Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:07:46 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước  (Đọc 129367 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #240 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2016, 11:32:33 pm »


Bạn đồng khoa Nguyễn Mộng Tuân cũng có thơ mừng gián nghị đại phu Nguyễn Trãi:

      Hoàng các thanh phong ngọc thự tiên
      Kinh bang hoa quốc cổ vô tiền
      Nhất thời từ hãn suy văn bá
      Lưỡng đạo quân dân ác chính quyền
      Bạch phát chỉ nhàn thiên hạ lự
      Thanh trung lưu dữ tử tôn truyền
      Nho lâm kỷ hứa chiêm Sơn Đẩu
      Hảo vị triều đình lực tiến hiền


Dịch:
      Thanh cao như vì tiên trong gác vàng điện ngọc1
      Dựng nước và làm vẻ vang Tổ quốc, từ xưa chưa ai được như ông
      Văn từ nổi tiếng, được tôn làm văn bá một thời
      Đã từng cầm giữ chính quyền quân dân hai đạo2
      Tóc bạc vẫn một niềm lo việc nước
      Lòng trung trong trắng lưu truyền cho con cháu
      Rừng nho vẫn hằng ngóng trông ông như ngóng trông núi Thái Sơn, sao Bắc Đẩu3
      Xin ông vì triều đình hết sức cử người hiền

Nỗi vui mừng của mọi người thật chính đáng. Sự trông chờ của mọi người vào ông là người có đầy đủ tài đức để góp phần làm thay đổi tình hình nước nhà lúc ấy, là một sự trông chờ thật ân cần, tha thiết, nhiệt tình, chứa chan một niềm tin cậy không bờ bến. Nhưng rất tiếc là những chức tước trọng đại đó có ý nghĩa hư hàm hơn thực chức. Thực chức mà Lê Thái Tôn trao cho ông lúc này là làm "đề cử Côn Sơn Tư Phúc tự", Lê Thái Tôn vốn quý trọng ông, không muốn để ông về hưu, nhưng bọn hoạn quan, gian thần không muốn ông có mặt ở triều đình, không muốn ông can thiệp vào công việc triều chính. Cho nên Lê Thái Tôn đã trao cho ông làm đề cử chùa Tư Phúc ở Côn Sơn, nơi quê hương mà ông có ý muốn lui về yên nghỉ, và đôi khi triều đình có việc, sẽ mời ông vào triều. Đề cử là một chức quan, có từ thời Lý, làm nhiệm vụ trông nom một ngôi chùa của nhà nước. Chức đề cử này đã lâu không dùng đến và trong quan chế thời Lê không có, bây giờ mới thấy trao cho Nguyễn Trãi. Dù gọi là chức quan, đề cử cũng chỉ là người giữ chùa. Một người tài đức như Nguyễn Trãi, được mọi người mong mỏi, trông chờ, vui mừng thấy ông sắp đứng ra sửa sang việc nước, chấn chỉnh triều chính, mà lại hóa thành người đi giữ chùa, thì thật là đáng tiếc vô cùng.
__________________________________
1. Hoàng các, ngọc thự, tức gác vàng điện ngọc, chỉ hai nơi làm việc của chức gián nghị đại phu và chức hàn lâm viện thừa chỉ.
2. Sử không ghi rõ Nguyễn Trãi cầm chính quyền hai đạo vào lúc nào.
3. Thời Đường, danh nho Hàn Dũ được các học trò tôn quý, xem trọng như núi Thái Sơn, như sao Bắc Đẩu. Nguyễn Mộng Tuân muốn nói chính mình và các danh nho thời Lê cũng tôn quý, tin cậy Nguyễn Trãi như thế.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #241 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2016, 11:41:01 pm »


Nhưng, để tạm xa lánh nơi cung đình hỗn độn và nguy hiểm của Lê Thái Tôn, Nguyễn Trãi vui lòng nhận làm đề cử. Do đó, ông có được mấy năm dưỡng nhàn tại Côn Sơn, và ông đã sống rất giản dị, thanh bạch.

Đây là tâm sự ông, năm ông 61 tuổi tại Côn Sơn1:

      Vàng bạc nhà chẳng có mỗ phân
      Lánh đời cơm hẩm được no ăn
      Lọn thuở đông, hằng nhờ bếp
      Suốt mùa hè, kẻo đắp chăn
      Ác thỏ tựa thoi, xem lặn mọc
2 
      Cuốc cày là thú, những bon chen
      Cậy giời còn có bấy nhiêu nữa
      Chi tuổi
3 chăng hiềm kẻ khó khăn
                                    (Trần tình - bài 2)

Nhưng chính trong cảnh sống nghèo nàn mà ông vui thích đó, ông vẫn ngày đêm lo nghĩ về việc nước. Lòng ông không chút bận bịu về đời sống vật chất, rất khoan khoái với cảnh nghèo của gia đình và bản thân, nhưng vẫn nặng trĩu những lo âu về thời thế, về dân, về nước:

      Bình sinh nhiễm được tật sơ cuồng4 
      Con cháu nhiều ngày chịu khó dương5 
      La ỷ lấy đâu chăng lướt thướt6 
      Hùng ngư khôn kiếm phải thèm thuồng7 
      Ao quan thả gửi hai bè muống8 
      Đất bụt ương nhờ một luống mùng9
      Còn có một lòng âu việc nước10
      Đêm đêm thức nhẵn nẻo sơ chung11
                                    (Thuật hứng - bài 23)

Đó là cuộc sống trong những ngày về hưu của Nguyễn Trãi. Đối với ông, sống nhàn tản là bất đắc dĩ, về hưu trí là bất đắc dĩ. Nguyễn Trãi là người suốt đời để tâm dân chúng, suốt đời lo việc dân việc nước, suốt đời muốn làm cho "quốc phú binh cường" như ông đã từng nói, nếu không thì sống vô ích "Bằng tôi nào thửa ích chưng dân". Chính vì thế mà trong mấy năm gọi là dưỡng nhàn ở Côn Sơn (1440 - 1442), ông đã đem hết sức mình ra soạn bộ Luật thư, một bộ sách lớn về luật pháp, gồm 6 quyển12. Rất tiếc là bộ sách quý này đã không còn lại tới các đời sau.
_____________________________________
1, 3. Tính theo năm can chi âm lịch, Nguyễn Trãi sinh năm Canh Thân (1380) tới năm Canh Thân (1440) là 61 tuổi.
2. Ác thỏ là mặt trời và mặt trăng.
4. Suốt đời mang tính phóng khoáng, không chịu sống gò bó.
5. Chịu khó dương, có lẽ nghĩa là chịu không nổi.
6. La ỷ: là lượt, tức hàng tơ lụa.
7. Hùng, ngư là tay gấu và cá quý, tức 2 món ăn trong 8 món ăn quý (bát tiên). Chữ "phải" ở đây chưa chắc đã đúng với nguyên ý của tác giả.
8. Ao công thả nhờ hai bè rau muống.
9. Đất nhà chùa ương nhờ một luống rau mùng.
10. Âu việc nước: lo việc nước.
11. Thức nhẵn nẻo sơ chung: thức suốt cho tới khi chuông chùa đánh hồi đâu tiên lúc buổi sớm.
12. Theo Lê Quý Đôn trong Đại Việt thông sứ, thiên Nghệ văn chí.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #242 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2016, 05:39:02 pm »


Trong khi Nguyễn Trãi về Côn Sơn, thì Nguyễn Thị Lộ vẫn ở lại làm việc tại nội cung. Bà cũng là một quan chức, không thể tự ý về nghỉ được. Và có lẽ bà cũng muốn ở lại để góp phần vào việc giữ vững trật tự, nền nếp trong hậu cung, cố gắng dập tắt những lục đục, sóng gió thường nổi lên trong hậu cung và đương có khả năng ngày càng nhiều hơn nữa.

Tới đây, các phi tần đã 16, 17 tuổi, bắt đầu có con: cuộc tranh chấp ngôi Đông cung thái tử cho con mình và ngôi chính cung cho bản thân mình trở nên quyết liệt. Lúc này, trong hàng phi tần, có 3 người được Thái Tôn yêu dấu hơn cả, là Dương Thị Bí, Nguyễn Thị Anh và Ngô Thị Ngọc Dao. Dương Thị Bí vừa sinh được hoàng nam Nghi Dân, đứa con trai đầu lòng của Lê Thái Tôn. Ba tháng sau khi sinh ra, tức tháng giêng năm Canh Thân (1440), Nghi Dân được phong thái tử. Dương Thị Bí được phong Thần phi. Cuối năm 1440, Nguyễn Thị Anh, có mang. Cuộc tranh chấp càng trở nên quyết liệt. Các phi tần tranh chấp nhau thì các cung nữ hầu hạ các phi tần cũng chia thành phe cánh xung đột lẫn nhau. Trật tự trong hậu cung không được bảo đảm. Trước tình hình đó, bà Nguyễn Thị Lộ phải vận động Lê Thái Tôn hạ lệnh tuyển cung nữ mới, để thay thế những cung nữ mà sử gọi là "ngỗ nghịch". Tháng 6 năm 1441, Lê Thái Tôn hạ lệnh tuyển tú nữ ở các huyện vào làm cung nữ. Tháng 9 năm 1441, có được số cung nữ mới tuyển, bà Nguyễn Thị Lộ đề nghị bắt giam những cung nữ ngỗ nghịch. Tuy nhiên, những biện pháp tích cực đó của Nguyễn Thị Lộ không ngăn chặn được cuộc xung đột ngày càng gay gắt. Và trong cuộc tranh chấp xung đột này cuối cùng Nguyễn Thị Anh đã thắng thế.

Tháng 7 năm 1441,- Nguyễn Thị Anh sinh hoàng tử Bang Cơ. Tháng 12 năm 1441, Bang Cơ được phong làm thái tử, Nguyễn Thị Anh được phong làm Thần phi, Nghi Dân bị giáng xuống làm Lạng Sơn Vương, Khắc Xương, em Nghi Dân, chỉ được phong làm Tân Bình Vương, Dương Thị Bí bị giáng xuống làm "thứ phụ" (một người phụ nữ thường, không có chức tước gì).

Khi Dương Thị Bí và Nghi Dân bị đánh đổ, Bang Cơ được lập làm thái tử thì cũng là lúc Ngô Thị Ngọc Dao bắt đầu có mang và có tin đồn đại Ngọc Dao nằm mộng thấy "Kim tiên đồng tử" giáng sinh, tất sinh quý tử. Nguyễn Thị Anh tìm cách trừ Ngô Thị Ngọc Dao. Nguyễn Thị Anh gièm pha, Lê Thái Tôn nghe lời, quyết định cho đem đày Ngô Thị Ngọc Dao ra châu xa.

Lúc này chính là lúc Nguyễn Trãi có mặt tại triều đình. Ông được vời từ Côn Sơn ra kinh đô để làm giám khảo khoa thi tiến sĩ tổ chức vào tháng 3 năm 1442. Có mặt tại triều đình và trước việc xử lý bất công đối với tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao, ông không thể làm ngơ. Để bảo vệ đứa trẻ còn nằm trong bụng mẹ và cứu sống một người đàn bà vô tội, ông cùng bà Nguyễn Thị Lộ đề nghị nhà vua xét lại việc này vì không có lý do chính đáng. Lê Thái Tôn nghe theo, không bắt Ngô Thị Ngọc Dao đi đày, nhưng trục xuất khỏi hoàng cung và đưa ra an trí ở ngoài thành. Bà Nguyễn Thị Lộ xin cho Ngọc Dao được an trí tại chùa Huy Văn, phía nam kinh thành Thăng Long (gần Văn Miếu, thuộc phố Hàng Bột ngày nay). Tại đây, Ngô Thị Ngọc Dao được Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ trông nom, giúp đỡ1. Nhưng Nguyễn Trãi không ở lâu tại kinh thành. Có lẽ trước khi trở về Côn Sơn, ông đã bàn với bà Lộ cho bí mật đem Ngọc Dao ra xa kinh thành, đưa về vùng Thái Bình ngày nay2, để bảo đảm cho Ngọc Dao sinh nở mẹ tròn con vuông.
_____________________________________
1. Xin đem Ngọc Dao an trí tại chùa Huy Văn, phía nam thành Thăng Long, mà không tại nơi nào khác trong kinh thành, có lẽ vì nhà ở của ông bà Nguyễn Trãi cũng ở gần chùa Huy Văn. Từ trước, Nguyễn Trãi vẫn có tại: "Góc thành nam, lều một gian". Có lẽ bà Nguyễn Thị Lộ sau những giờ làm việc tại nội cung lại về đấy nghỉ, và Nguyễn Trãi từ Côn Sơn tới kinh đô cũng về ở đây. An trí Ngọc Dao tại chùa Huy Văn, có thể là gần nhà Nguyễn Trãi, tiện cho Nguyễn Thị Lộ trông nom, giúp đỡ.
2. Có thuyết nói đưa ra vùng Quảng Ninh ngày nay.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #243 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2016, 05:40:58 pm »


Mấy tháng sau, ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442), Ngô Thị Ngọc Dao sinh được một con trai. Lúc này, Lê Thái Tôn đương sửa soạn lên đường đi tuần miền Đông. Được tin Ngọc Dao sinh con trai, Lê Thái Tôn rất vui mừng, đặt tên con mới sinh là Tư Thành (tức Lê Thánh Tôn sau này). Tin Ngô Thị Ngọc Dao sinh con trai làm cho thần phi Nguyễn Thị Anh rất lo sợ và căm hờn Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ. Nguyễn Thị Anh rắp tâm trả thù và tìm cách trừ hậu họa cho con mình, nhưng chưa tiện dịp vì Lê Thái Tôn đi vắng:

Ngày 27 tháng 7 âm lịch, Lê Thái Tôn bắt đầu xa giá rời khỏi kinh thành, đi lên miền Đông để duyệt binh tại Chí Linh. Thời phong kiến, nhà vua rời khỏi kinh thành, đi tuần hành trong nước là một việc làm rất long trọng, tổ chức quy mô, náo nhiệt: ngựa xe, kiệu võng, cờ quạt, chiêng trống nhộn nhịp. Có đông đảo quân sĩ đi hộ tống, đông đảo triều thần văn võ đi hộ giá và đông đảo hoạn quan cung nữ đi chầu hầu bên cạnh. Lê Thái Tôn đi tuần cũng như thế. Vì có cung nữ đi theo nhà vua, nên bà Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ cũng có mặt trong cuộc tuần hành này. Nhà vua xa giá tới đâu thì quan lại ở địa phương, đương tại chức hay đã về trí sĩ, đều phải tới nghênh giá. Chí Linh gần Côn Sơn, Nguyễn Trãi ở Côn Sơn cũng phải tới Chí Linh nghênh giá. Côn Sơn là một danh lam thắng cảnh nổi tiếng trong nước. Vua chúa và danh thần các triều trước thường tới Côn Sơn: người thì tới tu hành, người thì tới ẩn dật, người thì tới du ngoạn. Cho nên sau khi duyệt binh ở Chí Linh, Lê Thái Tôn cũng muốn vãng cảnh Côn Sơn. Nguyễn Trãi đã đưa vua về thăm Côn Sơn. Sau khi ở thăm Côn Sơn, Lê Thái Tôn cùng đoàn hộ giá đi theo đường sông trở về kinh thành. Bà Nguyễn Thị Lộ vẫn cùng đi với đoàn hộ giá. Ngày 4 tháng 8 âm lịch, vua về tới Trại Vải trên bờ sông Thiên Đức (tức sông Đuống) thì nghỉ lại.

Trại Vải (tức Lệ chi viên) ở thôn Đại Lại (nay thuộc xã Tân Lập, huyện Gia Lương, tỉnh Hà Bắc) là nơi các vua chúa thường dừng chân nghỉ lại trên con đường đi tuần du miền Đông. Tại đây có xây dựng ly cung làm nơi nghỉ của nhà vua. Lê Thái Tôn nghỉ tại Trại Vải, tới đêm thì lên cơn sốt rét nặng1. Nhà vua đi tuần du, bị ốm ở dọc đường, sự chăm sóc thuốc thang cũng vẫn rất mực chu đáo như khi đau tại hoàng cung, vì có đông đảo quan lại, thầy thuốc ngự y, hoạn quan và cung nữ theo hầu. Trong việc chăm sóc Lê Thái Tôn ốm đêm ấy có cả bà Nguyễn Thị Lộ. Nhưng có lẽ Lê Thái Tôn bị cơn sốt rét ác tính, nên chết ngay đêm ấy, không cứu chữa được. Trước cái chết đột ngột của nhà vua, các quan hộ giá phải giữ kín không dám tiết lộ ra ngoài, và cho người về ngay hoàng cung báo tin và chờ lệnh. Vua chết, thái tử còn nhỏ tuổi, thì lâm thời mọi việc đều do người vợ vua cao chức nhất và là mẹ thái tử quyết định. Người đó là thần phi Nguyễn Thị Anh. Lê Thái Tôn chết từ đêm mồng 4 nhưng tới đêm mùng 6 mới đưa thi hài về cung và khi ấy mới phát tang.

Đây là một trường hợp rất bất ngờ nhưng lại là thời cơ tốt nhất để Nguyễn Thị Anh trả thù Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ là hai người đã bảo vệ Ngô Thị Ngọc Dao, làm cho Nguyễn Thị Anh phải ngày đêm nơm nớp lo sợ cho ngôi thái tử của con mình. Nếu Nguyễn Trãi và Nguyễn Thi Lộ còn sống, thì tiếng nói của Nguyễn Trãi và những hành động trực tiếp của Nguyễn Thị Lộ trong hậu cung vẫn có thể là mối đe dọa cho ngai vàng của con mình. Nguyễn Thị Anh cùng bọn hoạn quan chân tay mưu giết Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ trong dịp này, và chắc chắn giết được. Lê Thái Tôn cùng đi với Nguyễn Trãi tới Côn Sơn, khi trở về, đi khỏi Côn Sơn thì chết và Nguyễn Thị Lộ đã có mặt trong khi Lê Thái Tôn chết. Đó là cái cớ để Nguyễn Thị Anh khép tính mệnh của Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ vào với cái chết của Lê Thái Tôn.
_________________________________________
1. Các chính sử như Đại Việt sử ký toàn thư và Việt sử thông giám cương mục đều chép rõ như thế.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #244 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2016, 05:44:38 pm »


Nguyễn Thị Anh cho tên hoạn quan thân cận là Tạ Thanh, một mặt lo liệu việc tổ chức lễ đăng quang để đưa Bang Cơ lên ngôi vua, một mặt đứng ra vu cáo và buộc tội Nguyễn Trãi đã đầu mưu cho Nguyễn Thị Lộ giết vua1. Nguyễn Thị Anh nhân danh nhà vua chấp nhận lời buộc tội. Giết vua là một tội lớn nhất, phải "tru di tam tộc", tức phải giết cả ba họ.

Những người có lương tri và những người đi hộ giá theo hầu Lê Thái Tôn trong cuộc tuần du, biết rõ cái chết của Lê Thái Tôn, cũng không dám nói ra sự thật để bào chữa cho Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ. Nói rõ sự thật hoặc bào chữa đều chắc chắn phải chết, vì không tránh khỏi bị buộc là đồng lõa trong tội giết vua.

Bị vu cáo, Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ và gia đình thân thuộc đều bị bắt đưa về giam ở kinh thành.

Ngày 16 tháng 8 Nhâm Tuất, tức 19 tháng 9 năm 1442, Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ và tất cả gia đình thân thuộc đã bị bắt, đều bị giết.

Trong thời đại phong kiến ở Việt Nam, chưa ai phải giết tới ba họ2. Đây là một cái án dã man nhất trong lịch sử.

Ngày nay, khi nói về cái chết của Nguyễn Trãi, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhận định:

"Đối với triều đình nhà Lê lúc bấy giờ, sau khi "bốn biển đã yên lặng", Nguyễn Trãi nhân nghĩa quá, trung thực quá, thanh liêm quá! Nguồn gốc sâu xa của thảm án vô cùng đau thương của Nguyền Trãi bị "tru di" ba họ là ở đó"3.

Nhận định đó thật xác đáng và sâu sắc. Một người yêu nước, yêu dân tha thiết như Nguyễn Trãi, lúc nào cũng hết lòng với dân với nước, lúc nào cũng lấy "công việc của quốc gia làm công việc của mình, lấy điều lo của sinh dân làm điều lo thiết kỷ" nhất định không thể sống yên lành giữa những kẻ quyền quý, giữa những tầng lớp thống trị, đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích của dân của nước, lấy "vinh thân phì gia" lấy quyền quý cho riêng mình làm trọng hơn đời sống no đủ của quần chúng nhân dân. Một người suốt đời vì dân vì nước, kiên cường bất khuất như Nguyễn Trãi càng không thể sống yên lành trong một chế độ phi dân chủ, độc tài tàn bạo như chế độ phong kiến. Bản thân cái chết của Nguyễn Trãi là một bản án đanh thép kết tội chế độ phong kiến. Nhưng điểm rất đặc biệt ở con người Nguyễn Trãi là ông đã trọn đời vì dân, vì nước cho đến khi ông chết ông vẫn đem lại được một cái gì có ích cho dân, cho nước, cho người khác. Ông chết vì bọn phi tần, bọn hoạn quan hãm hại, nhưng ông đã cứu sống mẹ con Ngọc Dao và nhiều người khác khỏi liên luỵ. Cho đến cái chết của ông tuy đau thương nhưng vẫn đượm màu nhân nghĩa của ông. Cái chết của Nguyễn Trãi đã nói lên cái tình nhân đạo cao cả của Nguyễn Trãi, nhân đạo của một người săn sàng hy sinh để người khác sống4. Trong cái chết của Ông, Nguyễn Trãi đã để lại nhiều cái sống và là những cái sống đẹp đẽ, ông chết đi, nhưng khí phách của ông, công lao, sự nghiệp và những tư tưởng vĩ đại, những di văn bất hủ của ông vẫn sống mãi tới muôn đời sau.
_____________________________________
1. Chín năm sau vụ này, Tạ Thanh đã tiết lộ với thái úy Trịnh Khả và tư không Trịnh Khắc Phục những việc mình làm khi Thái Tôn chết và Bang Cơ lên ngôi. Thấy việc cũ bị lộ và sợ bị vỡ lở rộng ra ngoài, Nguyễn Thị Anh đã giết Tạ Thanh, giết thái úy Trịnh Khả, tư không Trịnh Khắc Phục là hai đại thần đầu triều lúc ấy và giết luôn cả những con trai của hai đại thần này là Trịnh Quát và Trịnh Bá Nhai cũng đương làm quan to, một người lại là phò mã. Sử thời Lê như Đại Việt sử ký toàn thư không dám đả động đến việc Nguyễn Thị Anh và Tạ Thanh mưu giết Nguyễn Trãi, chỉ chép mơ hồ rằng Tạ Thanh tiết lộ việc dựng Bang Cơ lên làm vua nên cả người lộ chuyện và người nghe chuyện đều bị giết. Sự thật, việc dựng Bang Cơ là thái tử lên ngôi vua là một việc làm tuân theo đúng ý chỉ của vua trước và mệnh lệnh của mẹ thái tử. Việc đó, đối với mẹ con Bang Cơ, chỉ có công chứ không có tội. Phải giết Tạ Thanh và những công thần bậc nhất là Trịnh Khả và Trịnh Khắc Phục, chỉ vì Tạ Thanh đã cho những người này biết những hành động xấu xa tội lỗi của Nguyễn Thị Anh trong việc giết Nguyễn Trãi. Để những người này sống là một mối lo cho thái hậu Nguyễn Thị Anh. Nhưng, mười bảy năm sau khi Nguyễn Trãi chết. Nguyễn Thị Anh và Bang Cơ, tức Lê Nhân Tôn, cũng bị Nghi Dân giết chết.
2. "Tru di tam tộc", đúng nghĩa là giết chết cả ba họ. Nhưng có nhiều cách hiểu khác nhau. Người thì hiểu ba họ là họ cha, họ mẹ, họ vợ. Người thì hiểu là ba đời: cha mẹ, anh em và vợ con. Người lại hiểu ba đời là cha mẹ, các con và các cháu. Gần như tất cả gia đình thân thuộc của Nguyễn Trãi đều bị giết chết, duy chỉ có một người vợ thứ của Nguyễn Trãi là Phạm Thị Mẫn đương có mang đã trốn được thoát trong khi cả gia đình bị bắt. Bà Phạm Thị Mẫn chạy trốn đi một nơi xa và sinh được một người con trai đặt tên là Nguyễn Anh Vũ, người con duy nhất của Nguyễn Trãi còn sống sót. Do đấy, dòng họ Nguyễn Trãi vẫn được tiếp tục con cháu ngày một đông lên, cho tới ngày nay có tới trên dưới 10 chi họ, sống lâu đời trên nhiều tỉnh từ Hà Tây, Hà Bắc, Hải Hưng vào tới Thanh Hóa, Nghệ An.
3. Phạm Văn Đồng, Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc, báo Nhân dân số 3099, ngày 19-9-1962.
4. Đại Việt sử ký toàn thư ghi rằng: Khi Nguyễn Trãi sắp bị tử hình có nói là đã không nghe lời khuyên của Đinh Thắng và Đinh Phúc, nên ngày 9 tháng 9, tức ngót một tháng sau khi Nguyễn Trãi bị giết, hai hoạn quan Đinh Thắng và Đinh Phúc cũng bị giết. Nhưng sử không dám chép rõ tại sao, chỉ với một lời nói đơn giản của Nguyễn Trãi như vậy mà hai tên hoạn quan thân cận của Lê Thái Tôn, rất hống hách và đắc thế như Đinh Phúc và Đinh Thắng lại bị giết. Không rõ có đúng Nguyễn Trãi nói thế không hay là bọn Nguyễn Thị Anh bịa để làm tội bọn Phúc, Thắng. Điều chắc chắn là Nguyễn Thị Anh giết Đinh Phúc, Đinh Thắng để trấn áp những kẻ làm tiết lộ sự thật. Đinh Phúc và Đinh Thắng là hai hoạn quan thân cận của Lê Thái Tôn chắc đã có mặt trong đám hoạn quan, cung nữ đi theo hầu Lê Thái Tôn trong cuộc tuần du, và có mặt trong số những người trực tiếp phục vụ và trông nom khi Lê Thái Tôn ốm và chết. Có thể Đinh Phúc và Đinh Thắng biết cả âm mưu vu cáo và giết người của Nguyễn Thị Anh và Tạ Thanh. Khi Nguyễn Trãi bị bắt giam, cũng có thể Đinh Phúc, Đinh Thắng đã nói cho Nguyễn Trãi biết sự thật và âm muu của Nguyễn Thị Anh để Nguyễn Trãi tự bào chữa. Nhưng Nguyễn Trãi thấy có bào chữa cũng không thể được với bọn thống trị tàn bạo và nói ra sự thật, vạch mặt bọn chúng thì chỉ làm liên lụy thêm nhiều người khác, nên ông đành cùng gia đình, thân thuộc chịu chết để hạn chế sự đổ máu lan tràn ra nhiều người khác.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #245 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2016, 05:52:53 pm »


Ngày nay, nói đến cái chết của Nguyễn Trãi, chúng ta thương tiếc nhưng rất cảm phục, cảm phục trước cái chết của một người khí phách tuyệt vời, nhân nghĩa rất mực, đã suốt đời chiến đấu cho độc lập dân tộc, cho thống nhất Tổ quốc, cho công lý xã hội và đời sống yên lành no đủ của quần chúng nhân dân. Hai câu thơ như tiếng vọng của chiến trường:

      Nghe hồn Nguyễn Trãi phiêu diêu
      Tiếng gươm khua, tiếng thơ kêu xé lòng

                                     (Bài ca mùa xuân 61)
của nhà thơ Tố Hữu, nhà thơ cách mạng của thời đại chúng ta đã nói lên tấm lòng thương cảm của chúng ta, đồng thời cũng nói lên tất cả nỗi uất hận và ý chí kiên cường chiến đấu của Nguyễn Trãi chống giặc xâm lược và chống chế độ phong kiến bất công, tàn bạo mà ông đã sống. Mặc dù bọn phong kiến giết ông, công lao sự nghiệp của ông vẫn sống mãi với dân tộc Việt Nam. Tấm lòng yêu nước yêu dân, những tư tưởng nhân nghĩa, tư tưởng dân tộc dân chủ của ông cũng như đạo đức, phong cách sống của ông vẫn sáng ngời trong lịch sử. Những tinh thần đó, đạo đức, phong cách đó cùng với những tư tưởng nhân nghĩa, tư tưởng triết học và tư tưởng quân sự vĩ đại của ông là những bài học quý báu của dân tộc cho tới ngàn đời sau.

Mặc dầu bọn phong kiến thống trị đã giết Nguyễn Trãi tới cả ba họ, nhưng dòng họ Nguyễn Trãi vẫn trường tồn đến ngày nay. Dòng họ yêu nước đó đã cung cấp cho dân tộc nhiều người con cháu yêu nước, tích cực tham gia các phong trào giải phóng dân tộc từ sau Nguyễn Trãi, nhất là trong phong trào yêu nước chống Pháp, một trăm năm lại đây. Nguyễn Thiện Thuật, lãnh tụ phong trào khởi nghĩa Bãi Sậy, Nguyễn Thiện Kế, Lãnh Giang trong khởi nghĩa Bãi Sậy, Cả Tuyền trong khởi nghĩa Yên Thế, Hai Thường1 trong phong trào Quang phục hội, Cả Châu2 trong phong trào Văn thân, Nguyễn Văn Cừ, nguyên Tổng bí thư Đảng cộng sản Đông Dương3, v.v... là những con cháu trong dòng họ Nguyễn Trãi, đã nối được chí của Nguyễn Trãi, đã hy sinh đời mình cho độc lập tự do của dân tộc.

Tinh thần và tư tưởng của Nguyễn Trãi đã động viên cổ vũ, giáo dục tinh thần yêu nước yêu dân của chúng ta, và mãi mãi là nguồn động viên, cổ vũ, giáo dục chúng ta trong sự nghiệp đánh giặc cứu nước và xây dựng nước nhà hiện nay cũng như sau này.

Thân thế, sự nghiệp và tư tưởng của Nguyễn Trãi mãi mãi là niềm tự hào vô hạn của dân tộc ta.
_______________________________________
1. Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Thiện Kế, Lãnh Giang, Cả Tuyền, Hai Thường là con cháu trong dòng họ Nguyễn Trãi, thuộc chi Xuân Dục (Hải Hưng).
2. Cả Châu, là con cháu trong dòng họ Nguyễn Trãi, chi Phù Khê (Hà Bắc).
3. Nguyễn Văn Cừ, Tổng bí thư Đảng Cộug sản Đông Dương trong thời gian 1938 - 1941, sinh ngày 9-7-1912, bị địch bắn ngày 28-8-1941, là con cháu trong dòng họ Nguyễn Trãi, đời thứ 16 (kể từ Nguyễn Trãi), thuộc chi họ Phù Khê, huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #246 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2016, 07:24:47 pm »


KẾT LUẬN
NGUYỄN TRÃI SỐNG MÃI VỚI NON SÔNG ĐẤT NƯỚC TA

Non sông đất nước ta bền vững đến ngày nay là do công lao của tổ tiên ta qua các đời đã đổ bao mồ hôi, xương máu, để gìn giữ, vun đắp cho chúng ta. Trong những công lao to lớn đó, có phần đóng góp quan trọng của Nguyễn Trãi. Ông đã chiến đấu giành độc lập cho Tổ quốc ở thế kỷ XV, và đã để lại cho dân tộc một di sản quý báu về kinh nghiệm chỉ đạo chiến tranh nhân dân chống xâm lược, "lấy ít đánh nhiều lấy yếu thắng mạnh", cùng những áng văn chương tuyệt tác và những tư tưởng triết học vượt lên trên thời đại đó. Ông lại nêu cao tấm gương trong sáng về đạo đức và phong cách sống cho người đương thời và hậu thế noi theo. Tên tuổi, sự nghiệp của Nguyễn Trãi, dù không làm bia đá, tượng đồng, dù sử sách không ghi chép đầy đủ, nhưng vẫn chói lọi với thời gian như ta đã thấy và có thể mượn một lời thơ của chính Nguyễn Trãi để khẳng định:

      Ngàn vạn đời sau, vẫn cùng trời đất dài lâu
                                                 (Phú núi Chí Linh)

Nguyễn Trãi sống mãi trong trí nhớ và tình cảm của người Việt Nam ta1, không chỉ người Việt Nam hiện nay và mai sau, mà Nguyễn Trãi đã sống trong trí nhớ và tình cảm của người Việt Nam ở các thế hệ trước chúng ta, từ hơn 500 năm lại đây. Đó là một sự thật lịch sử. Người Việt Nam, thế hệ nào cũng không quên ông, thế hệ nào cũng cảm phục ông, nhớ ơn ông. Công lao, sự nghiệp, tư tưởng tình cảm của ông đối với dân, với nước lớn rộng, cao đẹp quá. Ngay khi ông còn đương làm quan với nhà Lê, tuy ông không được trọng dụng, không cầm quyền trị nước, nhưng ảnh hưởng của ông vẫn không nhỏ. Những người đương thời như Nguyễn Mộng Tuân, Phan Phu Tiên rất cảm phục tài kinh bang tế thế và tấm lòng vì nước vì dân của ông. Tới khi ông đã già, Nguyễn Mộng Tuân vẫn ca ngợi ông:

      Bạch phát chỉ nhàn thiên hạ lự
      (Tóc bạc vẫn còn lo việc dân việc nước)2

Cuối đời ông, bọn thống trị nhà Lê đã vu hãm, giết hại ông, gieo tội ác cho ông, cố vấy một vết nhơ vào cuộc đời ông. Nhưng lòng ông đối với dân với nước trong sáng quá, không một thủ đoạn, một dã tâm nào làm lu mờ được. Mười tám năm sau khi ông chết, Lê Thánh Tôn, cũng là vua nhà Lê, đã phải nói lên một sự thật:

      Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo
      (Tâm hồn Ức Trai trong sáng như ánh sao Khuê buổi sớm)3

và Lê Thánh Tôn đánh giá ông trên tất cả các văn thần võ tướng có danh vọng nhất của thời Lê.

Ông mất đi, người trong nước càng thương tiếc, cảm phục ông, và ghi nhớ sâu sắc công lao, sự nghiệp của ông. Người thế kỷ XVI, như Hà Nhiệm Đại, đã nói về công lao, sự nghiệp của ông:

      Công giúp hồng đồ cao nữa (tựa) núi
      Danh ghi thanh sử sáng bằng gương
4.
________________________________________
1. Phạm Văn Đồng, Npuyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc, báo nhân dân số 3099, ngày 19-9-1962.
2. Lê Quý Đôn, Toàn Việt thi lục, t. III, q. VIII, tờ 63
3. Lê Thánh Tôn, Quỳnh uyển cửu ca, bài thơ Minh lương.
4. Hà Nhiệm Đại, Khiếu vịnh tập, dẫn trong Quốc âm thi tập, bản phiên âm của Nhà xuất bản Văn Sử Địa, Hà Nội, 1956, tr.16
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #247 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2016, 07:29:24 pm »


Người thế kỷ XVII còn đánh giá ông cao hơn nữa. Đỗ Nghi cũng là người triều Lê, nhưng Đỗ Nghi đã nói thẳng: "Nhà Lê sở dĩ lấy được thiên hạ đều do công sức của ông cả”1 và Đỗ Nghi than tiếc : "Tiếc thay trời chưa muốn bình trị thiên hạ, cho nên cuối cùng ông vẫn chỉ làm chức hành khiển Đông đạo, không được giở hết những hoài bão của mình: việc đó không phải là không may cho ông, mà chính là không may cho sinh dân đời Lê vậy"2.

Đỗ Nghi đã nói rất đúng. Và sang thế kỷ XVIII, chính bọn vua chúa nhà Lê vẫn phải thừa nhận "công lao của ông trùm khắp trên đời"3.

Cho tới 400 năm sau khi Nguyễn Trãi chết, người Việt Nam ở thế kỷ XIX vẫn rất mực tôn quý Nguyễn Trãi và khẳng định:

"Nước Việt ta, từ Đinh, Lê, Lý, Trần, đời nào sáng lập cơ nghiệp đế vương, tất cũng đều phải có tướng tá giúp sức, nhưng tìm được người toàn tài toàn đức như Ức Trai tiên sinh, thật là ít lắm"4.

Tới thời đại xã hội chủ nghĩa chúng ta, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đánh giá:

"Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc, văn võ song toàn; văn là chính trị: chính trị cứu nước, cứu dân, nội trị, ngoại giao, "mở nền thái bình muôn thuở, rửa nỗi thẹn nghìn thu” (Bình Ngô đại cáo); võ là quân sự: chiến lược và chiến thuật, “yếu đánh mạnh, ít địch nhiều... thắng hung tàn bằng đại nghĩa" (Bình Ngô đại cáo); văn và võ đều là võ khí, mạnh như vũ bão, sắc như gươm dao: "viết thư thảo hịch tài giỏi hơn hết một thời" (Lê Quý Đôn), "văn chương mưu lược gắn liền với sự nghiệp kinh bang tế thế" (Phan Huy Chú). Thật là một con người vĩ đại về nhiều mặt trong lịch sử nước ta"5.

Công lao, sự nghiệp của Nguyễn Trãi rõ ràng là huy hoàng, vĩ đại. Nguyễn Trãi quả thật là anh hùng, là khí phách, là tinh hoa của dân tộc.

Công lao quý giá nhất và sự nghiệp vĩ đại nhất của Nguyễn Trãi là tấm lòng yêu nước yêu dân tha thiết và sự nghiệp đánh giặc cứu nước vô cùng vẻ vang của ông. Ông đã đem hết tâm hồn, trí tuệ tài năng phục vụ lợi ích của dân tộc trong phong trào khởi nghĩa Lam Sơn. Tư tưởng chính trị, quân sự ưu tú và tài ngoại giao kiệt xuất của ông đã dẫn đường cho phong trào khởi nghĩa Lam Sơn đi tới thắng lợi.
____________________________________
1-3. Dương Bá Cung, Bình luận chư thuyết trong Ức Trai di tập, q. V. 5.
4. Nguyễn Năng Tĩnh, tựa "Ức Trai di tập" của Dương Bá Cung, q. I, bài 1. – Ức Trai di tập do Dương Bá Cung sưu tầm biên soạn trong 10 năm, tới năm 1833 thì hoàn thành, nhưng mãi năm 1868 mới in ra được.
5. Phạm Văn Đồng, Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc, báo Nhân dân số 3099, ngày 19-9-1962.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #248 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2016, 07:32:28 pm »


Tư tưởng chính trị của Nguyễn Trãi là tư tưởng lấy nhân dân làm trung tâm của xã hội, của quốc gia, của dân tộc lấy nhân dân làm đối tượng chủ yếu để phục vụ, lấy sức mạnh của nhân dân làm lực lượng cơ bản quyết định mọi thắng lợi của công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ đất nước, lấy cuộc sống ấm no hạnh phúc của nhân dân làm niềm vui lớn nhất của đời mình. Phan Phu Tiên đã nói với Nguyễn Trãi rằng Nguyễn Trãi là người "tiên giác". Đúng như thế. Nguyễn Trãi sớm giác ngộ hơn mọi người. Từ hơn 500 năm trước đây, ông đã giác ngộ về vị trí và vai trò của nhân dân trong lao động, trong sản xuất, trong xây dựng và trong chiến đấu. Ông quan niệm được nhân dân là người làm ra tất cả. Ông thấy rõ sức mạnh như nước của nhân dân. Đánh được giặc, cứu được nước là do dân. Dựng nên triều đại này, đánh đổ triều đại khác cũng do dân quyết định. Từ hơn 500 năm trước đây, giác ngộ được như thế, không những đối với người trong nước, mà đối với thế giới, cũng là giác ngộ sớm, hiếm có. Trong tư tưởng chính trị của Nguyễn Trãi, tư tưởng dân chủ của ông cũng thật là đáng quý và trong cuộc đời Nguyễn Trãi, những hoạt động dân chủ kiên cường của ông đã nói lên rất nhiều tấm lòng của ông đối với quần chúng nhân dân, đồng thời biểu thị một truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam, suốt đời tận tuỵ hy sinh cho những lý tưởng cao cả nhất của con người. Về mặt này, Nguyễn Trãi cũng như Muyn-xe, lãnh tụ phong trào nhân dân Đức thế kỷ XVI, ông quả là “một nhà dân chủ thật sự, trong điều kiện có thể được ở thời đại bấy giờ”1, và Nguyễn Trãi còn đi trước Muyn-xe gần một thế kỷ.

Tư tưởng chính trị của Nguyễn Trãi không đóng khung trong phạm vi nhận thức và tình cảm, mà thể hiện ra hành động rất mạnh và mang tính chiến đấu cao: yêu nước yêu dân phải cứu nước cứu dân, phải đấu tranh cho độc lập thống nhất của tổ quốc, phải "trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược" cho nhân dân, phải làm cho nhân dân khỏi lầm than khổ cực. Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là sự khái quát toàn bộ tư tưởng chính trị của ông. Nhân nghĩa là làm yên dân, là giữ yên thế nước2, là lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo. Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi thể hiện ra hành động là sự kết hợp tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc và ý thức dựa vào dân, vì dân, lấy dân làm chủ, để đánh thắng xâm lược và giải quyết mọi vấn đề quốc kế dân sinh.


Tư tưởng quân sự của Nguyễn Trãi hình thành và phát triển trên cơ sở những tư tưởng chính trị, tư tưởng nhân nghĩa đó và ngày càng được củng cố vững chắc, với sự kế thừa những truyền thống quân sự ưu tú của dân tộc ở các đời trước và tiếp thu những kinh nghiệm chiến đấu phong phú của nhân dân đương thời, nên tư tưởng quân sự của Nguyễn Trãi có nhiều tính sáng tạo và ưu việt, đậm đà tính dân tộc, nêu cao tính độc lập, tự chủ trong tư tưởng và hành động của người Việt Nam.

Tư tưởng quân sự của Nguyễn Trãi xây dựng trên cơ sở nhân nghĩa, vì nhân dân mà chiến đấu, cho nên tư tưởng quân sự của Nguyễn Trãi phục vụ chiến tranh chính nghĩa, chiến tranh nhân dân chống xâm lược, mà các loại chiến tranh phi nghĩa, chiến tranh giết người cướp của, xâm lược nước khác đều không thể áp dụng được. Đó là đặc điểm cơ bản của tư tưởng quân sự của Nguyễn Trãi và cũng là điều rất cao quý trong truyền thống quân sự ưu tú của dân tộc ta.
______________________________________
1. Ăng-ghen nhận xét về Thomas Munzer (Tô-ma-xơ Muyn-xe) troug một bài viết trên báo The Norther Star ngày 8-11-1845.
2. Nhân nghĩa chi cử vụ tại an dân (Bình Ngô đại cáo). Nhân nghĩa duy trì quốc thế an (Hạ qui Lam Sơn, bài 1)
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #249 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2016, 07:47:53 pm »


Thấy được tinh thần yêu nước và sức mạnh của dân, Nguyễn Trãi đã dựa vào dân, phát động chiến tranh nhân dân để đánh giặc, đánh bằng mọi cách, đánh trên mọi lĩnh vực, tạo thành một khí thế tiến công không gì ngăn cản nổi, càng đánh càng thắng, thực hiện thành công truyền thống "lấy ít đánh nhiều, lấy yếu thắng mạnh", đánh bại hoàn toàn quân Minh xâm lược đã chiếm đóng nước ta trong hai mươi năm. Đường lối chỉ đạo chiến tranh và chiến lược, chiến thuật mầu nhiệm của Nguyễn Trãi, vận dụng vào phong trào Lam Sơn từ năm 1423, kết hợp với tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, xả thân vì nước của nghĩa quân và dân chúng, đã nhanh chóng đưa phong trào từ một cuộc khởi nghĩa địa phương trở thành chiến tranh toàn quốc, thế tựa chẻ tre, đánh như thác đổ, trong một năm giải phóng một nửa nước về phía nam, từ Thanh Hóa trở vào, trong ba tháng giải phóng Đông Đô, tức nửa nước về phía bắc, địch phải co vào cố thủ trong mấy thành trơ trọi, và trong năm 1427, năm cuối của chiến tranh lần lượt thu phục thêm các thành, đánh tan các đạo viện binh lớn của địch, buộc mười vạn địch bị giam chân trên chiến trường Việt Nam phải giải giáp đầu hàng. Thắng lợi của chiến tranh thật là rực rỡ, mà công lao của Nguyễn Trãi cũng thật là to lớn.

Những thắng lợi rực rỡ mà Nguyễn Trãi và nghĩa quân Lam Sơn đã giành được trong cuộc chiến tranh chống quân Minh xâm lược là thắng lợi của lòng yêu nước thiết tha và của chí căm thù giặc sâu sắc; thắng lợi của những tư tưởng chính trị, quân sự ưu tú và thắng lợi của chiến tranh nhân dân, một hình thức chiến tranh rộng rãi, phát động nhân dân cả nước cùng đánh giặc, mà tổ tiên ta đã sớm biết sáng tạo từ hàng nghìn năm trước và được nâng lên một mức cao hơn, ở thời đại Nguyễn Trãi.

“Giơ gậy làm cờ, bốn phương dân cày tập hợp" mà Nguyễn Trãi nhấn mạnh như một nguyên tắc để phát động chiến tranh cứu nước, xây dựng lực lượng vũ trang, chính là một đường lối tiến hành chiến tranh rất tài giỏi, tạo cho phong trào Lam Sơn một sức mạnh cả nước để đánh thắng giặc, vừa xây dựng quân đội khởi nghĩa đông mạnh bằng cách "bốn phương dân cày tập hợp", vừa vũ trang dân chúng rộng rãi bằng mọi thứ vũ khí sẵn có trong tay: gậy tày, đòn gánh, dao, rựa..., đều trở thành khí giới để đánh giặc; đàn ông, đàn bà, già, trẻ, đều đánh giặc. Đó là những chủ trương rất sáng suốt, đáp ứng yêu cầu và khả năng của một cuộc chiến tranh nhân dân. Thực tế chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi - Nguyễn Trãi và kinh nghiệm chiến đấu lâu đời của dân tộc ta đã chứng minh rằng để đánh thắng xâm lược, chiến tranh nhân dân là vô địch.

Tổng kết kinh nghiệm chiến đấu chống xâm lược của tổ tiên ta qua các thời đại và thực tiễn phong phú của chiến tranh nhân dân của chúng ta, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chủ tịch, đồng chí Trường Chinh đã nhận định khái quát thành một lý luận cơ bản:

"Chiến tranh nhân dân phải do dân làm lấy. Nghĩa là không phải chỉ quân chính qui đánh giặc, mà cả những người hăng hái, không kể gái trai, không kể có ở trong quân đội hay không, cũng đánh giặc... cuộc chiến tranh do quân đội và toàn thể nhân dân cùng làm, tự nhiên có một lối đánh hết sức sinh động, biển hoá khôn cùng, hợp với địa hình và phương tiện tác chiến của từng nơi..."1.
______________________________________
1. Trường Chinh, Kháng chiến nhất định thắng lợi (1947), Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1964, tr. 114.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM