Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 07:53:30 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tiêm kích sống bằng chiến trận  (Đọc 78402 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #110 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2016, 08:29:07 am »

        Kozlôp dẫn nhóm máy bay của mình xuống hạ cánh. Sau khi tiếp đất cách các đoàn tàu chừng 400 m, các máy bay lăn vòng xoay ngay đuôi lại, các xạ thủ của chúng tôi củng đưa ngay các toa tàu vào trong kính ngầm.

        Bọn lính trườn lên các nóc toa và nằm chết cứng trong sự ngạc nhiên đến tột độ: các xạ thủ súng máy và phóng lựu của chúng tôi lúc đó đã bao vây kín các đoàn tàu.

        Các máy bay tiêm kích thì liên tục quần đảo trên nhà ga, sẵn sàng bẳn phá bất kể lúc nào.

        Kozlôp và Gurep cùng với 20 xạ thủ súng máy tiến đến gần các đoàn tàu. Nhóm bay trên Li-2 cũng đến phối hợp. Người lái tàu hỏa và người phụ lái cúng đi ngược lại phía họ. cả hai đều cười sung sướng và hể hả khi thấy tất cả kết thúc như vậy.

        Họ kể lại rằng: họ đã bị cưỡng bức lái các đoàn tàu, mở hết tốc lực chạy suốt đêm. Đến gần sáng, con đường chính ở nơi hẻo lánh nhất đã tắc nghẽn vì bị phá bật. Đoàn tàu chia ra làm hai cốt để ngụy trang. Đến chiều sẽ thu xếp tiếp tục đi. Các máy bay Xô viết đã xuất hiện, bọn Hítle và một số thủ lĩnh của Chính phủ Bungari phát xít củ cùng với hành trang của mình trèo lên 2 ô tô lấy được trên sân ga và bỏ chạy về phía biên giới Thổ Nhĩ Kỳ.

        Lại có thêm chuyện bất ngờ là vậy nữa!

        Cạnh đoàn tàu còn có năm chiếc ô tô chở bọn sĩ quan tùy tùng chưa kịp chuyển bánh. Thiếu tá Kozlôp ra lệnh cho một đồng chí sĩ quan của nhóm bay Li-2 lấy người của mình lên 2 chiếc xe tải, tìm thêm một người thổ dân dẫn đường và bằng con đường ngắn nhất, mở hết tốc lực đuổi theo. Bản thân đồng chí thì chạy đến chỗ máy bay đỗ, báo qua đối không để các máy bay tiêm kích tách 2 chiếc vòng xuống phía Nam, đến gần biên giới Thổ Nhĩ Kỳ, nếu phát hiện được chiếc ô tô chạy trốn thì dùng hỏa lực bắn chặn lại, bắt nó phải dừng và cho phép tiêu diệt nếu chúng không tuân theo lệnh. Đúng 15 phút sau, các máy bay tiêm kích báo cáo: chiếc ô tô chở bọn phát xít đã phải đỗ lại gần Xvilengrat và những chiếc xe tải của chúng ta cũng đang tiếp cận đến chỗ bọn chúng.

        Chiến dịch "Chuyến xe lửa bí mật" đã kết thúc bàng sự tóm gọn tất cả những kẻ định trốn chạy hòng cứu mình khỏi sự trừng phạt. Nhân dân Bungari đã được hoàn lại những tài liệu vô cùng quan trọng và nhiều đồ vật quý báu. Tất cả những người tham gia chiến dịch ấy đều được Chính phủ tặng thưởng Huân chương.

        Đấy, những chuyện lạ kỳ đã xảy ra ở Phương diện quân Ucraina - 3 của chúng tôi là thế đấy.

        Bản thân trung đoàn tôi củng có những trường hợp đặc biệt. Một hôm, biên đội của Mikhain Sưkin sau khi bay từ phòng tuyến mặt trận trở về đến gần sân bay thì nhận được lệnh của sở chỉ huy trung đoàn:

        - Phía đông Gabơrôpnhitsa đang có một thằng "Metxersmit" bay ngang qua. Cần bắt nó phải hạ cánh!

        Ngay lập tức, biên đội lấy hướng cần thiết, đuổi kịp thằng địch, kẹp nó giữa hai gọng kìm, bắt nó về hạ cánh trên sân bay của chúng tôi.

        Chiếc "Metxer" này không phải loại xoàng - nó thuộc đời mới nhất vì có cả rađar cảnh giới trên máy bay kia mà. Nó được gọi là Me-109 G-6. Dĩ nhiên, chiếc máy bay này đã thu hút sự chú ý của chúng tôi. Chúng tôi quan sát, sờ mó nó từ tất cả mọi phía và rút ra kết luận: nó chẳng có gì thật đặc biệt cả. Ngay đến rađar lắp trên nó cũng thô sơ tới mức chưa chắc đã giúp cho phi công được chút gì.

        Trong thời gian chúng tôi trao đổi với nhau những cảm tưởng về chiếc máy bay ấy, tên phi công phát xít lấm lét theo dõi chúng tôi. Nó đứng uể oải, thiểu não. Tôi nhớ đến tên tù binh mà tôi từng nói chuyện với hán ở Barvencôvô. Thằng ấy còn giữ được vẻ ngang ngược, có lẽ nó vẫn còn ở trong trạng thái bị thôi miên của sự tuyên truyền của đạo Ghêben nên còn hy vọng vào một cái gì đó.

        Thằng này thì đã mất hết mọi chỗ dựa nên nó thờ ơ với tất cả. Củng rõ thôi: vùng đất Gabơrôpnhitsa đâu phải như Barvencôvô. Giữ thái độ kiêu hãnh ở đây và vào lúc này thì đúng là một trò cười.

        Vào những ngày đầu của tháng 10, chúng tôi lại phải giã từ Gabơrôpnhitsa thân yêu cùng những người dân tuyệt vời ở nơi đây. Thật luyến tiếc đến phát khóc khi phải chia tay những người bạn Bungari.

        Calasônnôc vác chiếc túi dù đựng tất cả những đồ đạc lặt vặt, nghèo nàn của tôi và của đồng chí ấy. Chúng tôi ôm hôn ông bà chủ, sau đó ra sân bay. Chúng tôi ngồi vào các buồng lái, mở máy, và - từ biệt Gabơrôpnhitsa! Cái giờ phút giã từ sao mà nặng nề!
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #111 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2016, 08:30:32 am »

        Chúng tôi cất cánh trong tâm trạng buồn bã. Chỉ đến khi hạ cánh xuống sân bay Brêgôvô chúng tôi mới thấy nhẹ nhõm đi đôi chút. Ở đó chúng tôi củng được đón tiếp một cách nồng nhiệt, thám thiết đến mức chúng tôi như cảm thấy chưa bay đi đâu xa cả, chừng như vẫn còn đang sống giữa những bạn bè ở Gabơrôpnhitsa.

        Brêgôvô - đấy là một thành phố xanh, nhỏ bé, nằm giữa ranh giới ba nước Rumani, Bungari và Nam Tư.

        Câu đầu tiên chúng tôi được nghe dân chúng nói về thành phố của họ là:

        - Con gà trống của Bungari ở Brêgôvô cất tiếng thì cả ba nước đều nghe thấy tiếng gáy của nó!

        Chúng tôi cũng lại phải trả lời những câu hỏi bất tận của những người dân ở đây về đất nước của chúng ta, nghe những lời than phiền của họ về cuộc sống không sao chịu đựng nổi dưới sự áp bức của bọn Hítle. Một lần nửa lại vang lên những lời cám ơn chân thành quân đội và nhân dân Xô viết. Khi lẳng nghe những giọng nói hồ hởi ấy, tôi lại chợt nhớ đến Valentin Êgôrôp - người đồng hương của tôi và cứ nghĩ rằng có lẽ cậu ta đã đến nơi này rồi. Mấy tuần lễ trước ngày giải phóng Bungari, cậu ta cùng với nhóm bộ đội đặc nhiệm đã nhảy dù xuống vùng này mà. Năm 1946, chúng tôi gặp lại nhau khi cùng học ở học viện quân sự mang tên Phrunde, đồng chí cũng khẳng định ràng sống giữa những ngươi dân Bungari chẳng khác gì được sống với đồng bào mình, anh em mình.

        Đúng vậy, bạn bè Bungari đã yêu thương chúng tôi hết lòng.

        Ớ Brêgôvô, tôi đến ở cùng với một gia đình người Bungari, chủ nhà khoảng 40 tuổi, có bà vợ xinh xắn và cô con gái cùng cậu con trai mắt đen, nhanh nhẹn rất giống mẹ.

        Những người chủ nhà niềm nở, đầy thiện chí đã giữ tôi lại, không cho tôi đi ăn sáng và ăn tối ở bếp bay. Họ hào phóng bày thức ăn ra bàn và rất vui mừng nếu tôi ở lại nhà, nếm thử những thứ họ thết đãi. Sáng sáng, khi tỉnh dậy, tôi đều thấy ở trên bàn có một bình nước nho ép ánh mầu hồng còn lấm tấm hơi lạnh và một bình khác với những hoa quả được chọn lựa, rửa sạch sẽ.

        Buổi chiều, tôi quay về, ngồi cạo râu (việc ấy tôi không bao giờ làm vào buổi sáng vì kiêng ky - sức mạnh của mê tín là thế đấy) thì phát hiện thấy một cậu bé thập thò ngoài cửa sổ. Cậu ta chăm chú theo dõi từng cử động một của tôi, ngắm nhìn bộ quân phục và bộ đồ bay của tôi. Khi tôi cạo râu xong, khoác bộ va rơi vào thì cậu bé biến mất và ngay sau đó, sau tiếng gõ cửa là cô thiếu nữ Mirôslava bước vào. Theo sau cô ta là bố và mẹ. Chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau suốt cả buổi chiều. Chẳng khó khăn gì cũng có thể nhận ra một điều là cô gái rất quan tâm tới tôi. Điều ấy không thể không làm cho tôi lo lắng. Cũng phải công nhận rằng, thật thú vị khi có một người đáng yêu như vậy đang đến với anh. Nhưng điều ấy rồi sẽ dẫn đến đâu? Bởi cô ta sẽ đau khổ khi tất cả rồi kết thúc chỉ ở đó. Hơn nữa, tuy tôi mới 24 tuổi đầu, nhưng tôi đã cảm thấy tôi già hơn Mirôslava rất nhiều và tôi đối xử với cô ta cũng chỉ như đối xử với một người em gái mà thôi.

        Cô ta vẫn cứ tiếp tục đến với tôi một cách chân tình. Cha mẹ cũng đã hiểu được tâm trạng của cô ta. Nhưng họ có thể làm gì được?

        Một bữa, mẹ đã hỏi tôi:

        - Côlia, có đúng là họ không cho phép các con lấy người ngoại quốc phải không?

        Tôi trả lời đúng như vậy. Bà ta thở dài não nề và không thấy nhắc tới chuyện ấy nữa.

        Nghĩ đơn giản - là chỉ cần rời nhà ở, như người ta thường nói, là mọi chuyện khuất mắt ngay. Nhưng làm sao mà rời được, một khi sáng sáng Mirôslava tiễn anh ra đến tận sân bay và chiều chiều lại đón anh về, đồng thời bố mẹ lại đối xử với anh như con đẻ?

        Nhưng sớm hay muộn thì cũng cần phải chấm dứt chuyện ấy. Và nó đã xảy ra. Vào một ngày, như thường lệ, chúng tôi ra sân bay, nhưng rồi không thể quay lại đấy được nữa: vì đến gần chiều chúng tôi đã ở bên đất nước Nam Tư rồi.

        Sau hai ngày ở đất nước xa lạ, đến ngày thứ ba thì bộ phận hậu cần mới đến được chỗ chúng tôi. Đây là bộ phận mới vì tiểu đoàn của Pakhinlô đã ở lại Gabơrôpnhitsa.

        Người sĩ quan tùy tùng của phi đội đem đến cho tôi một tin buồn: Mirôslava ốm nặng, nằm liệt giường và cha mẹ thì rất đau khổ vì họ cho rằng tôi đã hy sinh.

        Tôi đâm ra bối rối. Tôi đã đối xử nghiệt ngã với những con người nhân hậu, những người đã từng dành cho tôi tất cả những tình cảm cao quý nhất của mình, tôi đã không báo trước cho họ biết chuyến ra đi bất ngờ của mình, dù rằng tôi không thể nào làm được chuyện ấy. Nhưng bây giờ cũng phải làm một cái gì đó chứ. Tôi đi gặp Onuphriencô, kể lại cho anh ấy nghe tất cả đầu đuôi câu chuyện. Anh ấy hiểu ra và cho phép tôi cất cánh bay trở lại Brêgôvô vì đây là trường hợp đặc biệt.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #112 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2016, 08:31:30 am »

        Dưới cánh bay của tôi một lần nứa lại hiện ra thành phố quen thuộc đến đau khổ. Tôi lượn tìm ngôi nhà mà tôi từng sống ở đó, thắt hai vòng mặt bằng, lắc cánh và về hạ cánh. Tôi tiếp đất, chui ra khỏi buồng lái thì đã thấy Mirôslava và cậu em trai đang hối hả chạy đến phía tôi. Cô ta nói những câu gì đó rất nhanh, nói liên hồi, còn tôi thì không hiểu mô tê gì cả. Nhưng rồi cô ta củng trấn tĩnh lại được, và chúng tôi cùng đi về nhà. Bố mẹ đã lấy lại được tinh thần, đón chúng tôi ngoài ngưỡng cửa.

        Số mệnh đã tùy tiện gửi cho tôi cả sự thử thách thế này đây! Tôi cũng đâu phải là sắt đá. Sự quyến luyến chân tình và nồng thắm của con người như thế không thể không làm cho mình xáo động và kêu gọi những cảm tình đáp lại. Nó đòi hỏi tôi phải cố gắng rất nhiều để không bị khuất phục. Bố, mẹ đâ nhận ra được điều ấy và càng quý trọng tôi hơn.

        Chúng tôi ngồi với nhau cho đến tận khuya. Ai củng hiểu rằng đây là buổi gặp gỡ cuối cùng. Mỗi giờ phút trôi qua, tất cả lại càng buổn hơn và buồn hơn.

        Ban mai đem lại cho chúng tôi buổi giã từ nặng nề. Tất cả gia đình cùng ra sân bay tiễn tôi. Tôi hôn bố mẹ, ôm Mirôslava, bắt tay cậu em trai của cô ta, và cất cánh. Sau khi làm hai chiếc khoan thẳng đứng từ biệt trên đầu họ, tôi vĩnh viễn mất hút vào đường chân trời.

        Chiến tranh - điều ấy, trừ tất cả những cái khác ra, còn lại đều là những cuộc chia ly buồn bã nhất, nặng nề nhất...

        Hình như, hồi ấy - những cuộc chia tay tương tự như vậy cũng không phải là hiếm. Bởi vì, qua đến 30 năm sau chúng vẫn cho hiểu về mình bằng những cách bất ngờ nhất. Trong lúc viết chương này, tôi đã bắt gặp lá thư gửi từ Bungari đăng trên báo "Tuần lễ" từ ngày 29 tháng giêng đến mồng 4 tháng 2 năm 1973 làm cho tôi bồi hồi đến cùng cực. Nhan đề là "Hãy trả lời đi! Nhicôlai!". Nhan đề ấy như bóp chặt trái tim tôi lại - vì tôi củng là Nhicôlai và cũng đã từng ở Bungari, nhưng nội dung bài báo đã nói về người trùng tên với tôi, về người bạn chiến đấu của chúng ta. Tôi không kìm nổi sự quyến rủ, đọc hết bức thư ấy. Maria Xivriepva từ Xôphia đã viết cho tờ "Tuần lễ" như sau:

        "... Rất nhiều, rất nhiều năm tôi đã giữ những kỷ niệm về một người lính Xô viết - người giáo viên dạy văn. Những kỷ niệm ấy đều trong sáng và đáng yêu. Có thể, điều ấy là nực cười với cái tuổi 50 của tôi, nhưng bây giờ đây tôi vẫn muốn chia sẻ với anh ấy mọi ý nghĩ về cuộc sống, về tình hữu nghị cảm động giữa các dân tộc chúng ta, về con cái chúng ta, về thơ ca". Maria còn gửi kèm theo lời nhắn gọi của mình với bức thư cho Nhicôlai.

        "Anh còn nhớ không, Nhicôlai. Chúng ta đã quen nhau trong thành phố Liascôvet. Đấy là mùa thu năm 1944. Một cuộc gặp gở tình cờ giữa một người con gái Bungarì và một người lính từ Liên Xô đến...

        Chúng ta đã đi vòng rất lâu theo những con đường để đến được nhà ga, và đả chờ xe lửa rõ là lâu, nhưng chuyện tìm lời nói để giải thích lại còn lâu hơn nữa. Em sống thật khó khăn. Sau đó em trở lại Xôphia và đã nhớ lại tất cả, tửng chi tiết một.

        Rồi lá thư đầu tiên của anh tới. Em đọc đi đọc lại không biết đến bao nhiêu lần! Anh còn nhớ chuyện chúng minh tranh cãi về Gòniera chứ? Và sau đó là lá thư cuối củng của anh gửi tử ngoài chiến trường về mà anh đã viết là anh rất nhớ em và luôn nâng niu gìn giữ tấm ảnh của em. Rồi tất cả kết thúc ở đấy. Em không muốn nghi rằng anh đã mất. Hãy trả lời đi anh, Nhicôlai, nếu như anh còn sống. Biết bao nhiêu năm qua đi rồi, không còn phải sợ khi nhớ lại những gi đã qua nữa, và chúng ta có thể kể lại cho con cái (biết đâu lại chẳng là cháu chắt) của chúng ta chuyện chiến tranh đã dẫn dắt chúng ta đến gặp nhau chớp nhoáng và chia cách chúng ta ra làm sao".


        Khi đọc những dòng ấy, bao nhiêu lần tôi thấy nghẹn ở cổ. Tôi có cảm tưởng rằng, chính Mirôslava đang tâm sự với tôi qua bao nhiêu năm tháng, qua bao nhiêu xa cách. Chắc hẳn, chẳng phải chỉ riêng tôi có biết bao nhiêu thư từ đã gợi lại cả một thời trẻ trung của chúng tôi trong chiến tranh với những cuộc gặp gỡ trong sáng, cảm động như vậy.

        Chúng không kết thúc bằng cái gì cả, nhưng đã đọng lại trong ký ức suốt cuộc đời mình như một người làm chứng cho mối tình nồng thắm giữa nhân dân Bungari với những người chiến sĩ Xô Viết - những người giải phóng của mình...

        Đất nước Bungari tuyệt đẹp. Nhưng nghĩa vụ còn gọi chúng tôi đi tiếp, dẫn chúng tôi đến Nam Tư.

        Qua Rumani và Bungari, chúng tôi có được biết bao bạn bè mới chân thành, tin cẩn, nhận thức được niềm vui quan hệ với mọi người được giải phóng hoàn toàn khỏi ách nô lệ của bọn phát xít.

        Con đường chiến đấu vẫn còn tiếp diễn. Và cũng như trước kia, chẳng một ai có thể hiểu được nó sẽ hứa hẹn gì cho từng người trong số chúng tôi và chúng tôi còn phải chuẩn bị đón nhận những thử thách gì thêm nữa.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #113 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2016, 08:34:55 am »

       
Chương X

ĐƯỜNG ĐẾN RENGRAT

        Nam Tư... Trong tôi đã có những mường tượng thật lãng mạn về nó. Và nó đúng như vậy thật. Sự lãng mạn giữ được ngay cả khi chúng tôi đi qua đất nước ấy suốt từ đầu này tới đầu kia cùng với những trận chiến đấu ác liệt, giải phóng Bengrat, làm quen với nhân dân Nam Tư anh dũng và yêu tự do.

        Tại đây, một lần nữa chúng tôi lại được học những bài học về địa lý và lịch sử, bổ sung cho những kiến thức của mình về một quốc gia được thành lập từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, vào năm 1918 gồm vương quốc Xecbia cùng với một phần lớn lãnh thổ của Makeđônhia và cả Chernôgoiria, các tỉnh Vônvôđina, Xlôvenhia, Khorvatia, Đanmasia, Xlavônhia, Bôxnhia và Gersegôvina.

        Cái tên gọi nghe thật du dương, tươi sáng! Núi chiếm đến 2/3 diện tích đất nước. Và núi mới ghê làm sao! Nhìn chúng mãi mà không hề chán mắt. Từ độ cao chúng tôi đang bay, nhìn chung, không tìm được ngôn từ nào để tả nổi chúng - chỉ thấy cần phải nhìn ngắm mà thôi.

        Sân bay đầu tiên của Nam Tư khi chúng tôi xuống hạ cánh ở đấy hoàn toàn không hề có tý trang thiết bị nào, vậy mà chúng tôi vẫn phải đóng quân cho tới tận bây giờ.

        Bạn cứ tưởng tượng đấy là một hòn đảo với chiều dài chừng 12 km, rộng chừng 4 km nầm ở giữa Đunai có một cánh đồng cỏ tuyệt diệu và một làng thôn nhỏ.

        Hòn đảo ấy thủ trưởng V.A.Xeđes của chúng tôi đã phát hiện ra đầu tiên khi bay ở trên trời. Tình thế đặt ra yêu cầu là những trung đoàn không quân cần phải đóng quân sao cho thật gần với tuyến trước. Không còn tìm được vị trí nào đẹp hơn thế nữa, nhưng lại không biết những ai đang sống ở trên đảo, rồi điều kiện cất hạ cánh và đóng quân ra làm sao.

        Thế rồi thủ trưởng bất ngờ xuất hiện ở Brêgôvô của chúng tôi. Đồng chí phái một biên đội 4 chiếc do thiếu tá Krapsôp dẫn đầu đến trinh sát hòn đảo ấy.

        Sau vài phút đồng hồ, Michia đã đến trên đảo. Đồng chí quyết định xuống hạ cánh một mình, số còn lại sẽ bảo vệ đồng chí ấy từ trên không, nếu thấy có gì xảy ra sẽ bắt đầu bắn phá.

        Chọn được bãi hạ cánh tốt nhất, đồng chí làm vòng lượn và xuống hạ cánh. Vừa tắt máy xong - thì từ khắp các ngả đường mọi người đã ùn ùn kéo tới, nhiều người còn mang theo cả súng trường. Họ là ai nhỉ? Xử lý thế nào đây? Krapsôp chưa kịp phân tích tình hình thì đã bị bao vây tứ phía. Tất cả đều nở những nụ cười thiện cảm, mời đồng chí ấy xuống đất. Rõ ràng, đây là người đằng mình rồi. Thôi đành vậy, muốn ra sao thì ra vì bây giờ cất cánh cũng chẳng được nữa - xung quanh toàn người là người.

        Đồng chí ngước nhìn lên trời - các máy bay tiêm kích vẫn quần đảo ở trên đầu. Thôi được, đành vậy. Michia mở nắp buồng lái, nhẹ nhàng nhảy xuống cánh máy bay, thế rồi ngay lập tức thấy người bay bổng lên - mọi người vui mừng, sôi nổi vừa ôm tung anh ấy, vừa hô to:

        - Người anh em Xlavơ muôn năm! Hồng quân muôn năm!

        Những người Nam Tư đã tiếp đón người phi công Xô viết đầu tiên trên mảnh đất của mình như vậy đó.

        Họ tung đồng chí rất lâu, sau đó cẩn thận đặt đồng chí xuống đất và ôm lấy đồng chí. Một em bé gái chen lách giữa những người lớn đến cầm lấy tay Michia hôn. Người phi công từng trải qua bao trận chiến đấu khốc liệt của chúng ta đã không kìm nén được, giàn giụa nước mắt. Đồng chí cầm tay cô bé, giữ cho tới khi phải cất cánh, để rồi toàn trung đoàn sẽ trở lại hòn đảo mến khách này vào ngày sau.

        Trong vòng ba năm rưỡi - Nam Tư phải nằm dưới gót giày của bọn phát xít. Và ba năm rưỡi ấy đất dưới chân bọn Hítle đã bốc cháy. Ngọn lửa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc bùng cháy ngày qua ngày. Khi quân đội của chúng ta tiến tới biên giới Nam Tư thì một phần lớn lãnh thổ đã nằm dưới quyền kiểm soát của giải phóng quân nhân dân rồi.

        Phong trào giải phóng của Nam Tư - là trang sử vẻ vang trong cuộc đấu tranh của đất nước anh dúng này. Một trong số những đồng hương của tôi - Bôrit Tikhônôvich Calinkin - người lái phụ của chiếc máy bay vận tải, bằng ý chí của số mệnh đã từng được tham gia vào trang sử giàu chiến công ấy.

        Sự việc như sau:

        Mùa Xuân năm 1944, bộ chỉ huy Hítle quyết định giáng trả đòn quyết liệt vào giải phóng quân nhân dân và các đơn vị du kích, nhằm rảnh tay ở Bancăng để rồi thu thập quân dự bị chuyển cho mặt trận phía Đông.

        Ngày 25 tháng 5, đội quân dù của phát xít đổ bộ vào vùng thành phố Đơrơvara với nhiệm vụ đánh vào Bộ Tổng tư lệnh quân đội Nam Tư.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #114 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2016, 08:59:07 pm »

        Bọn Đức chiếm được thành phố, nhưng các ủy viên của Bộ Tổng Tư lệnh và Chính phủ Nam Tư đã kịp rút vào núi. Bọn Hítle truy lùng theo dấu vết của họ. Bấy giờ có quyết định phải sơ tán cơ quan lãnh đạo của Nam Tư đến một địa điểm an toàn.

        Nhiệm vụ vô cùng quan trọng này được trao cho một tổ bay vận tải thuộc nhóm không quân đặc nhiệm dẫn đầu là thiếu tá A.X.Sornhicôp thực hiện.

        Đêm mồng 3 rạng ngày mồng 4 tháng 6 năm 1944, các phi công Sornhicôp và Calinkin đã bay qua biển Ađriatichescôie và dãy núi Đinaski, xuyên qua mưa mủ, vượt qua hệ thống hỏa lực phòng không của Đức, hạ cánh trên một bãi đất hẹp ở trong núi, chở 20 người trong đó có cả nguyên soái Titô, các cán bộ lãnh đạo của phái đoàn liên minh quân sự về Bari (Malia), hạ cánh an toàn trên một căn cứ không quân của ta, thành lập theo hiệp ước với đồng minh.

        Vì lòng dũng cảm và chủ nghĩa anh hùng biểu lộ trong khi hoàn thành nhiệm vụ đặc biệt quan trọng này, A.X.Sornhicôp và B.T.Calinkin đã được tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô và Anh hùng nhân dân Nam Tư.

        Đảo Temixêzigit - nơi mà chúng tôi xuống đầu tiên, rồi tiếp theo là trung đoàn không quân tiêm kích số 659 và trung đoàn không quân oanh tạc số 951 đã thuộc về vùng đất mà từ rất lâu nay người dân Nam Tư không hề thấy bóng dáng của bọn phát xít Hítle. Thực ra, bọn phát xít đã ở rất gần, nhưng những người dân của đảo cam đoan rằng: bọn xâm lược không bao giờ dám ló mặt ra. Điều ấy củng có thể tin được vì mỗi người dân của đảo đều có súng máy, súng trường hoặc súng ngắn.

        Sống trên đảo chủ yếu là người xứ Secbi. Hình như bảng chữ cái của họ và của chúng ta giống nhau thì phải. Thế là, một lần nửa chúng tôi lại được sống giữa những người anh em, từng bước đi một đều cảm nhận thấy điều ấy. Cần phải dọn quang hết các bụi cây, các cành cây khô để làm sạch đường cất hạ cánh. Những người chủ đảo đã làm tất cả, không hề cho chúng tôi đụng đến chiếc xẻng và rìu nào.

        Chúng tôi phải tổ chức canh gác bảo vệ máy bay lần đầu tiên trong suốt cuộc chiến tranh được xếp thành một hàng dài (bởi chiều rộng đường cất hạ cánh đã phát sạch không cho phép xếp theo cách khác). Các chủ nhân của đảo cũng thành lập trạm tuần tra đặt cạnh chỗ chúng tôi trực, chỉ khác là chúng tôi có bốn người đứng trực liên tục thì họ có một nhóm khoảng 60 người đi tuần tra vòng quanh sân đỗ. Lại còn có biết bao nhiêu cuộc tranh cãi khi phân phối chỗ ở cho bộ đội nữa! Đầu tiên, cứ mỗi nhà chúng tôi sắp xếp bốn người vào ở cùng, thế là những người Xecbi đến chỗ Onuphriencô làm ầm lên, đòi cho kỳ được gia đình nào củng phải có một đồng chí đến ở. Cuối cùng là mỗi chủ hộ chọn cho mình một người cố định. Chỉ có các phi đội trưởng: Iacubôpski, Krapsôp và tôi là được ở chung một chỗ với nhau trong nhà một người Xecbi già mà thôi.

        Đêm đầu tiên trên đất Nam Tư đã đến. Để đề phòng mọi chuyện bất trắc, chúng tôi đề nghị những người Xecbi đi trinh sát động tĩnh của bọn Hítle. Một số người lập tức lên đường. Sau khoảng 2 tiếng đồng hồ, họ quay về báo cáo rằng tất cả vẫn đâu vào đấy, bọn phát xít hình như chưa hề có ý nghi ngờ là không quân Xô viết lại ở gần chúng đến như vậy.

        Sau bữa ăn tối, khi nói chuyện với chủ nhà, chúng tôi mới biết rằng người chủ gia đình này nói tiếng Nga rất thạo. Ngay từ hồi chiến tranh thế giới lần thứ nhất, ông ta đã bị bát làm tù binh và sống ở vùng Tavria khoảng năm năm.

        ... Trên đảo - mùa thu của Nam Tư thật tuyệt diệu- thắm rực màu xanh và vàng. Núi xung quanh cũng hệt như vậy. Không khí trong lành tràn về. Giờ đang là ngày nắng nhưng lại có cảm giác như sắp mưa. Tôi chợt nhớ đến mùa thu của Axtrakhan - mùa thu ở đó khô hanh, đôi khi còn oi bức nửa.

        Thời tiết tốt - là người đồng minh đáng tin cậy của chúng tôi. Chúng tôi đóng quân chỉ cách Bengrat có 50 km. Cấp trên đòi hỏi ở chúng tôi phải có những tin tức trinh sát mới nhất - chúng tôi đang ở vào giai đoạn trước ngày giải phóng thủ đô Nam Tư.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #115 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2016, 09:00:34 pm »

        Chúng tôi không đủ dầu bay. Lực lượng vận chuyển hậu cần gặp phải những đống tuyết chất trên các nẻo đường núi nên đi rất chậm. Chúng tôi khác phục khó khăn ấy bằng cách tháo dầu của những máy bay ít hoạt động dồn sang cho những chiếc thường xuyên đi làm nhiệm vụ. Rồi dầu cũng gần cạn hết, trong khi đó một số đơn vị tiền trạm của chúng ta đã tiến hành những cuộc chiến đấu trên đường phố của ngoại ô Bengrat rồi. Làm thế nào bây giờ đây?

        Onuphriencô phái một phi công bay qua Đunai sang phía Bắc trinh sát xem ở đó có sân bay nào không. Đồng chí quay về báo cáo: cách Ben - Sơrơkva không xa lâm phát hiện thấy có một đơn vị nào đó đang hành quân. Theo cách các xe chở xăng thì đoán là tiểu đoàn hậu cần của sân bay. Chúng tôi liền cử người sang đó. Đúng là tiểu đoàn của Pakhinlô thật. Liệu đồng chí ấy có ứng cứu được cho những người bạn chiến đấu cũ hay không? Một xe xăng được chở đến bờ sông Đunai, sau đó theo đường sống - về đảo.

        Một xe xăng cho một trung đoàn bay - đấy đúng là những giọt nước mắt. Chúng tôi cử người đi báo tin thượng khẩn khắp các nơi, đồng thời vừa tiết kiệm xăng, vừa bay vào vùng Bengrat. Người đạt kỷ lục tiết kiệm xăng nhất là Vaxili Calasônnôc. Tôi không hiểu cậu ta làm thế nào, nhưng khi bay làm nhiệm vụ xong, quay về thì dầu ở trong các thùng của cậu ấy bao giờ củng còn nhiều hơn so với những người khác. Chắc là, chàng trai Bạch Nga thông minh này đã quán triệt một cách triệt để phương châm - dự trữ dầu liệu - đó là sự đảm bảo cho việc hoàn thành nhiệm vụ.

        Số lượng xuất kích chiến đấu ngày càng tăng. Chúng tôi như sống trong một rừng các sự cố - chúng tôi phải đi làm rất nhiều nhiệm vụ khác nhau. Không quân Đức thời điểm ấy hoạt động còn ít nên thủ trưởng V.A.Xuđes quyết định cho chúng tôi đi đánh cả các mục tiêu mặt đất vì những đoàn khí tài của địch đang vận chuyển theo các tuyến đường sắt, đường ô tô, đường núi và đường sông.

        Phải tiêu diệt chúng cho kỳ được! Không được để cho chúng lọt vào Bengrat!

        Chúng tôi tính đi tính lại các cơ số đạn dược, cố gắng không bắn phí phạm khi công kích, đồng thời cũng băn khoăn: không biết bộ phận hậu cần ở đâu? Cứ cho là tiểu đoàn đến được chỗ chúng tôi rất khó khăn đi, nhưng còn có phương pháp có thể vận chuyển nhiên liệu và đạn dược bằng đường không nữa chứ. Chắc là chúng tôi chưa biết được những khó khăn, những tình thế đang gặp phải đấy thôi. Chúng tôi hoàn toàn sửng sốt khi nhận được cú điện thoại từ Quân đoàn réo gọi, nói về vấn đề chiếc xe xăng mà Pakhinlô đã nhượng bộ cho chúng tôi. Họ cho Onuphriencô biết là đồng chí đã chơi kiểu du kích và điều ấy sẽ dẫn đến những chuyện rất phức tạp vì cấp trên đã nhận được báo cáo rồi. Grigôri Đênhixôvich đã phát khùng.

        - Thì đã sao, chẳng lẽ lại chịu bó tay ngồi chờ cho đến khi có một ai đó sẽ suy nghĩ về chúng tôi ư? - đồng chí phẫn nộ - và nhìn chung, làm sao mà cấp trên lại biết được chuyện xe xăng ấy? Không lẽ lại tự Pakhinlô đi báo cáo chuyện ấy à?

        Pakhinlô không thể làm như thế được - điều ấy chúng tôi biết chính xác. Nói trắng ra, thông báo về cái gì được chứ - có biết đến bao nhiêu xe xăng như vậy bị vỡ, bị thủng phải nằm lại trên khắp các nẻo đường của chiến tranh! Tất cả mọi chuyện là ở chỗ phải đánh giá sự việc ấy trên quan điểm nào. Cũng có thể được khen là nhanh nhạy, có sáng kiến, củng có thể bị quy vào tội là làm ăn theo kiểu du kích, quấy rối đầu óc trung đoàn trưởng.

        Chuyện xe xăng bị tan biến đi không còn ai nhớ tới nữa khi tiểu đoàn của chúng tôi xuất hiện. Tất cả lại đâu vào đấy ngay, chúng tôi lại ngập mình trong công việc chiến đấu. Thời gian ấy còn có bản hiệu triệu thật đáng nhớ, trong đó có đoạn viết:

        "... Đồng chí ạ, nhiệm vụ của đồng chí bây giờ là phải tóm gọn nhóm tàn quân phát xít đã bị đánh tan tành ở Rumani và Bungari đang rút chạy theo các ngả đường của đất nước Nam Tư, đồng thời truy kích những bọn ở Hy Lạp, Anbani và cả những bọn ở ngay Nam Tư định rút chạy về Đức nữa...".

        Chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ ấy với sự hy sinh quên mình. Trên các nẻo đường núi, những xe tăng, những pháo tự hành, những xe bọc thép, những ô tô của địch đã bị bốc cháy bởi các loạt đạn chính xác bắn từ các máy bay tiêm kích và máy bay oanh tạc của chúng ta.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #116 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2016, 09:03:06 pm »

        Kẻ địch củng chống cự lại kịch liệt, ở khu vực Xcôple, bọn lính cao xạ đã bắn trúng máy bay của trung úy Mikhain Antipôp - trung đội trưởng bay trung đoàn không quân oanh tạc số 707. Đồng chí phải hạ cánh bắt buộc. Bọn phát xít chạy bổ đến chiếc oanh tạc, nhưng số 2 - tổ trưởng Đảng của phi đội - thiếu úy Gheorgi Đôrôkhôp đã không để cho chỉ huy của mình bị lâm nạn. Đồng chí hạ cánh gần chiếc máy bay bị thương, chui ra khỏi buồng lái và gọi to:

        - Đồng chí trung úy hãy vào ngồi sau cần lái, tôi với xạ thủ sẽ ở buồng lái sau.

        Trong nháy mắt, tất cả mọi người đã ngồi vào các vị trí của mình. Antipôp tăng hết cửa dầu nhưng máy bay không hề nhúc nhích vì bánh ngập lún trong bùn.

        Sau khi nhảy ra khỏi buồng lái, Antipôp ra lệnh:

        - Chuẩn bị chiến đấu!

        Họ tổ chức phòng thủ kiểu vòng tròn. Lúc đó có hai chiếc tiêm kích của chúng ta xuất hiện. Đó là Alêchxăngđơrơ Cônđunôp và Vichto Xtêpannôp bay trên những chiếc ấy. Họ đi trinh sát về, quan sát mọi tình huống dưới mặt đất, thấy các máy bay oanh tạc của ta ở đó, nhanh chóng đánh giá tình hình và lao xuống tấn công. Bằng hỏa lực của mình, các tiêm kích đã ghìm chặt bọn Hítle xuống đất. Tổ lái máy bay oanh tạc lợi dụng cơ hội ấy, dùng hết sức đẩy được máy bay lên trên đường, một lần nữa ai lại về chỗ nấy và cất cánh.

        Khi tôi nhớ đến khoảng thời gian này, trong ký ức thế nào cũng lại vang lên những câu thơ:

                             "Cuộc đời phi công chúng ta là thế đó
                             Một nguyên tắc xưa nay đã có
                             Tiêu diệt kẻ thù - công trạng rất cao
                             Cứu đồng chí mình - còn vinh dự biết bao!"


        Bạn hữu ở ngoài mặt trận - không những chỉ là người sát cánh với mình, ngày ngày gặp nhau, cùng bay với nhau. Ở đó, đấy là những người cầm súng trong tay cùng chiến đấu chống kẻ thù chung. Trong tình tiết vừa mô tả - Đôrôkhôp đã cứu chỉ huy của mình. Còn về phần Cônđunôp và Xtêpannôp thì cả Cônđunôp lẫn Xtêpannôp đã bao giờ được gặp họ và cũng có biết tý gì về họ đâu. Nhưng tất cả đã hành động theo một điều luật bất thành văn là: hãy hy sinh thân mình để cứu đồng đội.

        Sức mạnh đoàn kết chiến đấu, tình đồng chí chiến đấu trong chiến tranh quả là vĩ đại và vô giá, bởi vì: mình luôn luôn tin rằng mình sẽ không bị cô độc trong tai họa, dứt khoát rồi đồng đội sẽ đến cứu giúp mình, và mình sẽ được cứu thoát. Điều ấy là niềm động viên rất lớn trong chiến đấu...

        Vào thời đó đã nảy sinh tình đoàn kết chiến đấu giữa bộ đội của quân đội Xô viết với những người anh em cùng giai cấp ở Rumani, Bungari, Nam Tư. Nó đã được củng cố trong những trận hiệp đồng chiến đấu, được gây dựng nền tảng cho thành trì của hòa bình tương lai và chủ nghĩa xã hội ở châu Âu - khối liên minh không gì lay chuyển nổi của các lực lượng vũ trang các nước anh em.

        Vào đầu tháng 10, quân đội Nam Tư và Bungari theo kế hoạch chung của Bộ chỉ huy Xô viết đã chuyển sang tấn công ở hướng Nhis - Lexcôvas, Xcôple - Vêles. Các phi công của quân đoàn chúng tôi yểm hộ họ rất tích cực. Đây là chiến dịch hiệp đồng đầu tiên trên lãnh thổ Nam Tư. Nó kết thúc bằng sự tiêu diệt hoàn toàn lực lượng chiến đấu của kẻ thù và giải phóng một phần lớn đất đai.

        Bước ngoặt của các sự kiện lớn lao như vậy không thể không làm cho chúng tôi hoan hỷ: những người anh em cùng chiến hào đã chia sẻ gánh nặng chiến tranh cùng với chúng ta, đả giúp đỡ quân đội của chúng ta hành tiến trong các trận đánh từ Vonga tới Đunai. Có thể nói rằng: bằng sự nỗ lực chung, trên thực tế - binh đoàn phát xít "Xecbi" đã bị xóa sổ.

        Chủ nghĩa quốc tế vô sản đã tìm được máu mủ ruột thịt, đã trở thành một lực lượng có khả năng tiêu diệt bất kỳ kẻ thù nào.

        Đúng vậy, tất cả chúng tôi đã nhận được ở nơi đây bài học giáo huấn rõ rệt nhất của Chủ nghĩa quốc tế vô sản, thấm sâu vào trí óc: một khi đã thống nhất được các hành động thì tất cả các dân tộc châu Âu chẳng còn phải sợ kẻ thù nào hết, họ mãi mãi có thể bảo vệ được nền tự do, gìn giữ được hòa bình và hạnh phúc của mình.

        Tất nhiên, vào thời điểm ấy, chúng tôi chưa thể hiểu nổi việc tất cả sẽ hình thành ra sao sau khi chiến thắng chủ nghĩa phát xít, nhưng chiến tranh đã mở ra cho chúng tôi thấy những nguồn gốc hùng mạnh của tình đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau và tình yêu giữa những người chiến binh chúng ta với những người dân bình thường của các nước được giải phóng, mà bọn tội phạm của loài người đã từng muốn đốn chặt nó. Chúng tôi hiểu rất sâu sắc điều ấy. Và có lẽ cũng chẳng riêng chúng tôi. Cùng với chúng tôi còn có những người bạn mới, như những người dân lương thiện, như những ai đang cầm súng trong tay chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng Tổ quốc mình đều hiểu cả.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #117 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2016, 09:05:06 pm »

        Trong vòng tháng 10 đã nổ ra những trận chiến đấu quyết liệt nhầm giải phóng Bengrat. Quân đoàn bộ binh cơ giới số 4 của tướng V.I.Giơđanôp cùng Quân đoàn số 1 và 12 giải phóng quân nhân dân Nam Tư đã giáng đòn chí mạng vào kẻ địch.

        Những ngày ấy, chúng tôi xuất kích liên tục, hết chuyến nọ đến chuyến kia, hầu như không nghỉ ngơi, chủ yếu là đi bắn phá. Chúng tôi nhận được lệnh phải hành động thật thận trọng và dè dặt để bảo vệ thành phố và dân lành. Những điều ấy đòi hỏi chúng tôi phải có sự chính xác đặc biệt.

        Xuất hiện nhiều phi công xuất sắc trong chiến đấu, đặc biệt là phi đội của Iacubôpski - đã xóa sổ một khối lượng lớn những vũ khí khí tài của địch trong chiến dịch này. Trung đoàn đã ra tờ báo tường ngoài chỗ trực chiến với nội dung: "Chúc mừng nhóm của Iacubôpski đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ chiến đấu!". Phi đội tôi cũng có những phi công xuất sắc như Kiriliuc, Calasônnôc, Gorcôp, Kixliacôp cùng nhiều đồng chí khác nửa. Đôi khi, tôi phải sửng sốt về những chuyến xuất kích liên tục, không hề biết mệt mỏi của họ.

        Bôrit Kixliacôp đã lập được thành tích chiến đấu ở gần Bengrat - đồng chí ấy bắn rơi chiếc FV-190. Niềm vui chiến thắng đầu tiên đá làm cậu ta xúc động tới mức không thể nhận ra được là đang tách khỏi đội hình, sau đó bay hết sạch cả dầu và phải hạ cánh bắt buộc.

        Mãi tới tận chiều, chúng tôi mới biết được những gì đã xảy ra với cậu ấy và cậu ấy đang ở đâu. Chúng tôi có một chiếc máy bay chiến lợi phẩm "Ikar". Tôi thường bay trên chiếc ấy. Chở theo hai bình khí nén, ba thùng xăng, tôi bay đi ứng cứu. Máy bay "Ikar" này có một đặc điểm ngược đời: để tăng vòng quay động cơ thì cửa dầu cần phải kéo về phía mình chứ không phải là đẩy về phía trước như các máy bay thông thường. Tôi đã làm quen với cái đó rất nhanh. Nhưng thử thách đặc biệt lại đến với tôi lúc tôi xuống hạ cánh. Trên đường lao xuống, trước mặt tôi bỗng xuất hiện những đường dây điện thoại mà tôi hoàn toàn không ngờ tới. Theo thói quen, tôi đẩy cửa dầu về phía trước để giật máy bay lên phía trên, nhưng thật báo hại, máy bay lại ngụp xuống dưới dây điện và tiếp đất đánh uỵch. Tôi với Bôrit nạp xăng cho máy bay xong, cùng cất cánh, về đến trung đoàn, cậu ấy hăng hái kể lại: "Anh em biết không, đồng chí chỉ huy của chúng tá cừ khôi chẳng kém gì Trcalôp, khi phát hiện thấy những đường dây điện, đồng chí cho máy bay chui ngay xuống dưới nó, về hạ cánh xong béng!". Còn tôi thì ngẫm nghĩ với nỗi hãi hùng, tôi đã vô cùng may mán: chỉ chút xíu nửa thôi thì đâu còn tính mạng tôi.

        Chúng tôi chúc mừng Bôrit với thành tích bắn rơi chiếc "Phôcker - Vunphơ" đầu tiên và cũng chúc cậu ta sẽ không bao giờ lạc đường nữa. Một ngày sau đó, tôi cũng được mọi người chúc mừng nhân dịp bắn rơi chiếc máy bay thứ 23. Bấy giờ tôi không thể tưởng tượng được là đến cuối cuộc chiến tranh số lượng máy bay địch bị tôi bắn rơi lại tăng lên nhiều đến vậy.

        Trong những ngày ấy, lần đầu tiên chúng tôi được nghe kể về những hành động dũng cảm của binh đoàn không quân do đại tá A.N.Vitriuc - Anh hùng Liên Xô chỉ huy. Binh đoàn được biên chế bổ sung, tăng cường cho giải phóng quân nhân dân Nam Tư. Ngoài nhiệm vụ tham gia chiến đấu, binh đoàn còn tổ chức huấn luyện, đào tạo các phi công cho Nam Tư nữa. Người ta thường truyền tụng rằng: những người lính bay của Vitriuc xuất hiện ở đâu, thì ở đó bọn địch không có chỗ dung thân, kể cả ở trên không lẫn ở dưới mặt đất.

        Sau khi giải phóng Bengrat, A.N.Vitriuc được trao tặng danh hiệu Anh hùng nhân dân Nam Tư. về sau này đồng chí đã hy sinh và được mai táng trên Đồi Vinh Quang cạnh tượng đài Người lính Vô danh ở thành phố Kiep.

        Đảng viên - phi công gan dạ của trung đoàn không quân oanh tạc số 672 - thiếu úy V.X.Xerêghin cũng là người nổi tiếng và đã được tặng thưởng danh hiệu cao quý - Anh hùng Liên Xô. Sau chiến tranh nhiều năm, khi đồng chí mất, đồng chí đã được mai táng ở cạnh bức tường của điện Cremli cùng với người phi công vũ trụ đầu tiên của thế giới: Iuri Alêchxâyêvich Gagarin.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #118 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2016, 09:06:20 pm »

        ... Lần lượt, từ nhà nọ sang nhà kia, phố nọ tiếp phố kia, dãy nhà này nối dãy nhà khác đã được quân đội Xô viết và Nam Tư quét sạch bọn phát xít. Bọn Hítle chống cự lại quyết liệt, đến chiều ngày 17 tháng 10, binh đoàn "Vitman" của chúng đã chuyển sang phản công, định chiếm lại vùng núi Avan để làm bàn đạp cho tất cả các lực lượng của mình phá vỡ phòng tuyến sang phía Tây.

        Chúng tôi nhận được lệnh phải chặn đứng đợt phản công của địch bằng những trận oanh kích từ trên không. V.A.Xuđes đã đến sở chỉ huy Quân đoàn bộ binh cơ giới cận. vệ số 4, và chẳng bao lâu, trên chiến trường, không quân của chúng ta đã xuất hiện. Những đòn giáng ồ ạt và có tính quyết định đã làm tê liệt bọn Hítle và phá tan đội hình của chúng. Binh đoàn của địch đang bị vây hãm định thực hiện mưu đồ táo bạo - vọt ra sông Xava, vượt sang bờ bên trái, nhưng những máy bay oanh tạc cùng các máy bay tiêm kích hiệp đồng chặt chẽ với lực lượng bộ binh của chúng ta đã phá tan ý đồ ấy.

        Đến tận bây giờ tôi củng vẫn còn nhớ đợt oanh kích của phi đội oanh tạc do đại úy N.Platônnôp dẫn đầu đánh vào khu vực Zêmun. Những chiếc "Il" đã sáu lần vào công kích, bắn hết tất cả các cơ số đạn, nhưng họ vẫn chưa được phép thoát ly. Bộ Tư lệnh yêu cầu họ phải giả vờ công kích. Các máy bay chiếc nọ nối tiếp chiếc kia dữ dội lao vào bổ nhào cùng với những tiếng xé rít đinh tai choáng óc. Một lần, hai lần, rồi ba lần. Còn kéo dài đến bao giờ nửa? Cuối cùng thì bọn phát xít củng đoán được chiến thuật của chúng ta, chúng hồi tỉnh và bần như điên như dại. Bấy giờ Sở chi huy cũng lệnh cho thoát ly khỏi chiến cuộc. Vừa tách khỏi mục tiêu thì bọn "Metxer" xuất hiện. Chúng tôi củng phát hiện bọn chúng và thông báo cho đội hình oanh tạc biết điều ấy.

        Nhưng bọn "Metxer" lại không công kích, vì sao thế nhỉ? Có lẽ chúng cho rằng thời gian chúng tôi ở trên không đã khá lâu, dầu liệu chắc sáp cạn, chẳng cần đánh thì chúng tôi củng tự rơi. Bọn chúng đã lầm - chúng tôi xông ngay vào công kích và trong nháy mắt, một tên phát xít đã bị bắn rơi. Số còn lại vội vã tháo chạy thoát thân.

        Bình minh của ngày 20 tháng 10 đã đến. Nó bắt đầu bằng cuộc tấn công những thành lũy cuối cùng của bọn Hítle ở Bengrat - ngôi thành cổ Calemegơđan và kết thúc bầng cuộc gặp gỡ giữa Tư lệnh Quân đoàn bộ binh cơ giới cận vệ số 4 - trung tướng quân chủng xe tăng V.I.Giơđanôp với Tư lệnh binh đoàn giải phóng quân nhân dân Nam Tư số 1 - thượng tướng Pêcô Đapchêvich ngay trong thành cổ.

        Trong nỗi kinh hoàng, bọn địch tranh nhau vượt sông Xava bằng mọi phương tiện: cầu, thuyền, kể cả nhảy xuống bơi.

        Cần phải chiếm lấy cây cầu. Nhưng làm thế nào đây? V.I.Giơđanôp và V.A.Xuđes đã thảo ra phương án độc đáo và cho thực hiện ngay. Các máy bay oanh tạc của ta dưới sự yểm hộ của các máy bay tiêm kích quần đảo trên cầu và sân bay Zêmun. Họ bắt bọn pháo binh và bọn cao xạ địch phải câm họng, còn lực lượng bộ binh địch thì nằm bẹp như lú gián, không dám ngóc đầu lên khỏi mặt đất. Lập tức, những xe tăng của ta mở hết tốc lực xông vào, vượt qua cầu, mở trận chiến đấu bên thành phố Zêmun.

        Cố gắng giúp cho bộ đội bộ binh phát triển thắng lợi trận đánh, chúng tôi đã vạch ra kế hoạch như sau: phi đội 1 chỉ cần báo thoát ly là phi đội 2 vào chiến đấu ngay, tiếp đó là phi đội 3 cũng vậy. Bọn địch đã phải nằm dưới những làn đạn bắn không ngớt trong vòng gần một tiếng rưỡi đồng hồ. Bộ chỉ huy rất hài lòng về những hoạt động của chúng tôi.

        Chiều ngày 20 tháng 10, Bengrat đã được giải phóng. Kể từ đó, ngày ấy được đánh dấu như một ngày lịch sử trong cuộc đời của nhân dân Nam Tư. Sự tự do hằng chờ mong mà những người con ưu tú nhất của Nam Tư đã cống hiến cả cuộc đời mình cho nó cùng với biết bao chiến sĩ Xô viết đã ngã xuống vì nó đã đến với họ và đã được xác nhận.

        Thủ đô Nam Tư có một phố nhỏ yên tĩnh mà bất kỳ thời gian nào cũng được rải đầy hoa tươi. Nơi đó, những chiến sĩ Xô viết và Nam Tư đã vĩnh viễn nằm lại trong những trận chiến đấu giành lại Bengrat. Vào ngày 20 tháng 10 hàng năm, hàng nghìn người dân thủ đô đến đây để trịnh trọng đặt những vòng hoa lên các nấm mộ, tưởng niệm những người giải phóng của mình.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #119 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2016, 09:08:27 pm »

        Ngày 20 tháng 10! Nhớ về ngày ấy, người công nhân xây dựng Silôicô Marcôvich đã kể như thế này:

        - Tôi không bao giờ quên được ngày ấy. Khi những tiếng nổ ầm ầm đã dứt, tôi nóng lòng, không sao ngồi dưới nhà hầm được nửa, tôi vọt lên, ra ngoài phố. Và ở đó đã xảy ra chuyện mà tôi như không tin vào mầt mình: mọi người khóc vì sung sướng, đang bắt tay và ôm hôn những người lính đội mũ canô có gắn những ngôi sao đỏ.

        Đúng thật, những cuộc gặp gỡ như thế đã xảy ra trên khắp các đường phố của Bengrat. Mọi người, chẳng một ai muốn giấu giếm những tình cảm, những giọt nước mắt hạnh phúc của mình.

        ... Vì sự nghiệp giải phóng Bengrat, trên lá cờ của trung đoàn chúng tôi được gắn thêm chiếc Huân chương Bôgtan Khơmennhiski hạng hai cạnh chiếc Huân chương Cutudôp hạng ba. Phần thưởng ấy đã cổ vũ chúng tôi và kêu gọi chúng tôi phải lập tiếp những chiến công mới.

        Sau đó ba ngày, tôi với Kisliacôp cất cánh đi trinh sát phía cửa sông Đrava.

        Chúng tôi phát hiện thấy địch tập trung một số lượng lớn máy bay trên sân bay Vucôvar nằm ở phía cửa sông Đrava.

        Chúng tôi quay về nhà báo cáo. Ngày hôm sau, Onuphriencô giao nhiệm vụ cho tôi dẫn đầu toàn trung đoàn hướng đến Vucôvar. Đích thân đồng chí bay trong đội hình chiến đấu của phi đội tôi. Để giữ bí mật trong suốt chặng đường hành trình đến sân bay, chúng tôi không được phép sử dụng đối không. Nhưng những đám mây dày đặc đã gây trở ngại cho chúng tôi. Trung đoàn trưởng đã vi phạm quy định bí mật qua vô tuyến.

        - Xcômôrôc, chúng ta đi có đúng đường hành trình không đấy? - đồng chí ấy hỏi.

        - Đừng lo, bố Onuphri ạ, tất cả đều bình thường, - tôi trả lời.

        Chúng tôi hạ thấp độ cao, bay từ phía Đrava lại để công kích dọc theo sân đỗ máy bay. Theo sự tính toán của tôi thì bây giờ phải đến sân bay rồi.

        Onuphriencô lại hỏi:

        - Xcômôrôc, còn lâu nữa không?

        - Đến nơi rồi, đồng chí chỉ huy ạ, - tôi trả lời, nhưng bản thân củng bắt đầu thấy lo láng. Tôi kéo lên cao một chút và qua làn khói, tôi thấy lờ mờ bóng dáng của sân bay. Để tiếp cận bí mật, toàn trung đoàn giảm độ cao, bay cách mặt đất 50 m.

        Cách mục tiêu khoảng 3-5 km, chúng tôi nhanh chóng kéo lên lấy độ cao và thấy trên sân bay đầy rẫy những máy bay "Iunker", "Khâyken" và các loại máy bay khác nửa.

        Trận công kích của chúng tôi thật bất ngờ và kinh ngạc. Bọn phát xít không kịp bán một phát nào vào phi đội của chúng tôi, nhưng đến lượt phi đội 2 và phi đội 3 vào công kích thì chúng bắn như vãi đạn. Điều ấy chẳng giúp gì được chúng. Sau một thời gian dài không hề có một chiếc máy bay nào cất cánh được từ sân bay ấy. Đấy là trận đánh tập trung lần cuối cùng với quy mô trung đoàn của chúng tôi. Sau trận ấy, quy mô ấy không còn cần thiết nửa.

        Qua làn sóng điện, chúng tôi đã được nghe sắc lệnh của Chủ tịch đoàn Xô viết tối cao Liên Xô phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô cho các phi công. Trong số đó có cả phi đội trưởng phi đội 3 của chúng tôi - đại úy Pêtrơ Iacubôpski.

        Đồng chí đã xứng đáng với niềm vinh dự cao cả ấy. Đồng chí là một phi công tiêm kích xuất sắc, một người chỉ huy cừ khôi, một con người anh dũng, quả cảm. Chúng tôi thành thực chúc mừng đồng chí ấy, chúc đồng chí nâng nhanh số lượng máy bay bị đồng chí bắn rơi và thêm nhiều Huân chương chiến công.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM