Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:06:40 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước  (Đọc 129338 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #110 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2016, 11:29:48 am »


Sau khi tới Đông Quan được vài ngày1, Vương Thông hạ lệnh chia quân thành 3 đạo gồm ngót 10 vạn người cùng tiến đánh nghĩa quân Lam Sơn tại căn cứ cầu Ninh.

Đạo quân thứ nhất do Vương Thông trực tiếp chỉ huy, qua cầu Tây Dương, tức cầu Giấy, trên sông Tô Lịch tiến ra đóng quân ở bến Cổ Sở (tức bến Giá)2 trên sông Đáy, phía bắc căn cứ cầu Ninh của nghĩa quân. Tại đây quân địch làm cầu phao để qua sông được dễ dàng.

Đạo quân thứ hai do Phương Chính chỉ huy tiến qua cầu Yên Quyết, tức cầu Cót trên sông Tô Lịch, tới đóng quân ở cầu Sa Đôi, tức cầu Đôi trên sông Nhuệ (quãng Phú Đô - Giao Quang, thuộc Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội)3.

Đạo quân thứ ba do Sơn Thọ, Mã Kỳ chỉ huy, tiến qua cầu Nhân Mục, tức cầu Mọc trên sông Tô Lịch, tới đóng quân ở cầu Thanh Oai4.

Ba đạo quân địch từ những cứ điểm này "đóng liền nhau đến vài mươi dặm, cờ xí rợp đồng, giáo mác rực trời"5, sẽ triển khai thành ba mũi nhọn đánh thẳng vào căn cứ cầu Ninh, nhằm diệt gọn lực lượng nghĩa quân tại đây, rồi từ đó cả ba đạo quân dồn dập theo đường Ninh Kiều, Tốt Động, Thiên Quan, kéo vào đánh phá nghĩa quân ở Thanh Hóa, Nghệ An.

Mưu đồ của địch rất lớn và kế hoạch phản công của địch không phải là không chặt chẽ.

Thấy rõ mưu đồ của địch, nghĩa quân ở căn cứ cầu Ninh một mặt cho người về Lỗi Giang báo cáo, một mặt quyết định đánh địch ngay từ khi chúng vừa mới ra quân, đập tan kế hoạch tác chiến của địch ngay từ khi chúng mới bắt đầu thực hiện.
_______________________________________
1. Lam Sơn thực lục chép "năm ngày" là kể từ ngày Vương Thông đến Đông Quan tới ngày có những cuộc giao tranh đầu tiên với nghĩa quân. Còn hạ lệnh chuẩn bị mở phản công tất phải làm từ mấy ngày trước.
2. Cổ Sở là tên cổ của xã Yên Sở hoặc An Sở (thuộc huyện Hoài Đức, tình Hà Tây). Bến Cổ Sở thường gọi là bến Giá, qua sông Đáy, ở phía nam cầu Phùng hiệu nay, khoảng 7 ki-lô-mét.
3. Cầu Sa Đôi ở xã Sa Đôi. Thời xưa xã Sa Đôi gồm hai thôn Phú Đô và Giao Quang ngày nay.
4. Cầu Thanh Oai có thể là cầu trên sông Nhuệ thuộc xã Thanh Oai (nối liền tả Thanh Oai với hữu Thanh Oai ở hai bên bờ sông Nhuệ, phía nam thị xã Hà Đông ngày nay). Thời xưa, cầu, quán, bến đò, ở địa phận thôn xã nào thường mang tên thôn xã ấy, không mang tên phủ huyện. Thí dụ: cầu Nhân Mục là ở xã Nhân Mục, cầu Yên Quyết ở xã Yên Quyêt, cầu Ba La ở thôn Ba La, cầu Sa Đôi ở xã Sa Đôi, v.v.
5. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, t. III, tr. 25.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #111 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2016, 11:36:27 am »


TRẬN CẦU BA LA

Muốn giành thắng lợi ngay từ trận đầu, phải nhằm đúng mục tiêu, đánh chắc thắng để mở đầu cuộc tiến công. Trong 3 đạo quân của địch thì đạo quân ở cầu Thanh Oai, dưới quyền chỉ huy của Sơn Thọ, Mã Kỳ là khâu yếu nhất trong vành đai Cổ Sở - Sa Đôi - Thanh Oai, vì cứ điểm cầu Thanh Oai ở xa đại bản doanh Cổ Sở, mà bọn chỉ huy Sơn Thọ, Mã Kỳ lại không phải là những tướng lĩnh thiện chiến, cho nên đạo quân địch này có khả năng bị đánh bại dễ dàng trước tài nghệ quân sự của nghĩa quân Lam Sơn. Căn cứ vào tình hình đó, các tướng Lý Triện, Đỗ Bí quyết định tiến đánh địch ở cầu Thanh Oai trước.

Từ căn cứ cầu Ninh, Lý Triện và Đỗ Bí đem quân và voi tiến lên bố trí một trận mai phục tại cánh đồng Cổ Lãm1, phía gần cầu Ba La2, là một cái cầu bắc trên con đường từ cầu Thanh Oai vào cầu Ninh. Phía đầu cầu Ba La, ở hai bên đường là một khu đồng "ruộng nước bùn lầy"3. Hãm địch vào đấy mà đánh thì địch không thể triển khai đội hình để đối phó và có nguy cơ bị sa lầy khốn đốn.

Ngày 6 tháng 10 năm Bính Ngọ (5 tháng 11 năm 1426), một cánh nghĩa quân từ Cổ Lãm tiến lên khiêu khích địch, tại đồn quân của chúng ở cầu Thanh Oai. Sơn Thọ, Mã Kỳ đem quân chống cự. Nghĩa quân giả thua, vừa đánh vừa chạy để dử địch. Sơn Thọ, Mã Kỳ tung hết quân ra đuổi theo. Địch tới cầu Ba La, vừa qua được cầu, thì nghĩa quân từ các vị trí mai phục xông ra đánh giết. Bị đánh bất ngờ vào hai cạnh sườn, địch chạy tán loạn, sa lầy, lúng túng, không sao chống đỡ được. Hơn 1.000 địch bị giết. Sơn Thọ, Mã Kỳ đem bại binh rút chạy về Đông Quan. Nghĩa quân truy kích tới cầu Mọc (Nhân Mục) bắt sống thêm hơn 500 tên. Sử cũ ghi: "Thây giặc rải rác tới vài mươi dặm. Mã Kỳ chỉ kịp một người một ngựa trốn về”4. Hiện nay, tại các thôn Giáp Nhất, Chính Kinh (xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội) có 6 gò lớn, nhân dân địa phương gọi là "đống thây", tương truyền là những gò chôn xác quân Minh, chết trong hai trận tại cầu Mọc ngày 20 tháng 10 và ngày 5 tháng 11 năm 1426.

Chiến thắng rực rỡ ở Ba La, cầu Mọc đã tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm cầu Thanh Oai5 và đạo quân của Sơn Thọ, Mã Kỳ, bẻ gãy hẳn một mũi dùi của giặc định đánh thẳng vào căn cứ của nghĩa quân ở vùng cầu Ninh.

Tới cầu Mọc, Lý Triện không đuổi theo tàn quân Sơn Thọ, Mã Kỳ nữa, mà có ý muốn rẽ sang đánh tập kích vào sau lưng đạo quân Phương Chính ở cầu Sa Đôi. Nhưng được tin đạo quân Phương Chính đã rút đi nơi khác và lúc ấy trời cũng đã tối, Lý Triện thu quân lui trở lại.

Ngay đêm ấy, Phương Chính và bọn bại tướng Sơn Thọ, Mã Kỳ đưa quân lên tập trung cả ở căn cứ Cổ Sở của Vương Thông. Như vậy là chỉ trong một ngày xuất trận của nghĩa quân Lam Sơn, hai trong ba cứ điểm của địch đã tan vỡ, và cũng tức là chỉ trong một trận đầu, địch đã thất bại nặng nề, gần như tan vỡ hẳn kế hoạch ban đầu.

Ngày hôm sau, mồng 7 tháng 10 năm Bính Ngọ (6 tháng 11 năm 1426), Lý Triện lại đem quân lên khiêu chiến địch tại đại bản doanh của Vương Thông ở Cổ Sở vừa để nắm được tình hình mới của địch ở đây, vừa nhử địch ra khỏi căn cứ để đánh theo kế hoạch của mình. Tại Cổ Sở, địch bố trí phòng vệ cẩn mật. Đề phòng nghĩa quân tập kích, địch đặt sẵn quân mai phục ở bên ngoài và dùng lá chắn bằng tre đan có gài chông sắt để đối phó với nghĩa quân. Khi nghĩa quân tiến đánh, phục binh của địch ra nghênh chiến rồi giả chạy, vứt lá chắn có cài chông xuống đất. Voi của nghĩa quân giẫm phải chông sắt không lên được. Chỉ có mục đích khiêu chiến và thấy giao tranh không lợi, Lý Triện hạ lệnh lui quân.
____________________________________
1. Cổ Lãm sau đổi là Thắng Lãm, tục gọi là Sốm. Cánh đồng Cổ Lãm là cánh đồng các thôn Do Lỗ, Thanh Lãm, Văn Nội, Văn La, Văn Phú, vùng xung quanh quãng ngã ba đường số 6 và đường 22 ngày nay.
2. Cầu Ba La thuộc thôn Ba La, nay là thôn Văn La, xã Văn Khê. Thôn Ba La nằm trên khu vực ngã ba đường số 6 và đường 22 ngày nay.
3. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, t. III, tr. 25.
4. Việt sử thông giám cương mục, bản dịch, t. VIII, tr. 28.
5. Vị trí cầu Thanh Oai, tới nay vẫn chưa xác định được. Chúng tôi phỏng đoán cầu Thanh Oai là cầu bắc qua sông Nhuệ, trên con đường thẳng từ cầu Nhân Mục qua cầu Ba La, Cổ Lãm tới cầu Ninh là căn cứ của nghĩa quân. Như thế mới thấy lý do đạo quân Sơn Thọ, Mã Kỳ qua cầu Nhân Mục và không qua thêm cầu nào khác. Và như thế cũng mới thấy lý do tại sao nghĩa quân từ căn cứ cầu Ninh tiến lên bố trí mai phục ở Ba La, Cổ Lãm là một địa điểm mà địch ở cầu Thanh Oai phải đi qua, nếu chúng muốn đem quân vào đánh căn cứ cầu Ninh. Cho nên chúng tôi cho cho rằng cầu Thanh Oai là một cầu bắc qua sông Nhuệ, có thể là trên con đường vào thị xã Hà Đông ngày nay, hoặc lùi xuống phía dưới thị xã Hà Đông một chút, nếu con đường thời xưa từ Nhân Mục đi vào không thẳng như đường số 6 bây giờ. Hoặc giả cầu Thanh Oai thuộc xã Thanh Oai mà địa giới xã Thanh Oai ở thế kỷ XV vươn lên tới gần thị xã Hà Đông ngày nay chăng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #112 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2016, 05:02:36 pm »


TRẬN TỐT ĐỘNG - CHÚC ĐỘNG

Địch cho rằng nghĩa quân đã thất bại ở Cổ Sở, phải chạy về căn cứ. Chúng phóng tâm hành động, chuẩn bị dồn hết quân xuống đánh căn cứ cầu Ninh. Như thế là ý đồ dử địch của nghĩa quân thành công. Nghĩa quân không về căn cứ cầu Ninh, mà tiến xuống đóng ở Cao Bộ1, tục gọi là Bụa, phía dưới cầu Ninh, gần sông Bùi, là một vùng có địa thế hiểm yếu, có điều kiện thuận lợi để đối phó với đại quân của địch gồm 7-8 vạn người.

Tới Cao Bộ, Lý Triện phi báo cho các tướng Đinh Lễ, Nguyễn Xí, Lê Hối, Lê Chiến2 ở Thanh Đàm (Thanh Trì) đem quân đến hợp đồng tác chiến và cùng bàn kế hoạch phá giặc. Đạo quân của Đinh Lễ, Nguyễn Xí từ khi ra Bắc đã được bổ sung, tăng cường thêm nhiều, nhưng các tướng ở Thanh Đàm chỉ lựa lấy hơn 3.000 quân tinh nhuệ và hai voi chiến, ngay đêm được tin, tiến gấp về Cao Bộ hội quân.

Trong lúc đó, đúng như dự đoán của nghĩa quân, Vương Thông đã đem toàn quân từ Cổ Sở tiến xuống nhằm đánh phá căn cứ cầu Ninh. Thấy nghĩa quân đã rút khỏi căn cứ cầu Ninh và thiêu hủy cả doanh trại, Vương Thông đỗ quân lại ở bên tả ngạn sông Ninh (vùng Biên Giang ngày nay3, rồi cho gián điệp đi dò tìm căn cứ mới của nghĩa quân. Khi được biết nghĩa quân đóng căn cứ mới tại Cao Bộ, Vương Thông quyết định chia quân theo hai đường tiến đánh Cao Bộ. Trần Hiệp làm tham tán quân sự ngăn lại, cho rằng nghĩa quân bỏ căn cứ cầu Ninh rút vào một vùng địa thế hiểm yếu hơn thì tất có kế hoạch mai phục để đón đánh vậy chưa nên tiến quân vội, cần điều tra dò xét tình hình thêm nữa4. Vương Thông không nghe, nhất định xuất quân. Vương Thông một mặt cho gián điệp đi dò xét thêm tình hình quân ta, một mặt chuẩn bị thực hiện kế hoạch tiến công theo kế hoạch của Vương Thông thì quân địch sẽ chia làm hai đạo chính binh, kỳ binh cùng tiến đánh căn cứ Cao Bộ. Vương Thông chỉ huy chính binh "sẽ qua sông tiến lên phía trước"5. Phía trước đây là phía trước mặt căn cứ của địch đóng ở tả ngạn sông Ninh, cũng là phía Cao Bộ hướng lên cầu Ninh. Như vậy Vương Thông và đạo chính binh sẽ sang sông qua Chúc Động (Chúc Sơn) đánh thắng vào căn cứ Cao Bộ. Đạo kỳ binh sẽ ngầm đi nhanh tới "phía sau" Cao Bộ6. Phía sau là phía dưới Cao Bộ. Đạo binh này sẽ đi xuống phía Tốt Động, Yên Duyệt, rồi tiến lên đánh vào sau lưng căn cứ nghĩa quân. Như vậy, đạo kỳ binh cũng qua sông Ninh, qua Chúc Động rồi tiến xuống Tốt Động. Vì xa hơn và phải đi nhanh, nên đạo kỳ binh xuất phát trước, đạo chính binh đi sau7. Cả hai đạo quân địch đều ước hẹn với nhau khi đã tới những địa điểm quy định, chắc là ở gần Cao Bộ, thì sẽ nổ pháo báo hiệu cho nhau biết, "Hễ nghe nổ pháo thì các đạo quân địch đồng thời đánh khép lại"8. Nghĩa quân và căn cứ Cao Bộ sẽ tiêu tan dưới hai gọng kìm lớn đó của quân địch.
____________________________
1. Phía dưới Ninh Kiều có hai nơi gọi là Cao Bộ. Một ở phía đông nam bên tả ngạn sông Đáy, nay là xã Cao Bộ thuộc huyện Thanh Oai. Một ở dưới Ninh Kiều về phía tây nam, gần Yên Duyệt, Tốt Động, nay là xã Trung Hòa thuộc huyện Chương Mỹ. Sử cũ chú thích căn cứ Cao Bộ của nghĩa quân là Cao Bộ thuộc Thanh Oai. Gần đây có ý kiến nhận định căn cứ nghĩa quân là ở Cao Bộ bên huyện Chương Mỹ, không phải Cao Bộ bên phía huyện Thanh Oai. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng nhận định căn cứ nghĩa quân ở Cao Bộ thuộc Thanh Oai như sử cũ chú thích mới đúng. Chúng tôi thấy đặt vị trí căn cứ nghĩa quân ở Cao Bộ thuộc Chương Mỹ là hợp lý, nó phù hợp với những diễn biến của trận đánh Tốt Động - Chúc Động và mới có lý do khiến địch cho quân tiến theo đường Tốt Động, Yên Duyệt và đường Chúc Động để đánh vào Cao Bộ.
2. Lam Sơn thực lục ghi thêm tên hai tướng Lê Hối, Lê Chiến.
3. Thời bấy giờ, dòng sông Ninh, tức khúc sông Đáy ở đây, chảy sát chân núi Ninh. Sau này khúc sông ấy bị lấp, dòng sông mới chảy vòng sang phía Mai Lĩnh như ngày nay.
4. Theo Minh sử kỷ sự bản mạt.
5 - 8. Việt sử thông giám cương mục, bản dịch, t. VIII, tr. 29.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #113 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2016, 05:06:21 pm »


Trong khi địch chuẩn bị tiến quân thì nghĩa quân ở Cao Bộ cũng chuẩn bị kế hoạch đối phó. Nghĩa quân bắt được một tên gián điệp của địch. Nó khai rõ kế hoạch tiến công của Vương Thông. Các tướng lĩnh nghĩa quân liền "tương kế tựu kế", lợi dụng kế hoạch của địch để đánh địch. Lực lượng nghĩa quân không đông, có lẽ chỉ khoảng một vạn quân chủ lực, bằng một phần mười lực lượng địch. Nhưng là những lực lượng tinh nhuệ, thiện chiến, nghĩa quân quyết tiêu diệt địch bằng lối đánh mai phục tài giỏi của mình.

Một cánh nghĩa quân được lệnh tới mai phục ở Tốt Động1 phía dưới Cao Bộ để chặn đánh đạo kỳ binh của địch mưu đánh vào sau lưng nghĩa quân. Tốt Động là một vùng đồng chiêm trũng, lầy lội, có nhiều gò đống cao và lau lách rậm rạp. Một cánh nghĩa quân khác tới mai phục ở Chúc Động (tức Chúc Sơn, thuộc xã Ngọc Sơn, huyện Chương Mỹ ngày nay) là một cánh đồng lầy rộng lớn ở phía dưới cầu Ninh mà đạo chính binh của Vương Thông thế nào cũng phải đi qua để xuống đánh Cao Bộ. Tại cả hai nơi nghĩa quân đều đã ở tư thế sẵn sàng chờ đánh địch.

Địch tiến quân đánh Cao Bộ ngày nào, sử cũ không ghi rõ. Nhưng việc địch ra quân chắc cũng rất khẩn trương. Ngày 7 tháng 10 Bính Ngọ, địch còn bị nghĩa quân đánh ở Cổ Sở. Có thể là ngày 8 tháng 10, Vương Thông đem đại quân xuống đóng ở tả ngạn sông Ninh và chuẩn bị kế hoạch tiến đánh Cao Bộ. Có thể là ngày 9 tháng 10, cả hai đạo quân kỳ chính của địch đều ra quân. Về phía nghĩa quân, ngày 7 tháng 10 lên đánh địch ở Cổ Sở rồi rút về Cao Bộ. Ngay đêm ấy, Đinh Lễ, Nguyễn Xí từ Thanh Đàm tới Cao Bộ hội quân. Ngày 8 tháng 10, có thể là nghĩa quân trù tính kế hoạch đánh địch và chuẩn bị trận địa. Đêm ngày 8 tháng 10, nghĩa quân bố trí mai phục ở Chúc Động, Tốt Động. Và tới sáng sớm mồng 9 tháng 10, nghĩa quân đã sẵn sàng đánh địch.
____________________________________
1. Nay là thôn Tốt Động, xã Tụy An, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #114 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2016, 05:10:35 pm »


Có thể là từ gần sáng ngày 9 tháng 10 Bính Ngọ (10 tháng 11 năm 1426) địch bắt đầu ra quân. Cả hai đạo quân kỳ chính đều qua cầu Ninh sang bên bờ nam sông Ninh. Đạo kỳ binh đi trước, đạo chính binh đi sau. Có thể là khi đạo kỳ binh tới địa phận Tốt Động thì cũng là lúc đạo chính binh qua hết cầu Ninh sang bờ bên này sông Ninh. Lúc đó, nghĩa quân nổ pháo. Cả hai đạo quân địch đều tưởng là pháo lệnh của mình, xô nhau tiến gấp để mau chóng thực hiện mệnh lệnh tiến công. Đạo kỳ binh vội qua cánh đồng Tốt Động, để theo đường tắt tiến lên đánh vào sau lưng nghĩa quân. Đạo chính binh cũng tiến vội qua cánh đồng Chúc Động để đánh vào phía trước Cao Bộ. Nghĩa quân đã được lệnh khi nghe pháo lệnh nổ thì "nấp náu" không được động1. Địch càng yên tâm tiến. Trời đương mưa, cả hai nơi Tốt Động và Chúc Động đều lầy lội, khó đi, người ngựa đều vướng chân. Khi cả hai đạo chính binh và kỳ binh của địch đã tiến sâu vào giữa trận địa mai phục ở Chúc Động và Tốt Động, nghĩa quân mai phục ở hai nơi đều xông ra chặn đánh rất kịch liệt. Địch hoảng sợ không kịp trở tay, không bố trí được đội hình chiến đấu, giày đạp lên nhau mà chạy. Nghĩa quân đánh rất mạnh. Địch thua to. Hơn 5 vạn quân địch chết trận. Hơn một vạn quân địch bị bắt sống. Thượng thư Trần Hiệp và nội quan Lý Lượng bị giết tại trận. Một số quân địch ở Chúc Động chạy trở về phía cầu Ninh, vượt sông Ninh để trốn về Đông Quan, "bị chết đuối cũng rắt nhiều làm nghẽn cả khúc sông Ninh Giang"2. Theo nhân dân địa phương truyền tụng thì khúc sông Ninh bị nghẽn, tắc vì xác địch quá nhiều tới nay vẫn còn vết tích và gọi là sông Lấp hay Tắc Giang. Vì bị tắc, dòng sông Ninh, tức sông Đáy, ở gần núi Ninh phải chảy vòng sang bên tả ngạn, tức khúc sông Mai Lĩnh ngày nay (cách Hà Nội 18 ki-lô-mét về phía tây).

Chủ tướng địch Vương Thông bị thương, chạy được về Đông Quan. Đại Việt sử ký toàn thư chép là "quân phục của ta ba mặt đều nổi dậy, xông đánh các xứ Tốt Động - Chúc Động''3

Có lẽ ngoài hai cánh nghĩa quân mai phục ở Tốt Động - Chúc Động, còn có một cánh quân tiến ra chặn đánh phía sau đạo kỳ binh, không cho đạo quân địch này từ Tốt Động chạy quay trở về phía Chúc Động, cầu Ninh nữa. Vì thế bọn Phương Chính, có lẽ là tướng chỉ huy đạo kỳ binh, phải đem tàn quân chạy vòng lên bến đò Cổ Sở để về Đông Quan.

Trận đánh Tốt Động - Chúc Động đã kết thúc nhanh chóng, có lẽ chỉ sau mấy tiếng đồng hồ chiến đấu, và đã thắng lợi rất lớn, thành tích rất vẻ vang.

Gần 7 vạn quân địch bị chết trận, chết đuối và bị bắt, tức là gần hết số quân địch đưa ra trận đều bị diệt. Một số tướng lĩnh cao cấp của địch bị tử trận. Chủ tướng địch Vương Thông bị thương mà chạy về thành. Nghĩa quân thu được "ngựa chiến, quân nhu, khí giới, xe cộ của địch nhiều không biết bao nhiêu mà kể" (Đại Việt sử ký toàn thư). Cuộc phản công lớn của địch do Vương Thông chỉ huy đã bị đập nát hoàn toàn.
__________________________________
1, 3. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, t. III, tr. 26.
2. Việt sử thông giám cương mục, bản dịch, t. VIII, tr. 29.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #115 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2016, 05:13:06 pm »


Về kết quả trận đánh Tốt Động - Chúc Động, cũng gọi là trận đánh Tốt Động - Ninh Kiều, vì Chúc Động ở liền Ninh Kiều, mặt trận Chúc Động đã lan cả sang Ninh Kiều, xác địch chết đầy khúc sông Ninh, Nguyễn Trãi nhận định trong Bình Ngô đại cáo như sau:

      Ninh Kiều, máu chảy thành sông trôi tanh muôn dặm
      Tốt Động thây phơi đầy nội, để thối ngàn thu
      Tâm phúc giặc, Trần Hiệp bêu đầu
      Sâu mọt dân, Lý Lượng bỏ xác
      Vương Thông hòng gỡ rối, thua vẫn hoàn thua
      Mã Anh muốn cứu nguy, tức càng thêm tức
      Nó đến lúc trí cùng lực kiệt nến phải đành chờ chết bó tay...


Trong Phú núi Chí Linh, Nguyễn Trãi cũng nhắc lại:

      Trận Ninh Kiều, như đê vỡ kiến trôi
      Trận Tốt Động như gió tung lá rụng
      Trần Hiệp, Lý Lượng như hổ ngã hầm sâu
      Vương Thông, Mã Kỳ, như cá trong vạc nóng
      Non sông muôn dặm đã thu lại,
      Chợ búa Đông Đô chẳng đổi thay...


Chiến thắng Tốt Động - Chúc Động là một chiến thắng lớn nhất, rực rỡ nhất, tiêu diệt nhiều sinh lực địch nhất trong suốt 9 năm chiến đấu của nghĩa quân Lam Sơn, kể từ khi cuộc khởi nghĩa bùng nổ tới bấy giờ.

Chiến thắng Tốt Động - Chúc Động đã nói lên tinh thần chiến đấu kiên cường, dũng cảm và nghệ thuật quân sự vô cùng tài giỏi của nghĩa quân Lam Sơn. Chỉ trong một ngày, kể riêng trận đánh Tốt Động - Chúc Động, và trong 4 ngày, kể cả quá trình đánh địch từ khi địch mới ra quân và chỉ với một lực lượng bằng một phần mười địch, nghĩa quân đã đánh thắng địch rất giòn giã, thể hiện rực rỡ phương châm "lấy ít đánh nhiều, lấy yếu thắng mạnh" rất mầu nhiệm của nghĩa quân, luôn luôn chủ động tiến công, luôn luôn điều động địch tới những nơi bất lợi nhất cho địch để đánh địch, sử dụng thành thạo mọi địa hình, địa vật có lợi nhất để mai phục tiêu diệt địch, binh lực rất ít mà hiệu suất chiến đấu rất lớn, hiệu lực chiến thắng rất quan trọng.

Sau ba tháng tiến quân ra Bắc, chiến thắng Tốt Động - Chúc Động đã hoàn thành mau lẹ công cuộc giải phóng Đông Đô, đẩy toàn bộ quân địch ở miền Bắc vào trong mấy thành trơ trọi. Và sau hai năm chiến đấu, kể từ ngày từ căn cứ địa Chí Linh - Lam Sơn ra quân, chiến thắng Tốt Động - Chúc Động của nghĩa quân Lam Sơn đã hoàn thành tốt đẹp một giai đoạn phát triển của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc: toàn bộ hệ thống chính quyền địch trên cả nước đã hoàn toàn sụp đổ, toàn bộ chiến trường trên cả nước chỉ còn thu vào mấy thành lũy trơ trọi, gần như toàn bộ đất đai cả nước đã được giải phóng, trừ mấy thành lũy còn bị địch chiếm giữ, thế chủ động chiến lược trên cả nước hoàn toàn thuộc về quân dân ta, quân địch đành chịu giam chân trong các thành lũy và sẽ nhanh chóng lần lượt ra hàng. Chủ tướng Vương Thông đem viện binh hùng hổ tiến sang, nhưng từ sau trận Tốt Động - Chúc Động, cũng đành chịu chung số phận với bọn tướng cách chức Trần Trí Phương Chính, chịu bó tay trong thành Đông Quan cho tới ngày đem toàn quân ra hàng để cho được toàn thân về nước.

Chiến thắng vẻ vang Tốt Động - Chúc Động đã làm thay đổi cục diện chiến tranh, đưa cuộc chiến tranh giải phóng sang một giai đoạn phát triển mới, giai đoạn quyết định thắng lợi cuối cùng của cuộc chiến tranh nhất định thuộc về nhân dân Việt Nam. Thắng lợi đó đương mau chóng trở thành hiện thực.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #116 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2016, 08:55:47 pm »


ĐẠI QUÂN LAM SƠN RA ĐÔNG ĐÔ

Trong khi nghĩa quân ở ngoài Bắc chuẩn bị trận đánh lớn Tốt Động - Chúc Động thì nghĩa quân ở Thanh Hóa cũng vây đánh mạnh thành Tây Đô, một căn cứ địch còn tương đối mạnh ở phía nam, và đại quân Lam Sơn tại Lỗi Giang cũng chuẩn bị lên đường tiến ra Đông Đô.

Quân địch ở Tây Đô bị vây khốn, phải cho tên tướng Hà Trung, tri châu phủ Chính Bình1, nhân đêm tối lẻn ra khỏi thành Tây Đô đến Đông Quan xin quân cứu viện.

Nhưng hắn đi cách Tây Đô hơn 200 dặm2 thì bị nghĩa quân bắt giết. Địch ở Tây Đô xin quân cứu viện ở Đông Quan vì chúng chưa có tin tức gì về tình hình chiến sự ở Đông Đô, chưa biết rằng bọn địch ở Đông Quan cũng đương khốn đốn như chúng ở Tây Đô, và ngày càng khốn đốn hơn nữa, khi chúng phải đương đầu với đại quân Lam Sơn. Trận Tốt Động - Chúc Động vừa kết thúc, thì ngày 10 tháng 11 năm 1426 (10 tháng 11 năm Bính Ngọ), đại quân Lam Sơn cũng tiến ra tới Đông Đô, tạm đồn trú tại Lung Giang (sông Đáy), gần căn cứ cầu Ninh. Đại quân gồm quân thủy, quân bộ, quân kỵ và 20 voi chiến. Các lãnh tụ Lam Sơn chủ trương tiến công ngay vào Đông Quan, đánh thật mạnh khiến quân chủ lực của địch ở đây không được nghỉ ngơi, phải thiệt hại nặng nề, không còn đủ sức đương đầu với nghĩa quân.


VÂY ĐÁNH ĐÔNG QUAN
UY HIẾP CÁC THÀNH ĐỊCH

Ngay khi Vương Thông từ chiến trường Tốt Động - Chúc Động chạy về Đông Quan, các tướng Lý Triện, Đinh Lễ đã đem nghĩa quân đuổi theo và vây đánh Đông Quan3. Đại quân ra tới nơi, sau khi hội bàn kế hoạch với các tướng lĩnh đương ở ngoài Bắc và các tướng lĩnh mới ra, Lê Lợi quyết định ngày 21 tháng 11 năm 1426 (22 tháng 10 Bính Ngọ) cùng toàn quân tiến lên đóng đại bản doanh ở Tây Phù Liệt (phía nam huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội ngày nay) để bắt đầu tiến công thành Đông Quan. Mục đích của cuộc tiến công đầu tiên này là quét sạch những căn cứ của địch ở bên ngoài thành Đông Quan, làm hàng rào bảo vệ quân địch ở trong thành.

Ngày 22 tháng 11 năm 1426, các tướng được lệnh xuất quân.

Trần Nguyên Hãn và Bùi Bị cùng thủy quân đem hơn 100 thuyền chiến, theo dòng sông Đáy lên cửa sông Hát, xuôi theo dòng sông Hồng xuống bến Đông Bộ Đầu (khoảng gần dốc Hàng Than phía bắc Hà Nội ngày nay) đánh vào phía đông thành Đông Quan.

Đinh Lễ đem hơn 10.000 bộ binh ngầm tiến đến cầu Tây Dương (Cầu Giấy) đánh vào phía tây Đông Quan.

Lê Lợi cùng các tướng khác chỉ huy chính binh đánh vào phía nam thành Đông Quan.
___________________________________
1. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Minh sử kỷ sự bản mạt của Ngô Vinh viết là: tri châu Bình Châu.
2. Minh sử kỷ sự bản mạt.
3. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, t. III, tr. 26.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #117 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2016, 09:01:31 pm »


Đêm hôm đó, vào khoảng canh ba, nghĩa quân từ bốn mặt tiến công các căn cứ ngoại vi của địch1, phóng lửa đốt các doanh trại địch "khói lửa đầy trời"2. Quân của Phương Chính làm nhiệm vụ đóng giữ các căn cứ ngoại vi, bị đánh bất ngờ, hoảng sợ, chạy tán loạn, "tranh nhau vào cửa thành, xác chết gối lên nhau"3. Các căn cứ ngoại vi của địch ở thành Đông Quan đều bị quét sạch, dọn đường cho việc vây hãm chặt chẽ thành Đông Quan, từ sau trận tiến công này.

Trong trận đánh, nghĩa quân đã thu được hơn 100 thuyền chiến của địch, với nhiều vũ khí. Quân địch chết trận rất nhiều. Nghĩa quân còn giải thoát được nhiều người bị địch giam giữ trong những trại của chúng ở ngoài thành Đông Quan.

Mất hết các căn cứ ngoại vi, bọn Vương Thông ở trong thành Đông Quan tự biết không còn đủ sức đương đầu với nghĩa quân, càng không thể mở phản công vào nghĩa quân, chúng buộc phải đi theo vết xe của bọn chiến bại Trần Trí, Phương Chính, tức là đành cố thủ trong thành để trông chờ viện binh sang cứu.

Nhưng thế ta và thế địch đã hoàn toàn thay đổi, địch không thể cố thủ lâu dài. Trước đây là năm bảy nghìn, một vạn nghĩa quân uy hiếp thành Đông Quan, nay là hàng chục vạn nghĩa quân vây hãm thành Đông Quan. Tình thế đó buộc địch ở Đông Quan phải chọn một trong hai con đường: cố thủ để bị tiêu diệt hết ở trong thành, hay dâng thành bỏ đất để thoát chết về nước. Tình thế đó của địch cũng là cơ sở cho việc Nguyễn Trãi và các lãnh tụ nghĩa quân thi hành những chiến lược, sách lược rất độc đáo ở thời đại đó để mau chóng kết thúc chiến tranh, đem lại thắng lợi hoàn toàn cho ta.

Sau khi nghĩa quân Lam Sơn đã kiểm soát cả vùng nông thôn rộng lớn ngoài Đông Đô và nhất là từ sau những thất bại thảm hại ở Tốt Động - Chúc Động, quân Minh ở Đông Đô, thật sự đã đến lúc "trí cùng lực kiệt" như nhận xét của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo của ông. Sinh lực địch lúc này tuy chưa bị tiêu diệt hẳn, nhưng đã hoàn toàn tê liệt sau mấy trận thất bại liên tiếp. Bọn Vương Thông, thúc thủ trong thành Đông Quan, tự "biết là quân dân phụ cận đều theo về ta cả, thế ngày một cùng quẫn, lại đắp thêm tường lũy, liều chết cố giữ để đợi quân cứu viện”4
_________________________________
1-3. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, t. III, tr. 26, 27.
4. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, t. III, tr. 27.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #118 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2016, 09:04:19 pm »


Chủ tướng của địch ở thành Đông Quan đã phải như thế thì địch ở các thành khác, từ Đông Đô vào đến Tân Bình, Thuận Hóa cũng không hơn gì. Không những chúng không thể có một hoạt động quân sự nào vượt được ra ngoài các thành lũy, mà sự tiếp viện, liên hệ giữa chúng với nhau và giữa các thành với đại bản doanh Đông Quan của chúng cũng không thể có được nữa. Bị quân dân các địa phương bao vây chặt chẽ, thành địch ở các nơi bị cô lập, chơ vơ như mấy hòn đảo nhỏ chìm ngập trong một biển người bừng bừng khí thế chiến thắng, đương ào ạt xông lên để tiêu diệt quân thù cướp nước. Ngày càng có nhiều "hào kiệt ở Kinh lộ và nhân dân các phủ huyện, cùng các tù trưởng ở biên trấn đều tấp nập kéo đến cửa quân xin hết sức liều chết đánh thành giặc ở các xứ”1.

Trước sức mạnh vùng dậy của toàn dân miền Đông lộ như vậy, tất nhiên "chính sóc2 của nhà Minh, từ đấy, không thi hành được ở các quận huyện nước ta nữa"3.

Sau khi tiêu diệt các căn cứ địch ở ngoại vi thành Đông Quan, Lê Lợi và các lãnh tụ Lam Sơn quyết định, dời đại bản doanh từ Tây Phù Liệt lên Đông Phù Liệt4, cho gần thành Đông Quan hơn để dễ bề khống chế những hoạt động quân sự của địch ở trong thành và tăng cường vây hãm các thành khác.

Địch ở Đông Quan và các thành khác đều tự nhận thấy như bị nhốt chặt trong mấy trại giam ở trên đất nước người, cùng đường tuyệt vọng, không liên lạc được với đâu, không trông mong được vào ai tới cứu sống. Bọn Vương Thông là những kẻ sang để cứu sống lũ giặc trên đất nước Việt Nam, thì chính bọn Vương Thông cũng đã quân tàn lực kiệt, đương bị giam chặt ở thành Đông Quan, còn biết trông chờ vào ai tới cứu. Để tự cứu lấy mình, đánh ra khỏi thành, thì nhất định sẽ phải chết trước sức mạnh của quân dân cả nước ta. Cứ bó tay ở trong thành thì chỉ là để chờ chết.

Bước đường tuyệt vọng ấy buộc bọn chỉ huy địch ở thành Đông Quan phải lo tìm mọi cách để lấy lối thoát, càng mau càng có cơ được sống.
___________________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, t. III, tr. 27.
2. Chính là tháng giêng, sóc là ngày mồng 1. Thời xưa các nước chư hầu phải lấy ngày 1 tháng giêng làm ngày đầu năm, theo như lịch của thiên triều. Ở đây ý nói sự chi phối và đô hộ của nhà Minh.
3. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, t. III, tr. 26.
4. Đông Phù Liệt nay là thôn Đông Phù, xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, Hà Nội, cách Đông Quan khoảng hơn 10 ki-lô-mét về phía nam.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #119 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2016, 09:07:31 pm »


TƯỚNG ĐỊCH CẦU HÒA

Từ những ngày đầu năm 1427, địch trong thành Đông Quan ở vào tình thế vô cùng bối rối: không liên lạc được với quân của chúng ở các thành khác, không điều động được quân ở các thành về cứu nguy cho chúng, cũng không liên hệ cầu viện được với bên nước chúng, bản thân chúng thì bị vây hãm ngày càng khốn đốn, đêm ngày bị nghĩa quân đánh phá kịch liệt. Từ trong thành đánh ra để tự cứu lấy mình thì không đánh nổi. Trông chờ viện binh tới cứu thì không biết đến bao giờ, có hay không có. Tình thế đó của địch, sử cũ đã ghi rõ: "Vua1 thân đốc các tướng sĩ ngày đêm đánh thành Đông Đô. Bọn Vương Thông, Sơn Thọ nước Minh hễ đánh là thua, nản lòng mất vía, kế đã cùng, viện không có, tình thế một ngày một cùng quẫn..."2.

Thế của địch lúc này là cái thế: đánh cũng chết, không đánh, ngồi chờ viện binh cũng chết. Để thoát chết, chỉ còn một con đường duy nhất là: đầu hàng. Những ngày cuối năm 1426, bọn chỉ huy địch ở Đông Quan, vì thể diện, còn do dự chưa dám nghĩ điều đó. Trước đây, hùng hùng hổ hổ, ồ ạt kéo sang xâm lược nước người, nay phải "bó giáo lại hàng", thì biết ăn nói làm sao, thanh thế của đại tướng, đại quân, đại quốc, còn ra thế nào nữa? Nhưng nghĩa quân Lam Sơn, một đạo quân nhân nghĩa, sẵn sàng "đưa sào"3 để vớt chúng, vớt chúng khỏi chết và vớt cả thể diện chúng. Thấy nghĩa quân Lam Sơn đưa con cháu họ Trần lên ngôi vua, bọn Vương Thông vội vin lấy việc đó làm một cớ tốt để chủ động cầu hòa với nghĩa quân. Việc cầu hòa này, tuy chưa biết sẽ đi đến đâu, sẽ được giải quyết như thế nào, có được sự thỏa thuận của cả hai phía, nghĩa quân Lam Sơn và triều đình nhà Minh hay không, nhất là có được sự đồng tình nhất trí của hết thảy tướng lĩnh của chúng hay không, nhưng vấn đề cầu hòa đặt ra, ít nhất cũng tạm thời đẩy lùi được nguy cơ bị tiêu diệt và bảo đảm tính mệnh cho chúng trong một thời gian. Do đấy, tổng binh Vương Thông, với tư cách và quyền lực người chỉ huy tối cao của giặc, đã chủ động đứng ra thương lượng với nghĩa quân.
_____________________________________
1. Chỉ Lê Lợi.
2. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, t. III, tr. 28.
3. Phạm Văn Đồng, Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc, báo Nhân dân số 3099, ngày 19-9-1962.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM