Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:15:55 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước  (Đọc 129458 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #20 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 08:39:46 pm »


*
* *

Nhìn thấy sự bất lực của nhà Trần, Hồ Quý Ly cũng nhìn thấy sứ mạng lịch sử cấp bách của thời đại đã đặt ra cho cả dân tộc lúc đó là: Phải đánh giặc giữ nước, phải bảo vệ vững chắc nền độc lập của dân tộc. Cho nên Hồ Quý Ly cũng rất lo lắng việc đối phó với giặc ngoài, về mặt này, Hồ Quý Ly có nhiều cố gắng. Hồ Quý Ly đã mấy lần đánh bại Chiêm Thành, chấm dứt lâu dài nạn xâm lăng từ phương Nam tới. Hồ Quý Ly hơn bọn vua chúa thời cuối Trần về điểm đó. Hồ Quý Ly cũng tích cực chuẩn bị đối phó với họa xâm lăng từ phương Bắc xuống.

Hồ Quý Ly biết chắc quân Minh thế nào cũng sang cướp nước và khi sang cướp nước, chúng có thể đem hàng 50 - 70 vạn hay 100 vạn quân ồ ạt tràn vào, nên Hồ Quý Ly cũng muốn có một lực lượng lớn, nếu không áp đảo được giặc thì cũng đủ sức đương đầu với giặc. Hồ Quý Ly thường bàn kế, tìm cách "làm thế nào có được 100 vạn quân để chống giặc Bắc”1 và tới trước ngày quân Minh sang xâm lược, Hồ Quý Ly đã có được một quân số như ý muốn, về mặt vũ khí, thành lũy, hầm hào và các phương tiện chiến đấu khác, Hồ Quý Ly đều chú ý chuẩn bị.

Năm 1396, khi còn làm tể tướng, Hồ Quý Ly đã ban hành tiền giấy để thu tiền đồng làm vũ khí. Từ khi lên ngôi vua, Hồ Quý Ly càng tăng cường việc phòng thủ. Để đối phó với thủy quân của địch, Hồ Quý Ly cho làm nhiều thuyền đinh sắt, một loại thuyền chiến lớn có hai tầng, tầng dưới quân chèo thuyền, tầng trên lính chiến đấu, đắp thành Đa Bang ở gần Việt Trì - Bạch Hạc, bên bờ nam sông Hồng để chặn giặc và đóng cọc dựng rào ở khúc sông Bạch Hạc, từ phía trước, thành Đa Bang chạy dài theo bờ nam sông Hồng xuống tới khúc sông Hồng thuộc địa phận Lý Nhân (thuộc Nam Hà bây giờ). Hồ Quý Ly lại cho đóng cọc, chăng dây sắt ở các cửa biển và cũng đóng cọc dựng rào từ Lạng Sơn tới hạ lưu sông Thương. Từ năm 1397, Hồ Quý Ly cho xây một kinh thành mới tại Thanh Hóa, gọi là Tây Đô, và cuối năm 1397, bắt buộc vua Trần và triều đình dời đô vào trong đó. Việc dời đô vào Thanh Hóa vừa để dễ dàng lấy ngôi nhà Trần vừa làm kế an toàn khi có giặc xâm lược, vì giặc không thể tiến vào Thanh Hóa nhanh chóng như tiến vào Thăng Long.

Nhưng mặc dầu có sự cố gắng chuẩn bị phòng thủ như trên, Hồ Quý Ly đã thất bại. Vì trong chiến tranh chống xâm lược không phải chỉ có quân, mà còn phải có dân. Hồ Quý Ly đã không được dân ủng hộ. Từ khi cầm quyền, Hồ Quý Ly chưa quan tâm đúng mức tới yêu cầu cấp bách của xã hội, của quần chúng, chưa có những biện pháp tích cực để cải thiện đời sống nhân dân. Những chính sách hạn điền, hạn nô có làm suy yếu thế lực họ Trần nhưng không trao ruộng đất cho nông dân, không giải phóng nô tỳ, không đem lại lợi ích cho đông đảo quần chúng nhân dân. Việc ban hành tiền giấy để thu tiền đồng làm vũ khí, ý đồ không xấu, nhưng tác dụng khách quan lại xấu. Hồ Quý Ly hạ lệnh cả nước tiêu dùng tiền giấy, bắt buộc nhân dân đem tiền đồng đổi tiền giấy, mỗi quan tiền đồng đổi lấy một quan hai tiền giấy. Cách đổi tiền như thế và tiền giấy dễ rách nát, dân chưa quen dùng, càng làm cho đồng tiền mất giá. Buôn bán trở nên khó khăn, thị trường rối loạn, sinh hoạt đắt đỏ, dân càng khổ.
_________________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, t. II, tr. 210.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #21 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 08:43:51 pm »


Để có thêm tiền chi phí cho chiến tranh, năm 1402, Hồ Quý Ly tăng thuế ruộng: triều Trần mỗi mẫu ruộng thu 3 thăng thóc, nay mỗi mẫu thu 5 thăng1. Nông dân càng bần cùng. Số nông dân không có ruộng ngày càng nhiều. Do đấy nhà Hồ không được nhân dân tín nhiệm và ủng hộ. Đó là một mối lo cho nhà Hồ, một yếu tố quyết định sự còn mất của nhà Hồ và sự thành bại của nhà Hồ trong chiến tranh sắp tới. Cuối năm 1405, thấy giặc phương Bắc ráo riết chuẩn bị tiến quân, Hồ Quý Ly phải triệu tập một hội nghị gồm các quan trong kinh và ngoài lộ để bàn kế nên đánh hay nên hàng. Ý kiến phân vân, người bàn đánh, kẻ bàn hàng. Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng là con cả Hồ Quý Ly đã nói thẳng: "Tôi không ngại đánh, chỉ sợ lòng dân có theo hay không theo mà thôi”2. Hồ Quý Ly thấy lời Trừng nói là phải, nhưng không làm thế nào được nữa. Giặc đã sắp tới nơi.

Giữa tháng 11 năm 1406, giặc Minh đem 80 vạn quân theo hai đường Quảng Tây và Vân Nam đánh sang. Tháng 12 năm 1406, giặc tiến tới Bạch Hạc, đối diện với thành Đa Bang. Ngày 20 tháng 1 năm 1407, chỉ trong một trận đánh, thành Đa Bang thất thủ. Hai ngày sau, giặc tiến vào chiếm đóng kinh thành Thăng Long. Tháng 3 năm 1407, giặc Minh đánh quân Hồ đại bại ở Mộc Hoàn (khúc sông Hồng, khoảng huyện Lý Nhân) và ở cửa Muộn Hải (thuộc Giao Thủy, Nam Hà). Tháng 4 năm 1407, Hồ Quý Ly tập trung toàn bộ lực lượng với ý đồ mở một cuộc phản công lớn vào cửa Hàm Tử, nhưng bị quân Minh đánh tan. Giặc theo hai đường thủy bộ tiến vào Thanh Hóa. Hồ Quý Ly phải bỏ Tây Đô chạy về phía nam, nhưng chạy tới cửa biển Kỳ La (thuộc Hà Tĩnh) thì giặc đuổi tới. Hồ Quý Ly cùng thân thuộc và hết thảy tướng lĩnh tùy tùng đều bị giặc bắt.

Như thế là cuộc kháng chiến của Hồ Quý Ly bị thất bại hoàn toàn sau sáu tháng chống cự yếu ớt với giặc. Dân tộc ta phải sống trong cảnh mất nước, bị bọn xâm lược ngoại bang bóc lột, tàn sát dã man trong một thời gian. Và cứu nước là tiếng gọi của Tổ quốc, là ý chí của cả dân tộc lúc ấy. Dân tộc ta là dân tộc quật cường bất khuất. Dân tộc ta không bao giờ và không vì bất cứ một lý do nào lại chịu để mất nước, chịu để thân mình phải làm nô lệ cho quân cướp nước, ngay cả trong thời nhà Hồ cũng vậy. Mặc dầu Hồ Quý Ly không dựa vào sức dân, nhưng khi giặc Minh đã sang xâm lược, đã chiếm đóng một phần đất nước, nhân dân vùng Kinh lộ, căm thù giặc, đã tự động và tự nguyện tòng quân đánh giặc, như sử cũ còn ghi: "Các quân nhân và đinh nam đều đến quân môn tự nguyện gắng sức lập công"3, muốn chuyển thua thành được, góp phần đánh thắng giặc trong những cuộc phản công sắp tới của họ Hồ. Nhưng họ Hồ bất lực, tình thế không thể cứu vãn được nữa.
________________________________
1, 2. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, t. II, tr. 213, 222.
3. Đại Việt sử kỷ toàn thư, bản dịch, t. II, tr. 128.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #22 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 08:44:54 pm »


Tuy nhiên, quân Minh xâm lược chỉ đè bẹp được cuộc kháng chiến của họ Hồ mà không thể đè bẹp được tinh thần quật cường bất khuất và ý chí đánh giặc cứu nước của nhân dân ta. Tháng 6 năm 1407, quân của Hồ Quý Ly tan vỡ, cha con Hồ Quý Ly bị giặc bắt, thì liền ngay đó, từ Nam chí Bắc phong trào vũ trang đánh giặc cứu nước của nhân dân đã tự động nổi lên ở nhiều nơi. Ngay trong 6 tháng cuối năm 1407, những cuộc đấu tranh vũ trang chống giặc của nhân dân đã liên tiếp nổ ra ở các vùng mà ngày nay là thuộc Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Thái, Hà Bắc, Quảng Ninh, Hải Hưng, Nam Hà, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An. Bên cạnh những phong trào của quần chúng, còn có hai cuộc khởi nghĩa của tôn thất nhà Trần, vừa đánh giặc cứu nước vừa nhằm lập lại ngôi vua cho dòng họ Trần. Thật ra, bọn con cháu họ Trần lúc ấy tự mình không đủ sức làm nổi việc lớn mà nhờ được những người yêu nước đứng ra tổ chức, lãnh đạo khởi nghĩa và suy tôn họ làm minh chủ. Khoảng tháng 10 năm 1407, một người yêu nước ở Thiên Trường (vùng Nam Hà ngày nay) là Trần Triệu Cơ chiêu tập nhân dân khởi nghĩa và đưa Trần Ngỗi, một người con thứ của Trần Nghệ Tôn, lên làm vua, gọi là Giản Định đế, lập hành cung tại Yên Mô (Ninh Bình). Cũng khoảng thời gian này, một người yêu nước khác là Phạm Chân phát động khởi nghĩa ở Bình Than (thuộc Hải Hưng) xưng là Trung nghĩa quân và đưa một người họ Trần là Trần Nguyệt Hồ lên làm chúa. Sang năm 1408, lại có thêm những cuộc khởi nghĩa của mấy người họ Trần, là Trần Nguyên Thôi nổi lên ở vùng Vĩnh Phú, Trần Nguyên Khoáng và Nguyễn Đa Bí nổi lên ở vùng Bắc Thái. Hầu hết những cuộc khởi nghĩa đầu tiên này đều bị giặc dập tắt nhanh chóng. Duy cuộc khởi nghĩa của Trần Triệu Cơ, Trần Ngỗi, tiếp theo là Trần Quý Khoáng, là lớn mạnh hơn cả và tồn tại trong một thời gian hơn 6 năm. Được sự hưởng ứng của nhân dân và sự giúp sức của một số quan lại, tướng lĩnh cũ, phong trào lớn mạnh dần. Từ giữa năm 1408 trở đi, phong trào đã kiểm soát được một vùng đất đai khá rộng, từ Thanh Hóa, Nghệ An vào tới Tân Bình, Thuận Hóa. Cuối năm 1408, nghĩa quân tiến ra Bắc, đánh thắng giặc Minh ở Bình Than, Hàm Tử Quan, thu phục các miền Từ Liêm, Uy Man, Thạch Thất, Thượng Hồng (tức miền Hà Tây, Hải Hưng ngày nay), khống chế vùng Tam Giang (miền Vĩnh Phú) và đánh phá vùng ngoại vi thành Đông Quan (tức thành Thăng Long, thủ phủ đô hộ của quân Minh xâm lược). Thế giặc nao núng không đủ sức đối phó, phải xin viện binh từ nước Minh sang cứu. Danh tướng Mộc Thạnh của giặc đem 4 vạn viện binh sang, phối hợp với quân của chúng ở nước ta, tập trung thành một lực lượng lớn ở Bô Cô (thuộc huyện Phong Doanh, Nam Hà ngày nay) để đại phá nghĩa quân. Nhưng giặc bị đại bại. Cuối tháng 12 năm 1408, nghĩa quân dưới quyền chỉ huy của đại tướng Đặng Tất đã tiến công Bô Cô và đánh rất giỏi, phá tan đại quân của giặc, 10 vạn quân giặc bị tiêu diệt, hầu hết các tướng lĩnh của giặc đều bị giết tại trận, duy một mình chủ tướng giặc Mộc Thạnh chạy thoát, trốn về thành Cổ Lộng (cách Bô Cô nửa ngày đường).

Với đà chiến thắng lớn lao đó, nghĩa quân có đầy đủ khả năng đánh bại hoàn toàn quân xâm lược, giải phóng đất nước, giành lại độc lập cho Tổ quốc. Nhưng liền sau chiến thắng Bô Cô, Trần Ngỗi, vì địa vị, vì quyền lợi ích kỷ của mình, đã nghe lời gièm pha, lừa giết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân là hai tướng trụ cột của phong trào. Nội bộ những người chỉ huy phong trào bị chia rẽ nghiêm trọng từ đây. Tháng 4 năm 1409, tức một tháng sau khi Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân bị giết, con Đặng Tất và con Nguyễn Cảnh Chân là Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị đem một bộ phận nghĩa quân đi đón Trần Quý Khoáng, cháu nội Trần Nghệ Tôn, lập làm vua, xưng là Trùng Quang đế. Hai phe họ Trần đánh lộn lẫn nhau. Mấy tháng sau, Trần Ngỗi bị giặc bắt. Trần Quý Khoáng vẫn tiếp tục hoạt động, nhưng phong trào yếu dần và tới cuối năm 1413 đầu năm 1414 thì tan rã hẳn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #23 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 08:48:03 pm »


Trong khi cuộc khởi nghĩa của bọn tôn thất nhà Trần ngày càng suy yếu thì phong trào đấu tranh của nhân dân vẫn sôi nổi khắp nơi. Năm 1409, Hoàng Cự Liêm nổi dậy ở miền Hà Tây. Nguyễn Sư Cối và Đỗ Nguyên Thố nổi dậy ở vùng Kiến Thụy (Hải Phòng) quân có tới vài vạn người, Hoàng Thiêm Hữu nổi dậy ở vùng Lạng Sơn, Hà Bắc và hoạt động 5 - 6 năm liên tục. Sang năm 1410 - 1411, phong trào đấu tranh càng sôi nổi. Đồng Mặc khởi nghĩa ở Thanh Hóa. Đỗ Cối và Nguyễn Hiêu khởi nghĩa ở Trường Yên (Ninh Bình). Phạm Tuần khởi nghĩa ở Khoái Châu (Hải Hưng). Ngay tại ngoại vi thành Đông Quan cũng có những cuộc khởi nghĩa của Lê Khang ở vùng Thanh Trì, của Lê Nhị ở Từ Liêm và Thanh Oai. Tại miền núi, phong trào tiếp tục phát triển. Tại Lạng Sơn, có cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Nguyên Hách. Tại Bắc Thái, có các phong trào của các lãnh tụ: Ông Lão, Chu Sư Nhan, Bùi Quý Thăng, Nguyễn Khắc Chẩn, Dương Khắc Chung, Dương Thế Chân, Nguyễn Trà. Phong trào "Nghĩa quân áo đỏ" của đồng bào thiểu số hoạt động rất mạnh và bền bỉ trong hàng chục năm, luôn luôn đánh phá địch ở các vùng Bắc Thái, Tây Bắc và miền thượng du Thanh Hóa, Nghệ An. Sang năm 1412 - 1413, tại miền núi lại có thêm mấy cuộc khởi nghĩa của Nông Văn Lịch ở Lạng Sơn, Nguyễn Nhuệ ở Bắc Thái, Nguyễn Lãm ở Vũ Lễ (Bắc Thái), Lục Na (Hà Bắc), Lưu Bổng ở châu Quảng Oai (khu vực giữa Hòa Bình và Hà Tây).

Trong hơn 6 năm liền, kể từ sau cuộc kháng chiến thất bại của họ Hồ tới cuối năm 1413, giặc Minh không được một phút nghỉ ngơi trên đất nước Việt Nam. Chúng phải vất vả đối phó với phong trào đánh giặc cứu nước của nhân dân ta, phải luôn luôn đưa quân đi khắp nơi, khi cứu nguy chỗ này, khi giải vây chỗ khác, khi lên miền núi, khi xuống đồng bằng, khi vào Nam, khi ra Bắc, hao binh tổn tướng rất nhiều. Mặc dầu để khoảng mười vạn quân1 ở lại chiếm đóng Việt Nam và đàn áp các phong trào yêu nước của nhân dân ta, từ năm 1408 tới năm 1411, chỉ trong khoảng 4 năm ấy, giặc đã phải ba lần đưa viện binh sang cứu nguy cho quân đội chiếm đóng của chúng ở Việt Nam. Lần cứu viện nào chúng cũng phải điều động những tên tướng hung hãn bậc nhất của chúng lúc ấy là bọn Trương Phụ, Mộc Thạnh, những tên tướng đã chỉ huy cuộc xâm lược và đánh bại họ Hồ trước đây. Nhưng phong trào đấu tranh của nhân dân ta vẫn không giảm sút. Giữa năm 1412, bọn vua tôi nhà Minh lại phải cho tên tổng binh Hàn Quan đem thêm quân sang giúp sức bọn Trương Phụ và chuyển một vạn hộc lương2 từ Quảng Đông sang tiếp tế cho những đội quân của chúng đương đánh phá ở Việt Nam. Trước sức đàn áp dã man của giặc, tới đầu năm 1414, phong trào vũ trang cứu nước của nhân dân ta tạm thời lắng xuống. Nói tạm thời lắng xuống là nhìn vào toàn cục, sự thật thì tại một số địa phương, nhất là những địa phương miền núi, nhân dân vẫn không ngừng chiến đấu với giặc, như nghĩa quân của Nông Văn Lịch ở Khâu Ôn, miền Đông Bắc và nghĩa quân áo đỏ của đồng bào Tây Bắc, vẫn tiếp tục hoạt động trong hàng chục năm nữa.
___________________________________
1. Tới đầu năm 1408, quân đội chiếm đóng của giặc Minh trên đất Việt Nam gồm có 14 vệ, 15 thiên hộ sở. Mỗi vệ là 5.600 quân, mỗi thiên hộ sở là 1.260 quân.
2. Khoảng gần 1 vạn tạ; mỗi hộc bằng hơn 71 lít.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #24 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 08:50:19 pm »


Lợi dụng tình hình bớt căng thẳng về quân sự trong năm 1414, giặc vội vàng mở trường học để đào tạo tay sai, tăng cường bộ máy ngụy quyền và tổ chức bóc lột theo quy mô lớn. Cuối năm 1414, giặc Minh lập trường học ở các phủ, châu, huyện, nhưng thiếu thầy dạy, vì phần lớn các sĩ phu và những người có học đều xa tránh giặc, lẩn lút ở trong rừng. Từ lâu, trong nhân dân đã truyền đi khắp nước một lời nguyền:

      "Muốn sống sót đi ẩn rừng ẩn rú
      Muốn chết rũ ra làm quan triều Ngô
"1.

Đó cũng là thái độ của đông đảo sĩ phu ta thời bấy giờ đối với quân cướp nước. Cho nên chúng phải lấy những thầy cúng, thầy chùa, thầy bùa, thầy tướng, thầy số, thầy thuốc, là những người biết chữ, trao cho quan chức, để ra dạy học. Muốn củng cố bộ máy ngụy quyền tay sai, nhưng thiếu quan lại giúp việc, sang năm 1415, giặc Minh phải bắt thêm nhiều thầy cúng, thầy bùa, thầy chùa, thầy tướng số và thầy thuốc đưa sang kinh đô nhà Minh ban cho chức tước rồi đưa về làm quan ở các phủ, huyện, châu. Để có lực lượng bổ sung cho hàng ngũ ngụy quyền lúc nào cũng thiếu, từ năm 1416, chúng định lệ bắt buộc các trường học ở các phủ, châu, huyện hàng năm phải nộp học sinh đưa sang học ở trường Quốc tử giám bên nước Minh, trường học ở phủ mỗi năm phải nộp 2 học sinh, trường học ở châu hai năm nộp 3 học sinh; trường học ở huyện mỗi năm nộp 1 học sinh. Nhưng lệ đó khó quá, vì không có người, sau chúng phải định lại, trường phủ mỗi năm nộp 1 học sinh, trường châu ba năm nộp 2 học sinh, trường huyện hai năm nộp 1 học sinh.

Đi đôi với những thủ đoạn đàn áp dã man, giặc đã thi hành nhiều chính sách bóc lột nặng nề, tàn bạo và thật sự trắng trợn, ngang ngược. Cuối năm 1414, chúng định ngạch thu thuế ruộng của nhân dân ta một cách rất kỳ quặc. Ruộng của nhân dân ta, cứ 3 sào phải tính là một mẫu, và mỗi mẫu như thế phải nộp thuế 5 thăng thóc, một thứ thuế ruộng rất nặng chưa hề có trong lịch sử Việt Nam từ trước tới bấy giờ. Thuế ruộng thời Lý, thời Trần mỗi mẫu là 3 thăng, thời Hồ tăng lên mỗi mẫu 5 thăng. Tới đây, thuế của quân Minh: cứ ba sào phải nộp 5 thăng, một mẫu phải nộp 16 - 17 thăng. Thuế ruộng của quân Minh như thế rõ ràng nặng hơn thuế thời Hồ hơn 3 lần, nặng hơn thuế thời Lý, Trần hơn 5 lần, người dân Việt Nam làm sao chịu nổi. Cùng với thuế ruộng, các thứ thuế đất bãi trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa, đều rất nặng; mỗi mẫu đất bãi phải nộp thuế một lạng tơ, mỗi cân tơ phải nộp thuế một tấm lụa.
_________________________________
1. Sử cũ chép câu truyền tụng này ra chữ Hán là "Dục hoạt, nhập ẩn lâm san; dục tử Minh triều tố quan", nghĩa là: Muốn sống, vào ẩn núi rừng; muốn chết, làm quan triều Minh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #25 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 08:54:30 pm »


Quân Minh nắm độc quyền buôn bán muối. Nhân dân vùng ven biển làm được bao nhiêu muối đều phải đem nộp hết cho ty đề cử, tức kho chứa của giặc. Ai không nộp, coi như nấu muối lậu, bị tội. Giặc bắt những người muốn buôn bán muối phải bỏ tiền lĩnh giấy khám hợp, tại ty Bố chính. Có hai loại giấy khám hợp, loại 10 cân và loại 1 cân. Có giấy khám hợp mới mua và bán muối được. Không có giấy khám hợp mà bán muối thì coi như bán lậu cũng bị tội như nấu lậu. Người đi đường không được phép mang quá 3 cân muối và 1 lọ nước mắm. Không rõ bọn giặc đã kiếm lời về độc quyền muối như thế nào, nhưng riêng số thuế chúng thu của nhân dân vùng ven biển từ Nghệ An ra tới Tân Yên, thu bằng muối, hàng năm là khoảng 4 vạn cân và 1.739 thăng1.

Năm 1415 quân Minh lập xưởng khai mỏ vàng, mỏ bạc tại tất cả những nơi nào sản ra vàng bạc và đốc thúc dân đinh các địa phương tới khai đào vàng bạc cho chúng. Đồng thời với việc lấy vàng bạc, quân Minh bắt dân lên rừng săn tê, voi và xuống biển mò ngọc trai. Các sử cũ khi chép về việc này, đều ghi: "Lúc ấy thuế khóa cao. Đóng góp nặng, sức lực và của cải của dân đều bị kiệt quệ"2 hoặc "Đánh thuế nặng, bóc lột nhiều, dân không lấy gì mà sống được"3.

Trong tình hình bị ức hiếp bóc lột tàn nhẫn như vậy nhân dân ta không thể cam chịu. Phong trào đánh giặc cứu nước của nhân dân ta trong năm 1414 tuy có bị lắng xuống ở miền đồng bằng, nhưng tại miền núi phong trào vẫn tồn tại, các nghĩa quân của đồng bào thiểu số vẫn liên tiếp chiến đấu với giặc, và sang năm 1415, phong trào vũ trang khởi nghĩa ở miền đồng bằng lại tiếp tục dâng lên và ngày một cao hơn trước. Tại Thanh Hóa, đầu năm 1415, Trần Nguyệt Hồ nổi lên ở miền lưu vực sông Mã, tự xưng là Nguyệt Hồ vương. Sử không ghi rõ về phong trào này, nhưng có lẽ phong trào khá lớn mạnh và nhiều cuộc khởi nghĩa khác cũng bắt đầu dấy lên, cho nên triều đình nhà Minh phải vội vàng cho Trương Phụ làm Chinh di tướng quân, lại đưa viện binh sang để đối phó với tình hình và tập trung đàn áp cuộc khởi nghĩa của Trần Nguyệt Hồ. Năm 1416, binh lính trong hàng ngũ ngụy quân tại Tân Yên (miền Quảng Ninh ngày nay) nổi lên đánh lại giặc, Trương Phụ phải thân đi đánh dẹp. Binh lính khởi nghĩa không phải chỉ ở Tân Yên, mà còn ở nhiều nơi khác. Sử cũ ghi: "Lúc ấy quan lại nhà Minh tham lam sách nhiễu không biết thế nào là cùng, tên Mã Kỳ lại càng làm nhiều việc phi pháp, bắt dân nộp châu báu quá nhiều, dân không sao kham được sự khổ sở. Vì thế lòng người náo động, binh lính bốn phương nổi lên, mà người nhà Minh không thể nào chống lại được"4.
___________________________________
1. Theo An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng.
2. Việt sử thông giám cương mục, bản dịch, t. VII, tr. 123.
3. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, t. II, tr. 250.
4. Việt sử thông giám cương mục, bản dịch, t. VII, tr. 125.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #26 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2016, 08:55:53 pm »


Khí thế đấu tranh chống giặc lúc ấy thật là sôi sục khắp nước. Không mấy nơi không có khởi nghĩa. Tới đầu năm 1417, một tên tướng khác là tổng binh Lý Bân sang thay Trương Phụ, đã không được một phút nghỉ chân, hết đem quân vào Nam lại ra Bắc, hết xuống miền biển lại lên miền núi, để đối phó với phong trào khởi nghĩa của nhân dân ta liên tiếp nổ ra trong nhiều năm, ở nhiều nơi. Trong năm 1417, quân Minh phải lo đối phó với một số cuộc khởi nghĩa tương đối mạnh ở miền núi phía bắc và từ Thanh Hóa trở vào. Tại Khâu Ôn (Lạng Sơn), Nông Văn Lịch vẫn tiếp tục hoạt động. Phía dưới Lạng Sơn, Nguyễn Trinh nổi lên đánh phá vùng Lục Na (Lục Ngạn, Hà Bắc ngày nay). Tại Tây Bắc, Xa Khả Tham1, một thủ lĩnh nghĩa quân áo đỏ, tù trưởng Mộc Châu, đem quân giết chết tên tri huyện giặc Âu Dương Trí và làm chủ cả miền Gia Hưng (thuộc khu vực Sơn La, Hòa Bình ngày nay), giặc không sao đàn áp nổi. Từ Thanh Hóa trở vào tới Tân Bình, Thuận Hóa (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên ngày nay), cả một vùng đất rộng này chỉ từ năm 1414 mới rơi vào tay giặc, cơ sở thống trị của chúng chưa ổn định, nên phong trào đấu tranh ở đây có điều kiện để phát triển lớn mạnh hơn các nơi khác và những binh lính, võ quan, quan lại có tinh thần dân tộc trong ngụy quân, ngụy quyền ở đây cũng có điều kiện làm khởi nghĩa chống lại giặc một cách dễ dàng hơn. Tại phía nam Thanh Hóa, một lãnh tụ nông dân là Nguyễn Chích phát động nông dân khởi nghĩa, lập căn cứ tại khu vực núi Hoàng, núi Nghiêu và hoạt động mạnh tại vùng nam Thanh Hóa, bắc Nghệ An. Tại Nam Linh (phía bắc Quảng Trị), một số quan lại trong ngụy quyền, ngụy quân là phán quan Nguyễn Nghĩ, tri huyện Phạm Bá Cao, huyện thừa Vũ Vạn và bách hộ Trần Ba Luật làm khởi nghĩa, đốt phá các doanh trại và bắt giết bọn quan lại địch ở châu Nam Linh. Tại Thuận Châu (phía nam Quảng Trị), hai người yêu nước là Lê Hạch và Phan Cường cũng phát động khởi nghĩa, có sự tham gia của một số quan lại trong ngụy quyền địa phương là đồng tri Trần Khả Luận, phán quan Nguyễn Chiêu, chủ bạ Phạm Mã Hoãn và hai võ quan ngụy quân là thiên hộ Trần Não và bách hộ Trần Ngô Sài. Nghĩa quân đánh phá các đồn trại và bắt giết bọn chỉ huy đồng tri Thuận Châu là Đoàn Công Đinh và Trần Tư Tề. Các cơ sở thống trị của giặc ở Quảng Trị hầu như bị phá vỡ hết. Trước tình hình nghiêm trọng đó, tổng binh giặc Lý Bân ở Đông Quan phải cho đô đốc Chu Quảng đem hai vệ quân ở phủ Giao Châu vào phối hợp với các vệ quân của địch ở Tân Bình, Thuận Hóa, để tiến hành đàn áp phong trào binh lính và ngụy quan khởi nghĩa ở Quảng Trị.

Chính trong lúc phong trào đấu tranh cứu nước đương tiếp tục dâng cao ở nhiều nơi như thế, thì xuất hiện phong trào khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Khí thế đấu tranh sôi sục trong cả nước, và đặc biệt là ở vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa, đã tạo điều kiện cho phong trào Lam Sơn ngày càng phát triển mạnh mẽ và tiến tới hoàn thành vẻ vang sứ mạng lịch sử của dân tộc ta thời đó.
___________________________________
1. Có tài liệu viết là Xa Tam, có tài liệu viết là Xa Tham, có tài liệu viết là Xa Khả Sam.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #27 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 07:04:20 pm »


CHƯƠNG II
NGUYỄN TRÃI TRƯỚC SỰ NGHIỆP ĐÁNH GIẶC CỨU NƯỚC CỦA DÂN TỘC


NGUYỄN TRÃI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

Từ sau cuộc kháng chiến thất bại của họ Hồ và trong khi phong trào đánh giặc cứu nước diễn ra liên tiếp ở nhiều nơi thì Nguyễn Trãi đi đâu? Làm gì? Những điều này, chúng ta chưa biết rõ lắm. Cho tới nay, chưa thấy được những tài liệu chính xác, đầy đủ về Nguyễn Trãi trong thời kỳ đó. Sử sách không chép và bản thân Nguyễn Trãi cũng không ghi lại điều gì cụ thể. Người ta thường phải dựa vào văn thơ của ông còn lại để đoán định. Làm như thế rất khó. Nhầm lẫn, quên sót một lời văn, một ý thơ, một chữ viết, những đoán định sẽ sai chệch, có thể đi đến những điều gán ghép cho Nguyễn Trãi, trái với tư tưởng, tính cách và con người Nguyễn Trãi. Nhưng không có cách nào khác. Ngay từ ba bốn chục năm sau khi Nguyễn Trãi qua đời, Trần Khắc Kiệm, người đầu tiên làm nhiệm vụ sưu tầm văn thơ của Nguyễn Trãi, cũng đã phải dựa vào những văn thơ sưu tầm được, để viết một vài điều về thân thế và hoạt động của Nguyễn Trãi trong thời gian từ sau cuộc kháng chiến của Hồ Quý Ly tới trước ngày ông tham gia phong trào khởi nghĩa Lam Sơn. Trần Khắc Kiệm đã dựa vào một bài thơ quốc âm "Thủ vĩ ngâm" trong đó Nguyễn Trãi miêu tả cảnh sống nghèo của ông ở "góc thành nam" để đoán định Nguyễn Trãi đã bị quân Minh giam giữ ở thành Đông Quan, một thứ giam lỏng, vẫn ở nhà riêng không phải cầm giữ trong lao tù. Sau Trần Khắc Kiệm từ gần 500 năm nay các sử sách và gia phả viết về Nguyễn Trãi thường vẫn theo giả thuyết đó của Trần Khắc Kiệm. Dựa vào một vài miêu tả trong 8 câu thơ để đoán định thái độ và hành vi của tác giả những câu thơ đó trong một thời gian dài hàng chục năm là một việc làm rất khó. Cho nên vấn đề này nên được xem lại. Đọc kỹ bài thơ, cân nhắc từng câu, từng chữ, thì thấy điều dễ hiểu nhất là Nguyễn Trãi đã làm bài thơ này khi ở góc thành nam. Thành nam thường được hiểu là thành Thăng Long. Thăng Long thời thuộc Minh gọi là Đông Quan, thời Lê là Đông Đô hay Đông Kinh. Nguyễn Trãi đã không dùng những tên đó, nên người sau phải đoán xem Nguyễn Trãi làm bài thơ vào thời kỳ nào của thành nam, Đông Quan hay Đông Đô. Trong bài thơ, Nguyễn Trãi có nói tới cảnh triều quan, mà Nguyễn Trãi khi đó thì dở triều quan, dở ở ẩn. Có triều quan thì phải có triều đình. Thời Đông Quan thuộc quân Minh chiếm đóng, không có triều đình nào ở đấy, không thể nói tới triều quan được. Cho nên có thể nhận định: Nguyễn Trãi đã làm bài thơ này ở thời Lê. Trong bài thơ, Nguyễn Trãi muốn nói lên cảnh sống thanh bạch của ông dưới triều đại nhà Lê, tuy vẫn là triều quan, nhưng là "thanh chức", "quan lạnh" như Nguyễn Trãi từng nói, việc dân việc nước không đến tay, tháng ngày nhàn rỗi như người ở ẩn; nhưng ở ẩn, mà vẫn là triều quan, vẫn sống bên triều đình, sống ở nơi kinh thành đô hội. Nội dung bài thơ không nói lên điều gì để cho thấy đó là tâm sự hay thực cảnh của một người bị giặc giam giữ1.

Một người, như Nguyễn Trãi, đã nói ra những lời đầy tâm huyết, đầy khí phách:

      Niệm thế thù khởi khả cộng đái
      Thệ nghịch tặc nan dữ câu sinh


      (Quyết chẳng đội trời cùng kẻ địch
      Thề không chung sống với quân thù)

không thể dễ dàng đầu hàng giặc Minh, cam tâm sống nhục nhã với giặc hàng chục năm ở thành Đông Quan, dù chỉ là giam lỏng.
____________________________________
1. Năm 1467, Trần Khắc Kiệm được Lê Thánh Tôn trao trách nhiệm sưu tầm văn thơ của Nguyễn Trãi. Công việc tiến hành trong hơn mười năm. Những thơ của Nguyễn Trãi được tập hợp thành sách Ức Trai thi tập. Năm 1480, Trần Khắc Kiệm đề tựa cho tập sách, trong tựa có đoạn viết:
    "Khi quân Minh xâm chiếm nước ta, ông vốn giỏi thiên văn, biết nước ta sẽ có bậc chân chúa ra đời, muốn tìm đến giúp, nhưng bị người Minh giữ lại trong thành, ông thường gửi gắm lòng mình vào bài thơ "Thủ vĩ ngâm" bằng quốc âm. Người Minh thấy ông có tài lớn, muốn dùng, nhưng biết chí ông không thay đổi, nên càng kính trọng. Sau ông tìm kế thoát ra được...
    Như vậy là Trần Khắc Kiệm đã căn cứ vào bài "Thủ vĩ ngâm" (câu đầu và câu cuối bài thơ là một) để nói việc Nguyễn Trãi "bị người Minh giữ lại trong thành". Bài thơ Thủ vĩ ngâm như sau:
          Góc thành nam, lều một gian
          No nước uống, thiếu cơm ăn
          Con đòi trốn, dễ ai quyến
          Bầy ngựa gầy, thiếu kẻ chăn
          Ao bởi hẹp hòi khôn thả cá
          Nhà quen xuế xóa, ngại nuôi vằn
          Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải
          Góc thành nam, lều một gian

    Cả bài thơ không có một ý nào cho thấy tác giả đương bị giặc Minh giam giữ. Nội dung và tâm sự trong bài thơ "Thủ vĩ ngâm” của Nguyễn Trãi giống với nhiều bài thơ chữ Hán trong thời kỳ mà Nguyễn Trãi gọi là "chức thanh", "quan lạnh". Thời kỳ đó dài tới hàng chục năm, như ông đã nói "thập niên thanh chức ngọc hồ băng" (mười năm thanh chức, trong sạch như băng trong bình ngọc - Mạn hứng II). Trong thời kỳ này, đời sống Nguyễn Trãi rất thanh bạch, chỗ ở của quan mà như chỗ ở ẩn "Tiểu tiểu hiên song oải oải lư. Quan cư đốn giác loại u cư” (Cửa sổ hiên nho nhỏ, nhà lụp xụp, chỗ quan cư mà bỗng thấy như chỗ ẩn cư - Tức sự). Nguyễn Mộng Tuân trong thơ mừng Nguyễn Trãi ở nhà mới cũng nói "Nhất điều thủy lãnh tri tam quán, Tứ bích gia bần phú lục kinh" (Nhà quan tri tam quán mà như một dòng nước lạnh, bốn vách trống trải xác xơ, chỉ giàu sách sáu kinh). Như vậy bài thơ quốc âm "Thủ vĩ ngâm” có thể làm vào thời kỳ này.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #28 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 07:39:16 pm »


Qua văn thơ của Nguyễn Trãi để lại và một vài ghi chép của các sử sách, có thể thấy một điều tương đối rõ là: sau cuộc kháng chiến thất bại của Hồ Quý Ly, Nguyễn Trãi đã đi lánh nạn để khỏi sa vào tay giặc, và ông đã đi lánh nạn trong một thời gian dài. Khi Tây Đô, kinh thành của nhà Hồ bị mất vào tay giặc, triều đình nhà Hồ tan tác, vua tôi nhà Hồ chia ly mỗi người một ngả, thì có lẽ Nguyễn Trãi cũng từ Tây Đô trở về Côn Sơn lánh nạn. Trong khi lánh nạn ở Côn Sơn, ông có làm bài thơ nôm:

      Nẻo từ nước có đao binh
      Nấn ná am quê cảnh cực thanh
      Đình Thấu Ngọc
1 tiên đang, tuyết nhũ
      Song mai hoa, điểm quyển Hy kinh
      Hẹn này nỡ phụ ba đường cúc
      Tiếc ấy vì hay một chữ đinh
      Mọi sự đã chăng còn ước nữa
      Nguyện xin một thấy thuở thăng bình

                                         (Tự thán)2

Lê Quý Đôn trong Toàn Việt thi lục nói là "Nhà Hồ mất, ông về ở ẩn". Phạm Đình Hổ trong "Tang thương ngẫu lục” cũng nói: "Nhà Hồ mất, ông tránh loạn ở Côn Sơn”. Như vậy, giữa những ghi chép này và bài thơ trên của Nguyễn Trãi có phần phù hợp nhau. Nhưng lánh nạn ở Côn Sơn chỉ là nấn ná tạm thời, không thể lấy đó làm nơi an toàn để ở lâu dài, vì Côn Sơn là một thắng cảnh nhiều người chú ý và cách thành Đông Quan, thủ phủ đô hộ của giặc không xa lắm. Giặc không thể để ông ở yên đó. Cho nên ông đã rời khỏi Côn Sơn ra đi. Ông ra đi không phải là để tìm đến Đông Quan hàng giặc, mà để tránh giặc, cương quyết không làm quan với giặc, có nghĩa là cương quyết không làm ngụy quân, ngụy quyền, tay sai cho giặc. Ông luôn luôn ví mình với Vương Thức, với Quản Ninh, với Tử Mỹ, với Bá Nhân, là những danh sĩ thời xưa, tiêu biểu cho tinh thần kiên trì tránh loạn, ở ẩn, không chịu ra làm quan với địch3.
_______________________________________
1. Đình Thấu Ngọc là tên một cái cầu có mái, dưới động Thanh Hư, tại núi Côn Sơn.
2. Nguyễn Trãi, Quốc âm thi tập. Bản phiên âm của Trần Văn Giáp, Phạm Trọng Điềm, Nhà xuất bản Văn sử địa, Hà Nội, 1956, tr. 101 - 102.
3. Vương Thức là người thời Hán đã từ chối không chịu làm quan, về nhà ở ẩn.
    - Quản Ninh người thời Tam quốc, đi tránh loạn, ở ẩn 37 năm tại Liêu Đông và đã từ chối không nhận lời mời ra làm quan của Ngụy Văn đế.
    - Tử Mỹ là tên tự của nhà thơ Đỗ Phủ, cũng gọi là Đỗ Thiếu Lăng hay Đỗ Lão. Khi tránh loạn An Lộc Sơn, Đỗ Phủ có làm thơ tỏ lòng trung của mình với nhà Đường, tức với chính nghĩa, nhưng bị đơn độc, chưa gặp đồng chí. Trong một bài thơ khác của Đỗ Phủ nhớ bạn là Lý Bạch có câu "Vị Bắc xuân thiên thụ, Giang Đông nhật mộ vân". Nguyễn Trãi đã mượn ý câu thơ của Đỗ Phủ để nói lên tấm lòng không quên bạn cũ của mình.
    - Bá Nhân tức Chu Khởi, người nhà Tấn, phải khi nước mất, chạy loạn sang Giang Đông, nhân một buổi ngắm nhìn phong cảnh tươi đẹp của núi sông đất nước mà ứa nước mắt khóc.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #29 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2016, 07:44:39 pm »


Nhiều bài thơ của ông trong thời kỳ này đã phản ánh tâm sự đó:

      …
      Bất lai tự nghĩ đồng Vương Thức
      Tỵ loạn chung đương học Quản Ninh
      Dục vấn tương tư sầu biệt xứ
      Cô trai phong vũ dạ tam canh

                                   (Ký cữu Dị trai Trần công)

      (Không đến, tự thấy như Vương Thức
      Tránh loạn, xét cùng, học Quản Ninh
      Muốn hỏi chăng nỗi buồn nhớ xa xăm
      Phòng không cô quạnh một mình, ngoài đêm mưa gió suốt ba canh)
      Gửi cậu là ông Dị trai họ Trần

      …
      Đỗ Lão hà tằng vong Vị Bắc
      Quản Ninh do tự khách Liêu Đông
      Thành trung cố cựu như tương vấn
      Vị đạo thiên nhai nhậm chuyển bồng

                                                    (Ký hữu)

      (Đỗ Lão không hề quên Vị Bắc
      Quản Ninh còn làm khách Liêu Đông
      Nếu như bạn cũ trong thành có hỏi
      Nói hộ rằng tôi đương ở phương trời xa như ngọn cỏ bồng tha hồ xoay chuyển)
                                                    Gửi bạn

Những câu thơ trên đã nói lên cái ý chí kiên quyết không chịu đầu hàng, làm quan với giặc của ông. Và ông đã kéo dài cuộc đời bôn tẩu đó đây của ông khoảng mười năm liền. Sau mười năm luân lạc, kể từ ngày ông rời khỏi Côn Sơn ra đi, đã có lần ông về thăm Côn Sơn, lòng vẫn còn mang nặng mối buồn u uất, vì nước nhà vẫn còn trong cơn loạn lạc. Tâm sự đó được ghi lại trong mấy bài thơ cảm tác khi ông về qua Côn Sơn, như bài: Quy Côn Sơn chu trung tác (Về Côn Sơn, trong thuyền cảm tác):

      Thập niên phiêu chuyển thán bồng bình
      Quy tứ dao dao nhật tự tinh
      Kỷ thác mộng hồn tầm cố lý
      Không tương huyết lệ tẩy tiên oanh
      Binh dư cân phủ ta nan cấm
      Khách lý giang sơn chỉ thử tình
      Uất uất thốn hoài vô nại xứ
      Thuyền song thôi chẩm đáo thiên minh


Dịch:
      Mười năm phiêu dạt, thân như bèo bồng
      Lòng về, hàng ngày lay động như đuôi cờ
      Bao lần gửi hồn theo mộng đi tìm làng xưa
      Luống đem máu hòa nước mắt rửa mồ tổ tiên
      Sau cơn binh hỏa, nạn búa rìu tàn phá vẫn chưa dứt
      Non sông đất khách chỉ lo lắng mối tình này
      Lòng ngậm ngùi không biết làm sao
      Bên cửa thuyền, trăn trở gối đến sáng.

Hoặc bài Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác (Cảm tác sau loạn tới Côn Sơn):

      Nhất biệt gia sơn cáp thập niên
      Quy lai tùng cúc bán tiêu nhiên
      Lâm tuyền hữu ước na kham phụ
      Trần thổ đê đầu chỉ tự liên
      Hương lý tài qua như mộng đáo
      Can qua vị tức hạnh thân tuyền
      Hà thời kết ốc vân phong hạ
      Cấp giản phanh trà chẩm thạch miên


Dịch:
      Từ biệt quê nhà vừa đúng mười năm .
      Nay về, tùng cúc đã tiêu sơ tới nửa
      Suối rừng trót hẹn, đành cam phụ
      Cát bụi vùi đầu, nghĩ tự thương
      Chợt tới làng quê, như trong giấc mộng
      Chiến tranh chưa dứt, thân may toàn vẹn
      Bao giờ dựng được nhà dưới tầng mây phủ
      Pha trà nước suối, gối đầu trên đá mà ngủ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM