng. Mái nhà thờ chính còn phải lợp tạm bằng phibrô xi măng. Hậu liêu và nhà ngang vẫn giữ y như cũ, quá tối tăm, ẩm thấp.

Biến cố 1885 trong lịch sử đánh Pháp sống mãi trong lòng người Việt Nam như một quá khứ đau thương và tang tóc không bao giờ quên được. Ngày nay nó vẫn là lời nhắc nhở lại truyền thống chống giặc ngoại xâm của quân và dân ta, trong đó có vai trò chủ chốt của Tôn Thất Thuyết và Vua Hàm Nghi.

Tôi về thăm phủ Tôn Thất Thuyết ở làng Vân Thê, Thuỷ Thanh, Hương Thuỷ trong những ngày đầu tháng 5 âm lịch. Khi đứng trước sân phủ thờ Tôn Thất Thuyết, ngắm nhìn mái ngói phibrô xi măng như đang nhảy múa dưới nắng chói chang, chúng tôi không khỏi tự hỏi:

Tôn Thất thuyết, anh linh Ông giờ đang ở đâu, Long Châu hay trở về cố xứ?

Dẫu sao cũng còn một chút an ủi đối với người anh hùng không gặp may mắn, nhiều người dân Huế vẫn không quên ông dù đã trải qua hơn trăm năm dâu bể.
ĐOÀN HÀO VŨ
(Lao động, số 114/98, 18.7.98)
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #89 vào lúc: 19 Tháng Tư, 2016, 09:18:49 pm »


MỘT TÀI LIỆU VÔ GIÁ,
MỘT DI VẬT LỊCH SỬ QUAN TRỌNG...

Lý Hoà - một làng nằm bên cửa sông thuộc xã Hải Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình là nơi có truyền thống hiếu học và nổi tiếng là đất khoa bảng xưa và học hành đỗ đạt ngày nay. Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, cả những biến động của thiên tai địch họa, dòng họ Hoàng ở Lý Hoà vẫn giữ được nhiều văn bản cổ, trong đó có hai hiện vật gọi là “Mật lệnh” và “Mật kế đồ” của nghĩa quân Cần Vương. Sau khi xem xét tài liệu và hiện vật nói trên, Giáo sư Hà Văn Tấn, Viện trưởng Viện Khảo cổ học (Trung tâm KHXH và NVQG) đã có những nhận xét rất kỹ và đi đến kết luận: “Tôi hy vọng rằng hiện vật này cũng như các văn bản cổ mà dòng họ Hoàng còn giữ được sẽ được bảo quản tốt, vì đó không những là của báu của dòng họ mà còn là di vật lịch sử quan trọng đối với lịch sử dân tộc”.

Mật lệnh (Phiên âm và dịch)

Giao quan phòng sứ Hà Đông Thái khẩn báo huyện nhân, đáo địa giới Lý Hoà, lập căn cứ thuỷ binh tòng kế Trần Dụ Tông lưỡng diện Bắc Nam, Tự Đại (-) xuất tam tằng tiểu sơn giáp tiểu khê hữu triều quân Tây Bắc, Tây Nam. Quá giang môn giáp quần thạch đệ nhất cập, quan lục lộ Hoàng Phúc phối tác. Mong tướng công phương lự.
Tướng công Tôn Thất Thuyết

Dịch nghĩa (bản dịch của Viện Nghiên cứu Hán - Nôm):

Giao cho quan phòng sứ là Hà Đông Thái báo cấp cho người trong huyện đến địa giới Lý Hoà, lập căn cứ thủy binh theo kế sách hai mặt Bắc Nam của Trần Dụ Tông, Từ Đại (-) ra đến dãy núi nhỏ giáp con suối nhỏ có quân của triều đình ở hai mặt Tây Bắc và Tây Nam. Qua cửa sông giáp dãy đá thứ nhất, cùng phối hợp với quan lục lộ Hoàng Phúc mà làm. Mong tướng công hãy lo liệu.
Tướng công Tôn Thất Thuyết.

Về bản “Mật lệnh” này, Giáo sư Hà Văn Tấn nhận xét: “Có thể đoán rằng đây là kế hoạch bố phòng ở vùng Lý Hoà lúc Tôn Thất Thuyết cùng vua Hàm Nghi xuất bôn về phía Bắc. Hoàng Phúc là một tướng của Tôn Thất Thuyết đã được nhiều tài liệu khác nói đến. Người ta cho rằng Cô Tám, một nhân vật liên quan đến cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng là con gái của Hoàng Phúc”.

Ngoài bản “Mật lệnh”, con cháu họ Hoàng còn giữ được một ống bút làm bằng đá quý. Trên ống bút cổ này có khắc chữ “Tôn Thất”, “Tướng công” dưới có khắc hình một bản đồ. Trên bản đồ có mấy chữ “Địa giới” “Lý Hoà”. Bên phải bản đồ khắc: “Mật kế đồ. Triều Nguyễn Hoàng Phúc kế lập". Bên trái có thể đọc được mấy chữ: “Trần Dụ Tông”, “Căn cứ” và những ký hiệu.

Giáo sư Hà Văn Tấn cho rằng: “Đây là bản mật lệnh đã được mã hoá để giữ bí mật... Có thể cho rằng ống bút này là của Tôn Thất Thuyết hay là của Hoàng Phúc ghi lại mật lệnh của Tôn Thất Thuyết... Tôi nghĩ rằng ống bút này là một tài liệu vô giá liên quan đến những sự kiện mở đầu cho cuộc đấu tranh chống Pháp bắt đầu từ cuối thế kỷ 19”

Hiện nay, các di vật nói trên đang được con cháu dòng họ Hoàng cất giữ. Theo chúng tôi, để tránh thất lạc, tỉnh Quảng Bình nên có kế hoạch đưa về lưu giữ ở Bảo tàng để tiện cho việc nghiên cứu sau này.

NGUYỄN THỂ THINH
(Thanh niên, số ra ngày 14-6-1998)
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM