Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:48:57 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Binh chế Đại Việt thế kỷ XI - XV  (Đọc 33006 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #20 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2016, 12:00:15 am »


        1.2. Cấm quân thời Trần

        Ngày 12 tháng Chạp năm Mậu Dần (1225), với sự kiện Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh, triều Trần thay thế triều Lý. Nhiều đại thần của triều đại mới vốn đã giữ những chức vụ quân sự quan trọng của triều Lý, như bố Trần Cảnh là Trần Thừa giữ chức Thái úy dưới đời Lý Chiêu Hoàng, Trần Thủ Độ đã từng là quan Điện Tiền chỉ huy sứ, quản Cấm quân, v.v... Cũng vì thế triều Trần đã kế thừa toàn bộ cơ cấu quân sự của triều Lý, kể cả tổ chức Cấm quân.

        Theo nguyên tắc tổ chức Thân quân, Cấm quân được coi trọng và phát triển. Vua với tư cách là một cá nhân đại diện cho cả bộ máy nhà nước, vua đồng nghĩa với nước; quân đội lúc đó cũng là quân của vua và vua trở thành thủ lĩnh quân sự tối cao. Khác với triều Lý, ở triều Trần, ngoài kinh đô Thăng Long cần được bảo vệ cẩn mật, còn có phủ Thiên Trường - nơi quê hương của họ Trần, chỗ ở của các Thượng hoàng được coi như kinh đô thứ hai cũng cần được bảo vệ. Do vậy, Cấm quân nhà Trần có trách nhiệm lớn hơn, càng phải mở rộng hơn để đảm nhận thêm nhiệm vụ bảo vệ Thượng hoàng và phủ Thiên Trường (Nam Định).

        Năm 1246, Trần Thái Tông định hiệu quân, chọn trai tráng sung làm quân Tứ Thiên, Tứ Thánh, Tứ Thần. Người ở các lộ Thiên Trường và Long Hưng cho làm quân Thiên Thuộc, Thiên Cương, Chương Thánh và Củng Thần. Người các lộ Hồng và Khoái sung làm quân Tả Thánh Dực và Hữu Thánh Dực. Người các lộ Trường Yên, Kiến Xương xung làm quân Thánh Dực và Thần Sách. Đinh tráng tuyển từ các lộ khác sung vào các vệ Cấm quân hoặc làm trạo nhi (lính chèo thuyền, khiêng kiệu) và các phong đội1 (Việt sử thông giám cương mục, Tập V. Nxb Văn Sử Địa, H.1958, tr. 13). Tứ Thiên, Tứ Thánh và Tứ Thần và quân Túc vệ, gồm 12 vệ quân. Nhà Trần nổi lên từ lộ Thiên Trường, cho nên lấy người bản lộ và những lộ phụ cận làm lính Túc vệ để bảo vệ vua và Thượng hoàng (Bảng 2).


        Năm Long Hưng thứ 16 (1298), Trần Anh Tông đặt các quân hiệu Chân Thượng đô, Thuỷ Dạ Soa đô và Chân Kim đô; thích chữ "Chân Kim" vào trán. Năm 1311, nhà vua đặt thêm quân hiệu mới gọi là Toàn Kim Cương và theo lệ trước, đều thích quân hiệu lên trán, đồng thời chia quân Thiên Thuộc ra làm hai đô: Thượng Phù đô và Hạ Phù đô. Hai năm sau, trong một đợt duyệt định lại các quân hiệu, vua đổi quân Vũ Tiệp thành quân Thiết Ngạch và cho tướng Trần Thanh Ly làm Vũ vệ đại tướng quân để quản lãnh.

        Đời Trần Minh Tông, năm 1315, đặt Phù Liễu đô gọi là Long Vệ tướng; năm 1320 lại đổi thành Khấu Mã quân1 (Việt sử thông giám cương mục, Tập VI, chép sự kiện này vào năm 1314). Năm 1374, Trần Duệ Tông đặt thêm quân Uy Tiệp, BảoTiệp, Long Dực, Thần Dực, Điện Hậu, Long Tiệp, Ý Yên, Thiên Trường và Bắc Giang, trên trán mỗi người lính đều thích tên quân hiệu của mình. Lính thị vệ lúc này có các quân: Tạc Ngạch và Hoa Ngạch, gồm Tả ban và Hữu ban. Cuối triều Trần, năm 1378, Cấm quân có các quân hiệu: Thần Dực, Thiên Uy, Thánh Dực, Hoa Ngạch, Thị Vệ, Thiên Trường, Thần Vũ; đặt các chức giám quân cai quản. Sau đó tổ chức thêm quân Thiết Thương, Thiết Giáp, Thiết Lâm, Thiết Hổ, Ô Đồ; chọn các võ tướng giỏi làm quản quân.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #21 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2016, 12:00:50 am »


        Những sử liệu trên tuy rất tản mạn và ít ỏi, song nó cũng cho chúng ta thấy các quân hiệu Cấm quân thời Trần được định lại bắt đầu từ đời vua Trần Thái Tông. Từ đó, trải qua các đời vua Trần kế tiếp, Cấm quân từng bước mở rộng, hoặc thay đổi tên gọi, hoặc tổ chức thêm với những quân hiệu mới. Về mặt biên chế, từ thời Trần Thánh Tông, năm 1267, triều đình ban bố lệnh tổ chức các đơn vị "quân" và "đô". Quân đội được chia thành nhiều "quân”, dưới "quân" là "đô" hoặc "ngũ”. Mỗi quân có 340 đô, mỗi đô có 80 người. Theo sách An Nam chí lược, quân nhà Trần "cứ 5 người 1 ngũ, 10 ngũ 1 đô"1 (Lê Trắc, An Nam chí lược, Sđd, tr.80). Như vậy đơn vị chiến thuật lúc đó lớn nhất có thể là "quân" (2.400 người), nhỏ nhất là "ngũ” (từ 5 đến 8 người). Tuy nhiên, khi cần tổ chức những cuộc hội chiến, sử dụng những lực lượng đông từ một đến vài vạn quân hoặc hơn nữa, thì số quân đó được đặt dưới sự chỉ huy của một tướng cao cấp và nhiều phó tướng khác; có thể huy động nhiều đạo quân lớn do các tướng chỉ huy dưới sự thống lĩnh của một đại tướng.

        Theo biên chế trên, đời Trần Thái Tông chỉ riêng 12 vệ quân Tứ Thiên, Tứ Thánh và Tứ Thần đã có 28.800 người. Các đời vua tiếp sau mở rộng quân Cấm vệ và quân số cũng tăng lên, nhưng không có số liệu chính xác. Sử gia Phan Huy Chú nhận xét: "Số quân buổi đầu nhà Trần mỗi quân là 2.400 người. Các quân Cấm vệ và quân các lộ đại ước không đầy 10 vạn", "quy chế về Cấm binh đời Trần Thái Tông đã định về sau lại đặt thêm mãi, số quân không xét rõ được. Đại ước là đặt thêm danh hiệu, chứ thực số vị tất đã nhiều hơn trước"1 (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí. Tập IV, Sđd, tr.5). Nếu nói "số quân không nhiều hơn trước" có thể đúng trong thời bình chứ không đúng vào những thời điểm những đời vua phải chuẩn bị và tiến hành chiến tranh giữ nước.

        Cũng như thời Lý, trong số Cấm quân, bộ phận đóng trong cấm thành rất được coi trọng. Số binh hạng nhất được tuyển từ các lộ Thiên Trường, Long Hưng và các lộ bản bộ của nhà Trần đều được sung vào quân Thiên Thuộc, Thiên Cương, Chương Thánh và Củng Thần. Đó là lính Túc vệ túc trực và canh gác trong cấm thành, nơi vua ở và làm việc. Một số khác trong đó có đội quân Thiên Thuộc canh giữ hành cung Thiên Trường - nơi Thượng Hoàng ở. Bấy giờ nhà Trần đổi Tức Mặc là quê hương của mình thành Thiên Thuộc; do đó quân lính tuyển từ hương này cũng gọi là quân Thiên Thuộc. Phạm Ngũ Lão là một vị tướng nổi tiếng trung thành nên đã được vua Anh Tông giao cho quản quân Thiên Thuộc. Năm 1314, nhà vua cho phép tuyển con của các Cấm quân và lấy những người trong quân Thiết Ngạch có thích chữ "Kim cương" để sung làm đô Phù Liễn, gọi là Long Vệ tướng, sau đổi làm Khấu Mã quân. Bấy giờ ở sân rồng có quân Long Dực do tướng Trịnh Trọng Tử chỉ huy. Khi triều đình tổ chức rước di hài vua Trần Nhân Tông về an táng ở Đức Lăng, đội quân này được lệnh hát khúc Long Ngâm để dẹp đường, mở lối1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, chép đó là quân Hải Khẩu và Hổ Dực).

        Nhu cầu bảo vệ chính quyền trung ương và bảo vệ đất nước đã thúc đẩy triều đình không ngừng hoàn thiện bộ máy tổ chức, biên chế quân đội. Mốc đầu tiên đánh dấu bước phát triển trên lĩnh vực tổ chức, biên chế quân đội nhà Trần là năm 1246, khi vua Trần Thái Tông ban bố lệnh tuyển quân và xét định biên chế. Lúc đó Nhà nước quy định về phương thức tuyển lính và biên chế tổ chức các ngạch quân, chú trọng xây dựng Cấm quân. Đời vua Nhân Tông là quãng thời gian nhà Trần có quân đội quy củ và số quân đông nhất. Đến đời vua Anh Tông, quân đội đã trải qua nhiều lần chỉnh đốn tổ chức, sửa định quân ngũ và Cấm quân được hoàn thiện.

        Như vậy, Cấm quân thời Trần đã từng bước phát triển cả về quy mô tổ chức và trình độ chính quy. Cũng như trước, Cấm quân gồm hai bộ phận đảm nhận những chức năng khác nhau. Bộ phận Túc vệ quân gồm những người lính tin cẩn tuyển từ các lộ Thiên Trường và Long Hưng đóng ở vòng trong cấm thành, chuyên bảo vệ Hoàng đế hoặc đóng và bảo vệ hành cung Thiên Trường. Một bộ phận nữa đóng quanh thành hay các vùng phụ cận xung yếu, bảo vệ vòng ngoài; bao gồm các trai tráng tuyển từ các lộ Hồng, Khoái, Trường Yên và Kiến Xương, tức những lộ đông dân, trù phú, ở quanh bản lộ họ Trần, đã từng góp công, của vào việc xây dựng và bảo vệ sự nghiệp nhà Trần. Đó là các quân Thánh Dực và Thần Sách. Trai tráng hạng nhất tuyển từ các lộ khác cũng được sung làm Cấm quân “vòng ngoài". Sử gia Phan Huy Chú nhận xét: "Đến đời nhà Lý và nhà Trần, đặt quân hiệu có phần kỹ càng hơn... Trong thành vua có quân Túc vệ đội ngũ đông nghiêm" (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Tập IV, Nxb Văn Sử Địa, H.1958, tr.20).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #22 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2016, 12:01:53 am »

        Điều đáng chú ý là Cấm quân dưới thời Lý - Trần là lực lượng quân thường trực chuyên nghiệp. Họ được coi trọng và tổ chức theo nguyên tắc “Thân quân" - quân của vua, quân thuộc dòng họ thống trị; được tuyển lựa kỹ, trang bị tốt và huấn luyện chu đáo, Cấm quân trở thành nòng cốt của quân đội triều đình, là công cụ bạo lực chủ yếu của bộ máy nhà nước; là lính chuyên nghiệp được cấp lương ăn, thậm chí còn được hưởng bổng lộc vào dịp lễ Tết. Cấm quân giai đoạn Lý - Trần không nằm trong diện thay phiên về sản xuất theo quy định của chính sách Ngụ binh ư nông.

        Để phân biệt với các loại quân khác, lính Túc vệ hay Cấm quân nói chung được khắc chữ lên trán hoặc xăm lên mình các hình rồng, phượng. Cấm quân thời Tiền Lê và Lý được thích ba chữ "Thiên Tử quân" lên trán. Cấm quân thời Trần được thích hình rồng ở bụng, ở lưng và ở hai đùi, gọi là vẽ rồng, được ghi tên quân hiệu hay được xăm hoa lên trán. Bấy giờ các vua Trần cũng vẽ hình rồng vào đùi. Có tục lệ này, bởi theo quan niệm nhà Trần khởi nghiệp từ vùng biển, quen nghề sông nước và trọng võ nghệ. Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã nói: "Nhà ta vốn là người ở vùng hạ lưu, đời đời ưa chuộng hùng dũng, thường thích rồng vào đùi; nếp nhà theo nghề võ, nên thích hình rồng vào đùi để tỏ là không quên gốc" (Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, Sđd, tr.78). Tuy nhiên, đây là một phong tục của người Việt cổ xưa truyền lại. Từ thời Hùng Vương, người Việt sống ở ven rừng khi xuống nước đánh cá thường bị giao long làm hại, vì thế vua sai lấy mực xăm lên mình hình Long quân; từ đó dân không bị họa giao long nữa. Tục xăm mình của người Việt cổ bắt đầu từ đấy. Trong kháng chiến chống Mông - Nguyên lần thứ hai (1285), quân nhà Trần còn thích vào cánh tay hai chữ "Sát Thái” để tỏ rõ quyết tâm tiêu diệt giặc.


        Người lính Cấm quân thời Lý-Trần lấy việc xăm mình làm hãnh diện. Vì thế, bấy giờ có hiện tượng trai tráng trong Kinh học theo mốt Cấm quân, buộc nhà nước phải có lệnh cấm. Ví dụ, năm 1118, vua Lý Nhân Tông ra lệnh: “Cấm những gia nô không được xăm vào ngực, vào chân làm theo dạng lính Cấm quân"1 (Việt sử thông giám cương mục, Tập IV, Sđd, tr.9). Vua Trần cũng ra lệnh cấm những người khác thích chữ và xăm lên mình để giả dạng Cấm quân. Tục xăm hình rồng lên lưng, lên vế của nhà vua và quân sĩ tồn tại cho đến đời vua Trần Anh Tông thì bỏ hẳn. Sách Toàn thư chép: "Về sau vua nối ngôi không phải thích hình rồng lên đùi nữa, là bắt đầu từ Anh Tông"2 (Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, Sđd, tr.78). Trong thời kỳ này, chỉ quân lính thuộc Chân Thượng đô, Chân Kim đô, Thuỷ Dạ Soa đô hay Toàn Kim cương mới được phép thích quân hiệu ở trán. Năm 1322, nhà vua ra lệnh tuyển quân Túc vệ cốt ở khoẻ mạnh, béo trắng, tuấn tú là hơn; cho nên từ đây quân sĩ không xăm hình rồng như trước nữa. Từ năm 1374, đời vua Trần Dụ Tông, các quân Túc vệ, Tứ Thiên, Tứ Thánh, Tứ Thần thì xăm hoa lên trán; số quân mới đặt như Ung Tiệp, Bảo Tiệp, Long Dực, Thần Dực và Điện Hậu đều thích tên quân hiệu mình.

        Cấm quân thời Trần luôn thể hiện vai trò nòng cốt của mình trong nhiệm vụ bảo vệ kinh thành và đánh giặc giữ nước. Suốt thời kỳ tồn tại vương quyền, về cơ bản Cấm quân đã thể hiện tốt chức năng bảo vệ kinh đô Thăng Long và phủ Thiên Trường. Thế kỷ XIII, nước ta đã tiến hành liên tục ba cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông - Nguyên. Cả ba lần, nhà vua và triều đình đều phải rời khỏi kinh đô Thăng Long về Trường Yên, Thiên Trường hoặc châu Ái (Thanh Hoá); nhưng trong những lúc binh lửa hiểm nghèo đó, Cấm quân đã làm tốt nhiệm vụ của mình là bảo vệ vua và triều đình. Dưới sự lãnh đạo chỉ huy của các vua Trần, của Trần Quốc Tuấn và các tướng, Cấm quân còn thể hiện vai trò nòng cốt trong các đạo chủ lực quân đánh giặc giữ nước. Sử xưa không ghi cụ thể công lao của riêng một loại quân nào trong kháng chiến, song chắc chắn với cuộc kháng chiến toàn dân lúc đó, Cấm quân đã giữ vai trò chủ lực trong các trận đánh quyết định như Bình Lệ Nguyên, Đông Bộ Đầu, Tây Kết - Hàm Tử, Chương Dương - Thăng Long vào Bạch Đằng năm 1288.

        Vào cuối đời Trần, Cấm quân là lực lượng chủ yếu đi đánh dẹp các thế lực chống đối và các cuộc khởi nghĩa địa phương. Năm 1360, vua Dụ Tông ra lệnh cho Cấm quân đi tuần, bắt "giặc cướp" ở các lộ. "Giặc" lúc đó là những gia nô, những nông dân hay các nhà sư nổi dậy chống lại chính quyền. Triều Trần suy yếu thì Cấm quân cũng suy yếu và không đủ sức để làm tròn bổn phận bảo vệ kinh thành trước họa xâm lăng của người Chiêm. Điều đó thể hiện ở các năm 1371, 1377 và 1378, lúc quân đội của vua Chiêm là Chế Bồng Nga tiến công, cướp phá Thăng Long, buộc vua Trần và triều đình phải chạy trốn sang Đông Ngàn. Chính vì vậy mà sử thần Ngô Sĩ Liên đã than rằng: “Chỉ vì pháp độ xếp bỏ, việc canh giữ bờ cõi mất đi cho nên như thế. Đến nỗi giặc vào biên thành mà không giữ được, giặc đến kinh đô mà Cấm quân không chống lại được, còn gọi là nước thế nào được"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, Sđd, tr.162).
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Tám, 2016, 12:08:07 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #23 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2016, 12:02:25 am »

    
        1.3.Cấm quân thời Hồ

        Năm 1400, triều Hồ thay thế triều Trần đã suy yếu: Thực tế, cuối triều Trần thế lực họ Hồ đã từng bước nắm giữ và chỉ huy triều chính. Dưới các triều vua Nghệ Tông, Duệ Tông và Thần Tông, Hồ Quý Ly đã nắm giữ binh quyền và lưu tâm xây dựng quân đội, coi đó là chỗ dựa để tiến tới thiết lập triều chính của mình. Năm 1371, dưới triều Nghệ Tông, Quý Ly giữ chức Khu mật viện đại sử. Lúc đó Khu mật viện là cơ quan quản lãnh Cấm quân. Sang triều Duệ Tông, Quý Ly lại giữ chức Tham mưu quân sự. Cho nên khi thiết lập vương triều mới, nhà Hồ đã kế thừa hệ thống tổ chức quân sự hồi cuối Trần, một cơ chế quân sự mà Hồ Quý Ly đã dày công chuẩn bị.

        Về thực chất, Cấm quân thời Hồ cũng là Cấm quân của nhà Trần giai đoạn cuối đã được Hồ Quý Ly từng bước "cải tổ” thông qua những cải cách quân sự của mình. Buổi đầu, các quân hiệu và cơ cấu tổ chức vẫn gần như cũ. Đó là các vệ quân, đô quân gồm có tả, hữu Thánh Dực, Thần Dực; các vệ quân như Thiết Lâm, Thiết Giáp, Thiết Sang, Thiên Ngưu, Phúng Thần, Chương Thánh, Thiên Cương, Củng Thần, v.v... Trong những năm cuối triều Trần, Hồ Quý Ly đã thay đổi các tướng chỉ huy trong hệ thống quân sự do ông lãnh đạo.

        Sau khi giành được ngôi báu, Hồ Quý Ly cùng hài con là Hồ Hán Thương và Hồ Nguyên Trừng khẩn trương xây dựng quân đội để đối phó với thù trong giặc ngoài. Vừa được cha nhường ngôi, Hồ Hán Thương đã ra lệnh định lại Binh chế, xét duyệt quân ngũ. Tháng 12 1402, những tráng đinh con nhà nghèo được tuyển sung vào quân Trợ Dịch rồi đổi làm quân Bồi Vệ; sau đó chia thành hai ban tả và hữu, dùng tên các loài lân, phượng đặt tên quân hiệu; cử các võ quan thuộc dòng tông thất cai quản. Quân chính quy trong triều, tức Cấm quân được chia thành các vệ hoặc đô, do các đại tướng, đô tướng, đô thống tướng chỉ huy.

        Tháng 5 năm 1405, Nhà nước ra sắc lệnh đại duyệt quân đội, quy định biên chế tổ chức. Hồ Hán Thương đặt 12 vệ quân Nam Ban và Bắc Ban; 8 vệ quân Điện Hậu Đông và Điện Hậu Tây. Quân đội phiên chế theo các quân, vệ và đội; mỗi vệ 18 đội, mỗi đội 128 người, ngoài ra còn chia theo các đơn vị như Đại quân (30 đội), Trung quân (20 đội), Dinh quân (15 đội), Đoàn quân (10 đội). Có thể coi đó là những "đơn vị chiến thuật" lớn do các đại tướng, đô tướng thống lĩnh. Theo biên chế trên thì 12 vệ quân Nam Ban và Bắc Ban có 3.888 người, Đại quân gồm 540 người, Trung quân 360 người, Dinh quân 270 người và Đoàn quân có 180 người. Quân bảo vệ trong hoàng cung Tây Đô gọi là Cấm vệ đô, gồm 15 đội, mỗi đội 18 người. Bên cạnh đó, Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương còn tổ chức đội Vệ sĩ giám quốc, những người lính thị vệ trung thành thường xuyên túc trực bảo vệ thượng hoàng và nhà vua. Cùng với những cải cách khác, trên lĩnh vực quân sự Hồ Quý Ly chủ trương tăng cường quân số, kiện toàn bộ máy tổ chức và cải tiến vũ khí trang bị. Quân đội triều đình trong đó có Cấm binh qua nhiều lần chỉnh đốn đã trở thành một đạo quân lớn, là chỗ dựa chính của vương triều mới.

        Quân chủ lực của nhà Hồ mà chủ yếu là Cấm quân đã giành được những thắng lợi lớn trong các lần đánh dẹp quân Chiêm Thành, ổn định biên giới mặt Nam và đã từng một lần đánh tan đạo quân xâm lược Minh 10 vạn do Chinh Nam tướng quân Hàn Quan và Tham tướng đô đốc Hoàng Trung chỉ huy vào tháng 4-1406 ở biên giới phía Bắc. Bấy giờ, tham gia chỉ huy chiến trận có Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng; tướng Hồ Vấn chỉ huy quân Tả Thánh Dực đánh từ Vũ Cao; Hồ Xạ chỉ huy quân Hữu Thánh Dực cùng tướng Trần Đĩnh chỉ huy quân Thánh Dực Bắc Giang chặn ở cửa Chi Lăng; hai đại tướng Phạm Nguyên Khôi và Chu Bỉnh Trung chỉ huy quân Chấn Cương; tướng Trần Nguyên Huyên chỉ huy quân Tam Phụ; Trần Thái Bộc chỉ huy quân Tả Thánh Dực, v.v... Sau khi thắng trận, Hồ Hán Thương khao thưởng quân đội, các tướng lập chiến công đầu được thưởng 3 tư; duy chỉ tướng Hồ Xạ cùng thuộc hạ của ông vì sơ suất để Hoàng Trung chạy thoát chỉ được thưởng 2 tư. Tuy nhiên, do sai lầm về đường lối chiến lược và chiến thuật, do nhân tố chính trị - tinh thần chưa tốt nên quân đội nhà Hồ đã không bảo vệ được vương triều và đất nước trước sức tiến công mạnh mẽ của quân xâm lược Minh cuối năm 1406 đầu năm 1407.


« Sửa lần cuối: 19 Tháng Tám, 2016, 12:10:59 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #24 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2016, 12:03:14 am »

     
        1.4 Cấm quân thời Lê Sơ

        Cấm quân thời Lê Sơ thường được gọi chung là "quân trong Kinh" để phân biệt với "quân ngoài các đạo". Khác với các triều đại Lý, Trần và Hồ, triều Lê khi mới thiết lập không có sự kế thừa các tổ chức nhà nước trước đó, kể cả cơ cấu tổ chức quân đội. Cùng với chính quyền nhà nước của mình, quân đội nhà Hồ đã tan rã sau cuộc kháng chiến chống quân Minh thất bại năm 1407. Nhà Lê Sơ được thiết lập sau khi cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng do Lê Lợi - Nguyễn Trãi lãnh đạo thành công (1428). Vì vậy, tiền thân của quân đội Lê Sơ chính là nghĩa quân Lam Sơn, là đội quân giải phóng dân tộc. Qua mười năm xây dựng và chiến đấu, lực lượng nghĩa quân đã từng bước trưởng thành và đến năm 1427 đã có số lượng đông tới 35 vạn với đầy đủ các binh chủng như bộ binh, thuỷ binh và một bộ phận tượng binh được trang bị vũ khí ngày một tinh xảo. Tuy nhiên, trong điều kiện chưa có chính quyền trên phạm vi cả nước, quân đội chưa có khả năng tổ chức chặt chẽ và hoàn thiện. Số nghĩa binh được gọi chung là Năm quân Thiết Đột chứ chưa đặt thành quân hiệu riêng, đó là: Thiết Đột tiền quân, Thiết Đột trung quân, Thiết Đột hữu quân, Thiết Đột tả quân và Thiết Đột hậu quân. Đứng đầu mỗi quân Thiết Đột nói trên là một Hành quân tổng quản. Các quân đó chia thành các vệ. Như năm 1427, khi bao vây giặc Minh ở Đông Quan, Lê Lợi đã huy động khá đông lực lượng quân Thiết Đột, riêng các tướng Lê Triện và Lê Văn An chỉ huy 14 vệ đóng ở cửa Bắc; Lê Bí, Lê Nguyễn chỉ huy hai vệ đóng ở cửa Tây và một lực lượng khá lớn đóng ở cửa Nam. Phần lớn số quân giải phóng đó về sau trở thành đội quân của nhà nước độc lập, tự chủ thời Lê Sơ.

        Sau ngày giải phóng đất nước, Lê Lợi (Lê Thái Tổ) đã giữ lời hứa của mình, cho 25 vạn nghĩa binh trở về sản xuất, sum họp gia đình, chỉ lưu giữ 10 vạn; đồng thời kiện toàn bộ máy tổ chức quân đội theo hướng chính quy. Khi chính quyền nhà nước mới đã được thiết lập hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương, Lê Thái Tổ ra lệnh tuyển thêm Thân quân tức quân Thị vệ để bảo vệ Hoàng thành. Sách Toàn Thư chép: "Vua hạ lệnh cho ba quân, người nào có thể liều mình vì nước, tinh thông võ nghệ, có sức khoẻ, mạnh dạn, không đoái sống chết đều cấp cho văn bằng tuyển người làm Thị vệ ở nội phủ”1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Tập III, Nxb Khoa học xã hội, H.1967, tr.32). Sách Cương mục (Việt sử thông giám cương mục) cũng chép: "Bấy giờ Thị vệ thân quân chưa được bổ sung, vua sai các quan Thiếu úy tuyển trong dân gian lấy những người thân thể tráng kiện, tinh thông võ nghệ, mỗi thiếu úy tuyển 200 người để sung vào"2 (Việt sử thông giám cương mục, Tập VIII, Nxb Văn Sử Địa, H.1958, tr.49). Trong hàng ngũ võ quan lúc đó có ít nhất 10 viên thiếu úy vì thế số quân thị vệ buổi đầu thời Lê chí ít cũng 2.000 người3 (Trong sách Đại Việt sử ký toàn thư (Tập III) có nói đến các quan Thiếu úy sau đây: Lê Bí, Lê Khả, Lê Triện, Lê Vấn, Lê Sát, Lê Lý, Lê Bôi, Lê Chích, Lê Văn An và Đinh Liệt. Đinh Lễ hy sinh được truy phong "Nhập nội Thiếu úy"). Đó là lực lượng quân Thị vệ nội phủ của Cấm quân đầu thời Lê.

        Quân Thiết độtSử cũ cho biết: đời Lê Thái Tổ, năm 1429, "quân trong Kinh" gồm năm quân Thiết Đột và Ngự Tiền Thiết đột1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Tập III, Sđd , tr.68). Năm quân Thiết Đột gồm Trung, Tiền, Hậu, Tả và Hữu là tổ chức kế thừa của quân giải phóng; còn Ngự Tiền Thiết Đột là quân mới đặt để bảo vệ Hoàng cung. Sách Binh chế chí của Phan Huy Chú chép về quân đội giai đoạn này như sau: "Buổi Lê Sơ, Thái Tổ khởi nghĩa thì có quân Thiết Đột, sau chia làm Trung, Tiền, Hậu, Tả và Hữu, đều đặt Hành quân quản lĩnh. Lại đặt 14 vệ Thiết Đột: Kim Ngô, Ngọc Kiềm, Phùng Thần, Xa Ky, Câu Kiềm, Thiên Ngưu, Phùng Thánh, Tráng Sĩ, Thần Vũ, Du Nỗ, Thần Tý, Vũ Lâm, Thiên Uy và Ngũ Uy. Mỗi vệ có các chức Thượng tướng quân, Đại tướng quân, Tướng quân, Đô chỉ huy sứ và Hỏa đầu, Hỏa thủ. Binh số bấy giờ cộng là 25 vạn. Sau khi Bình Ngô, chỉ lưu 10 vạn tại ngũ... Lại đặt sáu quân Ngự Tiền gồm Ngự Tiền võ sĩ, Ngự Tiền trung tả tiền hậu quân, Thánh Dực quân, Phùng Thánh quân, Chấn Lôi quân và Bảo ứng quân) và Ngự Tiền võ đội...”2 (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Tập IV, Sđd, tr.7. Sách Việt sử thông giám cương mục (Tập IX, tr.5) nhắc lại những ghi chép của Phan Huy Chú trong Binh chế chí về vấn đề tổ chức 14 vệ quân Thiết Đột và sáu quân Ngự Tiền đời Lê Thái Tổ). Đối chiếu với những sự kiện được chép tản mạn trong các sách khác, chúng tôi hiểu rằng, buổi đầu thời Lê, Thiết Đột là tên gọi chung của quân trong Kinh, hoặc Cấm quân, là lực lượng quân thường trực chủ yếu của triều đình Lê Sơ, trong đó có Thị vệ quân đông đảo được duy trì suốt trong giai đoạn đầu thời Lê. Ví dụ, đời Lê Thái Tông, năm 1434, Lê Thừa được cử làm Thiết Đột trung quân hành quân tổng lĩnh. Cũng năm đó, Tư mã Lê Văn An được lệnh chỉ huy quân Ngự Tiền Thiết Đột và quân Bắc đạo đi đánh phản tặc Hoàng Nguyên Yự ở Lạng Sơn. Năm 1435, vua hạ lệnh cho vệ quân các đạo và năm quân Thiết Đột vét sông Đông Ngàn. Năm 1473, khi Lê Khả chỉ huy Cấm binh để phế truất Tể tướng Lê Sát vì tội chuyên quyền thì ông đang giữ chức Hành quân tổng quản tri xa kỵ chủ vệ quân sự, quản lãnh Thiết Đột hậu dực thánh quân... Dưới đời vua Lê Nhân Tông, năm 1447, có lệnh giảm bớt các tướng hiệu: các quân Ngự Tiền và năm quân Thiết Đột mỗi quân chỉ để hai người. Năm 1460, các Thái phó Nguyễn Xí, Đinh Liệt cùng nhiều tướng khác chỉ huy Ngự Tiền tả và hữu quân, Ngự Tiền Thiên Trạo và các đơn vị Cấm quân khác phế truất Nghi Dân, lập Tư Thành làm vua (tức Lê Thánh Tông). Như thế, tổ chức quân Thiết Đột có bắt đầu từ Lê Thái Tổ đã tồn tại đến đầu đời Lê Thánh Tông.

        Dưới triều vua Lê Nhân Tông có một số thay đổi về mặt tổ chức, như việc giảm biên chế tướng lĩnh, đổi tên và mở rộng các hiệu quân. Tháng 7-1449, đổi quân Hoả Đồng làm Thần Lôi và Thần Điện; quân Thiên Trạo thành Hải Đồng, Hải Mã và HàI Thu; quân Bát Nhiêu đổi thành Hải Cốt1 (Cương mục (Tập X) chép Hải Cốt thành Hải Hoạt, Binh chế chí chép Hải Thu thành Hải Điếu. Quân Thiên Trạo là quân chèo thuyền, quân Bát Nhiêu là quân cầm lái). Hoả Đồng hay Thần Lôi và Thần Điện là những đơn vị "hoả pháo" thuộc Bộ binh; các quân Thiên Trạo hay Hải Đồng, Hải Mã, Hải Thu và Hải Cốt là các đơn vị thuỷ binh thời đó.


« Sửa lần cuối: 19 Tháng Tám, 2016, 12:24:01 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #25 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2016, 12:17:43 am »

        
        Quân Điện Tiến

        Lê Thánh Tông đã thực hiện cải cách trên nhiều lĩnh vực. Sự hoàn thiện trong hệ thống triều đình và quan lại đã kéo theo sự kiện toàn về tổ chức quân sự. Bộ máy quân sự các cấp được đổi thay theo hướng tăng cường quyền lực trung ương, hạn chế quyền lực địa phương. Lực lượng quân đội trong kinh thành thời Lê Thánh Tông đã mở rộng nhiều so với trước. Năm 1465, nhà vua tuyển những người lính thân tín đưa vào làm quân tả, hữu Vũ Lâm còn gọi là Điện Tiền Tả Hữu Vũ Lâm quân; trước đây lính khiêng kiệu dùng nam giới nay đặt ngạch Nữ đinh khiêng kiệu để tăng thêm hình thức và vẻ sang trọng. Năm 1467, nhà vua ra lệnh cho thượng thư Binh bộ Nguyễn VĨnh Tích tuyển lính trong 5 phủ để sung làm quân 5 vệ Điện Tiền; cũng năm đó tuyển con các quan viên làm lính trong vệ quân Kim Ngô mới đặt. Đến niên hiệu Hồng Đức thứ 2 (1471), Lê Thánh Tông thực hiện đổi mới cơ chế Cấm quân, đặt ra hai vệ Kim Ngô và Cẩm Y, bốn vệ Hiệu Lực, bốn vệ Thần Vũ, sáu vệ Điện Tiền, bốn vệ Tuần Tượng và bốn vệ Mã Nhàn. Các vệ Tuần Thượng và Mã Nhàn là những đơn vị tượng binh và ky binh phối thuộc. Năm 1490, triều đình đặt thêm các ti ở hai vệ Kim Ngô và Cẩm Y. Số võ sĩ ở vệ Kim Ngô chia thành 100 ti, mỗi ti 100 người. Số võ sĩ ở các vệ Cẩm Y có 20 ti. Tất cả đều chia làm 8 ban. Cũng năm đó đặt thêm các ti ở hai vệ Thần Vũ và Điện Tiền. Theo sách Cương mục, trước đây vệ Kim Ngô chỉ có 14 ti, vệ Cẩm y có 22 ti1 (Việt sử thông giám cương mục, Tập XII, Nxb Văn Sử Địa, H.1959, tr.45). Số quân trên đây cũng là Cấm quân, quân Túc vệ của triều đình Lê Thánh Tông, thuyên đóng ở kinh đô, bảo vệ Hoàng thành.


« Sửa lần cuối: 19 Tháng Tám, 2016, 12:29:43 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #26 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2016, 12:41:56 am »

        Tra cứu những tư liệu lịch sử hiện có, chúng tôi thấy: từ đời Hồng Đúc không thấy xuất hiện các quân hiệu của năm quân Thiết Đột nữa, chúng tôi cũng không thấy nhắc đến tên các quân Ngự Tiền Thiết Đột nữa mà lại nói đến sáu quân Điện Tiền. Như vậy, Lê Thánh Tông đã thực sự cải cách hệ thông tổ chức. Lúc này xuất hiện một loại quân hiệu mới là quân Điện Tiền, gồm sáu vệ, là quân túc trực thuộc điện vua. Có thể đây là hình thức tổ chức mới của sáu quân Ngụ Tiền Thiết Đột giai đoạn trước.

        Về biên chế, mỗi vệ quân chia thành các sở, các ti. Tháng 8-1467, Lê Thánh Tông cho đặt thêm số quân trong Kinh và ngoài các đạo, xét định lại chế độ quân ngũ: Quân trong Kinh có 66 ti, 51 vệ; quân ngoài các đạo có 26 vệ. Mỗi ti 100 người; mỗi vệ có 5-6 sở, mỗi sở 20 đội, mỗi đội 20 người. Như vậy, nếu tính riêng số quân trong Kinh lúc đó có 66 ti và 300 sở. Tổng số quân trong Kinh do triều đình trực tiếp quản lý có khoảng 12 vạn1 (Việt sử thông giám cương mục, Tập XI, Sđd, tr.27). Theo sách Hồng Đức thiên nam dư hạ tập thì quân trong Kinh có 66 ti, 97 sở, gồm khoảng 45 nghìn người. Số liệu này so với số liệu của sách Cương mục (Tập XI) có sự chênh lệch lớn. Có thể con số 12 vạn nói trên là tính cả 30 vệ quân Ngũ phủ (?).

         Cũng như trước, quân trong Kinh thời Lê Sơ gồm hai bộ phận chủ yếu, trong đó có Cấm vệ đóng ở vòng trong bảo vệ cấm thành. Giai đoạn đầu có quân Ngự Tiền và năm quân Thiết Đột. Quân Ngự Tiền thường được gọi là sáu quân Ngự Tiền và Ngự Tiền võ đội. Đó là Thị vệ nội phủ hoặc là Cấm vệ quân. Năm quân Thiết Đột gồm Trung, Tiền, Hậu, Tả và Hữu là lực lượng cơ động đóng trong thành hoặc ven đô, bảo vệ vòng ngoài. Thời Lê Thánh Tông tăng cường bảo vệ kinh thành, nhà vua cho đặt 100 ti lực sĩ túc trực ở điện Kim Quang; ngoài ra còn tổ chức 6 vệ quân Điện Tiền. Nếu theo biên chế, mỗi vệ có 5-6 sở, mỗi sở có 400 người, thì sáu quân Ngự Tiền có khoảng 12.800 người. Đến năm Hồng Đức thứ 2 (1471), 2 vệ Cẩm Y và Kim Ngô, 4 vệ Hiệu Lực, 4 vệ Thần Võ, 6 vệ Điện Tiền được gọi chung là quân Thủ vệ tam ty. Như vậy, khi chính quyền nhà nước chuyên chế càng phát triển thì lực lượng Cấm quân, trong đó có Cấm vệ quân càng được tăng cường cả về tổ chức và số lượng.

        Điều đặc biệt ở triều Lê Sơ khác với các triều đại Lý và Trần ở chỗ, Cấm quân thời Lý, Trần là loại quân chuyên nghiệp, thường xuyên túc trực bảo vệ kinh đô, còn Cấm quân thời Lê Sơ cũng theo quy chế "Ngụ binh ư nông", tức là họ được chia thành nhiều phiên, thay nhau ở lại túc trực hay trở về lao động sản xuất. Dưới triều vua Lê Thái Tổ, chỉ trừ quân Ngự Tiền võ đội là phải túc trực thường xuyên, còn lại từ sáu quân Ngự Tiền, năm quân Thiết Đột cho tới quân ở các đạo các phủ, trấn đều được chia phiên thay nhau về làm ruộng. Đến đời Lê Nhân Tông chỉ trừ một số ít quân Cấm vệ, chính sách chia phiên được áp dụng cho cả quân Ngự Tiền võ đội. Đặc biệt đến đời vua Lê Thánh Tông chính sách "Ngụ binh ư nông" mở rộng hơn cả cho các cấm vệ quân như Thần Vũ, Du Nỗ, Thần Tý, Vũ Lâm, v.v... Các quân nhân làm việc ở các sảnh, viện, cục và thợ bách tác cũng được chia phiên: một số ở lại canh phòng, luyện tập, sản xuất công nghệ hay chịu sai dịch, còn lại về nhà sản xuất tự túc theo định kỳ của từng giai đoạn. Như vậy, chính sách "Ngụ binh ư nông" thời Lê Sơ đã được áp dụng cho cả Cấm quân. Đó là một đặc điểm khác biệt trong Binh chế thời Lê Sơ so với các triều đại trước.


Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #27 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2016, 12:43:46 am »





        Trên đây là tổ chức, biên chế Cấm quân các thời từ nhà Lý đến Lê Sơ. Do hạn chế về sử liệu, chúng tôi chưa thể phân định rõ chức năng riêng của từng hiệu quân, cũng chưa khẳng định được đích xác các hiệu quân đó thuộc bộ binh hay thuỷ binh. Mặc dù vậy qua một số sử liệu cùng với thực tiễn hoạt động quân sự, chúng tôi thấy quân thường trực của Đại Việt mà chủ yếu là Cấm quân đã từng bước được “chuyên hoá" thành hai lực lượng: quân bộ và quân thuỷ, trong quân bộ có bộ binh, ky binh và tượng binh. Sự chuyển hoá đó có từ thời Lý, thể hiện khá rõ nét từ thời Trần và thời Hồ. Đến thời Lê Sơ điều này đã được thể hiện rõ nét trên các lĩnh vực tổ chức, trang bị và huấn luyện. Trên thực tê, Nhà nước Đại Việt luôn chú ý phát triển cả hai lực lượng bộ binh và thuỷ binh, để kết hợp tốt cả hai phương thức chiến đấu trên bộ và thuỷ. Ở Đại Việt, Cấm quân luôn là lực lượng quân thường trực chủ yếu là tinh nhuệ nhất. Thời bình, Cấm quân bảo vệ kinh đô, thời chiến là chủ lực xuất chinh, đánh giặc. Đó là công cụ bạo lực chủ yếu, là chỗ dựa quan trọng nhất của chính quyền quân chủ, là trụ cột của lực lượng an ninh, quốc phòng và cũng là chủ lực quân trong các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm giai đoạn từ thế kỷ XI - XV.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #28 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2016, 12:47:30 am »

        
        2.Sương quân

        Trong cơ cấu tổ chức quân thường trực của Nhà nước Đại Việt có một bộ phận quân đội gọi là Sương quân hay Tứ sương quân. Sương quân là loại quân gì? Nó được tổ chức ra sao? Nó có chức năng nhiệm vụ gì và đóng vai trò như thế nào trong hệ thống tổ chức quân sự Đại Việt?

        Những sử sách xưa của ta như Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử tiêu án, Việt sử thông giám cương mục, v.v... có nói đến Sương quân, nhưng sự ghi chép đó quá ít và sơ lược. Các học giả, các sử gia của ta từ xưa đến nay không ai đề cập rõ ràng về loại quân này và cũng không nói rõ Sương quân là loại quân gì? Duy chỉ có giáo sư Hoàng Xuân Hãn trong sách Lý Thường Kiệt có nói: "Sương quân là quân của các đại tộc, tức là quân của các nhà quan có quyền thế nhưng không phải họ vua"1 (Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, Sđd, tr.371). Một số nhà nghiên cứu hiện đại cho rằng Sương quân là quân địa phương.

        Trở lại sử cũ, sách Toàn thư có chép: "Vua tức Lê Long Việt - TG) lên ngôi được ba ngày thì bị Long Đĩnh (tức Lê Ngọa Triều) giết, bầy tôi đều chạy trốn, duy có Điện Tiền quân Lý Công Uẩn ôm xác mà khóc. Long Đĩnh lên ngôi, truy đặt thuỵ cho vua là Trung Tông hoàng đế, cho Công Uẩn làm Tứ Sương quân phó chỉ huy sứ2 (Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 1, Sđd, tr.186). Bản thân Lý Công Uẩn lúc đó chỉ huy quân Điện Tiền (Cấm quân), do hành động nói trên được vua Lê Ngọa Triều khen là người trung, cho làm Phó chỉ huy sứ quân Tứ Sương. Có thể thời bấy giờ chỉ huy quân Tứ Sương cũng do quan chỉ huy Cấm quân đảm nhiệm vì kinh thành Hoa Lư không lớn lắm và nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài của Sương quân cũng gần như bảo vệ cả thành Hoa Lư; chức vụ mà nhà vua ban cho Công Uẩn vì lòng trung thành khẳng định đó là một trọng chức của Cấm quân; và cũng từ chức vụ này mà Lý Công Uẩn được thăng lên làm Tả thân vệ Điện Tiền chỉ huy sứ, một chức võ quan tối cao và quan trọng nhất của ngạch Cấm quân. Đến thời Lý, tổ chức Sương quân mở rộng và độc lập tương đối với Cấm quân. Ngô Thì Sĩ nói: "Binh chế buổi đầu nhà Lý... lấy Thân quân làm trọng, cũng gọi là Cấm quân. Cấm vệ có 10 quân, mỗi quân có 200 người đều có tả hữu, phải túc trực thường xuyên. Lại có 9 quân, như sương quân để sai khiến mọi việc, mỗi tháng đến phiên một lần, gọi là đến canh, hết canh cho về nhà cày cấy hoặc làm công nghệ, tự cấp chứ không được cấp lương. Khi có chiến tranh thì gọi ra cho lệ thuộc vào các tướng. Nếu quân này không đủ thì chiếu sổ gọi dân ra tòng ngũ, xong việc lại cho về làm ruộng"1 (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Tập IV, Sđd, tr.5). Chu Khứ Phi - viên quan nhà Tống ở Quảng Đông - Quảng Tây có mô tả về quân đội nhà Lý như sau: "Nhà Lý có tám quân, mỗi quân có 200 người, thích ngang trên trán ba chữ "Thiên Tử quân". Ngoài ra còn chín quân khác như Hùng Lược, Dũng Kiện... để sai khiến. Binh cứ hằng tháng thay đổi một lần, lúc nhàn hạ thì cấy trồng để tự túc"2 (Chu Khứ Phi, Lĩnh ngoại đại đáp, Sđd, tr.76). Sách Toàn thư chép: “Nhà Lý cho sáu quân thay nhau về làm ruộng theo đúng chế độ xưa"3 (Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 1, Sđd, tr.206). Binh chế triều Lý quy định chỉ có Cấm quân phải thường xuyên túc trực tại ngũ bảo vệ kinh thành, bảo vệ triều đình và được cấp lương, còn các quân khác như Sương quân và ngoại binh (quân các lộ) đều phải thực hiện "Ngụ binh ư nông", chia thành nhiều phiên thay nhau ở lại canh phòng và luyện tập hay về nhà cày cấy, sản xuất công nghệ, tự túc lương ăn.

        Như vậy, “chín quân" hay “sáu quân" nói trên rất có thể là Sương quân, một thứ quân cơ động của nhà Lý. Lúc thường họ làm nhiệm vụ canh gác và chịu các tạp dịch như xây dựng, vận tải, cắt cỏ... Khi có chiến tranh họ được điều động đánh giặc. Nếu theo biên chế mỗi quân có 200 người thì riêng số lượng Sương quân lúc đó ở các cửa thành đã có 1.800 người.

        Các tác giả Chu Khứ Phi và Ngô Thì Sĩ trong các tác phẩm nêu trên đều cho rằng: Binh chế đầu đời Lý phỏng theo phép Quân phủ vệ đời Đường và Cấm quân đời Tống. Binh lính hạng nhất gọi là thân quân - quân cấm vệ bảo vệ vua và triều đình ở kinh đô và chống lại các cuộc "nổi loạn” ở cung đình. Sương quân là lính hạng nhì, không có số nhất định. Đinh tráng đến tuổi đăng lính vẫn ở nhà cày cấy, mỗi tháng "đi phen" một kỳ ngắn hạn. Lúc chinh phạt thì thuộc các tướng, xong việc chinh chiến lại trở về với ruộng đồng.

        Quy chế quân sự thời Trần về cơ bản cũng giống như quy chế quân sự thời Lý. Ngoài Cấm quân là lính chuyên nghiệp phải thường xuyên túc trực ở kinh thành, còn có một lực lượng đáng kể quân thường trực thực hiện chế độ binh dịch và luân phiên tại ngũ hay về sản xuất tự túc. Trai tráng trong diện binh dịch được phân loại và tuyển chọn những người khoẻ mạnh đưa vào biên chế thành các đơn vị vệ, quân, đô và ngũ; hằng năm được luyện tập võ nghệ, sau đó chia phiên cho về làm ruộng, khi có việc mới gọi ra. Với phương thức này, nhà Trần có thể mở rộng quân thường trực, tăng cường khả năng huy động binh dịch tạo điều kiện để nhà nước hoàn thành tốt hơn sự nghiệp quân sự của mình. Như thế nếu Cấm quân bao gồm những người lấy việc binh làm nghiệp suốt đời thì Sương quân chỉ là nghĩa vụ binh dịch của những trai tráng đối với nhà nước.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #29 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2016, 12:48:18 am »


        Về nguyên tắc, lính Sương quân như là một thứ nghĩa vụ bắt buộc của mọi nam công dân từ 18 đến 60 tuổi đã được ghi tên trong Sổ quân. Họ có thể được gọi tòng quân, làm lính của triều đình hoặc của các địa phương tuỳ theo yêu cầu và tình trạng sức khoẻ. Sương quân không có số nhất định. Những đinh nam đến tuổi binh dịch phải đăng ký vào sổ và theo định kỳ được gọi nhập ngũ gọi là đi phen (phiên), với phương thức "tại gia vi nông, tại quân vi binh" ở nhà làm ruộng, ở quân đội làm lính) hoặc "tịnh vi nông, động vi binh" (khi hoà bình là nông dân, có chiến tranh là lính). Có thể coi Sương quân cũng là lính cơ động bảo vệ vòng ngoài kinh thành. Số quân canh gác ở các cửa thành Thăng Long cũng gọi là Sương quân. Trên cơ sở nền cũ do nhà Lý xây dựng, thành Thăng Long được nhà Trần xây đắp kiên cố, "phía Đông và Tây có hành lang giải vũ, bên tả là cung Thánh Từ, bên hữu là cung Quan Triều, phía ngoài gồm bốn cửa đều có bốn đội lính Sương quân thay nhau canh giữ"1 (Việt sử thông giám cương mục, Tập V, Nxb Văn Sử Địa, H.1958, tr.102). Có một thời kỳ người ta gọi lính Sương quân là Lao thành binh, vì họ là những người lính làm lao dịch như đắp thành, xây dựng các công trình, cắt cỏ nuôi ngựa, voi... Năm 1230, Nhà nước quy định: “Ai phải đi lao đày làm lao thành thì thích bốn chữ vào trán, làm việc phát cỏ rậm và cho lệ thuộc vào bốn đội Sương quân"2 (Việt sử thông giám cương mục, Tập V, Sđd, tr.9). Họ là những người dọn cỏ ở Phượng thành. Sương quân còn có nhiệm vụ canh giữ các kho (quân lương, quân nhu, khí giới); vì thế có sách đã phiên là: "Thương quân".

        Sử sách ghi chép về Sương quân quá ít ỏi. Chúng tôi chỉ được biết rằng, thời Trần cũng như thời Lý, trừ Cấm quân phải thường xuyên tại ngũ, còn Sương quân và quân địa phương đều phải thực hiện chính sách "Ngụ binh ư nông", thay nhau tại ngũ và về sản xuất. Khi tuyển chọn, Cấm quân là lính hạng nhất, Sương quân thuộc hạng hai.

        Lê Trắc ghi chép về việc điều động Sương quân thời Trần như sau: "Việc lấy quân không có số nhất định, chỉ chọn đinh nam nào khoẻ mạnh thì lấy. Cứ năm người làm một ngũ, 10 ngũ làm một đô, lại chọn hai người nhanh giỏi luyện tập võ nghệ. Khi có việc điều động thì gọi ra, không có việc thì trở về làm ruộng"1 (Lê Trắc, An Nam chí nguyên, Sđd, tr.75).

        Triều Hồ chuyển kinh đô về An Tôn (Vĩnh Lộc, Thanh Hoá) và chỉ tồn tại ngắn ngủi trong 7 năm. Với những cải cách quân sự của mình, Hồ Quý Ly đã chỉnh đốn quân đội, nhưng tổ chức Sương quân như thế nào và việc canh gác ở các cửa thành Tây Đô do quân nào đảm nhiệm, không thấy sử ghi cụ thể. Chỉ biết rằng quân thường trực nhà Hồ có số lượng đông và có tổ chức khá tốt.

        Dưới thời Lê Sơ, cơ cấu tổ chức quân đội có nhiều thay đổi so với trước. Sự chia phiên và luân phiên tại ngũ hay trở về sản xuất của chính sách "Ngụ binh ư nông" mở rộng đến cả Cấm quân. Sương quân đã ít thấy nhắc đến Sử cũ chỉ phản ánh hai sự kiện, đó là tháng 2 năm 1437, khi đến trường đua coi tập võ nghệ, Lê Thái Tông đã cho Vũ đội khách đội trưởng Lưu Bá Cung làm Tứ Sương chỉ huy sử và năm 1449 vua Lê Nhân Tông sai Tư khấu Lê Khắc Phục đem quân các cục bách tác và quân vệ Thiên Thai thuộc Tứ Sương cùng quân dân trấn Thái Nguyên đi đào sông Bình Lỗ từ Lãnh Kênh đến cầu Phù Lỗ dài 2.500 trượng, thông đến Bình Than1 (Đại Việt sử ký toàn thư Tập III , Nxb Khoa học xã hội, H.1967, tr.113, 115). Đến đời vua Lê Thánh Tông, do thực hiện cải cách quân sự dẫn đến thay đổi căn bản cả lượng và chất trong cơ cấu tổ chức quân đội. Thời kỳ này xuất hiện tổ chức quân Ngũ phủ và phát triển số quân trong Kinh. Có thể nói, đến giai đoạn này, Sương quân theo ý nghĩa như thời Lý - Trần không còn tồn tại nữa.

        Ở Trung Quốc, quân đội thời Tống có Cấm quân, Sương quân, Hương binh và Phiên binh. Trong sách Lịch đại chức quan diên cách sử, giáo sư Trần Mậu Đồng cho rằng: "Cấm quân là quân của triều đình, còn Sương quân và các quân khác là quân địa phương"2 (Trần Mậu Đồng, Lịch đại chức quan diên cách sử, Hoa Đông sư phạm đại học xuất bản, 1988). Trong mục Cấm quân và Sương quân đời Tống như thế nào? của sách Trung Quốc lịch sử tam bách đề do giáo sư Chu Cốc Thành chủ biên cũng đã xếp Sương quân vào loại quân địa phương3 (Trung Quốc lịch sử tam bách đề, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, 1988). Nếu như thế thì khác ở Trung Quốc, Sương quân Đại Việt lại thuộc biên chế quân của triều đình. Giống như Đại Việt, Sương quân nhà Tống cũng là lính hạng nhì sau Cấm quân; biên chế tổ chức như Cấm quân, nhưng chế độ cấp dưỡng và luyện tập lại kém hơn. Sương quân thời Lý - Trần thuộc diện "Ngụ binh ư nông", thay nhau về sản xuất tự túc, "khi có việc gọi ra, xong việc trở về làm ruộng"; còn Sương quân nhà Tống là lính chuyên nghiệp, xuất phát từ chế độ mộ binh, họ đều phải thích chữ quân hiệu làm dấu để tránh lẩn trốn khi ra trận. Đến thời Nam Tống, chính quyền trung ương suy yếu, Cấm quân không còn giữ được vị trí chủ yếu nữa, Sương quân xuất hiện nhiều và cùng với quân đồn trú ngoài mặt trận do các tướng thống lĩnh trở thành chủ lực quân. Giống ở Đại Việt, Sương quân nhà Tống cũng là lính hạng nhì sau Cấm quân; khác với Đại Việt họ là lính chuyên nghiệp đều xuất phát từ chế độ mộ binh. Họ phải thích chữ quân hiệu mình lên trán làm dấu để tránh lẩn trốn khi ra trận.

        Tóm lại, Sương quân không phải là quân của các đại tộc của những nhà quyền thế không thuộc họ vua, như ý kiến của giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã nêu ở trên. Sương quân cũng không phải là quân địa phương như trong tổ chức quân đội nhà Tống. Sương quân Đại Việt là một bộ phận quân thường trực khá đông đảo trực thuộc quản lý của triều đình, bao gồm những trai tráng tham gia nghĩa vụ binh dịch, nhập ngũ theo yêu cầu trong từng thời kỳ. Sương quân thực hiện chính sách “Ngụ binh ư nông”, chia phiên thay nhau tại ngũ canh phòng, luyện tập phục dịch hoặc trở về sản xuất tự túc lương ăn. Lực lượng quân sự bán chuyên nghiệp này đã đóng một vai trò quan trọng trong chức năng bảo vệ, lao động lúc hoà  bình cũng như chiến đấu và phục vụ chiến đấu có lúc chiến tranh.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM