Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:34:14 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Napoleon Bonaparte  (Đọc 114126 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #310 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2016, 10:52:56 pm »


Ngày 28 tháng 6, ông hoàng đế rời Man-me-dông để tới bờ biển Đại Tây Dương, ông quyết định sẽ đáp tàu buồm từ bến Rô-sơ-pho để sang châu Mỹ. Theo lệnh của bộ trưởng Bộ hải quân, hai chiếc tàu đã được dành cho hoàng đế. Hồi 8 giờ sáng ngày 3 tháng 7, khi Na-pô-lê-ông đến Rô-dơ-pho thì các tàu buồm đã sẵn sàng ra khơi, nhưng không thể rời bến được vì nó có một hạm đội Anh đang bao vây chặt bờ biển. Na-pô-lê-ông đã chờ đợi. Đương nhiên là ông lần nữa ngày này qua ngày khác. Giới văn học lãng mãn thời kỳ 1830 đã cho rằng "trong các vinh quang của hoàng đế còn thiếu cái anh hùng tuẫn tiết", cho rằng thiên truyền kỳ của hoàng đế ắt đã không hoàn chỉnh và vĩ đại đến như thế nếu như nó không được nhắc mãi mãi vào tâm trí người đời bằng hình ảnh của một vị thần Prô-mê-tê mới bị xiềng vào núi đá và cho rằng Na-pô-lê-ông đã rất hiểu điều đó nên ông đã không muốn để cho thiên anh hùng ca của mình kết thúc một cách khác. Dù sao chăng nữa, về sau này, chính Na-pô-lê-ông cũng không bao giờ giải thích một cách thỏa đáng cách xử sự của mình lúc đó. Sự có mặt của ông ở Rô-dơ-pho bị lộ, và ngày ngày, hàng vạn người đã đến bên cửa sổ nơi ông ở vừa hô lớn: "Hoàng đế muôn năm!". Cuối cùng, ngày 8 tháng 7, Na-pô-lê-ông đã xuống một chiếc tàu buồm và rời bến, nhưng đã phải cập ngay vào đảo Ách, về phía tây-bắc Rô-dơ-pho, vì đội Anh đã bịt tất cả các lối ra đại dương.

Na-pô-lê-ông lên bờ, và mọi người đều biết ngay. Thủy thủ, bộ binh, dân đánh cá, tất cả dân chúng các vùng lân cận vội vã đổ về phía tàu. Binh lính đồn trú ở đảo đã xin ông hoàng đế đi duyệt đội ngũ, và khi được ông hoàng đế nhận lời, họ đã vui sướng tràn trề. Ông cũng đã đi kiểm tra các pháo đài đã được xây dựng theo kiểu của ông khi xưa.

Khi trở lại đất liền, Na-pô-lê-ông được biết rằng Pa-¬ri hạ lệnh chỉ được nhổ neo khi không có hạm đội Anh ở ngoài khơi. Nhưng tàu Anh, sẵn sàng chiến đấu, vẫn đang tuần tiễn ngoài cửa biển.

Na-pô-lê-ông bèn quyết định. Bên cạnh hoàng đế có công tước Rô-vi-gô, Mông-tơ-lông, thống chế Béc-tơ-răng, Lát Ca-dơ và các sĩ quan trung thành, cuồng tín của đại quân. Na-pô-lê-ông phái Xa-va-ri và Lát Ca-dơ đến thương thuyết với quân Anh xem hạm đội có ưng thuận để các tàu buồm Pháp chở Na-pô-lê-ông sang châu Mỹ không. Chỉ huy hạm đội Anh Mét-lơn tiếp đón trên tàu Ben-lơ-rô-phơn và đã từ chối một cách nhã nhặn nhưng kiên quyết. Mét-lơn nói: "Giả dụ nếu nước Anh quyết định ưng thuận cho Na-pô-lê-ông được yên ổn đi châu Mỹ, thì ông ta có gì bảo đảm là sau này sẽ không quay trở về để lại làm cho nước tôi và châu Âu phải chịu hy sinh xương máu, hao tổn tiền bạc như đã phải chịu không?". Xa-va-ri đã trả lời rằng cuộc thoái vị lần này khác rất xa với cuộc thoái vị năm 1814, lần này hoàng đế đã tự nguyện rời bỏ chính quyền, mặc dù hoàng đế vẫn còn có thể ở lại trên ngôi và tiếp tục chiến đấu ngay cả sau trận Oa-téc-lô, rằng hoàng đế đã kiên quyết và vĩnh viễn rút lui về với cuộc sống riêng tư. Mét-lơn nói: "Nếu là như vậy, tại sao ông ta không xin sang nương náu ở nước Anh?". Khi kết thúc cuộc gặp gỡ, các phái viên của Na-pô-lê-ông đã không được một lời hứa hẹn, cũng không được trả lời về điểm chủ yếu: liệu nước Anh có coi Na-pô-lê-ông là tù binh hay không?
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #311 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2016, 10:53:23 pm »


Khi Xa-va-ri và Ca-dơ quay trở về tàu của Na-pô-lê-ông, và khi các thủy thủ và sĩ quan của hai tàu buồm Pháp biết tin rằng hoàng đế có thể rơi vào tay quân Anh, thì toàn thể thủy thủ và sĩ quan của hai tàu Pháp ầm ầm phẫn nộ. Thuyền trưởng Pô-nê, chỉ huy chiếc tàu thứ hai đã tuyên bố với tướng Mông-tô-lông: "Tôi đã thăm dò các sĩ quan và thủy thủ của tôi. Tôi phát biểu ý kiến đây là nhân danh họ và cá nhân tôi...". Sau câu mở đầu đó, Pô-nê trình bày kế hoạch của mình: Chiếc tàu "Mê-duy-dơ" của ông ta bắt đầu tập kích tàu Ben-lơ-rô-phơn trong đêm tối ắt sẽ giữ được quân Anh lại trong hai tiếng đồng hồ, dĩ nhiên là tàu Mê-duy-dơ sẽ hy sinh, nhưng khoảng cách thời gian đó sẽ đủ cho tàu Xan-đơ chở hoàng đế vượt ra khơi bởi vì số còn lại của hạm đội Anh còn ở xa họ chỉ còn vài chiếc tàu nhỏ, không đủ sức cản nổi một tàu chiến như chiếc Xan-lơ. Thủy thủ và sĩ quan trên tàu Mê-duy-lơ ai nấy đều đã tuyên bố sẵn sàng hy sinh để cứu hoàng đế.

Khi biết đề nghị đó, Na-pô-lê-ông nói cho Mông-tô-lông rằng ông không bằng lòng chấp nhận một sự hy sinh như vậy, ông không còn là hoàng đế nữa, và không thể để một chiếc tàu buồm Pháp hy sinh cùng với toàn bộ thủy thủ để cứu một cá nhân bình thường. Sau đó, Na-pô-lê-ông rời tàu Xan-lơ để đi đảo Ách. Vài sĩ quan trẻ tuổi đảm nhiệm bí mật đưa Na-pô-lê-ông xuống một chiếc tàu nhỏ để chở ông đến đảo.

Nhưng Na-pô-lê-ông đã tự định đoạt số phận của mình. Lát Ca-dơ quay trở lại gặp Mét-lơn biết là Na-pô-lê-ông đã quyết định trao số phận của ông vào tay nước Anh. Mét-lơn cam kết là mặc dầu mình không có trách kiệm gì đối với hoàng đế nhưng hoàng đế cũng sẽ được tiếp đón thích đáng ở trên tàu của ông ta.

Ngày 15 tháng 7 năm 1815, Na-pô-lê-ông xuống chiếc tàu nhỏ "Ê-péc-vi-ê" để ra tàu Ben-lơ-rô-phơn. Na-pô-lê-ông đã mặc bộ quần áo mà ông ưa thích nhất, bộ quân phục cận vệ, và đội chiếc mũ nhỏ nổi tiếng. Đứng trước đội ngũ thủy binh tề chỉnh, viên thuyền trưởng thuyền Ê-péc-vi-ê vừa hô to "Hoàng đế muôn năm!" vừa thi hành mệnh lệnh của Na-pô-lê-ông. Tàu Ê-péc-vi-ê chạy tới sóng hàng bên cạnh tàu Ben-lơ-rô-phơn. Dưới chân cầu thang tàu, thuyền trưởng Mét-lơn đã rất kính cẩn chào đón hoàng đế. Khi lên boong tàu Ben-lơ-rô-phơn, hoàng đế thấy toàn bộ thủy thủ của chiếc chiến lạm Anh xếp hàng trước mặt mình và Mét-lơn đã giới thiệu các sĩ quan với ông hoàng đế.

Ngay sau đó, Na-pô-lê-ông lui vào căn buồng tốt nhất của chiếc chiến hạm do viên thuyền trưởng đã bố trí cho ông.

Kẻ thù mạnh nhất, dai dẳng nhất, đáng sợ nhất, mà nước Anh đã gặp phải trong lịch sử, đã nằm trong tay họ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #312 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2016, 09:46:36 am »


CHƯƠNG MƯỜI BẨY

TRÊN ĐẢO THÁNH BÀ HÊ-LEN
1815-1821


I

Đầu thế kỷ thứ XVI, sau Vát-xcô đơ Ga-ma, một trong những người Bồ Đào Nha đầu tiên thám hiểm vùng bờ biển phía nam Đại Tây Dương đã tìm thấy một hòn đảo nhỏ bé, hoang vu ở vĩ tuyết nam 15 độ rưỡi. Ngày ấy là ngày 21 tháng 5 năm 1501, theo lịch sử của nhà thờ Thiên chúa giáo là ngày Đức Thánh bà Hê-len. Do đó tên ấy đã được dùng để đặt tên cho đảo. Vào thế kỷ thứ XVII, đảo thuộc người Hà-Lan, nhưng đến năm 1673 đã bị người Anh vĩnh viễn cướp đoạt. Công ty hàng hải Phương Đông của Anh đã dùng đảo làm một chặng đường dừng tàu trên đất Anh - Ấn.

Ngay sau khi được tin Na-pô-lê-ông đã ở trên tàu Ben-lơ-rô-phơn, chính phủ Anh bèn quyết định đày Na-pô-lê-ông ra đảo. Bờ biển châu Phi là nơi gần nhất cũng cách đảo ngót 2.000 ki-lô-mét; từ nước Anh đến đảo Thánh bà Hê-len, tàu buồm của thời đó phải đi từ hai tháng rưỡi tới ba tháng. Vị trí địa dư ấy của đảo đã ảnh hưởng đến quyết định của chính phủ Anh. Sau Một Trăm Ngày, hình như Na-pô-lê-ông còn đáng sợ hơn trước khi diễn ra hành động cuối cùng ấy của thiên anh hùng ca của ông. Nếu như ông lại xuất hiện trên đất Pháp thì lại một lần nữa đế chế có thể tái sinh và một cuộc chiến tranh mới ở châu Âu lại có thể nổ ra.

Nằm chơi vơi giữa biển cả mênh mông, xa xôi với mọi khu vực đất liền, đảo Thánh bà Hê-len đã là một đảm bảo để Na-pô-lê-ông không thể trở về. Những nhà thơ lãng mạn và khuynh hướng viết sử dân tộc của chủ nghĩa của Pháp đã coi hòn đảo là nơi mà người Anh lựa chọn dành riêng vào việc đày đọa cho người tù binh của họ chóng chết. Sự thật không phải thế. Khí hậu ở đảo Hê-len rất tốt lành. Vào tháng nóng nhất, nhiệt độ trung bình ban ngày khoảng 24 độ, tháng lạnh nhất chừng 18 độ rưỡi. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 21 độ. Ngày nay, ở đó chỉ còn những cánh rừng lớn, nhưng trước đây một thế kỷ, đảo còn rất rậm rạp. Nước ăn trong lành thơm tho; mưa nhiều nên đất đai ẩm ướt, cây cỏ um tùm tươi tốt, chim muông ríu rít. Đảo rộng 122 ki-lô-mét vuông, vách đá dựng đứng, xanh ngắt, dường như trong lòng biển cả mọc ra.

Khi người ta báo với Na-pô-lê-ông rằng sẽ bị đưa ra đảo Thánh bà Hê-len, Na-pô-lê-ông đã phản đối rằng người ta không có quyền coi ông ta là tù binh.

Từ tàu Ben-lơ-rô-phơn, Na-pô-lê-ông chuyển sang tàu buồm Nớc-tum-blon, và sau hai tháng rưỡi lênh đênh trên mặt biển, ngày 15 tháng 10 năm 1815, chiếc tàu đã đưa Na-pô-lê-ông đến đảo và ông đã sống những ngày cuối cùng ở đó.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #313 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2016, 09:47:28 am »


Số người theo Na-pô-lê-ông đi đày rất ít, vì phần lớn những người xin đi theo Na-pô-lê-ông ra đảo Hê-len đã bị chính phủ Anh từ chối. Cùng đi với ông chỉ có vợ chồng thống chế Béc-tơ-răng, vợ chồng tướng Mông-tơ-lông, tướng Gua-gô, Lát Ca-dơ và con trai. Ngoài ra còn có người hầu phòng Mác-săng và vài người hầu khác, trong đó có Xăng-ti-ni, người đảo Coóc. Đầu tiên Na-pô-lê-ông ở một ngôi nhà không tốt lắm, sau đó đến một ngôi rộng rãi hơn một chút thuộc khu Lơn-vút trong đảo. Đến tháng 4 năm 1816, đảo này thuộc quyền cai trị của đô đốc Coóc-bơ, từ tháng 4 năm 1816 cho tới khi Na-pô-lê-ông chết thì đặt dưới quyền cai trị của viên toàn quyền Hút-xơn Lao. Lao là một quân nhân cục cằn, đần độn và thiển cận. Hắn sợ mọi thứ trên đời và sợ nhất là sợ người tù của hắn. Sợ trách nhiệm, chỉ lo Na-pô-lê-ông trốn mất nên hắn sống trong khủng khiếp. Trong khi ấy, theo chỉ thị của chính phủ Anh thì Na-pô-lê-ông lại được tự do, đi đâu, muốn đi bộ hoặc cưỡi ngựa, muốn tiếp ai hay không là tùy ý Na-pô-lê-ông. Ngay từ đầu, Na-pô-lê-ông đã không ưa Hút-xơn Lao. Na-pô-lê-ông thường không tiếp Lao, không dự tiệc do Lao mời "tướng Bô-na-pác" (nước Anh tuyên chiến với Na-pô-lê-ông từ năm 1803, từ thời Na-pô-lê-ông chưa lên ngôi hoàng đế). Trên đảo cũng có đại diện của các cường quốc Pháp, Nga, Áo. Đôi khi Na-pô-lê-ông tiếp các hành khách người Anh hay người nước khác, khi họ dừng lại ở Hê-len, trên đường đi Ấn Độ, hay châu Phi, hoặc khi họ quay trở về.

Một đội quân được phái đến bảo vệ đảo, đóng ở Giơm-xtao, cái thị trấn nhỏ độc nhất của Hê-len, cách Lơn-vút khá xa. Đáng chú ý là các sĩ quan và binh lính của đội quân bảo vệ này không những chỉ tỏ vẻ kính trọng Na-pô-lê-ông, mà đôi khi còn bộc lộ một thứ tình cảm có tính chất sùng bái. Binh lính thường gửi hoa tặng Na-pô-lê-ông và xin những người hầu cận cho họ được trộm xem mặt người. Lâu về sau, khi nói đến người tù đã làm cho họ phải sống nhiều năm trên một hòn đảo hoang vu, cô quạnh, không phải các sĩ quan đã không tỏ ra có thiện cảm.

Những mối cảm tình ấy đã không thoát khỏi sự chú ý của các nhân viên những cường quốc có nhiệm vụ giám sát Na-pô-lê-ông ở Hê-len. Bá tước Ban-manh, đại diện cho A-lêch-xan đệ nhất tuyên bố: "Điều là lạ lùng nhất là người tù binh bị mất ngôi, bị canh gác bốn bề ấy vẫn dội ảnh hưởng đến tất cả những ai đến gần ông ta… Những người Pháp thì run lên trước con mắt ông ta vì họ coi rằng được phục vụ ông ta là một niềm hạnh phúc thực sự... Những người Anh thì chỉ tỏ thái độ sùng kính khi đến gần ông ta. Ngay của những người canh gác ông ta cũng cầu mong được ông ta nhìn họ, tìm cách để được ông ta nói với họ, dù chỉ là một đôi tiếng. Không một ai dám cư xử ngang hàng với ông ta".

Cái triều đình bé nhỏ của Na-pô-lê-ông, đã theo ông ra đảo Thánh bà Hê-len và đóng đô với ông ở Lơn-vút, cũng cãi cọ nhau, đối phó với nhau đúng như khi còn ở Pa-ri, trong cung điện Tuy-lơ-ri. Lát Ca-dơ, Mông-tô-lông, Gua-gô, Béc-tơ-răng thì tôn sùng Na-pô-lê-ông, coi Na-pô-lê-ông là thượng đế của họ, và ghen tị lẫn nhau, Gua-gô đã đi tới chỗ đòi đánh nhau với Mông-tô-lông, và chỉ đến khi ông hoàng đế nổi giận can thiệp mới chấm dứt được cuộc cãi lộn. Ba năm sau, Na-pô-lê-ông đã viện nhiều cớ để trả Gua-gô về châu Âu, thật ra chỉ vì Na-pô-lê-ông đã quá mệt do đầu óc mê tín dị đoan và tính nết kỳ cục của Gua-gô. Na-pô-lê-ông cũng phải chia tay với Lát Ca-dơ, người mà Hút-xơn Lao đã bức phải rời đảo vào năm 1818, Lát Ca-dơ đang ghi lại những cuộc chuyện trò của Na-pô-lê-ông, thường thường do chính Na-pô-lê-ông đọc cho viết, và trong số những bút ký viết về Hê-len thì chắc chắn những ghi chép ấy là một công trình đáng chú ý nhất. Khi Lát Ca-đơ phải đi, Na-pô-lê-ông đã không tìm được người thư ký nào làm tròn nhiệm vụ và có học thức như vậy để thay thế. Vì vậy, chúng ta được biết rất ít về những năm cuối cùng của ông hoàng đế.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #314 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2016, 09:48:21 am »


II

Tuy không hề thổ lộ với cái triều đình bé nhỏ của ông nhưng tất cả đều nhận thấy Na-pô-lê-ông sầu muộn u uất. Đâu phải vì những sự quấy nhiễu của Hút-xơn Lao, bởi chung những sự quấy nhiễu ấy dù có ti tiện và khó chịu đến đâu cũng không thể làm Na-pô-lê-ông bị tổn thương sâu sắc, vả chăng với Na-pô-lê-ông, có bao giờ ông thừa nhận Hút-xơn Lao là viên toàn quyền cai trị ông. Cũng không phải vì khí hậu ở đảo, một thứ khí hậu điều hoà và trong lành. Cũng không phải vì đời sống vật chất của ông, chẳng hề kém viên quan toàn quyền. Cái đã giết ông chính là sự ăn không ngồi rồi. Na-pô-lê-ông được đọc sách rất nhiều, đi chơi bách bộ, cưỡi ngựa, đọc cho Lát Ca-đơ viết. Nhưng lúc cuộc sống đã bị thu hẹp như vậy, sau khi đã sống cả một cuộc đời với những ngày làm việc 15, thậm chí 18 tiếng đồng hồ, thì sự nhàn rỗi ấy đối với Na-pô-lê-ông là điều không sao chịu đựng nổi.

Na-pô-lê-ông che dấu tâm trạng của mình, cố gắng chuyện trò và tỏ ra vui vẻ với mọi người xung quanh và hình như cũng có lúc làm ông khuây khỏa đôi chút. Ông đã kiên trì chịu đựng hoàn cảnh của ông. Suốt cuộc đi dài trên mặt biển trong con tàu “Nớc-tum-blơn", Na-pô-lê-ông đã bắt đầu đọc cho Lát Ca-đơ viết tập Hồi ký, và tiếp tục công việc đó trên đảo cho tới khi người thư ký ấy ra đi. Những cuộc đàm luận với Lát Ca-đơ, với Mông-tô-lông, với Gua-gô, những “Bức thư viết từ Đảo" do Na-pô-lê-ông đọc và duyệt lại, mà sau này Lát Ca-đơ xuất bản theo chỉ thị của Na-pô-lê-ông nhưng không ký tên Na-pô-lê-ông, tất cả những nguồn tài liệu đó đã không nói lên được sự thật lịch sử của các sự kiện, mà chỉ nêu lên những hình ảnh bên ngoài của chúng như Na-pô-lê-ông mong muốn để lại cho đời sau.

Trong tất cả những ghi chép về những cuộc gặp gõ ấy với Na-pô-lê-ông, trong tất cả những tập hồi ký đáng tin cậy đôi chút ấy (hồi ký của Lát Ca-đơ, của Mông-tô-lông và của Gua-gô, còn của Ăng-tô-mác-si và của Ô-¬mê-a-ra thì chẳng có giá trị gì), người ta có thể rút ra được nhiều điều cho tập "truyền kỳ Na-pô-lê-ông", nhưng rút ra được rất ít chất liệu có giá trị và chân thật giúp cho sự xác định tính chất của chính con người Na-pô-lê-ông và lịch sử triều đại của ông. Thiên "truyền kỳ Na-pô-lê-ông", sau này đã được dùng để đóng một vai trò lịch sử rất tích cực, đã biết tự sáng tạo trước của Vích-to Huy-gô và Hai-nơ, Gớt và Xét-lít, Pus-kin và Léc-man-tô, Ban-dắc và Bê-răng-giê, Mích-ki-ê-vích và Tô-vi-an-xki; nó đã bắt đầu tự sáng tạo cùng với đội ngũ của những nhà thơ, nhà báo, nhà chính trị và nhà sử học mà tư tưởng và tâm hồn họ, nhất định là tưởng tượng của họ, đã gắn bó sâu sắc từ rất lâu đời với nhân vật vĩ đại đó, nhân vật mà sau trận I-ê-na, Hê-ghen cho là hiện thân của "trí tuệ loài người", là động lực của lịch sử nhân loại, Thiên truyền kỳ ấy đã bắt đầu tự sáng tạo ở đảo Thánh bà Hê-len.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #315 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2016, 09:48:52 am »


Nhưng trong cuốn sách này, chúng ta chỉ nói về Na-pô-lê-ông và tuyệt nhiên không nói về chuyện "truyền kỳ Na-pô-lê-ông".

Do đó, những tài liệu viết trong thời gian ông hoàng đế ở đảo cung cấp cho chúng ta rất ít vấn đề. Ông "Thượng đế" đọc những lời lẽ khẳng định, và những tín đồ của ông đã ghi chép lại. Sự sùng bái, tin yêu, tôn thờ không phải là những tình cảm thuận lợi cho việc phân tích phê phán. Na-pô-lê-ông nói với những người thân cận của ông ta không phải là nói cho họ nghe, mà cho hậu thế, cho lịch sử. Phải chăng lúc đó Na-pô-lê-ông vẫn tin chắc rằng triều đại của ông sẽ được triệu về để trị vì nước Pháp một lần nữa? Chúng ta không biết điều đó, nhưng Na-pô-lê-ông đã nói với các cận thần tựa hồ như ông đã đoán trước được việc ấy. Cũng đã có lần Na-pô-lê-ông quyết đoán rằng con trai ông sẽ trị vì.

Tất cả những nhận xét phong phú và những lời bình luận, do Na-pô-lê-ông đọc ra, nói về các cuộc chiến tranh của ông, về tài thao lược của các danh tướng khác và về nghệ thuật chiến tranh nói chung, là những điều đặc biệt bổ ích. Trong mỗi lời, người ta đều cảm thấy Na-pô-lê-ông quả là bậc thầy, là người am hiếu và là người say mê nghề nghiệp của mình. Có lần, Na-pô-lê-ông nói: "Nghệ thuật chiến tranh thật là lạ lùng: tôi đã chiến đấu trong 60 trận, và tôi cam đoan rằng tôi chẳng được gì cả ngoài những điều mà tôi đã học được từ những trận đầu tiên". Na-pô-lê-ông đánh giá cao tướng Tuy-ren và tướng Công-đê. Rõ ràng Na-pô-lê-ông đã tự coi mình là viên tướng tài nhất của các thời đại, mặc dầu chưa bao giờ người ta nghe Na-pô-lê-ông nói rõ điều đó. Na-pô-lê-ông hãnh diện đặc biệt về trận Au-xtéc-lit, trận sông Mát-xcơ-va, trận Va-gram, nhất là chiến dịch đầu tiên trong đời mình, chiến dịch nước Ý năm 1796 -1797, và chiến dịch trước chiến dịch cuối cùng, tức là chiến dịch 1814. Ông coi trận thất bại của quân Áo ở Va-gram là một trong những thắng lợi lớn nhất của ông về mặt chiến lược. Nếu lúc đó, Tuy-ren và Công-đê có mặt ở Va-gram thì ắt hẳn họ đã thấy ngay nơi hiểm yếu của trận địa cũng như ông, và ông nói thêm rằng, "nhưng còn Xê-da và An-ni-ban thì không thể thấy được". Na-pô-lê-ông khẳng định rằng: "Nếu có Tuy-ren bên tôi để giúp đỡ tôi tác chiến, hẳn tôi đã làm bá chủ thế giới". Theo Na-pô-lê-ông, một quân đội giỏi phải có những sĩ quan biết xử trí đúng với tình huống.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #316 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2016, 09:49:48 am »


Có lần, Na-pô-lê-ông đã tỏ ý tiếc rằng ông đã không chết ở bên sông Mat-xcơ-va hay ở điện Crem-li. Nhưng cũng có lúc, khi trở về với ý nghĩ trên, Na-pô-lê-ông lại muốn chết ở Dre-xđen hay tốt hơn nữa, ở Oa-tec-lô; Na-pô-lê-ông tự hào nhắc lại giai đoạn Một Trăm Ngày và lòng tin yêu của nhân dân đối với cá nhân ông khi ông đổ bộ lên vịnh Giu-ăng và sau trận Oa-téc-lô.

Na-pô-lê-ông tiếc mãi việc bỏ Ai-Cập, và việc lui quân từ Xi-ri về, sau khi không vây Xanh Gian A-crơ vào năm 1799. Theo ý Na-pô-lê-ông, đáng lẽ phải ở lại phương Đông, chinh phục nước A-rập, Ấn Độ, làm hoàng đế phương Đông chứ không phải phương Tây. "Nếu tôi hạ thành A-crơ thì tôi đã tới vùng Công-xtăng-ti-nốp và nước Ấn Độ". Na-pô-lê-ông nhắc lại rằng ai chiếm được Ai Cập sẽ làm chủ được Ấn Độ (ta nên chú ý là điều này hoàn toàn nhất trí với chiến lược hiện đại). Về việc người Anh thống trị nước Ấn Độ, Na-pô-lê-ông nói rằng ông chỉ cần đưa đến đó một dúm người là có thể tống cổ được người Anh. Na-pô-lê-ông thường nói nhiều đến trận Oa-téc-lô, và cho rằng nếu không xảy ra sự bất ngờ không thể lường trước được, và nếu bên cạnh ông có những tướng như Béc-xi-e, Lan-nơ (đã chết trong những chiến dịch trước), nếu có Muy-ra thì trận đánh đã kết thúc khác. Mỗi khi nghĩ đến thắng lợi của trận đánh cuối cùng ấy lại thuộc về người Anh, Na-pô-lê-ông lấy làm vô cùng buồn bực.

Việc xâm chiếm Tây Ban Nha đã là sai lầm đầu tiên của ông ("cái ung thư Tây Ban Nha"), và khi nói đến "sự hiểu lầm" đã đưa ông tiến vào Mat-xcơ-va thì, hồi ấy tuy chưa thật nghiêm khắc với mình, song ông cũng đã nhận ra chiến dịch nước Nga là sai lầm thứ hai nặng nề, tai hại hơn cả chiến dịch Tây Ban Nha. Nhưng không phải Na-pô-lê-ông chỉ nhận trách nhiệm của mình đến như vậy mà thôi. Ông cho rằng năm 1812 đến Đre-xđen, khi nhận được tin Béc-na-đốt - lúc đó đã trở thành hoàng tử nước Thụy Điển - không có ý giúp mình đánh lại nước Nga, và vua Thổ Nhĩ Kỳ đã ký hòa ước với Nga, thì đáng lẽ ông phải lập tức bỏ cuộc xâm lăng. Khi vào đến Mat-xcơ-va, đáng lẽ phải rút ra ngay và dượt theo Cu-tu-dốp để tiêu diệt quân Nga. "Cuộc chiến tranh đau đớn ấy với nước Nga đã đến với tôi do sự sai lầm; cái thủy thổ ác nghiệt ấy đã tàn phá cả một đạo quân... Rồi thì, cả thế giới chống lại tôi... Tôi đã chống cự được lâu dài như vậy, đã nhiều lần tôi tức khắc vượt qua được hết thảy và tôi đã ra khỏi đống hỗn độn ấy một cách oai hùng hơn bao giờ hết, phải chăng đó là một điều kỳ diệu?”

Na-pô-lê-ông cho rằng khi Tin-dít ông đã không xoá bỏ nước Phổ trên bản đồ thế giới cũng là một sai lầm. Na-pô-lê-ông cũng thú nhận rằng năm 1809 ông muốn thủ tiêu nước Áo, nhưng trận thất bại Ét-xlin của ông đã không cho phép ông làm điều đó, vì thế sau trận Va-¬gram, mặc dầu nước Áo đã bị tổn thất vô cùng nặng nề nó vẫn tiếp tục tồn tại.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #317 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2016, 09:50:20 am »


Na-pô-lê-ông nhiều lần nhắc đến cái chết của công tước Ăng-ghiêng, tỏ ra không mảy may hối hận về việc đó, trái lại, ông nói sẽ làm lại việc đó nếu phải làm lại. Cũng không phải là không bổ ích khi nhận xét rằng cuộc tàn sát khủng khiếp - đã diễn ra trên chiến trường châu Âu ròng rã hai mươi năm mà chính Na-pô-lê-ông cho rằng ông đã đóng vai trò quyết định - đã không hề bao giờ gợi cho Na-pô-lê-ông một chút ưu sầu, một cảm giác nặng nề và làm tâm hồn ông buồn bã, dù rằng chỉ thoáng qua chốc lát. Rõ ràng Na-pô-lê-ông thèm khát xâm chiếm, song trước hết là "lòng quá say mê chiến tranh" đã chiếm lĩnh con người Na-pô-lê-ông.

Cô bé Bét-xi Ban-cơm, con một nhà thầu khoán người Anh sinh cơ lập nghiệp ở đảo, được Na-pô-lê-ông đặc biệt chú ý - muốn dậy cô bé tiếng Pháp, cô bé được ra vào nơi hoàng đế ở, được phép trò chuyện với hoàng đế. Và sau khi đã quen dạn, có lần Bét-xi và Lết-gi, bạn của cô bé đã hỏi rằng có thật Na-pô-lê-ông ăn thịt người không - chả vì lũ trẻ nghe người ta nói vậy ở Anh - hoàng đế phá ra cười, nói mình có ăn thịt người thật và vẫn sống bằng cách ấy... Na-pô-lê-ông khuây khỏa khi thấy các cô bé hiểu hoàn toàn theo nghĩa đen cái danh từ mà người lớn dùng để gọi mình: con quỷ đảo Coóc. Những tiếng đó, với nghĩa bóng của chúng, đã đến tai của Na-pô-lê-ông từ lâu trước khi quen cô bé Ban-cơm và chỉ làm cho Na-pô-lê-ông nhún vai khinh bỉ.

Sau khi li dị Grô-dê-phin, sau cái chết của Lan-nơ ở Et-xlin và Đuy-rốc ở Gớc-lít-xơ, ở đời chỉ còn một con người được Na-pô-lê-ông yêu dấu, đứa con trai của ông, vua thành Rôm, từ năm 1814 sống với mẹ là Ma-ri Lu-i-dơ, với ông ngoại là hoàng đế Phran-xơ. Năm 1816, trong những thời gian đầu ở đảo Hê-len, Na-pô-lê-ông tỏ ra tin tưởng rằng con mình sẽ trị vì, bởi từ nay trở đi, ở Pháp, người ta chỉ có thể dựa vào "quần chúng" hoặc là chính thể cộng hòa hoặc là chính thể quân chủ "bình dân". Và triều đại bình dân đó chỉ có thể là triều đại của dòng họ Bô-na-pác, do nhân dân bầu cử.

Chính sự không nhất trí giữa tư tưởng và hành động ấy của Na-pô-lê-ông đã không cho phép ông, vào năm 1815, cầm đầu một phong trào quần chúng rộng rãi chống lại bọn Buốc-bông, bọn quý tộc và thầy tu, nhưng ngay ở đảo Hê-len, Na-pô-lê-ông vẫn còn cho rằng năm 1815 ông đã hành động đúng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #318 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2016, 09:50:36 am »


Ở đây, chỉ có một mâu thuẫn hiển nhiên, bắt nguồn từ sự hiểu vấn đề không chính xác: nền quân chủ của Na-pô-lê-ông không phải nền quân chủ bình quân mà là "tư sản", và Na-pô-lê-ông vẫn mơ ước cho con ông một chính quyền không dựa vào ý chí và quyền lợi của giai cấp tư sản. Sau trận Oe-téc-lô khi quần chúng vây quanh lâu đài của Na-pô-lê-ông yêu cầu Na-pô-lê-ông tiếp tục ở ngôi vua, Na-pô-lê-ông nói: "Họ chịu ơn gì tôi? Tôi đã gặp gỡ họ, nhưng tôi đã để họ nghèo khổ".

Và hồi đó ở Pa-ri, cũng như sau này ở đảo Thánh bà Hê-len, Na-pô-lê-ông nhắc lại với bá tước Mông-tô-lông rằng năm 1815, sau khi đổ bộ ông đã gặp ở Pháp lòng căm thù cách mạng chống lại giai cấp quý tộc và tầng lớp tăng lữ, nếu ông muốn lợi dụng nó thì ông đã về "Pa-ri với hai triệu nông dân" đi theo; nhưng ông lại không muốn đứng đầu "đám dân chúng ấy", vì "chỉ nghĩ đến việc đó cũng đã không thể chịu được".

Rất rõ ràng là Na-pô-lê-ông vẫn giữ khuynh hướng mà chúng ta đã nhiều lần nói tới. Nhưng bất thình lình, cuối cùng, do ảnh hưởng cụ thể của những tin tức trên báo chí và truyền miệng từ châu Âu dội đến đảo Hê-len báo tin phong trào cách mạng sôi sục ở Đức, v.v... Ông hoàng đế bỗng nhiên thay đổi trận tuyến, năm 1819, đã tuyên bố, cũng với Mông-tô-lông, những điều ngược hẳn lại những lời từ trước tới nay: "Đáng lẽ tôi phải xây dựng đế chế với sự ủng hộ của những người Gia-cô-banh". Cuộc cách mạng Gia-cô-banh thực tế là một núi lửa, nhờ nó người ta có thể dễ dàng đánh đổ nước Phổ, và, trong tư tưởng cửa Na-pô-lê-ông, nếu cách mạng thắng lợi ở Phổ, thì Phổ sẽ hoàn toàn thuộc quyền ông ta ngay, và toàn châu Âu sẽ rơi và tay ông ta bằng "vũ khí của tôi là lực lượng Gia-cô-banh". Thực tế là khi nói đến cuộc cách mạng tương lai hay có thể xảy ra, tư tưởng của Na-pô-lê-ông không vượt quá phạm vi "chủ nghĩa Gia-cô-banh" tiểu tư sản và không tính đến một sự đảo lộn hẳn lại xã hội. Đối với Na-pô-lê-ông đã có lúc cuộc cách mạng Gia-cô-banh bắt đầu hiện ra như một bạn đồng minh mà ông đã lầm lẫn cự tuyệt.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #319 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2016, 09:52:01 am »


III

Cuộc nói chuyện cuối cùng và quan trọng ấy với Mông-tô-lông về những người Gia-cô-banh và cách mạng là vào ngày 10 tháng 3 năm 1819, và là một trong những cuộc gặp gỡ cuối cùng của Na-pô-lê-ông với những người thân cận của ông.

Sau đó, những tin tức về ông hoàng đế ngày càng ít ỏi và lờ mờ, mơ hồ và đứt đoạn.

Lát Ca-đơ đã không còn ở đấy nữa, vì đã bị Hút-xơn Lao đuổi đi, cả Gua-gô cũng không, người mà chính hoàng đế đã cho về. Viên bác sĩ người Iếc-lăng là Ô-mi-ra còn ở lại với Na-pô-lê-ông một thời gian, lợi dụng công việc để do thám và báo cáo với viên toàn quyền đảo tình hình ở Lơn-vút. Trong số những người khác, có bác sĩ Ăng-tô-mác-si, do gia đình Na-pô-lê-ông gửi từ châu Âu sang, một viên thầy thuốc dốt nát và một người viết hồi ký không trung thực, mà Na-pô-lê-ông đã không cho giáp mặt. Chỉ còn Béc-tơ-răng, Mông-tô-lông và vài người hầu hạ là những người đã hiểu biết về Na-pô-lê-ông nhiều nhất trong hai năm cuối cùng của đời ông.

Từ 1819, Na-pô-lê-ông càng ngày càng đau luôn. Đến năm 1820, bệnh càng nặng thêm, và đến đầu năm 1821, viên thầy thuốc người Anh là Ác-nốt, được Na-pô-lê-ông cho phép đến thăm bệnh, đã thấy bệnh tình khá nghiêm trọng. Tuy vậy, người ta nhận thấy cũng có lúc bệnh tình thuyên giảm trong một thời gian dài mà hoàng đế đi dạo chơi ở ngoài được. Đến cuối năm 1820 ông bị mệt nhiều hơn. Ông vừa mới bắt đầu nói đã dừng lại và trầm ngâm suy nghĩ. Ông trở nên trầm lặng ít nói. Đến cuối năm 1820, những ý kiến và những ký ức của Na-pô-lê-ông về triều đại của mình - do ông ta kể lại cho hai người thân tín là Lát Ca-dơ và bá tước Mông-tô-lông chép; Lát Ca-dơ chép về những năm trước cho đến năm 1818, còn Mông-tô-lông chép một phần về những năm ấy và một phần từ 1818 đến 1820 - chiếm hai cuốn đồ sộ trong văn tập của Lát Ca-dơ (những lần xuất bản cuối cùng) và tám cuốn trong văn tập của Mông-tô-lông (lần xuất bản năm 1847), đó là chưa kể hai tập hồi ký do Mông-tô-lông viết dành riêng về thời gian hoàng đế ở đảo Thánh bà Hê-len. Cuối năm 1820, Na-pô-lê-ông thôi không đi dạo chơi trên xe nữa. Còn cưỡi ngựa thì ông đã thôi từ lâu.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM